Tải bản đầy đủ (.doc) (24 trang)

Tài liệu Triết học Mác với chủ nghĩa duy vật nhân văn pptx

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (164.53 KB, 24 trang )

Triết học Mác với chủ nghĩa duy vật nhân văn
Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác, không chỉ sáng lập ra chủ nghĩa, triết thuyết của
mình mà còn đưa ra mẫu mực phương pháp luận về sự tự phê phán và phát triển chủ
nghĩa Mác. Đó là kim chỉ nam cho các thế hệ tiếp bước theo các ông. Nhưng đó là việc
không dễ dàng tí nào, thậm chí phải trả giá đắt như lịch sử không ít lần đã chỉ rõ, xét cả
mặt áp dụng sáng tạo trong thực tế và cả mặt học thuật, phát triển lý thuyết.
Do vậy, ngày nay, hơn bao giờ hết, thấm nhuần tinh thần và bài học đó, phải xây dựng
phương pháp tư duy học thuật, tư duy phát triển lý luận và chống bệnh tự ti, từ đó góp
phần nghiên cứu phát triển triết học Mác trong thời đại ngày nay, từ đó tạo tầm nhìn sâu
rộng cho quá trình xây dựng xã hôi ngày càng hiện đại, thịnh vượng, công bằng, dân chủ,
văn minh theo định hướng xã hội chủ nghĩa trong bối cảnh toàn cầu hóa.
I- Thái độ tự phê phán của Ăngghen đối với chủ nghĩa Mác
F.Angghen (F.Engels) là một trong những nhà sáng lập đầu tiên của chủ nghĩa Mác, một
nhà duy vật biện chứng- duy vật thực tiễn lỗi lạc. Là người bạn tâm giao, gần gũi và đồng
hành cùng với C Mác (K.Marx) trong sự nghiệp sáng tạo chủ nghĩa Mác và lãnh đạo
phong trào công nhân giữa thế kỷ XIX đến cuối thế kỷ ấy, cả sau khi Mác đã qua đời. Có
lẽ không ai hiểu Mác bằng Angghen, và về nhân cách, tài năng thì một chín một muời,
nhưng lại hết sức khiêm tốn. Khi Mác qua đời thì chính Ăngghen đã đánh giá cao những
phát hiện, phát minh chủ yếu của Mác, rồi tiếp tục hoàn chỉnh tác phẩm (bộ Tư bản) của
Mác còn dang dở, đánh giá việc vận dụng và phát triển chủ nghĩa Mác trong thực tiễn
cách mạng mới với tinh thần khoa học và tính tự phê phán và phê phán với tính chiến đấu
rất cao.
Như ta đã biết với tác phẩm "Tình cảnh giai cấp công nhân Anh", thì thế giới quan mới
đã xuất hiện và sự đồng cảm trong sáng tạo hệ tư tưởng của giai cấp công nhân giữa Mác
và Ăngghen đã gặp nhau. Nhưng sau khi khởi thảo "quan niệm duy vật về lịch sử"
(Angnghen gọi là "chủ nghĩa duy vật lịch sử"-Mác- Ăngghen, tuyển tập, tập VI, Nxb.Sự
thật, Hà Nội,1984, tr. 719), thì Mác đi sâu vào nghiên cứu kinh tế chính trị, còn Ang
nghen thì tập trung hoàn chỉnh và phát triển triết học Mác trong khoa học tự nhiên và lịch
sử xã hội, và phát triển những tư tưởng về chủ nghĩa xã hội khoa học. Nhiều tư tưởng
triết học của Mác đã được Angghen làm rõ và phát triển.
Đồng thời, qua một số công trình nghiên cứu, ông cũng làm rõ những vấn đề có tính quy


luật phát triển của triết học: Chúng ta có thể hệ thống hóa lại như sau:
Một là, mỗi lần có một bước ngoặt trong khoa học tự nhiên thì chủ nghĩa duy vật sẽ thay
đổi hình thức của mình.
Hai là, đồng thời, chính thực tiễn cách mạng là động lực của lý luận đã điều chỉnh và
kiểm nghiệm lý luận, cũng như gợi mở những kết luận mới, những học thuyết mới.
Ba là, rằng không nghiên cứu lịch sử triết học thì không tiến lên được ở đỉnh cao của tư
duy lý luận.
Bốn là, thông qua cuộc đấu tranh tư tưởng lý luận, thông qua luận chiến thì khoa học lý
luận sẽ sinh động, tinh tế hơn các góc cạnh của nó và tiếp tục tiến lên phía trước.
Năm là, bản thân các nhà cách mạng cũng phải tự phê phán, tự đổi mới mình (trước hết
về tư tưởng, lý luận, nhận thức) mới tiến lên được.
Sau đây, chỉ xin phân tích vài vấn đề góp phần sáng tỏ thêm vấn đề ấy từ một góc nhìn
khác, góc nhìn tự phê phán, thể hiện rõ một phép biện chứng sinh động, một thái độ cách
mạng đúng đắn, một tư duy biện chứng có tính chiến đấu và tự phê phán cao.
Phê phán và tự phê phán bệnh tuyệt đối hóa, bệnh giáo điều, bệnh xuyên tạc tinh thần
biện chứng đối với chủ nghĩa Mác.
Angghen nghiên cứu biện chứng về tự nhiên, biện chứng về lịch sử, khái quát những tinh
hoa của triết học nhân loại, nhất là tinh thần phép biện chứng của triết học Hê ghen. Ông
đã phê phán tư duy siêu hình, phản biện chứng của của một số nhà tư tưởng tư sản, nhất
là Đuyrinh đối với phép biện chứng duy vật của Mác. Nhân cuộc luận chiến này, ông đã
khái quát, hệ thống hó những tư tưởng chủ yếu của ba bộ phận cấu thành của chủ nghĩa
Mác. Tinh thần luận chiến là một đặc điểm của chủ nghĩa Mác. Gần đây với tác phẩm
Triết học mở, xã hội mở, tác giả Maurice Cornforth của cuốn sách này phê phán chủ
nghĩa Pôppơ cũng theo tinh thần đó .
Nhưng đặc biệt là nhà duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, nhà cách mạng kiên định- Ang
ghen đã phê phán sự hiểu lầm chủ nghĩa Mác của một số trí thức trẻ và cả những người
xã hội chủ nghĩa đương thời: trên một số phương diện.
- Trong xã hội sự phát triển là sự tác động lẫn nhau của nhiều nhân tố, xét đến cùng nhân
tố kinh tế là quyết định. Nhưng hoàn toàn không phải điều kiện kinh tế là nguyên nhân
duy nhất chủ động (Mác- Ăngghen, tuyển tập, tập VI, Nxb.Sự thật, Hà Nội,1984, tr. 778)

Không thể quy sự biến diễn ra hàng ngày, sự biến riêng lẻ vào nguyên nhân kinh tế xét
tới cùng được (Mác- Ăngghen, tuyển tập, tập VI, Nxb.Sự thật, Hà Nội,1984, tr. 594). Thế
nhưng khi tiếp cận chủ nghĩa Mác thì nhiều người chỉ thấy có nhân tố kinh tế là duy nhất
quyết định, tức là không thấy sự tương tác giữa nhiều nhân tố kinh tế, chính trị, văn hóa
xã hội trong tiến trình phát triển…
- Angghen viết, và tâm sự rằng, "Cả Mác lẫn tôi chưa bao giờ khẳng định gì hơn thế, do
đó nếu ai xuyên tạc câu đó khiến cho nó có nghĩa là nhân tố kinh tế là nhân tố quyết định
duy nhất thì như vậy đã biến câu đó thành một câu trống rỗng, vô nghĩa" (Mác- Ăngghen,
tuyển tập, tập VI, Nxb.Sự thật, Hà Nội,1984, tr.726). Ở đây, vấn đề là tính tương tác, biện
chứng thì người ta lại quên đi.
- Do phải phê phán lại kẻ thù là chủ nghĩa duy tâm đủ loại, các ông đã quá nhấn mạnh
nhân tố kinh tế làm cho giới trẻ vận dụng tuyệt đối hóa nhân tố kinh tế, thành "duy vật
kinh tế". Và khi quá nhấn mạnh một mặt thì dù đúng cũng sẽ trở nên phiến diện và sai
lầm…. Tuy rằng, khi các nhà kinh điển phân tích thưc tế thì lại rất toàn diện, biện chứng,
thấy rõ sự tương tác lẫn nhau của nhiều nhân tố. Chính Angghen rất nhấn mạnh điều then
chốt này (qua tác phẩm bộ Tư bản và nhiều tác phẩm khác của Mác).
- Nhưng dầu sao thì sai lầm ở những người đọc Mác, một phần cũng do hoàn cảnh lúc đó.
Trách nhiệm này thuộc về Mác và Ăngghen như các ông thừa nhận. (Mác- Ăngghen,
tuyển tập, tập VI, Nxb.Sự thật, Hà Nội,1984, tr.728)
"Mác và tôi, một phần nào, phải chịu trách nhiệm về việc những anh em trẻ đôi khi nhấn
mạnh quá mức vào mặt kinh tế. Đối với kẻ thù, chúng tôi phải nhấn mạnh nguyên lý chủ
yếu mà họ phủ nhận, và chúng tôi cũng ít khi có thì giờ, có địa điểm và cơ hội để mang
lại một vị trí xứng đáng cho những nhân tố khác tham gia vào sự tác động qua lại ấy.
Nhưng khi phải trình bày một thời kỳ lịch sử, nghĩa là khi vận dụng lý luận vào thực tiễn
thì vấn đề lại khác hẳn và ở đây không thể có một sai lầm nào. Nhưng đáng tiếc là người
ta thường hay nghĩ rằng, có thể hiểu hoàn toàn thấu đáo một lý luận mới và có thể vận
dụng lý luận đó không khó khăn gì, một khi đã nắm được những nguyên tắc chủ yếu, và
điều đó không phải bao giờ cũng đúng. Và tôi không thể không trách cứ nhiều người
"mácxít" mới về điều đó, và cũng phải nói rằng họ đã phạm phải những điều hết sức kỳ
quái"(Mác- Ăngghen, tuyển tập, tập VI, Nxb.Sự thật, Hà Nội,1984, tr. 729).

Tương tự như vậy về sau, không ít người, bên cạnh tuyệt đối hóa nhân tố kinh tế, coi nhẹ
vai trò văn hóa; hoặc tuyệt đối hóa nhân tố giai cấp, nhân tố chính trị và thực tế đã dẫn tới
sai lầm tả khuynh về tư tưởng, siêu hình về phương pháp,… Sai lầm này tất nhiên còn do
tâm lý nông dân, tiểu tư sản, hay tâm lý quan lại mang tính gia trưởng.
Các nhà kinh điển đã nhấn mạnh việc vận dụng và phát triển sáng tạo nhưng trên thực tế
chủ nghĩa giáo điều vẫn diễn ra ở các thế hệ mác xít và có lúc chi phối khá nặng, nhất là
trên lĩnh vực cải tạo xã hội và xây dựng xã hội mới…
Thừa nhận ảo tưởng và sai lầm về tổng công kích và sự thắng lợi nhanh chóng của cách
mạng vô sản như thế nào.
Đến cuối đời, Angghen tự thấy rằng, các ông trước đây nhận định cách mạng vô sản thế
giới sớm nổ ra là sai lầm. Do lạc quan quá, và do nhận thức về chủ nghĩa tư bản ở trình
độ chín muồi chưa đúng ((Mác- Ăngghen, tuyển tập, tập VI, Nxb.Sự thật, Hà Nội,1984,
tr.600-602).
Angghen, nhìn lại tình hình từ 1848 đến năm 1895, đã viết về bệnh ảo tưởng của những
lãnh tụ và ngay bản thân các ông, về việc cách mạng vô sản nổ ra và thắng lợi, như sau:
- Khi cách mạng tháng 2- 1848 bùng nổ, rằng các ông đã bị ám ảnh, bị nhiễm những ký
ức về mô hình của kinh nghiệm cách mạng Pháp 1789, 1830. về tính chất, tiến trình của
cách mạng, về kiểu một trận quyết chiến duy nhất có thể giải quyết được vấn đề (Mác-
Ăngghen, tuyển tập, tập VI, Nxb.Sự thật, Hà Nội,1984, tr. 559-600.). .
- Cuộc đấu tranh giai cấp năm 1948 và những năm sau đó, đã chứng tỏ rằng, không thể
nào cải tạo xã hội bằng một cuộc đột kích được.
- Sự khôi phục đế chế năm 1851(hay cả 1871) ở Pháp, lại một lần nữa chứng tỏ rằng
những nguyện vọng của giai cấp vô sản trong thời kỳ này chưa chính muồi (Mác-
Ăngghen, tuyển tập, tập VI, Nxb.Sự thật, Hà Nội,1984, tr. 559-600, 605)
- Những tiên đoán cách mạng xã hội sắp nổ ra ở Anh là sai lầnm do nhiệt tình của tuổi trẻ
của các ông hồi ấy (Mác- Ăngghen, tuyển tập, tập VI, Nxb.Sự thật, Hà Nội,1984, tr 537)
- Lại một lần nữa người ta có thể thấy rằng lúc đó (năm 1971 với cách mạng Công xã
Paris) tức là 20 năm sau thời kỳ ấy, cho đến nay (năm 1895) vẫn chưa thực hiện được
quyền thống trị của giai cấp công nhân (Mác- Ăngghen, tuyển tập, tập VI, Nxb.Sự thật,
Hà Nội,1984, tr.607).

- Lịch sử đã chứng minh rằng, Angghen thừa nhận, chúng tôi và tất cả những suy nghĩ
như chúng tôi đều sai lầm. Lịch sử đã chỉ rõ rằng, trạng thái phát triển kinh t? liên lục địa
lúc bấy giờ còn rất lâu mới chín muồi để xóa bỏ phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa
(Mác- Ăngghen, tuyển tập, tập VI, Nxb.Sự thật, Hà Nội,1984, tr.603,604).
- Lịch sử cũng đã chứng minh rằng, chúng tôi cũng sai lầm… lịch sử đã vạch ra rằng
quan điểm của chúng tôi lúc bấy giờ là một ảo tưởng. Lịch sử không chỉ đánh tan những
ảo tưởng của chúng tôi mà còn hoàn toàn đảo lộn những điều kiện trong đó gia cấp vô
sản phải chiến đấu . (Mác- Ăngghen, tuyển tập, tập VI, Nxb.Sự thật, Hà Nội,1984, tr.
600) Ông thừa nhận rằng, nhiều vấn đề chưa thể nói trước được, phải tùy thời gian,
không gian cụ thể. (Mác- Ăngghen, tuyển tập, tập VI, Nxb.Sự thật, Hà Nội,1984, tr. 748)
Rằng, phải chiến đấu lâu dài, phải tiến dần từng bước, và bằng nhiều phương thức khác
nhau. Rằng, không thể nói trước được, phải tùy vào hoàn cảnh cụ thể (Mác- Ăngghen,
tuyển tập, tập VI, Nxb.Sự thật, Hà Nội,1984, tr. 748-600), trong khi đó sau thất bại năm
1849, phái dân chủ vẫn còn ảo tưởng, điều mà Mác và Ang nghen đã dần nhận ra và khắc
phục.
Chúng ta đọc lại những dòng trên đây và tự nhận thấy bệnh ảo tưởng này về cách mạng
vô sản thế giới còn lặp lại sau năm 1945 ở phong trào cách mạng trong đầu, giữa thế kỷ
XX ở những nước quá độ lên chủ nghĩa xã hội xuất phát kinh tế xã hội còn thấp, nhất là
ảo tưởng về xóa bỏ ngay chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất chủ yếu, ảo tưởng về việc tiến
nhanh lên chủ nghĩa xã hội, hoàn thành chủ nghĩa xã hội phát triển, tiến nhanh vào chủ
nghĩa cộng sản giai đoạn cao… Chính Lênin, lúc đầu cũng bị ảo tưởng này, sau đó ông
nhận thấy sai lầm và lùi lại thực hiện chiến lược NEP như chúng ta đã biết. Cố nhiên
Trung Quốc, Việt Nam ta cũng không ngại lệ. Có điều là ngay nhiều nước loại này sau
nhiều thập kỷ mới nhận ra và mới bắt đầu sửa.
Qua đó, cho thấy thêm rằng, không nên trình bày chủ nghĩa một chiều, chỉ thấy nguyên
lý, chỉ thấy luôn luôn đúng, tách khỏi môi trường lịch sử đang vận động và thiếu tinh thần
phên phán và tự phê. Đúng là, phân tích cụ thể tình hình cụ thể là linh hồn sống của chủ
nghĩa Mác (Lênin).
. Nhưng tại sao lại có tình trạng nhiều người vẫn hiểu sai chủ nghĩa Mác hay vận dụng
một cách giáo điều?

Trả lời câu hỏi tại sao lại có tình trạng nhận thức sai về chủ nghĩa Mác từ những người
cộng sản, không phải dễ. Nhưng có thể vạch ra một số nguyên nhân đại thể.
- Phần nhiều những người cộng sản ở các nước kinh tế và văn hóa, dân chủ chưa phát
triển thì năng tư tưởng giáo điều, thiếu dân chủ, gia trưởng kiểu phong kiến, hiểu vấn đề
lý luận ở tầm kinh nghiệm, mang tính ấu trĩ và tả khuynh kiểu chủ nghĩa xã hội tiểu tư
sản. Những người công sản ở các nước phát triển thì lại hay rơi vào tư tưởng dân chủ cải
lương, ảo tưởng hòa bình chủ nghĩa.
- Nhận thức ở tầm tư duy, cảm tính, kinh nghiệm, phương pháp trực quan máy móc, thiếu
tư duy duy lý và biện chứng chiều sâu của khoa học.
- Bị các tiềm thức văn hóa và tư tưởng lạc hậu trong truyền thống chi phối, từ đó tạo nên
những khúc xạ cả về mặt tư tưởng lẫn nhận thức.
- Bị cố định bởi thái độ chính trị hay đường lối chính trị chính thống mà không phải khi
nào cũng đúng lại nhân danh lập trường vững vàng, nhưng thực chất là gia trưởng, độc
đoán, thiếu dân chủ.
- Thiếu một tri thức, một tầm nhìn xa rộng, không hiểu chiều sâu tinh hoa văn hóa nhân
loại, và khoa học hiện đại và sự phát triển…
- Công thức hóa, chuẩn mực hóa, chính thống hóa các nguyên lý mác xít. Tư duy xơ cứng
các mối quan hệ biện chứng và xa rời hiện thực, xa rời thực tiễn sinh động và văn hóa,
lịch sử tiến hóa của nhân loại.
- Thiếu động cơ và thiếu tình cảm trong sáng trong việc vận dụng, phát triển chủ nghĩa
Mác.

Vấn dề là ở chỗ nhiều thế hệ hiểu không đầy đủ, hiểu sai chủ nghĩa Mác chứ không phải
về cơ bản chủ nghĩa Mác sai, dù rằng chủ nghĩa Mác cũng có hạn chế lịch sử do thời đại
cụ thể mà trong đó các ông sống quy định và chưa thể biết tới thời đại cụ thể sau này có
được. Mác không làm thấy bói, không làm nhà tiên tri. Mác là nhà khoa học, biện chứng,
thực tiễn hiện thực.
Cho nên, dù có hạn chế đi nữa thì những nguyên lý cơ bản của triết học Mác và chủ nghĩa
Mác vẫn có giá trị lâu dài, có sức sống mạnh liệt. Rằng, nhân loại sẽ không có tương lai
nếu không có Mác, như một nhà triết hoc nổi tiếng ngoài mácxít ở Pháp thừa nhận. Gần

đây qua cuôc thăm dò ở Anh có người nhiều nước tham dự chọn những nhà triết học vĩ
đại của nhân loại thì được đánh giá Mác là "triết gia vĩ đại nhất của nhân loại", có "hệ
thống triết học nghiêm túc nhất của loài người", trong số 20 người được bình chọn (theo
Bản tin số tháng 8, năm 2005, của Hội đồng Lý luận TW, tr.6). Hoặc vào những năm
cuối thế kỷ XX, trên thế giới, cũng đã lựa chọn Mác cùng với Anstanh và Frớt là một
trong ba nhà khoa học, nhà tư tưởng vẫn còn ảnh hưởng to lới tới tiến trình thế kỷ XXI.
Điều đó càng chứng tỏ uy tín của chủ nghĩa Mác mà hai phát minh vĩ đại của ông như
Ăng ghen đã đánh giá, có ý nghĩa bất hủ.
Nhưng chúng ta, nhưng người theo chủ nghĩa Mác, tin tưởng vào chủ nghĩa Mác khoa
học, sáng tạo, cách mạng, nhưng không nên tuyệt đối hóa, thần thánh hóa chủ nghĩa Mác,
biến nó thành một tôn giáo!
Với tinh thần trên đây của Ăngghen, chúng ta thấy rằng, khó mà bác bỏ được một tinh
thần tự phê phán mang tính cách mạng và khoa học như các nhà sáng lâo chủ nghĩa Mác.
Vì vậy, tính chiến đấu, tự phê phán, tinh thần cách mạnh và khoa học ấy là bất diệt
II- Đối với chúng ta ngày nay vấn đề là phải phát triển triết học Mác
Vấn đề mà chúng ta cần quan tâm trong lịch sử nhận thức mác xít, là chủ nghĩa Mác cũng
bị hiểu một cách giáo điều, bị tuỵệt đối hóa, nâng lên như những giáo lý. Nhưng bên cạnh
tư tưởng tự cao tự đại, giáo điều đó thi vẫn có tư tưởng qua tự ti và nhận thức không
đúng Cả hai loại tư tưởng ấy đề ngăn cản sự phát triển chủ nghĩa Mác và triết học Mác.
Nhiều người có nhận thức và thái độ đối với chủ nghĩa Mác như: cái gì cũng cho rằng,
Mác và Lênin đã nói cả rồi, chỉ vận dụng về chi tiết thôi. Đó là một cách hạn chế chính
mình và không đúng với tinh thần sáng tạo của chủ nghĩa Mác, tức là rơi vào sự tuyệt đối
hóa kiểu Hêghen- chủ nghĩa Hêghen như là đỉnh cao nhất của triết học, không có triết học
nào có thể vượt qua được. Hoặc cho rằng, chủ nghĩa Mác là đĩnh cao nhất của nhận thức
nhân loại và duy nhất đúng. Hồ Chí Minh khi nói về chủ nghĩa Mác -Lênin cũng chỉ nói
là "đúng đắn nhất, cách mạng nhất" chứ không dùng từ duy nhất. Hoặc nếu có phát triển
thì phải chờ một thiên tài như Mác hay Lênin hay như Hồ Chí Minh mới phát triển được
chủ nghĩa Mác, còn những nhà nghiên cứu bé nhỏ như chúng ta chỉ là giải thích hay vận
dụng nào đó đối với chủ ghĩa Mác mà thôi.
Thực ra, dù chủ nghĩa Mác có nội dung toàn diện, một triết học toàn diện, triết để đề cập

nhiều vấn đề nhưng có vấn đề chỉ nói qua, họặc chưa nói tới, chưa nghiên cứu được, hoặc
thậm chỉ mới thấy một mặt. Chủ nghĩa Mác chỉ tập trung vào một số hướng chính sâu
(nhất là mặt kinh tế và chính trị, hay triết học về xã hội, quy luật cơ bản của phép biện
chứng). Khá nhiều vấn đề mới nói qua, nêu ra mà chưa nghiên cứu, chứng minh. Hơn
nữa với sự phát triển này nay thì không thể nói chủ nghĩa Mác đã dự báo hay phân tích
hết được, không thể lấy ông Mác thay cho toàn bộ trí tuệ nhân loại trước Mác và sau
Mác. Chính Lênin có nói rằng, một ông Mác chứ 70 ông Mác cũng không thể nói hộ hết
chúng ta, không có đáp số có sẵn cho các tình huống lịch sử.
Tuyệt đối hóa (sùng bái), hay hạ thấp chủ nghĩa Mác cũng đều sai lầm như nhau.
Chúng ta trung thành sáng tạo đối với chủ nghĩa Mác nhưng không thể sùng bái nó như
tôn giáo, hoặc như một chân lý tuyệt đối kiểu Hêghen, rằng phép biện chứng đến Hêghen
là tối cao, tột đỉnh, không ai phát triển được nữa… Không thể vì phải ohống lại quan
điểm hạ thấp hơặc bác bỏ chủ nghĩa Mác mà ta lại sang một cực khác, sùng bái, tuyệt đối
hóa chủ nghĩa Mác. Bệnh sùng bái này thực tế cũng sinh ra không ít tai họa.
Thực tế là sau này về mặt khoa học đã có nhiều lý luận bổ sung và phát triển mới thật
không sao kể hết, như học thuyết về vô thức, về xã hội học, tâm lý học, văn hóa học…và
nhất là học thuyết về xây dựng chủ nghĩa xã hội trong thời kỳ đổi mới. Một học thuyết,
một chủ nghĩa mà không phát triển được, không phân hóa bộ môn được, không đáp ứng
được thực tiễn thì sẽ xơ cứng và chết.
- Angghen cho rằng, chủ nghĩa xã hội cũng như các chế độ xã hội khác cần biến đổi, cảí
tạo thường xuyên, không ngừng.( (Mác- Ăngghen, tuyển tập, tập VI, Nxb.Sự thật, Hà
Nội,1984, tr.757). Theo chúng tôi, điều này phải hiểu rộng ra là xét cả măt lý luận và hiện
thực. Đảng cần có "một khoa học xã hội chủ nghĩa". Nhưng "khoa học xã hội chủ nghĩa
không thể có được nều không tự do phát triển" (Mác- Ăngghen, tuyển tập, tập VI,
Nxb.Sự thật, Hà Nội,1984, tr.754-757) .
- Ngày nay ta thấy một trong những điểm mà sau thời kỳ khủng hỏang và tiến hành đổi
mới mới thay đổi được là quan điểm phát triển kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa, nhà
nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, văn hóa và phát triển trong thời đại mới…
- Hơn nữa, ngày nay theo tinh thần của Ang nghen, chúng tôi nghĩ rằng về mặt triết học
cũng cần phải phát triển. Chứ không phải triết học là thế thôi, không còn gì phát triển nữa

như khá nhiều người vẫn hiểu như vậy.
Như trên đây đã nói, mỗi lần có một bước ngoặt trong khoa học tự nhiên thì chủ nghĩa
duy vật sẽ thay đổi hình thức của mình; đồng thời, chính thực tiễn cách mạng là động lực
của lý luận đã điều chỉnh và kiểm nghiệm lý luận, cũng như gợi mở những kết luận mới,
những học thuyết mới…
Với thời đại kinh tế tri thức, thời đại trí tuệ hóa, thời đại của xã hội thông tin, xã hội sinh
thái và toàn cầu hóa, thời đại của chủ nghĩa xã hội đổi mới thì triết học chẳng lẽ vẫn như
cũ, bằng lòng với triết học đại cương tổng thể như trong giáo trình hiện nay? Có lẽ chúng
ta không biết gì về vận động, phát triển của triết học thế giới ngoài mác xít, với gần 170
chuyên ngành triết học cụ thể? Còn thế giới khoa học thì với 20 nhóm mà nhòm đầu là
khoa học phi bộ môn, rồi khoa học cơ bản, khoa học ứng dụng và thứ 20 là các khoa học
về khoa học luận ứng dụng. Đó là chưa kể tri thức ngoài khoa học. Trong khi đó vai trò
của triết học là "tổng hợp lý thuyết", và "tổng quát toàn bộ tri thức" ở tầm bản chất phổ
quát.
Chúng ta không nên tuyệt đối hóa (sùng bái) triết học Mác và bỏ ngoài tai thành tự triết
học của nhân loại và của thời kỳ mới ngày nay, dù là ngoài mác xít, thậm chí phi mácxít.
Và phải chăng người Việt Nam chỉ là thuyết minh, vận dụng, ăn theo như có người quan
niệm?
Mới đây, ngày 21 và 22-11-2005, tại Hà Nội đã diễn ra một cuộc hộu thảo quốc tế, do
Viện Khoa học xã hội Việt Nam phối hợp với UNESCO tại Việt Nam và Hội Giáo dục
triết học vì dân chủ khu vực Châu Á- Thái Bình Dương, với nội dung, toàn cầu hóa-
những vấn đề triết học khu vực châu Á (mà bản thân tác giả bài viết này có tham dự).
Có nhiều vấn đề đặt ra ra thú vị. Nhân dịp này xin nói về một vấn đề là nhiều đại biểu
trong và ngoài nước, nêu lên yêu cầu phát triển và xây dựng một nền triết học đương đại
ở khu vực châu Á- Thái Bình Dương, trong đó đáng chú ý là ở V iệt Nam.
Người ta cho rằng Việt Nam ta anh hùng, thông minh thế lẽ nào trong lịch sử không có
triết học và nhất là ngày nay với nhiệm vụ mới trong bối cảnh toàn cầu hóa lại quá lệ
thuộc vào các học thuyết cách ngày nay quá xa, rằng phải tìm lấy lối riêng cho mình và
triết lý riêng, triết học riêng. Thời đại toàn cầu hóa phải có một sự phát triển triết học
tương ứng.

Về triết học của toàn cầu hóa thì chúng ta thấy có quan niệm, lý thuyết khác nhau. Lý
thuyết xung đột các nền văn minh của S. Huntington; lý luận của V.E. Đavi Đôvích về
chủ nghĩa nhân đạo và triết học nhân học (trong cuốn Dưới lăng kinh triết học,
Nxb.CTQG, 2002, của V.E.
Đaviđôvich); thuyết Hòa hợp học của nhà triết học Trung Quốc (Trương Lập Văn).
Trong các lý thuyêt đó thì nhìn chung nên nghiên cứu tham khảo, tiếp thu một cách thích
hợ, nhưng riêng thuyết xung đột các nền văn minh thì cần phê phán là chính.
Các lý thuyết, nhất là chủ nghĩa nhân đạo và triết học nhân học, thuyết hòa hợp học đã
chú ý phân tích những vấn đề nhân loại và cách giải quyết khủng khoảng nhân loại ngày
nay. Về những khó khăn, những cuộc khủng hoảng, những nguy cơ mà nhân loại sẽ cùng
đối mặt trong thế kỷ XXI, có 5 cuộc khủng hoảng lớn nhất là: sự ô nhiễm môi trường
sinh thái - thể hiện của tình trạng xung đột giữa con người với tự nhiên; những khủng
hoảng trong xã hội - thể hiện của tình trạng xung đột giữa con người với xã hội; sự suy
đồi về đạo đức - thể hiện của tình trạng xung độ giữa con người với con người; sự khủng
hoảng về tinh thần - thể hiện tình trạng xung đột giữa con người với thế giới tâm linh;
những khủng hoảng về giá trị - thể hiện của tình trạng “xung đột giữa các nền văn minh”
khác nhau đều trực tiếp có quan hệ đến sự sống và lợi ích của mỗi cá nhân, mỗi dân tộc.
Đối mặt với 5 cuộc khủng hoảng to lớn đó, tuy không thể xây dựng nên một giá trị tư
tưởng, một hệ thống đạo đức luân lí chung cho toàn thể nhân loại nhưng chúng ta cũng có
thể xác lập một số qui tắc, nguyên tắc và quan niệm giá trị chung tối thiểu nhất cho một
số dân tộc, quốc gia .
- "Hòa hợp" là tổng hòa của các trạng thái xung đột lẫn nhau, đan xen nhau, hòa quyện
nhau của các sự vật hiện tượng cụ thể hoặc trừu tượng (ở đây là chỉ giới tự nhiên, xã hội,
quan hệ người - người, thế giới tâm linh và các nền văn minh) cùng với sự hợp thành một
phương thức mới, một sự vật mới, một đời sống mới của chính các sự vật hiện tượng đó
trong quá trình biến đổi của xung đột, hòa hợp . Ý ẩn của "hòa hợp học" có thể phân chia
thành: nhiên và sở dĩ nhiên, thay đổi và hình thức, phổ thông và siêu việt, đối xứng và
hợp thể, trung hòa và thẩm mỹ. Nghĩa ẩn của "hòa hợp" và nguyên tắc của tinh thần nhân
văn hòa hợp kết hợp với nhau, đồng thời, thông qua quy luật bổ sung ngang dọc, quy luật
thông suốt của chính thể, luật đối xứng hỗn độn để đạt đến khung cảnh của hòa hợp.

- Mọi người có thể vận dụng lý thuyết hòa hợp để xem xét về 5 xung đột và khủng hoảng
lớn mà nhân loại sẽ phải đối mặt trong thế kỷ XXI, đồng thời, thông qua những nhận thức
chung tối thiểu nhất để đạt được 5 nguyên lý sau:
1- Nguyên lý "hòa sinh" (nguyên lý sinh tồn hòa hợp), tức là cùng sinh tồn, cùng vinh
hoa, cùng phú quý của câu "thiên địa chi đại đức viết sinh" (Cái đức lớn lao của trời đất
là hiếu sinh) đã được nâng lên thành ý thức hòa sinh, hòa vinh, hòa phú.
2- Nguyên lý "hòa xử" (nguyên lý chung sống hòa hợp), tức là cùng chung sống "có hòa
hợp nhưng không hòa tan", cùng chung sống tuy có xung đột và cạnh tranh những tất
phải sống cùng nhau.
3- Nguyên lý "hòa lập", tức là "kỷ dục lập nhi lập nhân" (mình muốn lập thân thì cũng
giúp người khác cùng lập), tôn trọng phương thức sinh tồn và các cách phát triển đa dạng
khác nhau.
4- Nguyên lý "hòa đạt", tức là "kỷ dục đạt nhi đạt nhân" (mình muốn thành đạt thì giúp
cho người khác thành đạt). Theo nguyên lý này thì mình thành thành đạt, mình đạt được
điều mình mong muốn thì người khác cũng phải đạt được cái họ mong muốn, chứ không
thể nào mình đạt được mà lại không cho người khác cùng đạt, thậm chí hạn chế, cản trở
sự phát triển của quốc gia khác, dân tộc khác. Chỉ khi nào toàn thể nhân loại cùng phát
triển thì con người mới được yên ổn.
5- Nguyên lý "hòa ái", đã "cùng sinh tồn trong hòa hợp" thì thường mong đạt được "sự
chung sống hòa hợp", chung sống hòa hợp thì cầu đạt được "hòa lập, hòa đạt", cơ sở và
xuất phát điểm của 4 nguyên lý trên là "hòa ái". Chỉ có "phiếm ái chúng" (yêu thương tất
cả mọi người), "kiêm tương ái" mới có thể thực hiện được hòa sinh, hòa xử, hòa lập, hòa
đạt.
Năm nguyên lý nêu trên là những nguyên lý và giá trị quan trọng nhất của xã hội loài
người trong thế kỷ XXI.
Vấn đề phát triển ngày nay, khoa học đã làm rõ ràng, không chỉ thấy một mặt ở tình
quyết định luận mà cần thấy cả mặt hỗn độn, mặt bất định. Và ngay khi nghiên cứu tính
phát triển của hệ thống kinh tế, văn hóa, xã hội thì phải có tầm nhìn mới chứ không phải
chỉ dừng lại kiểu hệ thống sinh học hay hệ thống cơ giới, như vẫn thường thấy ở không ít
nhà khoa học. Có nhiều vấn đề đang đặt ra về mặt triết học phải có tư duy mới. Chúng ta

phải đổi mới tư duy triết học.
Chúng tôi nghĩ rằng, trong bối cảnh đó, Việt Nam chúng ta cần phải phát triển và xây
dựng triết lý, triết học mới trên nền tảng triết học Mác và tư tưởng Hồ Chí Minh.:
- Cần phát triển tư tưởng triết học về con người, về nhân loại xây dựng thành thành chủ
nghĩa duy vật nhân văn (triết học nhân văn mới), như hình thái mới của chủ nghĩa duy vật
trong thời đại ngày nay. Quan niệm của chủ nghĩa duy vật lịch sử không đi sâu nghiên
cứu vấn đề con người. Trong khi đó vấ đề này rất phong phú trong lịch sử triết học và
trong thời đại ngày nay có nhiều vấn đề mới cần nghiên cứu, tiếp cận và khái quát mới. .
- Nghiên cứu những vấn đề phát triển đương đại, xây dựng thành chuyên ngành triết học
phát triển . Trên bình diện này, chúng ta không chỉ dừng lại cách tiếp cận Triết lý phát
triển ở Việt Nam như một chương trình nghiên cứu quốc gia thời kỳ 1995-2000, mới
công bố thành sách, mà theo chúng tôi hiểu, phải là triết học phát triển . Phải chăng ở đây
chúng ta rất khiêm tốn hay chưa thấy cần một cách nhìn của triết học phát triển . Trên thế
giới cũng có công trình nghiên cứu "Triết học trong phát triển", do UNESCO đặt hàng
viết (theo cố GS. Nguyễn Hoàng Phong).
- Nghiên cứu sâu về cả vô thức, trực giác, sự phản ánh của ý thức dưới ánh sáng khoa học
hiện đại, nghiên cứu tư tưởng nhận thức luận chiều sâu, xây dựng nhận thức luận duy vật
nhân văn, nhận thức luận chiều sâu mới.
- Xây dựng phương pháp luận hòa hợp học hay hài hòa học. Ở Trung Quốc hiện nay đã
coi học thuyết hòa hợp học như một lý thuyết triết học mới của thời cải cách mở cửa do
họ sáng tạo nên. Theo chúng tôi, có thể coi đó là nội dung cơ bản của phương pháp luận
duy vật nhân văn.
- Nghiên cứu các chuyên ngành triết học chính trị, triết học kinh tế, triết học giáo dục,
triết học của khoa học công nghệ hiện đại, triết học văn hóa, triết học sinh thái, triết học
về trí tuệ triết học về toàn cầu hóa…
Do vậy, nghiên cứu Angghen và học tập ông là ở tinh thần cách mạng, tinh thần phê phán
và tự phê phán, tính thần phép biện chứng sáng tạo, từ đó mạnh dạn phát triển lý luận
triết học trong quan hệ với thực tiễn mới nhằm làm rõ những vấn để mới của thời đai
ngày nay, trên nền tảng của triết học Mác và tinh hoa của dân tộc và nhân loại.
Phải xây dựng phương pháp tư duy hoc thuật, tư duy phát triển lý luận và chống bệnh tự

ti, từ đó góp phần nghiên cứu phát triển triết học Mác trong thời đại ngày nay, từ đó tạo
tầm nhìn sâu rộng cho quá trình xây dựng xã hôi ngày càng hiện đại, thịnh vượng, công
bằng, dân chủ, văn minh theo định hướng xã hội chủ nghĩa trong bối cảnh toàn cầu hóa
ngày nay.
III- Nhận thức về thực chất của triết học Mác và sự phát triển hiện nay
Lạc Chí Cường trong cuốn "Tìm hiểu hệ thống chủ nghĩa duy vật thực tiễn", Quảng Đông
Cao đẳng giáo dục xuất bản, 2000, Trung văn (Trích theo PGS. Hà Thúc Minh. Trong
một bài viết của cuốn sách Công tác tư tưởng và giảng dạy lý luận trong trường đại học
và cao đẳng hiện nay, Nxb.TPHCM, 2002, tr.41-55) , cho rằng nguyên nhân ở "chiều sâu
nhất" của sự khủng khoảng và sụp đổ ở Liên xô và Đông Âu trước đây là do "lý giải sai
về … triết học". Ví dụ, cho rằng triết học Mác không phải là chủ nghĩa duy vật lịch sử và
duy vật biện chứng mà là duy vật thực tiễn; không phải là quan hệ giữa vật chất và ý thức
mà là quan hệ giữa tư duy và tồn tại, giữa tinh thần và tự nhiên; không phải tồn tại xã hội
và ý thức xã hội trong đó tồn tại xã hội là có trước, tính thứ nhất mà là tồn tại, xuất hiện
"đồng thời"; hoặc Mác không chỉ nói về năm hình thái kinh tế xã hội mà còn nói tới ba
loại hình xã hội, nói về hình thái xã hội nguyên sinh, thứ sinh và tái thứ sinh…Phải chăng
khẳng định này là đúng , là thuyết phục?
Tôi xin nói ngay ý tưởng và quan niệm về các hình thái và loại hình kinh tế xã hội thì
đúng. Còn nói về sự xuất hiện "đồng thời" giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội là không
chính xác. Giải thích thế nào về ý thức xã hội phản ánh tồn tại xã hội? Có xã hội, có nhà
nước nhưng đâu phải ý thức pháp luật có ngay? Hơn nữa khi nói ý thức xã hội là phân
biệt với ý thức cá nhân chứ không phải theo nghĩa ý thức của xã hội, thuộc về xã hội hay
mang tính xã hội, vì đó là cái chung của mọi ý thức kể cả ý thức cá nhân hay ý thức về tự
nhiên. Sự đồng thời giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội là là một thực tế nhưng là khi
xem xét nó về cấu trúc hệ thống xã hội, còn về nguồn gốc thì ý thức xã hội là hình ảnh
của tồn tại xã hội thì làm sao lại "đồng thời" kiểu "nhị nguyên luận" được.
Mà thực ra cũng không phải sự sụp đổ của Liên xô liên quan tới sự lý giải vấn đề thuộc
loại này.Vấn đề chỉ là không thấy hết tác hại, tác dụng của ý thức xã hội tiêu cực của quá
khứ đè nặng lên khối óc, trái tim người đang sống làm méo mó chủ nghĩa Mác là chính.
Rõ ràng là Đảng cộng sản đã tự tha hóa, đã mất cảnh giác với mặt trái của truyền thống,

tức quá khứ lạc hậu, tức với chính mình; mất cảnh giác với chủ nghĩa cơ hội và mất cảnh
giác với kẻ thù là chủ nghĩa đế quốc. Ba mất này dẫn tới hai mất tiếp theo là mất Đảng và
mất chế độ. Chúng tôi sẽ trở lại vấn đề này ở cuối bài.
Riêng về chủ nghĩa duy vật thực tiễn và chủ nghĩa duy vật biện chứng, duy vật lịch sử thì
xin thưa kỹ hơn như sau. Nhưng trước hết cũng phải nói rằng là nhấn mạnh, làm nổi bật
duy vật thực tiễn là đúng nhưng chia cắt với duy vật biện chứng thì khó thuyết phục và
chứng tỏ tư duy cực đoan, không hiểu tính kế thừa và toàn diện triết học Mác. Thực ra
điều này cũng đã từng nảy ra cuộc tranh luận trước đây trong giới triết học Mácxit chứ
không phải bây giờ mới đặt ra.
Từ quan niệm của Lạc Chí Cường, hiện nay ở nước ta cũng có quan niệm cho rằng, triết
học Mác không phải là "chủ nghĩa duy vật biện chứng" và "chủ nghĩa duy vật lịch sử".
Bởi vì Mác chỉ gọi triết học mình là "duy vật thực tiễn", "duy vật mới", hay như Ăngghen
gọi là "chủ nghĩa duy vật hiện đại". Phải chăng tính mới và hiện đại ở đây chỉ là tính thực
tiễn? Gọi triết học Mác là chủ nghĩa duy vật biện chứng là cách gọi của Joseph Dietzge
(1828-1888). Sau này cả Plêkhanôp, Lênin và Stalin đều dùng khái niệm “chủ nghĩa duy
vật biện chứng và và duy vật lịch sử” để gọi triết học Mác. Ngay cả Ăngghen trong
"Chống Đuyrinh" (Mác có đọc bản thảo và bổ sung ý cho Ăngghen) cũng đã trình bày
triết học Mác với ba quy luật lớn của phép biện chứng, định nghĩa nó, tức chủ nghĩa duy
vật biện chứng.
Dù khẳng định triết học Mác là chủ yếu duy vật thực tiễn, tức là duy vật cũ chủ yếu là
duy vật tự nhiên, trực quan, nghiên cứu con người như một công dân, một cá nhân, một
thân thể sản phẩm của tự nhiên, còn duy vật của Mác là duy vật thực tiễn, đối tượng của
nó nghiên cứu "xã hội loài người hay loài người có tính xã hội", thì cũng không phủ nhận
duy vật biện chứng là triết học của Mác từ trong bản chất và tính hệ thống dù các ông
chưa việt một tác phẩm có hệ thống như kiểu giáo trình ngày nay
Mác, trong khi bắt đầu phê phán Hêghen và Phơbách đã gọi triết học mình là duy vật
thực tiễn là vì: Hoàn cảnh lịch sử lúc đó, Hêghen coi thực tiễn chỉ là hoạt động tinh thần,
hoạt động chủ quan, triết học rơi vào chủ nghĩa kinh viện; còn Phơbách thì thực tiễn là
những nhu cầu của con người. Phơbách coi triết học mới của mình là triết học hướng về
thực tiễn, là "khoa học về thực tiễn trong tính đầy đủ và toàn vẹn của nó, song tổng thể

thực tiễn là tự nhiên" (Tạp chí triết học, số 2-2003, tr.36) . Triết học của Phơbách, như
ông thừa nhận và quan niệm: "biến con người thành đôi tượng duy nhất, phổ quát và cao
nhất của triết học và do đó, biến thuyết nhân bản, trong đó có triết học, thành khoa học
phổ quát". Như thế ông đã kết hợp chủ nghĩa duy vật với thuyết nhân bản = chủ nghĩa
duy vận nhân bản. Nhưng khi giải thích lịch sử xã hội lại rơi vào duy tâm. Đối với Mác
thực tiễn là hoạt động khách quan, vật chất của con người hiện thực. Và từ đây Mác sáng
tạo ra duy vật lịch sử, với tư cách là phép biện chứng của tiến hóa lịch sử, tức quan niệm
duy vật thực tiễn và biện chứng về quá trình lịch sử. Nhấn mạnh chữ "lịch sử "là nói tính
quá tình và tính cụ thể, còn nhấn mạnh chữ "thực tiễn" là nhấn mạnh sự hoạt động của
con người. Nói tắt duy vật lịch sử hay duy vật thực tiễn không phải phủ nhận tính biện
chứng, nội dung biện chứng của nó. Chính vì vậy có người ghép thành "chủ nghĩa duy
vật biện chứng lịch sử". Không nên quá bắt bẻ khái niệm, tên gọi mà không hiểu tính lịch
sử cụ thể của nó.
Nếu duy vật cũ chủ yếu là siêu hình (dù vẫn có duy vật biện chứng thô sơ) thì duy vật
mới là duy vật biện chứng. Angghen về sau rất nhấn mạnh ý này. Và phép biện chứng
của Mác khác phép biện chứng của Hêghen (biện chứng nhưng duy tâm) là biện chứng
duy vật. Chính Mác cũng tự so sánh này khi phê phán phép biện chứng Hêghen "lộn đầu
xuống đất". Đúng là Mác không phát hiện ra chủ nghĩa duy vật và phép biện chứng nói
chung, trước Mác đã tồn tại chủ nghĩa duy vật về thế giới và những qui luật biện chứng
đã được Hêghen trình bày khá toàn diện và sâu sắc dù mang tính duy tâm. Nhưng ông đã
tiếp thu, cải tạo, xây dựng lại cả chủ nghĩa duy vật và phép biện chứng, kết hợp, thống
nhất lại (chứ không phải lấy lại nguyên xi). Đúng là Mác có khẳng định điểm thiếu sót
chủ yếu triết học duy vật cũ là thiếu tính thực tiễn, không xuất phát từ thực tiễn hiện thực,
tức hoạt động của con người hiện thực. Nhưng chính Mác cũng có nói rằng triết học Mác
khác triết học Hêghen là ở chỗ hiểu và phát triển phép biện chứng một cách duy vật. Mác
không phải là người đầu tiên phát hiện ra phép biện chứng nhưng hạt nhân biện chứng
trong triết học cũ được các ông đang giá cao kể cả Ăng ghen và Lênin sau này.
Ăngghenbàn bổ sung phép biện chứng duy vật trong tự nhiên, còn Mác chỉ bàn sâu về
phép biện chứng xã hội, biện chứng lịch sử, dành vị trí lớn cho Lịch sử (nhất là với bộ Tư
bản). Mác thừa nhận quan niệm duy vật về tự nhiên trước đó để tiếp tục nghiên cứu phép

biện chứng lịch sử. Có lẽ sau này, Lênin có nói "sự mở rộng" quan niệm duy vật biện
chứng ấy vào nghiên cứu xã hội là theo ý nghĩa ấy mà thôi chứ không phải Mác xây dựng
xong chủ nghĩa duy vật biện chứng (với cách hiểu sau này) rồi mới áp dụng vào lịch sử.
Với phát minh ra phép biện chứng duy vật và thực tiễn về xã hội thì chủ nghĩa duy vật
biện chứng về toàn bộ tự nhiên và xã hội mới hoàn chỉnh.
Lúc đầu Mác và Ăngghen không gọi triết học mình với cái tên duy vật biện chứng vì phê
phán phép siêu hình thì Hêghen đã hoàn thành mà phê phán duy tâm thì Phơbách đã phê
khá rõ. Nhưng Mác bước tiếp Phơbách tìm ra cái thực tiễn và phép biện chứng xã hội, và
sáng tạo ra phép biện chứng lịch sử thực tiễn. Rồi ông cải tạo lại Hêghen về phép biện
chứng và nhận thức luận. Đó cũng là điều mà sau này Ăngghen và Lênin cùng nhiều nhà
triết học khác tiếp tục. Có thể còn phải nghiên cứu thêm những vấn đề cụ thể nhưng với ý
nghĩa đó thì triết học Mác cũng là triết học duy vật biện chứng, nói vậy không sai, mà rất
đúng. Chỉ có điều là phân biệt phần Mác phát kiến với việc ông cải tạo, tiếp thu, kế thừa.
Và khi trình bày thì phân biệt trình theo lịch sử triết học khác với theo giáo trình kết cấu
theo lôgích là chính và còn bao hàm sự bổ sung về sau với cái nhìn hiện đại, cái nhìn kết
tính của đỉnh cao triết học bao hàm trong đó cái của người khác, thời đại khác trước đó và
sau đó (chúng ta thấy rất rõ ở phần duy vật biện chứng). Cho nên, có thể trình bày bắt đầu
từ vật chất và ý thức như tiền đề chung của mọi chủ nghĩa duy vật nhưng theo tinh thần
mácxit (bao hàm cả vấn đề thực tiễn khi giải thích về ý thức). Tất nhiên cũng có thể mở
đầu bằng vấn đề thực tiễn như tồn tại người và hoạt động sống của con người và vai trò
của nó đối với sự phát triển xã hội, cải tạo tự nhiên. Vấn đề thực tiễn, vấn đề biện chứng,
vấn đề duy vật và nhân văn phải quán xuyến ngay từ đầu và xuyên suốt.
Cũng xin nói thêm là không chỉ bản thể luận không chỉ là vấn đề liên quan tới duy vật
hay duy tâm mà cả biện chứng hay siêu hình, vì bản chất của hiện thực khách quan, vật
chất vừa tồn tại khách quan vừa tồn tại biện chứng, tức trong sự liên hệ và vận động- phát
triển. Khi ta nói phải xuất phát từ thực tế khách quan mới có nhận thức đúng đó là
phương pháp luận và nhận thức luận chứ không chỉ phải có quan điểm toàn diện mới là
phương pháp luận hay nhận thức luận.
Và thực ra chủ nghĩa duy vật biện chứng như sách giáo khoa trình bày hiện nay là tổng
hợp cả ý kiến của Mác Ănghen. Lênin và các thế hệ triết học mácxit sau này cũng như

các thành tựu triết học trước Mác. Chính Lênin đã phát triển sâu về vấn đề vật chất với tư
cách một phạm trù triết học, vấn đề nhận thức luận và phép biện chứng xã hội. Từ đó
Ăngghen và Lênin đưa vào triết học Mác. Với ý nghĩa đó triết học của các ông là duy vật
biện chứng (cả về tự nhiên, xã hội và về tư duy), là Lôgích viết hoa. Đó là nền tảng và
linh hồn của triết học Mác. Hay gọi cách khác đó là triết học đại cương của Mác (cấp độ
một). Tât nhiên, chủ nghĩa duy vật biện chứng trong triết học Mác không phải là triết học
về tự nhiên, nhưng chưa đủ độ sâu về triết học xã hội.
Cái mới nhất, phát minh của Mác là duy vật lịch sử hay duy vật thực tiễn, hoặc cũng gọi
là triết học biện chứng xã hội. Phát minh của Mác là quan niệm duy vật lịch sử, nhưng
không chỉ duy vật mà cả phép biện chứng của lịch sử xã hội. Chủ nghĩa duy vật biện
chứng về lịch sử (gọi tắt là duy vật lịch sử) là triết học cơ bản nhưng cấp độ (hai) sau duy
vật biện chứng. Xuất phát tư duy vật thực tiễn, hai ông mác và Ăng ngen đã xây dựng
nên duy vật lịch sử và hoàn thiện triết học mới. theo nghĩa hẹp thì triết học Mác là duy
vật thực tiễn (Mác), tức nhìn theo chiều ngang, hoạt động của con người trong quan hệt
với tự nhiên và xã hội; hay duy vật lịch sử (Ăngghen), nhìn theo lát cắt quá trình lịch sử
xã hội loài người với những quy luật của nó. Nhưng theo nghĩa rộng, nghĩa đã hoàn
chỉnh, phát triển về sau thì triết học Mác là chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch
sử (hay phép biện chứng duy vật lịch sử) một khối thép không tách rời như nhận xét của
Lênin. Quá nhấn mạnh duy vật thực tiễn- khái quát đầu tiên của Mác- mà quên phép biện
chứng lịch sử, và sự cải tạp phép biện chứng duy tâm thành phép biện chứng duy vật, từ
đó cho rằng triết học Mác không phải là, hoặc "càng không có lý do" để … gọi là "chủ
nghĩa duy vật biện chứng" (Công tác tư tưởng và giảng dạy lý luận trong trường đại học
và cao đẳng hiện nay, sdd, tr.48) , tức quá nhấn mạnh một mặt, lại tách rời khỏi cái tổng
thể và bản chất, là một sai lầm lớn và lại biến triết học Mác thành siêu hình. Cách gọi chủ
nghĩa duy vật thực tiễn hay duy vật lịch sử là gọi tắt chứ không phải không có phép biện
chứng. Mác và Ăngghen cũng như Lênin đánh giá cao thành tựu của phép biện chứng
Hêghen không phải để chiêm ngưỡng mà biến thành và phát triển thành phép biện chứng
của mình. Nghiên cứu lịch sử triết học cái chính là để kế thừa và phát triển chứ không
phát chính là lại bỏ và phê phán.
Theo Mác thì "cách tiếp cận duy vật thì đồng thời phải là biện chứng." Và phép biện

chứng duy vật là linh hồn của triết học Mác. Điều này, một nhà mácxit người Anh -
Maurice Cornforth - trong khi chống lại K.Popper - nhà tư tưởng và khoa học nổi tiếng
của chủ nghĩa tư bản hiện nay xuyên tạc triết học Mác - đã chứng minh rất rõ (Maurice
Cornforth, Triết học mở, xã hội mở, Nxb. KHXH, 2002, tr.78-168) .
Nhưng có vấn đề là từ duy vật thực tiễn hay duy vật lịch sử , chúng ta không phát triển
phần duy vật nhân văn, tức triết học về con người như một bộ phận lớn, cơ bản, một
chuyên ngành của triết học Mác, dù là cấp độ thứ ba tiếp theo duy vật lịch sử. Mác chưa
có điều kiện phát triển triết học về con người nhưng đã đặt những nền móng cơ bản. Ông
chỉ mới phát triển phần duy vật lịch sử. Tuy vấn đề con người vừa thẩm thấu trong tất cả
vừa vừa tồn tại riêng như một thực thể (và tổng thể), một đối tượng riêng của triết học.
Nhưng giả định Mác không định xây dựng triết học về con người như một hệ thống thì
ngày nay thực tiễn xã hội cũng có nhu cầu, có điều kiện và cần phải như vậy. Các triết
học trước Mác cũng có chú ý giải quyết vấn đề triết học con người nhưng chưa thật sự
duy vật, khoa học và biện chứng, chưa có cơ sở thực tiễn đúng đắn và rõ nét.
Có thể cho rằng một thiếu sót của chủ nghĩa duy vật trước Mác, có loại ít đề cập tới chủ
nghĩa nhân bản, tức thiếu tính nhân bản, nhân văn, hoặc có loại khi đề cập tới tính nhân
bản thì duy tâm, hoặc trực quan, thiếu tính thực tiễn. Chũ nghĩa duy tâm cũng bàn về con
người nhưng như Hêghen thì con người chỉ là thực thể lý trí, không có cơ thể, không có
tự nhiên, không có hơi thở cuộc sống như Phơbách từng phê phán. Một số nhà triết học
lấy con người làm đối tượng triết học nhưng giải đáp chưa thành công. Chủ nghĩa Mác
với chủ nghĩa duy vật thực tiễn - lịch sử đã mang đến cho chủ nghĩa nhân bản một lập
trường duy vật biện chứng, nhưng lại chưa tiếp tục phát triển thuyết nhân bản, nhân văn
này thành một học thuyết triết học rõ ràng, hoàn chỉnh, và chưa xây dựng khoa học nhân
bản- nhân loại học. Một thời gian khá dài các nhà triết học mácxít cứ ngộ nhận đề cập tới
chủ nghĩa nhân bản ấy là duy tâm, là theo kiểu Phơbách, hoặc rơi vào lập trường tư sản,
trong khi đó nhấn mạnh một chiều và có phần siêu hình, một chiều lập trường giai cấp,
lập trường duy vật. Trong khi đó chủ nghĩa nhân bản vẫn tiếp tục phát triển trong triết
học tư sản hiện đại và khoa học nhân học, nhân loại học ra đời. Về mặt nội dung nhân
bản này, triết học Mác tỏ ra chậm chạp hơn. Cũng cần làm rõ thêm là triết học nhân bản
gắn với triết học đạo đức nhưng không đồng nhất mà nó rộng hơn và làm cơ sở cho triết

học đạo đức.
Còn vấn đề duy vật thực tiễn chưa thể hiện đầy đủ trong các giáo trình triết học, mới chỉ
ở phần nhận thức luận, còn duy vật lịch sử thì vấn đề thực tiễn trong nội dung hoạt động
của con người chưa thật sáng tỏ, và đặc biệt là từ đó không phát triển phần triết học về
con người như vấn đề nhu cầu, lới ích; vấn đề hoạt động, vấn đề giá trị, xu hướng phát
triển người, sự tha hóa và giải phóng con người… Tác giả của cuốn sách hai tập "Mác
nhà tư tưởng của cái có thể" đã nhận xét rất đúng về chủ nghĩa duy vật lịch sử là chủ
nghĩa duy vật thực tiễn về bản chất, còn về nội dung thì theo tôi không thể đồng nhất
hoàn toàn duy vật lịch sử và duy vật thực tiễn. Duy vật thực tiễn, xuất phát "từ con người
hiện thực", theo tôi hiểu, 1) một mặt được phát triển thành duy vật biện chứng trong phần
nhận thức là chính; 2) mặt nữa lại phát triển thành duy vật lịch sử - phép biện chứng về
quá trình lịch sử (cơ cấu, động lực và tiến trình phát triển xã hội); 3) còn một mặt khác
đang cần phát triển thành duy vật nhân văn - phép biện chứng về quá trình phát triển con
người (cơ cấu, động lực và tiến trình phát triển con người và giải phóng con người). Cần
phát triển triết học nhân văn mới này tiếp theo truyền thống triết học nhân loại và triết
học Mác nhưng là theo lập trường duy vật thực tiễn và biện chứng…
Theo nghĩa hẹp thì chủ nghĩa duy vật biện chứng xuất phát từ phạm trù cơ bản là vật chất
và biến đổi(vật chất nghĩa là biến đổi); còn chủ nghĩa duy vật thực tiễn thì xuất phát từ
phạm trù thực tiễn và con người hiện thực; chủ nghĩa duy vật lịch sử thì xuất phát từ
phạm trù thực tiễn và phạm trù hình thái kinh tế xã hội; chủ nghĩa duy vật nhân văn xuất
phát từ phạm trù con người hiện thực và bản chất con người. Nhưng vỉ chủ nghĩa duy vật
thực tiễn đã phát triển thành duy vật lịch sử và hiện nay là duy vật nhân văn nên ít sử
dụng lại thuật ngữ duy vật thực tiễn như một hệ thống riêng. Triết học Mác - Lênin ngày
nay có ba phương diện cơ bản là duy vật biện chứng, duy vật lịch sử - thực tiễn và duy
vật nhân văn như một hệ thống, khối thép không tách rời và nhất quán.
Có thể trình bày triết học Mác theo nghĩa rộng với quan niệm vật chất mang tính xuất
phát nhưng khi trình bày sang triết học xã hội và con người thì phải xuất phát từ con
ngừời hiện thực. Dù chúng ta không trình bày như trước đây phần duy vật biện chứng,
duy vật lịch sử, duy vật nhân văn riêng nhưng không vì vậy không rõ trọng tâm của
những vấn đề ấy. Trên thực tế vấn đề triết học về con người (thực thể thực tiễn- tự nhiên-

xã hội ) theo chiều sâu còn ít nội dung, nghèo nàn chưa tương xứng mà có dịp chúng tôi
đã trình bày.
Do vậy, cần phân biệt nội dung triết học chủ yếu do Mác phát hiện; những nội dung triết
học do Mác kế thừa, cải tạo và phát triển; những nội dung mà các thế hệ phát triển sau
đó; những nội dung của triết học Mác với tư cách là sự tổng hợp của một triết học.
Những hạn chế, sai lầm trong tiếp thu và cần phát triển triết học Mác là có nhưng cái nền
cơ bản là đúng.
Có quan niệm cho rằng khủng hoảng và sụp đổ của Liên Xô là do sai lầm về lý luận.
Đúng nhưng lý luận nào, cấp độ nào phải phân tích rõ. Phải chăng là do lý giải sai về triết
học như không rõ duy vật thực tiễn, chỉ nói duy vật biện chứng và duy vật lịch sử? Chúng
tôi cho rằng không phải như vậy. Nguên nhân tư tưởng lý luận của sự khủng hoảng và
sụp đổ chủ yếu là ở chỗ khác. Chẳng hạn như tư tưởng chủ quan, duy ý chí, ảo tưởng,
hoặc giản đơn siêu hình trong việc tuyệt đối hóa mặt đối lập trong mâu thuẫn, tức sai lầm
ở cấp độ nhận thức luận và phương pháp luận, tức có liên quan tới tư tưởng triết học. Mà
sai kiểu này không chỉ Liên xô mà cả Trung Quốc và Việt Nam. Vấn đề là không thắng
nổi tư tưởng phong kiến, tiểu tư sản và tư tưởng tư sản. Đồng thời sai lầm trực tiếp về lý
luận kinh tế chính trị (không thừa nhận kinh tế thị trường và sở hữu tư nhân khi nó còn có
tính khách quan) và chủ nghĩa xã hội khoa học (về những gia đoạn tiến tiên lên chủ nghĩa
xã hội), sai lầm trong quan điểm xây dựng đảng cầm quyền (độc đoán, vi phạm dân
chủ…). Tức sai lầm ở tầm quan điểm, vận dụng và tổ chứ thực hiện. Về lý luận thì thừa
nhận tính khách quan của hiện thực vật chất nhưng khi suy nghĩ và hành động lại chủ
quan nên có thể dẫn đến sai lầm lý luận ở cấp độ khác , thấp hơn như bỏ qua kinh tế thị
trường, sớm xóa bỏ kinh tế tư nhân.
Nếu có thể quy thêm cho triết học là do không phát triển triết học về con người, triết học
về chính trị, triết học phát triển… Riêng triết học về phát triển thì ta thấy những vấn đề cụ
thể của sự phát triển trong từng hình thái xã hội, hay những khía cạnh hình thái kinh tế xã
hội đặc thù, hình thái kinh tế xã hội thứ sinh, tái thư sinh, những vấn đề cụ thể (động lực,
nhịp độ, tiến trình, giai đoạn phát triển…) mà thực tiễn nêu ra không được nghiên cứu hệ
thống và khái quát trong một triết học để từ đó trang bị cho hoạt động thực tiễn. Thiếu sót
và sai lầm lý luận ở cấp cụ thể hơn cả về triết học cũng vậy chứ không phải ở cấp cơ bản

là chính. Chúng ta nói lý luận lạc hậu và đổi mới tư duy lý luận nhưng phải hiểu cụ thể lý
luận nào?
Nhưng cũng phải nói lại rằng ý thức chính trị độc đoán và chủ quan trong đang đã thắng
thế trong một thời gian dài sau khi Lênin mất. Sai lầm về tư tưởng như vậy có nguyên
nhân sâu xa là do tàn dư xấu trong xã hội quá mạnh và đảng lại mất cảnh gíac. Còn tại
sao có sai lầm về lý luận là do tư tưởng chính trị sai lầm (chính trị là thống soái- chính trị
kiểu phong kiến). Cái sai chiều sâu nhất là ở đó chứ không phải do "lý giải sai về …triết
học Mác"(Công tác tư tưởng và giảng dạy lý luận trong trường đại học và cao đẳng hiện
nay, sdd, tr. 42). Bởi vì ta có thể hỏi tại sao lý giải sai triết học Mác, hoặc vận dụng, phát
triển sai chủ nghĩa Mác- Lênin? Không thể qui cho nguyên nhân chính là nghiên cứu chủ
nghĩa Mác chưa kỹ, hoặc hoàn cảnh lịch sử (từ đất nước lạc hậu, hoặc trong sự bao vây
của chủ nghĩa tư bản đế quốc)- dù hoàn cảnh lịch sử là cái nguyên nhân cuối cùng, thì
chính tâm lý và tư tưởng kiểu phong kiến tiểu tư sản, thói quan liêu- cái mà Lênin nói
rằng sẽ làm cho chúng ta tiêu vong bắt đầu từ sai lầm về 1ý luận, tư tưởng và cuối cùng là
hành động thực tiễn, nếu chúng ta, hoặc những lãnh tụ cách mạng không chiến thắng
được nó. Tại sao Nguyễn Ai Quốc - Hồ Chí Minh tìm được chân lý gắn chủ nghĩa dân
tộc- chủ nghĩa yêu nước với chủ nghĩa Mác Lênin, độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội ở
một nước lạc hậu ở phương Đông là Việt Nam trong khi đó một số nhà cộng sản và quốc
tế thứ III lại không hiểu? Hiểu đúng khái niệm khoa học là cần thiết nhưng Hồ Chí Minh
hiểu triết học Mác, chủ nghĩa Mác-Lênin ở tinh thần của nó, vì bản thân khái niệm có hạn
chế của nó (mở miệng ra là sai rồi-Lão tử). Hồ Chí Minh coi rằng chủ nghĩa Mác có ưu
điểm là phép biện chứng hay phương pháp làm việc biện chứng (duy vật). Lênin nói rằng
cái cần mượn vĩnh cửu ở chủ nghĩa Mác là phương pháp luận (theo tôi hiểu là cả phương
pháp duy vật, phương pháp thực tiễn, phương pháp nhân văn- dân chủ, phương pháp biện
chứng).
Có người lại nêu vấn đề tại sao chủ nghĩa Mac Lênin là đúng nhưng lại nhiều người,
nhiều nước hiểu sai, làm sai đến vậy, và sai lâu dài vậy. Có thật chỉ là vận dụng sai
không? Có thể khẳng định những nội dung chung, cơ bản của chủ nghĩa Mác Lênin là
đúng cho một giai đoạn lịch sử lâu dài. Và các ông yêu cầu phải nghiên cứu, phát triển bổ
sung tuỳ theo hoàn cảnh lịch sử. Nhưng đi vào một số khía cạnh cụ thể thì những thế hệ

sau đã máy móc, không vận dụng và phát triển sáng tạo (cả tầm lý luận và chủ trương,
chính sách). Khi các ông cho rằng chủ nghĩa xã hội, như là giai đoạn không còn tư hữu,
không còn giai cấp và không còn kinh tế thị trường. Nhưng tiến trình đi lên chủ nghĩa xã
hội mà phần nhiều còn thấp hơn cả xã hội tư bản, tức chủ nghĩa xã chưa phải hậu tư bản
nhưng vì tư duy giản đơn nên xóa bỏ sớm kinh tế tư nhân và kinh tế thị trường. Và ngay
cả trường hợp chúng ta chúng minh được một vài nguyên lý lý luận của chủ nghĩa Mác là
sai ngay từ đầu thì cũng không thể phủ nhận toàn bộ chủ nghĩa đó với hệ thống nhiều
nguyên lý đúng đắn. Và cũng không nên hiểu mọi ý tưởng và quan niệm hay nguyên lý
nào đó Mác nêu ra đều đủ rõ ràng cả, không cần nghiên cứu, phát triển là rõ hơn, chẳng
hạn về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa cộng sản, về giới hạn của chủ nghĩa xã hội. Chính
Mác không muốn đoán mò và cũng không làm chi tiết vì thực tiễn và lịch sử hết sức đa
dạng và sinh động. Tính hạn chế lịch sử của chủ nghĩa Mác chỉ là ở chỗ đó chứ không
phải ở chỗ chủ nghĩa này nói chung đã lỗi thời.
Tại sao cũng chủ nghĩa Mác và Lênin lại vận dụng và phát triển thành công, chỉ đạo thực
tiễn thành công, hay với Hồ Chí Minh cũng vậy, còn với người khác thì sai lầm lớn?.
Không nên khi sai trong thực tiễn thì qui cho sai lầm ở tất cả các khâu hay cả ở khâu cuối
cùng bề sâu của nó, mà vấn đề là lần ra xem sai ở khâu nào, hoặc thiếu ở khâu nào, trục
trặc ở đâu chứ không phải sai cả, sai khác với thiếu, yếu, hoặc không phát triển thêm nên
bế tắc. Vấn đề 1ý luận ở đây cũng vậy.
Do đó không chỉ cần hiểu đúng những điều mà các nhà kinh điển đã trình bày mà quan
trọng nhất hiện nay là phát triển triết học Mác cả mọi phương diện theo nhu cầu của thực
tiễn. Với thực tiễn xã hội trên bình diện nhân loại, toàn thế giới đang ở bước ngoặt
chuyển sang toàn cầu hóa, kinh tế tri thức và tiến bộ vượt bậc của khoa học công nghệ
với sự khủng hoảng của môi trường sinh thái toàn cầu và cả môi trường chính trị xã hội
và nhân văn, nhất là ở các nước tư bản phát triển, thì như Ăngghen đã tổng kết là triết học
duy vật lại mang bộ mặt mới diện mạo mới, hình thức mới. Vây chủ nghĩa duy vật bây
giờ là gì. Theo tôi đó là chủ nghĩa duy vật nhân văn- hình thái mới của triết học mác xít
ngày nay. Và một trong những chuyên ngành của triết học cần phát triển nữa là triết học
phát triển.
IV- Chủ nghĩa duy vật thực tiễn hay là chủ nghĩa duy vật nhân văn?

Khi chúng ta nói về triết học Mác (C.Mác), chỉ thường nói về hai phương diện - bộ phận
cơ bản (có lẽ dùng từ phương diện chính xác hơn từ bộ phận) cấu thành là chủ nghĩa duy
vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử mà không chú ý phương biện- bộ phận cơ
bản thứ ba là chủ nghĩa duy vật thực tiễn. Chính Mác cho rằng chủ nghĩa duy vật mới của
mình là chủ nghĩa duy vật thực tiễn. Còn chính từ quan niện duy vật về lịch sử theo cách
nói của Ăngghen mà sau này ta gọi là chủ nghĩa duy vật lịch sử. Có thể nói rằng đó là ba
phương diện, ba mặt hay ba bộ phận cơ bản bao hàm lẫn nhau tạo thành triết học Mác
hoàn chỉnh như một khối thép. Đúng như Michel Vađée, chúng ta không thể diễn đạt tư
tưởng của Mác bằng một từ, một phương diện nào đó mà, theo tôi, phải bao gồm cả ba
phương diện cơ bản đó. Theo nghĩa rộng thì chủ nghĩa duy vật thực tiển là bản chất, tính
chất cơ bản và nội dung bao trùm mới mẽ của Mác với tư cách là chủ nghĩa duy vật rất
mới, khác duy vật cũ chứ không chỉ ở tính biện chứng của nó.
Trong giới triết học mácxít có thời đã tranh luận gay gắt về vấn đề này, nhưng hầu như
phương diện duy vật thực tiển - hay theo chúng tôi, về bàn chất, và theo nghĩa hẹp là chủ
nghĩa duy vật nhân văn với tư cách là triết học về con người thực tiễn- hiện thực trong
quá trình lịch sử sáng tạo, đấu tranh và giải phóng, tức phương diện nhân văn của triết
học Mác - vẫn mờ nhạt trong chương trình triết học mácxít. Tuy vậy, theo một tác giả
triết học người Pháp, Michel Vadée, trong tác phẩm Mác nhà tư tưởng của cái có thể (2
tập. Nxb. KHXH, H. 1996) , đã trình bày có hệ thống về chủ nghĩa duy vật thực tiển với
tư cách là "triết học hành động", "triết học của cái có thể", triết học về tư do và đó cũng là
chủ nghĩa nhân bản triết học. Đặc biệt là trong tập 2, tác giả có hẵn một phần và cũng là
toàn bộ nội dung của tập 2 này - Đó là Phần thứ 3: "Khả năng thực tế hay là chủ nghỉa
duy vật thực tiễn". Ở đây tác giả đã phân tích triết học của chủ nghĩa Mác với tư cách là
một "triết học hành động", triết học hoạt động (Mác nhà tư tưởng của cái có thể, Nxb.
KHXH, Hà Nội,. 1996, t. 2, tr.5, 9) như một sự đồng nghĩa. Nói triết học hoạt động rộng
hơn trết học thực tiễn. Chính các nhà triết học Italia, đứng đầu là Gramsci đã có công
phát hiện "triết học praxia" trong triết học Mác. Tư tưởng triết học này của Mác có kế
thừa và phát triển quan niệm của Aríttốt, Hêgel và của Epicuê. Ở phần kết luận tập 2, tác
giả trong mục về Con người với tư cách là tồn tại của cái có thể, đã nêu vấn đề: "Cuối
cùng, ở Mác là cái có thể gì đây? Đối với chúng ta, dường như các khái niệm làm cơ sở

cho sự phê phán của Mác về chính trị kinh tế học, những gỉ hợp thành" chủ nghĩa duy vật
lịch sử", những gì cuối cùng xác định" chủ nghĩa duy vật thực tiễn" của Mác với tư cách
là triết học của hoạt động tư do - đều chứa đựng tư tưởng về cái có thể ở một mức độ nhất
định, đôi khi ở mức độ cao" (Mác nhà tư tưởng…, Sđd, t. 2, tr.337 ) . Trong triết học này,
chủ nghĩa duy vật mới ấy thì khái niệm "Hoạt động là một phạm trù chủ chốt" không kém
phạm trù hình thái kinh tế xã hội. Phạm trù hoạt động là phạm trù phổ biến trong cả chủ
nghĩa duy vật biện chứng, nó rộng hơn phạm trù thực tiễn. Trong tự nhiên và xã hội,
không chỉ có cấu trúc và tác động qua lại mà còn là hoạt động của những lực lượng vật
chất khách quan tự thân. Không hiểu như vậy là một thiếu sót trong nhân thức về bản thể
vật chất trong đó có xã hội và con người.
Thế nhưng chúng ta chưa bao giờ phân tích phạm trù naỳ một cách thấu đáo có hệ thống
và hơn nữa ta thường hiểu phạm trù hoạt động với tư cách là phạm trù thực tiễn, và thực
tiễn chỉ mới xem xét về mặt nhận thức luận chứ không phân tích nó ở mặt bản thể luận và
lịch sử luận với tư cách là phạm trù triết học cơ bản và độc lập. Hoạt động là phạm trù
phổ biến cả trong tự nhiên và tư duy là cơ sở của phạm trù sản xuất và phạm trù thực tiễn
(Mác nhà tư tưởng…, Sđd, t. 2, tr 5) . Trong xã hội đó là hoạt động thực tiễn. Hoạt động
này có nhiều mức độ và hình thức của nó có được thể hiện trong duy vật lịch sử nhưng
chưa phân tích sâu phạm trù thực tiễn với tư cách là phạm trù triết học về con người, triết
học tự do và giải phóng, nhất là trong các giáo trình.
Mặc dù gia đoạn phát triển trong tư tưởng của mình Mác phân tích sâu cơ cấu kinh tế xã
hội của sự tiến hóa và phát triển xã hội nhưng tư tưởng về hoạt động thực tiễn luôn luôn
là tư tưởng cơ bản, nền tảng của ông, được định hướng từ đầu và ngày càng được đi sâu,
hoàn chỉnh thêm dưới các góc độ khác nhau, đặc biệt khi phân tích về con người và động
lực lịch sử xã hội. Với ý nghĩa đó Mác gọi triết học mới của mình là chủ nghĩa duy vật
thực tiễn . Khi xem xét vấn đề ở góc độ triết học, các nhà biện chứng luôn xem xét mối
liên hệ biện chứng, tác động qua lại của các sự vật và hiện tượng, nhưng Mác không
dừng lại vấn đề đó mà còn xem xét sự hoạt động và sự phát triển của chúng. C. Mác cũng
phê phán các nhà triết học ít coi phạm trù hoạt động như phạm trù then chốt của triết học.
Hêgel thì chỉ xem xét nó trong ý niệm và tinh thần, còn Phơbách thì xem nó một cách
trực quan, tư nhiên, Aríttốt nhìn toàn diện hơn cả mặt tiềm năng và hành vi dưới tác động

của năng lượng. Mác xem xét hoạt động cả cấp độ hoạt động sinh thành của tự nhiên, của
giới hữu cơ và của hoạt động của con người và tập trung vào lĩnh vực hoạt động của con
người, nhất là hoạt động sản xuất vật chất. Từ phạm trù này, Mác nghiên cứu các phạm
trù quan trọng khác như: nhu cầu và mục đích của hoạt động, giữa khách thể và chủ thể,
tính tất yếu và khả năng, về sự phát triển, tiến bộ, về tha hóa và tự do, sự giải phóng con
người và loài người, tức là đi tới chủ nghĩa nhân văn. Điều này không chỉ thể hiện ở tác
phẩm đầu tay mà đặc biệt sâu sắc và toàn diện ở trong bộ Tư bản - một tác phẩm không
chỉ thể hiện Lôgíchh viết hoa mà còn là tổng hợp sự nhuần nhuyễn của triết học Mác cả
ba phương diện cơ bản: duy vật biện chứng, duy vật lịch sử và duy vật thực tiễn dưới
hình thái triết học kinh tế, tức ở cấp độ triết học cụ thể hơn.
Chủ nghĩa Mác về triết học là vừa duy vật vừa biện chứng như là bản chất và nội dung
chung, nhưng nội dung đặc thù độc đáo là duy vật biện chứng về quá trình phát triển xã
hội. Tuy vậy, nó còn có một phương diện khác cũng rất đặc thù, mới mẽ, bản chất là mặt
thực tiễn, mặt hoạt động sáng tạo, sống động, mặt con người - tiểu vũ trụ. Không có hoạt
động thì không có biến đổi và phát triển kể cả tư nhiên, xã hội và con người Do đó, theo
Vachel Vađée, người ta đã có nhiều cách gọi về triết học này như: Dùng các khaí niệm:
chủ nghĩa duy vật biện chứng, triết học thực tiển, khoa học lịch sử, bản thể luận về họat
động (Mác nhà tư tưởng…, Sđd, t. 2, tr 14) . Dù nội dung của chủ nghĩa duy vật lịch sử
không chỉ là về hình thái kinh tế xã hội trong quá trình tiến hóa của nó mà đồng thời cũng
là quá trình hoat động thực tiễn sáng tạo của con người như là hoạt động của tự do, hoạt
động giải phóng. Mác sử dụng khái niệm triết học: "chủ thể" (Mác nhà tư tưởng…, Sđd,
t. 2, tr. 75) , và khái niệm hoạt động như là một thực thể làm thành khái niệm cơ bản, then
chốt của triết học ấy. Với ý nghĩa đó là một thứ triết học chủ thể. Đáng tiếc là mặt này
không được đào sâu, mở rộng trong duy vật lịch sử như là một phương diện mới, theo
chiều sâu mà sự phát triển triển của xã hội không chỉ về mặt kinh tế xã hội mà cốt lõi là
sự phát triển trong bản chất của của con người với toàn bộ năng lực của nó. Nói cách
khác triết học thực tiển củng tức là chủ nghĩa duy vật nhân văn, theo nghĩa rộng, triết học
toàn diện về con người- không được phát triển như một hệ thống vấn đề. ở chiều sâu. Do
đó, trong các giáo trình triết học, ta thấy nội dung cơ cấu hình kinh tế xã hội mà không
thấy hết chiều sâu hoạt động và chiều sâu con người vơí tư cách là một thực thể, từ đó

làm lu mờ triết học Mác về tự do. Triết học Mác là triết học của tự do (Mác nhà tư
tưởng…, Sđd, t. 2, tr. 256). Đúng là "toàn bộ tư tưởng của Mác được định hướng bằng tư
tưởng về tự do" . Về bản chất, đó là tư tưởng và triết học về tự do (Mác nhà tư tưởng…,
Sđd, t. 2, tr 256) , triết học về sự giải phóng. Đó là tư tưởng về sự nghiệp giải phóng giai
cấp và nhân loại, bao hàm cả dân tộc, tôn giáo… khỏi giai cấp thống trị và nô dịch. Do
vậy, chủ nghĩa công sản là phương tiện cao nhất để thực hiện sự nghiệp đó. Tư tưởng
nhất quán trên đây làm cho tư tưởng của Mác "trở thành một chủ nghĩa nhân văn" (Mác
nhà tư tưởng…, Sđd, t. 2, tr 256 . Đây là điều mà ta thấy khá nổi bật trong tư tưởng Hồ
Chí Minh. Chúng ta cần đào sâu hơn nữa phương diện này của triết học Mác và bổ sung
vào giáo trình hiện nay.
Chủ nghỉa duy vật lịch sử là phát hiện của Mác từ những năm 1843-1846, thì ngược lại,
tư tưởng triết học về tự do, hằng số lớn trong toàn bộ tác phẩm của Mác, và ngay từ thời
trẻ (Mác nhà tư tưởng…, Sđd, t. 2, tr 310 . Chủ nghĩa Mác vì vậy là một triết học nhân
văn, tức là là chủ nghĩa nhân đạo thực tiễn cao nhất trong quá trình phát triễn của triết
học nhân loại (Mác nhà tư tưởng…, Sđd, t. 2, tr 294 . Trong ba thành tố trong chủ nghĩa
Mác: tầm vóc khoa học, khuynh hướng thực tiển và ý nghĩa triết học(Mác nhà tư
tưởng…, Sđd, t. 2, tr 332 , thì triết học là thành tố nền tảng. Nó là "một triết học: một chủ
nghĩa nhân bản, bởi vì con người - nghĩa là mỗi cá nhân riêng biệt - là cứu cánh và mục
đích tự thân, mục đích cuối cùng. Mác hiểu quá tình lịch lịch sử có ý nghĩa "nhân văn".
Chủ nghĩa duy vật "thực tiễn" không ngăn cản tư tương Mác là tư tưởng về khả năng , bởi
vì chủ yếu nó là triết học về sự giải phóng và của sự tự do" (Mác nhà tư tưởng…, Sđd, t.
2, tr 336 . Tức là chủ nghĩa nhân văn hành thực tiễn. Chính vì thế không thể hiểu triết học
Mác đơn giản là quyết định luận mà thực ra là triết học vừa của cái tất yếu vừa của cái
khả năng, tức về bản chất là triết học tư do, triết học nhân văn. Hơn nữa chúng ta không
chỉ dừng lại sự phê phán triết học nhân bản duy tâm của Phơbách, hoặc các trường phái
không triệt để khác khi bàn về bản chất con người, chủ nghĩa nhân bản mà chỉ một chiều
nhân mạnh duy vật lịch sử - triết học xã hội mà không chú ý phát triển triết học nhân bản,
nhân văn của chủ nghĩa Mác. Trong khi đó các nhà triết học tư sản lại đi sâu vào vấn đề
con người, vấn đề hiện sinh, vấn đề nhân bản, vấn đề hành vi, vấn đề nhân học… dù là
phiến diện chăng nữa cũng đã đặt ra những vấn đề cần lý giải và nghiên cứu mới về triết

học chứ không chỉ dừng lại triết học xã hội - duy vật lịch sử nói chung.
Tuy vậy, cũng cần thấy rằng trong tác phẩm trên tác giả của nó cũng chỉ phân tích nhiều
vấn đề hoạt động thực tiễn, vấn đề tư do ở góc độ duy vật lịch sử , duy vật thực tiễn nhiều
hơn, còn khía cạnh cơ cấu, động lực, bản chất, quá trình phát triển của con người chưa
đây đủ. Hơn nữa với phạm trù thực tiễn hay hoạt động là thiên về mặt lịch sử xã hội mà
chưa bao quát hết tư tưởng về con người. nhất là các khái niệm liên quan như như cầu, lợi
ích, động cơ, bản chất, cơ cấu xu hướng tiến hóa của thực thể người. Phạm trù hoạt động
thực tiễn có một ngã đi vào duy vật biệnchứng, một ngã đi vào chủ nghĩa duy vật lịch sử,
một ngã đi vào duy vật nhân văn- duy vật thực tiễn. Do đó, theo chúng tôi cần xây dựng
bộ phận, phương diện mới của triết học của chủ nghĩa Mác - Lênin là chủ nghĩa duy vật
nhân văn- xét theo bản chất, trong đó bao hàm và dựa vào phát triển triển chính chủ nghĩa
duy vật thực tiễn - xét theo nguồn gốc - bản thể luận nói trên. Chủ nghĩa duy vật nhân
văn vẫn lấy phạm trù hoạt động thực tiễn làm một phạm trù xuất phát, cơ bản, đồng thời
coi phạm trù bản chất con người, cũng là một phạm trù xuất phát nữa đồng thời coi các
phạm trù sự phát triển tự do và nhân đạo của con người là những phạm trù nền tảng. Chủ
nghĩa duy vật lịch sử bàn về bản thể xã hội nóí chung trong quá trình lịch sử, còn chủ
nghĩa duy vật nhân văn bàn về bản thể con người và sự phát triển con người với tư cách
là cá nhân noí chung.
Do vậy, ba ngôi: tự nhiên - xã hội - và con người hay thiên - địa - nhân là tam vị nhất thể
phải đươc thể hiện trong triết học Mác - Lênin ngày nay, như Hồ Chí Minh đã đưa Dân
tộc học phương Đông vào chủ nghĩa Mác Lênin vậy.
Với cách tiếp cận chủ nghĩa duy vật thực tiễn hay nói đầy đủ hơn từ bản chất của nó là
chủ nghĩa duy vật nhân văn. Từ đó, theo cách nói của AndréJosel, chính là "Tiến tới xây
dựng lại triết học mácxít"- tên một cuốn sách xuất bản tại Paris, năm 1984 (Mác nhà tư
tưởng…, Sđd, t. 2, tr 86) .
Điều đó theo chúng tôi có nghĩa là trtên cơ sở đổi mới tư duy lý luận, chúng ta cần phát
hiện lại triết học Mác, nắm lấy bản chất, phương diện - bộ phận cơ bản cấu thành từ đó
tái cấu trúc lại triết học âý, bổ sung những vấn đề mới, nâng cao nó. Xây dựng các giáo
trình triết học cũng là một quá trình biện chứng chứ
hông phải một cách giáo điều, khô cứng, một lần là xong và theo một khuôn mẫu nhất

định. Cách trình bày triêt học thực tiễn của Michel Vandrée nói trên cũng là một ví dụ
trong việc nhận thức lại và cách trình bày sinh động về triết học mácxít rất cần tham khảo
và tiếp thu. Thiếu sót chính các giáo trình triết học của chúng ta hiện nay chủ yếu là
phương diện con người về mặc triết học chưa có độ rộng và độ sâu cần thiết để phù hợp
với cách tiếp cận của Mác là chủ nghĩa duy vật thực tiễn cũng là chủ nghĩa duy vật nhân
văn như đã nói ở trên.
V- Về phát triển triết học về con người - một khuynh hướng quan trọng nhất trong
triết học Mác ngày nay
Như chúng ta đã biết, triết học Mác- Lênin là học thuyết về sự phát triển phổ biến và toàn
diện nhất về tự nhên, xã hội và con người.Triết học đó có quá trìinh phát triển và tất
nhiên ngày nay có nhu cầu phát triển hơn nữa từ những tác động sâu sắc của thực tiễn xã
hội và cuộc đấu tranh tư tưởng, lý luận về thế giới quan, phương pháp luận và nhân sinh
quan.
Một trong những khuynh hướng và vấn đề quan trọng nhất đó la triết học về con người.
Trên nền tảng của quan niện duy vật và biện chứng Mác đã phát minh ra học thuyết duy
vật lịch sư mà nội dung cơ bản nhất là lý luận về hình thái kinh tế xã hội và vai trò con
người đối với lịch sử. Mặc dù ngay từ đầu Mác đã đề cập khá nhiều vấn đề về con người,
lấy con người hoạt động thực tiễn trong tổng hòa quan hệ với tự nhiên và xã hội, làm
điểm xuất phát cho triết học của mình. Nhưng nhìn chung ông đi sâu vào nghiên cứu hệ
thống xã hội mà ít có dịp nghiên cứu có hệ thống như một học thuyết lớn, cũng tức là ít
có chuyên luận riêng đồ sộ về vấn đề này. Tuy thế vấn đề con người xã hội, bản chất xã
hội của con người vẫn được Mác nghiên cứu, trình khá sâu sắc còn con người vô thức,
tâm linh, con người tự nhiên thì quả là còn trống.
Chủ nghĩa Mác đã phân tích con người về mặt chính trị, mặt tinh thần, nhất là mặt kinh
tế. Các nhà kinh điển đã phát hiện và làm rõ sự hình thành và phát triển của con người và
loài người chủ yếu từ lao động sản xuất xã hội; đồng thời cũng soi sáng phân tích mặt tự
nhiên, huyết thống, nhân chủng đối với sự hình thành ấy của con người. Nhưng dù sao
khi Mác nghiên cứu con người xã hội đã quan niệm rằng con người là gia đình, là xã hội,
là nhà nước và các hoàn cảnh xã hội nên đã làm rõ cơ sở khách quan của sự hình thành,
phát triển con người là một bước tiến xa so với những tác giả đương thời.

Trước Mác, các nhà triết học thường chỉ nghiên cứu làm rõ mặt nhân bản, tự nhiên, mặt
đạo đức, mặt nội tâm của con người trong quan hệ với vũ tru, như trong đạo Phật, đạo
Lão, đạo Khổng. Ở đây có nhiều hạt nhân hợp lý cần nghiên cứu kế thừa.
Triết học tư sản hiện đại, một mặt tiếp tục nghiên cứu khuynh hướng triết học khoa học,
hướng ngoại, thì maạ¨t khác lại đi vào nghiên cứutriết học nhân bản, phi duy lý, mang
tính hướng nội dù có mặt duy tâm nhưng đã có bước tiến là đi sâu vào nghiên cứu con
ngưới vô thức, tâm linh. Đó là chủ nghĩa Freud, chủ nghĩa Hiện sinh, thượng và hạ, đặc
biệt là nhân loại học triết học. Các khuynh hướng của chủ nghĩa nhân bản nói trên dù sao
cũng đã nêu lên được những vấn đề cụ thể trong đời sống nội tâm của con người như kết
cấu nhân cách, vấn đề vô thức, trực gíc, nhưng yếu tố tâm lý, tâm linh, những trạng thái
tâm lý của cái tôi (vui, buồn, cười khóc, cô đơn, buồn phiền, thất vọng…), vấn đề sinh
mệnh.trong chiều sâu bản thể, nhất là khi cái tôi trong xã hội tư bản chủ nghĩa rơi vào
khủng hoảng, bế tắc.Riêng nhân loại học triết học đã cố gắngđưa ra đối tượng của mình
như là sự tiếp cận toàn diện đối với con người trong mối liên hệ với chính mình, với lịch
sử, với vũ trụ và Thượng đế. Nhân loại học hay nhân học là một ngành khoa học được
thừa nhận ngày nay, nhưng nhân loại hoại học còn là về mặt triết học, tức vấn đề thế giới
quan. Về mặt triết học, nó bao gồm nhân loại học sinh vật học, nhân lạoi học tâm lý, nhân
loại học văn hóa. Các nhà nhân loại học về sau này cũng đã nhận thấy mặt còn hạn chế là
vấn đề đặt ra còn mang tính nhị nguyên, lại chưa chú ý đếm mặt xã hội chính trị của con
người. Nhưngcách đặt vấn đề của nhân loại học triết học có khá nhiều mặt cần phải quan
tâm nghiên cứu với tinh thần khách quan biện chứng.
Đúng là nhân loại học đã không chú ý, hoặc lãng tránh vấn đề xã hội, kinh tế và chính trị
của con người, tức là nghiên cứu tính hiện thực của con người trong kinh tế và chính trị
từ xã hội tư bản chủ nghĩa, chứ không chỉ là mặt sinh vật học và văn hóa.Về mặt này quả
là họ không vượt được chủ nghĩa Mác.
Trước uy tín của chủ nghĩa Mác về vấn đề con người, cũng đã có khuynh hướng muốn
kết hợp chủ nghĩa Freud, hoặc chủ nghĩ Hiện sinh với chủ nghĩa Mác Tuy có mặt hợp lý
nào đó nhưng họ thường nhìn qua lăng kính của chính chủ nghĩa Freud hay chủ nghĩa
Hiện sinh, làm sai lạc quan điểm mác xít về con người xã hội, nên nhìn chung chưa có
bước tiến đáng kể nào.

Khi chúng phê phán các triết học nhân bản trước đây cũng như triết học tư bản hiện đại,
phê phán phải khách quan, biện chứng, tức là lược bỏ mặt không đúng nhưng phải kế
thừa những nội dung hợp lý, đặt những vấn đề ấy trên miếng dđất hiện thực, khoa học với
lập trường duy vật biện chứng và nhân văn, có cách nhìn bao dung, tìm cái tương đồng ở
lòng bác ái, đức từ bi, tính nhân nghĩa, tình thương yêu nhân loại khổ đau… như Hồ Chí
Minh đã sử sự đối với các bậc vĩ nhân, các tôn giáo. Phê phán chủ nghĩa nhân bản
Phơbách như Mác đã làm cũng tức là không gạt bỏ tính nhân đạo cơ bản, vấn đề triết học
con người, cải tạo, phát triển nó, đối triết học tư sản ngày nay cũng vậy, không thể từ cực
này sang cực khác.
Ngày nay trong khoa học hiện đại, đặc biệt là các môn cận khoa học, cận hóa học, cận
tâm lý, cận vật lý, cận sinh học, có thể cả tâm linh học,đồng thời với toán tập mờđang cho
ta phương pháp, dữ liệu, thông tin để hiểu sâu sác về thế giới nội tại của conngười,hiểu
bản thể con người theo chiều sâu vũ trụ của nó. Ở đây ta bắt gặp vật lý hiện đại với đạo
học phương Đông, như thuyết đạo học của Lão tử, về chân như cũa Phật học, về âm
dương, kinh dịch trong nền văn hóa cổ Trung Hoa. Đó là chưa kể đến thuyết nhân nghĩa,
kiêm ái của Khổng Mạnh. Những tư tưởng triết học này đã ảnh hưởng lâu dài, mạnh mẽ
tới tư tưởng và tư duy ở nước ta và các nước phương Đông.
Một xu hướng nổi bật hiện nay là phương Đông thì hương về văn minh kỹ thuật phương
Tây, còn phương Tây lại hướng về văn hóa cổ đại và nhất là minh triết phương Đông. Dù
mỗi bên có đặc thù riêng trong phong cách tiếp cận và vấn đề nhưng lại không loại trừ
nhau mà bổ sung cho nhau, đặc biệt trên vấn đề nhân bản và nhân nghĩa, nhân văn, vấn
đề con người trong tổng hoà nhân sinh -vũ trụ ở cả chiều rộng và chiều sâu. Xu hướng
tích hợp văn hóa Đông Tây đang thành hiện thực và rất có triển vọng để tạo nên minh
triết mới của thời đại mới trí tuệ và hội nhập. Nhiều nhà triết học Đông -Tây đang đi theo
xu hướng đó đã có nhiều gặt hái thành công (như công trình Đạo vật lý, Tích hợp văn hóa
Đông Tây cho một chiến lược giáo dục tương lai). Nhiều vấn đề triết học mới nói chung
và triết học về con người đang đặt ra có tầm thời đại, từ thực tiễn đương đại, từ triết cổ
phương Đông cần được nghiên cứu, giải quyết để thúc đẩy triết học tiến lên, nhất là triết
học Mác Đó là những cơ hội và vấn đề mà thời Mác, Ănghen, Lênin chưa có. Hồ Chí
Minh cũng là một mẫunhình kết hợp văn hóa Đông Tây và thúc đây cho sự kết hợp đo.

Ngày nay một số nước ở châu Á, phương Đông đã thực hiện sự phát triển kinh tế xã hội
bằng sự kết hợp văn hóa, triết lý Đông - Tây rất thành công.
Việc phát triển triết học hiện đại về con người mà giới triết học đang quan tâm thì khá
nhiều, nhưng chung quy là:hệ con người sinh học trong sự liên thông với bản thể vũ trụ;
vấn đề con người tâm linh, con người sinh thái, khả năng ngoại cảm, vô hình, năng lực
trao đổi thông tin; vấn đề con người kinh tế với con người chính trị, con người văn hóa,
những tiềm năng con người cần phát triển; vấn đề phát triển nhân cách con người, chỉ số
phát triển người; vấn đề đặc thù và phổ biến trong bản chất, cấu trúc con người; sự tha
hóa, què quặt trong tâm hồn, đạo đức củia con người hiện đại và sự nghiệp giải phóng
con người trong quan hệ với giải phóng dân tộc và giải phóng xã hội
Những vấn đề trên đây có thể gợi mở thêm cho sự tổng hợp, tích hợp triết họcvề con
người. Mà theo chúng tôi với cách tiếp cận tổng hợp- tích có triển vọng nhất, khắc phục
sự cô lập, chia cắt con người của các khoa học chuyên ngành và tư duy phân tích, đó là
chủ nghĩa duy vật nhân văn. Chủ nghĩa duy vậy nhân văn như thế là một bộ phận mới, cơ
bản của triết học Mác hiện đại. Vấn đề chủ nghĩa nhân văn đã được nhiều người nghiên
cứu nhưng phải nâng lên tầm một triết học.
Chủ nghĩa duy vật nhân văn như thế là khác xa với nhân loại học triết học, dù có kế thừa
từ đó cũng như nhiều lý luận nhân bản khác trên nền tảng triết học Mác, cho nên nó lại có
thể mang lại cho chủ nghĩa nhân văn cũ một phương hướng phát triển mới đúng hơn,
Triiết học Mác cũng như các khoa học phải có khả năng sinh thành, phân hóa và tổng hợp
mới, tạo ra bộ phận mới, trình độ mới, giai đoạn mới theo sự phát triển của thực tiển và
lịch sử khoa học. Tất nhiên, triết học Mác sẽ phát triển ở nhiều phương diện của nó,
nhưng theo chúng tôi thì phát triển triết họcvề con người là xu hướng và vấn đề lớn nhất
và quan trọng nhất.
Như thế triết học Mác sẽ hoàn chỉnh ở cả ba bộ phận lớn về vũ trụ, xã hội và con người,
tạo thành một chỉnh thể. Chủ nghĩa duy vật nhân văn là triết học khoa học toàn diện về
con người đang phát triển trong thời đại ngày nay. Đó là cơ sở triết học trực tiếp cho
chiến lược phát triển con người, trước hết ở nước ta, có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc. Đây
không phải là vấn đề chữ nghĩa mà là một cách tư duy triết học tổng hợp- thống hợp khả
dĩ cho ta dễ năm được hệ thống và bản chất điều muốn diễn đạt.

×