BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
-----🙞🙞🙞🙞🙞-----
MÔN: NGHIỆP VỤ GIAO NHẬN VÀ VẬN TẢI HÀNG HÓA QUỐC TẾ
CHỦ ĐỀ: NGHIỆP VỤ GIAO NHẬN TRONG
VẬN TẢI ĐƯỜNG BIỂN
MỤC LỤC
I. Khái niệm về giao nhận, dịch vụ giao nhận và người giao nhận
1
1.1. Khái niệm về giao nhận (forwarding)
1
1.2 Khái niệm về dịch vụ giao nhận(Freight Forwarding Service)
1
1.3 Khái niệm người giao nhận (Forwarder/Freight Forwarder/ Forwarder Agent)
2
1.4 Các tổ chức giao nhận trên thế giới và Việt Nam:
7
II. Vai trò, quyền hạn, trách nhiệm của các bên liên quan trong q trình giao nhận
11
2.1 Vai trị của người giao nhận trong thương mại quốc tế
11
2.2. Quyền và nghĩa vụ của người giao nhận hàng hóa
14
2.3. Trách nhiệm của người giao nhận
15
III. Nguyên tắc giao nhận hàng hóa tại cảng
17
IV. Nội dung nghiệp vụ và thủ tục liên quan đến hoạt động giao nhận hàng hoá xuất nhập
khẩu
18
V. Chứng từ sử dụng trong nghiệp vụ giao nhận hàng hóa
5.1. Khái niệm
20
20
5.2. Các loại chứng từ xuất khẩu
21
5.3. Các loại chứng từ nhập khẩu
39
VI. Trình tự và nghiệp vụ giao nhận trong vận tải đường biển
45
6.1 Đối với hàng xuất khẩu
45
6.2 Đối với hàng nhập khẩu
52
VII. Thực trạng các dịch vụ giao nhận ở Việt nam
56
7.1 Thực trạng
56
7.2 Thuận lợi
57
7.3 Những mặt hạn chế
58
7.4 Giải pháp để hoàn thiện
61
I. Khái niệm về giao nhận, dịch vụ giao nhận và người giao nhận
1.1. Khái niệm về giao nhận (forwarding)
Giao nhận, vận tải hàng hoá là một bộ phận nằm trong khâu lưu thơng phân phối.
Nó là một mắt xích nối liền sản xuất và tiêu dùng, tạo nên một chu trình khép kín
của q trình tái sản xuất xã hội. Giao nhận thực hiện chức năng đưa sản phẩm từ
nơi sản xuất tới nơi tiêu dùng. Trong thương mại quốc tế, giao nhận hàng hoá phục
vụ đắc lực cho quá trình xuất nhập khẩu, là khâu quan trọng trong thực hiện hợp
đồng mua bán ngoại thương. Sở dĩ như vậy là do đặc điểm của thương mại quốc tế
là người mua và người bán ở những nước khác nhau. Sau khi hợp đồng mua bán
được ký kết, người bán thực hiện nghĩa vụ giao hàng, tức là hàng hoá được vận
chuyển từ người bán sang người mua. Để cho q trình vận chủn đó bắt đầu
được, tiếp tục được, kết thúc được, tức là hàng hoá đến được tay người mua cần
phải thực hiện hàng loạt các công việc khác nhau liên quan đến quá trình chuyên
chở như đưa hàng ra cảng, làm thủ tục gửi hàng, xếp hàng lên tàu, chuyển tải hàng
hoá ở dọc đường, dỡ hàng ra khỏi tàu và giao cho người nhận... Những công việc
đó được gọi là giao nhận. Như vậy, giao nhận là tập hợp các nghiệp vụ liên
quan đến quá trình vận tải nhằm thực hiện việc di chuyển hàng hoá từ nơi
gửi hàng đến nơi nhận hàng.
Bên cạnh đó đặc điểm của buôn bán quốc tế là người mua, người bán ở những
nước khác nhau. Sau khi những hợp đồng mua bán được ký kết, người bán bắt đầu
thực hiện giao hàng, tức là hàng hóa được vận chuyển từ nước người bán sang
nước người mua. Nhưng để cho quá trình vận chuyển bắt đầu được, tiếp tục và kết
thúc được, tức là hàng hóa đến tay người mua được, cần phải thực hiện hàng loạt
các công việc khác nhau liên quan đến q trình chun chở: đóng gói; bao bì ;
lưu kho; đưa hàng ra cảng; ; làm các thủ tục gửi hàng; xếp hàng lên tàu; chuyển tải
hàng hóa ở dọc đường; đỡ hàng ra khỏi tàu và giao cho người nhận;...Những cơng
việc đó được gọi là dịch vụ giao nhận.
1.2 Khái niệm về dịch vụ giao nhận(Freight Forwarding Service)
Dịch vụ giao nhận theo quy tắc của FIATA về dịch vụ giao nhận: là bất kỳ loại
dịch vụ nào liên quan đến chuyển, gom hàng, lưu kho, bốc xếp, đóng gói hay phân
phối hàng hóa cũng như dịch vụ tư vấn hay liến quan đến các dịch vụ trên, kể cả
1
các vấn đề hải quan, tài chính, mua bảo hiểm, thanh tốn, thu thập chứng từ liên
quan đến hàng hóa.
Cịn theo Luật Thương Mại Việt Nam: Dịch Vụ giao nhận hàng hóa là hành vi
thương mại, theo đó người làm dịch vụ giao nhận hàng hóa nhận hàng từ người
gửi, tổ chức vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm các thủ tục và các dịch vụ khác có
liên quan đến giao hàng cho người nhận theo ủy thác của chủ hàng, của người vận
tải hoặc người giao nhận khác.
1.3 Khái niệm người giao nhận (Forwarder/Freight Forwarder/ Forwarder
Agent)
Người kinh doanh dịch vụ giao nhận được gọi chung là người giao nhận. Bên
cạnh đó, người giao nhận có thể là chủ hàng, chủ tàu, công ty xếp dỡ hay kho
hàng, người giao nhận chuyên nghiệp hay bất cứ người nào khác có đăng ký kinh
doanh dịch vụ giao nhận hàng hóa.
Theo Luật Thương Mại Việt Nam thì người giao nhận được định nghĩa như sau:
Người làm dịch vụ giao nhận hàng hóa là thương nhân có giấy chứng nhận kinh
doanh dịch vụ giao nhận hàng hóa.
Trước đây người giao nhận thường chỉ làm đại lý(Agent) thực hiện một số công
việc do các nhà xuất , nhập khẩu ủy thác như: xếp dỡ; lưu kho hàng hóa; làm thủ
tục giấy tờ; lo liệu vận tải nội địa; thủ tục thanh toán tiền hàng;...
Nhưng cùng với sự phát triển của thương mại quốc tế và sự tiến bộ kỹ thuật trong
ngành vận tải mà dịch vụ giao nhận cũng được mở rộng hơn. Ngày nay người giao
nhận đóng vai trị quan trọng trong thương mại và vận tải quốc tế. Người giao
nhận không chỉ làm các thủ tục hải quan, hoặc thuê tàu mà cung cấp dịch vụ trọn
gói về tồn bộ q trình vận tải và phân phối hàng hóa. Ở các nước khác
nhau,người kinh doanh dịch vụ giao nhận dược gọi với những tên khác nhau như:
“Đại lý hải quan” (Customs House Agent), “Mơi giới hải quan” (Customs Broker),
“Đại lý thanh tốn” (Clearing Agent), hay “Đại lý gửi hàng và giao nhận”
(Shipping and Forwarding Agent) và trong nhiều trường hợp người giao nhận
đóng vai trị “Người chun chở chính” (Principal Carrier);...
● Đặc điểm của giao nhận hàng hoá xuất nhập khẩu:
Do người mua và người bán ở các quốc gia khác nhau nên giao nhận hàng hố
xuất nhập khẩu có những điểm khác so với vận chuyển và giao nhận hàng hoá nội
địa. Hàng hoá được vận chuyển trên những chặng đường dài và có thể phải thơng
2
qua nhiều phương tiện khác nhau, qua nhiều nước khác nhau. Do đó, việc chun
chở hàng hố xuất nhập khẩu phải được phép của Chính phủ của các bên bn
bán, tuân thủ luật pháp của các quốc gia, các điều ước, công ước quốc tế và tập
quán ở các nước. - Trong thương mại quốc tế, người mua và người bán thường
khơng trực tiếp giao nhận hàng hố với nhau mà phải giao nhận thông qua các đại
lý hoặc người chuyên chở. Đại lý giao nhận hoặc người chuyên chở chịu trách
nhiệm nhận hàng hoặc giao hàng trên cơ sở thực tế có kết hợp với các giấy tờ
chứng từ có liên quan. Cơng việc của người làm dịch vụ giao nhận địi hỏi phải có
kiến thức rộng rãi về nghiệp vụ ngoại thương, về luật pháp và nhiều lĩnh vực khác
có liên quan như vận tải, bảo hiểm, thanh toán quốc tế, thủ tục hải quan...
Người làm dịch vụ giao nhận hàng hoá được gọi đơn giản là người giao nhận khi
đảm nhiệm việc vận chủn hàng hố thì phải tuân theo quy định của pháp luật
chuyên ngành về vận tải, các quy định quốc tế về giao nhận vận chủn hàng hố
xuất nhập khẩu. - Do tính chất công việc và do phạm vi hoạt động ở quy mơ thế
giới nên người giao nhận có quan hệ khá rộng cả trong và ngoài nước. Ở trong
nước, người giao nhận có quan hệ với chủ hàng (người gửi hàng hay người nhận
hàng), các tổ chức thuộc bên thứ ba (người chuyên chở đường biển, đường bộ,
đường sông, đường sắt, đường hàng khơng, người bốc xếp, tổ chức đóng gói, kho
hàng, tổ chức bảo hiểm, kiểm nghiệm, ngân hàng...); các cơ quan hữu quan như:
hải quan, cảng vụ, cơ quan kiểm dịch, phịng Thương mại, cơ quan giao thơng vận
tải, cơ quan lãnh sự nước ngoài... Ở nước ngoài, người giao nhận thành lập các đại
lý để lo liệu công việc giao nhận ở cảng, sân bay, nhà ga xe lửa hay các địa điểm
khác.
● Phân loại giao nhận:
Dựa vào các khía cạnh, tiêu thức khác nhau, người ta có thể chia nghiệp vụ giao
nhận thành nhiều loại.
Căn cứ vào phạm vi hoạt động có: Giao nhận quốc tế: là hoạt động giao nhận phục
vụ tổ chức chuyên chở quốc tế; Giao nhận nội địa: là hoạt động giao nhận phục vụ
chuyên chở hàng hoá trong phạm vi một quốc gia.
Căn cứ vào phương thức vận tải có: Giao nhận hàng hoá chuyên chở bằng đường
biển; Giao nhận hàng hoá chun chở bằng đường sơng; Giao nhận hàng hố
chun chở bằng đường pha sơng biển; Giao nhận hàng hố chun chở bằng
đường sắt; Giao nhận hàng hoá chuyên chở bằng đường bộ; Giao nhận hàng hoá
chuyên chở bằng đường hàng khơng; Giao nhận hàng hố chun chở kết hợp
bằng nhiều phương thức vận tải khác nhau.
3
Căn cứ vào nghiệp vụ kinh doanh giao nhận có: Giao nhận thuần tuý: Là hoạt
động giao nhận chỉ bao gồm thuần tuý việc gửi hàng đi hoặc nhận hàng đến; Giao
nhận tổng hợp: là hoạt động giao nhận mà ngồi giao nhận thuần t cịn bao gồm
cả xếp dỡ, bảo quản hàng hoá, vận tải đường ngắn, hoạt động kho hàng.
Căn cứ vào tính chất của giao nhận có: Giao nhận riêng: là hoạt động giao nhận do
người xuất nhập khẩu tự tổ chức, không sử dụng lao vụ của người giao nhận; Giao
nhận chuyên nghiệp: là hoạt động giao nhận của các tổ chức, công ty chuyên kinh
doanh giao nhận theo sự uỷ thác của khách hàng.
● Ý nghĩa của hoạt động giao nhận hàng hoá xuất nhập khẩu:
Tầm vĩ mô: Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, cùng với q trình thực hiện
nhiệm vụ cơng nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, các doanh nghiệp giao nhận đã
đóng góp một phần khơng nhỏ vào sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội của đất
nước. Điều này thể hiện trên một số mặt sau:
a) Ý nghĩa về mặt kinh tế:
Giao nhận hàng hoá xuất nhập khẩu là một ngành nghề dịch vụ thương mại gắn
liền và liên quan mật thiết tới hoạt động ngoại thương và vận tải quốc tế. Đây là
một loại dịch vụ thương mại không cần đầu tư nhiều vốn nhưng lợi nhuận tương
đối ổn định nếu biết tổ chức, điều hành tốt trên cơ sở tận dụng hệ thống hạ tầng cơ
sở hiện có. Việc phát triển kinh doanh dịch vụ giao nhận kho vận ở nước ta đã
mang lại những hiệu quả kinh tế thiết thực. Trước hết nó tạo điều kiện cho Chính
phủ có thêm được nguồn thu ngoại tệ và đẩy mạnh hơn giao lưu kinh tế, nối liền
các hoạt động kinh tế giữa các khu vực trong nước, giữa trong nước với nước
ngoài, giữa các nước với nhau. Việc ứng dụng vận tải đa phương thức đã tạo điều
kiện đơn giản hoá chứng từ, thủ tục thương mại, hải quan do vậy hấp dẫn các bạn
hàng nước ngồi. Nó cũng giúp tạo thêm nguồn thu cho các công ty giao nhận
trong nước và tạo điều kiện ứng dụng nhanh chóng cơng nghệ vận tải hiện đại,
trên cơ sở đó cải tạo cơ sở hạ tầng vận tải. Giao nhận vận tải phát triển còn tạo
điều kiện phát triển loại hình bảo hiểm cung cấp cho người giao nhận như bảo
hiểm trách nhiệm dân sự của người giao nhận, bảo hiểm phương tiện vận chuyển...
Thực tế, cuối năm 1999 đầu năm 2000, một số hãng bảo hiểm trong và ngoài nước
đã ký được hàng chục hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự cho các nhà giao
nhận Việt Nam. Một nước như nước ta, nếu biết tổ chức tốt mô hình vận tải đa
phương thức, thì các nước láng giềng sẽ sẵn sàng cho hàng hoá của họ quá cảnh
qua nước ta để tận dụng những ưu thế về địa lý do rút ngắn chặng đường. Rốt
cuộc những điều này làm cho tiềm năng cạnh tranh của hàng hoá nước ta trên thị
4
trường quốc tế tăng lên đáng kể, góp phần đẩy mạnh xuất nhập khẩu, cải thiện một
phần cán cân tài chính của đất nước.
b) Ý nghĩa về mặt xã hội
Các doanh nghiệp giao nhận đã giải quyết một khối lượng lớn việc làm cho xã
hội, góp phần làm giảm tỷ lệ thất nghiệp trong xã hội, đặc biệt là từ khi vận tải đa
phương thức phát triển bởi lẽ đưa công nghệ vận tải mới vào đất nước yêu cầu
phải có những kỹ thuật, kỹ năng mới, cũng như những ngành nghề mới. Đi liền
với nó là đội ngũ cơng nhân, chuyên gia, cán bộ nghiệp vụ thành thạo trong việc
vận hành, bảo quản, sửa chữa, gia cố, giao nhận, lưu kho và vận chuyển container.
Từ đó đã xuất hiện các trung tâm gom hàng, giao nhận, phát hàng, hoàn trả vỏ
container, cùng các hệ thống kho bãi, cũng như đội ngũ cán bộ nghiệp vụ chuyên
lo giải quyết các thủ tục, giấy tờ, chứng từ đúng với yêu cầu và tập quán thương
mại quốc tế.
Tầm vi mô:
a) Giảm chi phí vận tải: Hiệu quả rõ rệt nhất mà các dịch vụ của người giao nhận
mang lại là giúp giảm giá thành, đẩy nhanh tốc độ lưu thơng hàng hố, tăng khối
lượng hàng hoá trong thương mại và vận tải quốc tế, tạo nên q trình vận chủn
hàng hố mang tính chun nghiệp, nhanh chóng, đồng bộ và an tồn. Cụ thể là:
● - Tăng khả năng cạnh tranh của hàng hoá trên thị trường quốc tế.
Khi người giao nhận cung cấp dịch vụ gom hàng, những người gửi hàng lẻ được
hưởng mức cước thấp hơn giá cước mà họ thường phải trả cho người chuyên chở
khi gửi hàng lẻ, do đó làm tăng khả năng cạnh tranh của hàng hoá trên thị trường
quốc tế. Mặt khác ,do nắm chắc nghiệp vụ gom hàng nên người giao nhận tính
tốn tiết kiệm được dung tích trọng tải của cơng cụ và phương tiện vận tải, nhờ đó
mà giảm được chí phí vận tải cho người gửi hàng, tức là giảm chi đối với hàng
xuất khẩu và tăng khả năng cạnh tranh của hàng hố.
- Tiết kiệm được giấy tờ, chi phí và thời gian. Hàng hoá trong container được bảo
quản tốt hơn, giảm được chi phí kho bãi .Dịch vụ mà người giao nhận cung cấp
góp phần phát huy ưu điểm của vận tải container. Hàng hố được đóng đầy
container, tận dụng tối đa khả năng chuyên chở. Khối lượng hàng lớn và thường
xuyên giúp người giao nhận được hưởng cước cũng như phí bảo hiểm ưu đãi, góp
phần giảm giá thành hàng hố. Do khơng phải giải quyết các lơ hàng lẻ nên tiết
kiệm được giấy tờ, chi phí và thời gian. Hàng hoá trong container được bảo quản
tốt hơn, giảm được chi phí kho bãi.
5
- Tạo điều kiện phát huy lợi ích của vận tải đa phương thức: Tạo ra một đầu mối
duy nhất trong việc vận chuyển từ cửa đến cửa. Việc hàng hố được đóng trong
container và chỉ có một chứng từ vận tải duy nhất làm cho công tác chuyển tải,
thông quan được nhanh chóng, dễ dàng hơn, đẩy nhanh tốc độ vận chuyển hàng
hoá.
b) Tạo điều kiện cho các nhà xuất nhập khẩu hoạt động có hiệu quả: Dịch vụ giao
nhận ra đời từ sự phát triển của thương mại và vận tải quốc tế và chính những
người giao nhận đã góp phần quan trọng làm cho thương mại và vận tải ngày càng
phát triển hơn nữa. Trước khi dịch vụ giao nhận ra đời các chủ hàng phải tự lo liệu
cơng việc giao nhận hàng hố với đủ loại thủ tục và chứng từ, rất vất vả mà hiệu
quả đem lại khơng thể nói là cao . Ngày nay công việc này được giao cho những
người kinh doanh giao nhận chuyên nghiệp. Với kỹ năng nghiệp vụ được đào tạo
cơ bản và hệ thống, có các mối quan hệ quen biết rộng rãi, người giao nhận là
người có khả năng nhất để tổ chức quá trình giao nhận vận chuyển hàng hoá một
cách tối ưu. Phạm vi dịch vụ mà người giao nhận cung cấp ngày càng mở rộng, có
thể bao gồm hầu hết hay tồn bộ các cơng đoạn thủ tục liên quan đến quá trình
vận động của hàng hoá. Chủ hàng chỉ cần tiếp xúc với một đầu mối duy nhất là
người giao nhận mà vẫn đảm bảo được từ việc tổ chức vận chuyển, bảo hiểm cho
hàng hoá, làm thủ tục hải quan, lưu kho bãi, bảo quản hàng hoá, giao và nhận
hàng... cho đến việc thanh tốn tiền hàng cũng như khiếu nại địi bồi thường tổn
thất. Nhờ vậy chủ hàng có thể chuyên tâm lo tìm nguồn cung cấp và tiêu thụ hàng
hố chứ không phải mất thời gian cho những công việc trên. Và nếu được u cầu
thì người giao nhận cũng có thể tư vấn, cung cấp cho chủ hàng các thông tin cần
thiết về thị trường, giúp tăng doanh số bán hàng. Kinh doanh giao nhận vận tải
ngày nay đã thay đổi nhiều về chất, không chỉ là chắp nối các phương tiện vận tải
lại với nhau mà điều quan trọng là trong q trình vận tải cịn cung cấp và đảm
bảo đầy đủ các dịch vụ có tác dụng làm gia tăng giá trị hàng hoá như: tư vấn về
vận tải, tư vấn về thị trường, cung cấp phương tiện chuyên chở, cung cấp các dịch
vụ hậu cần,v.v... Vì vậy, để chủ động trong kinh doanh, nhiều công ty giao nhận
tầm cỡ đã mạnh dạn đầu tư phương tiện vận tải riêng để cung cấp dịch vụ thật
nhanh chóng và hiệu quả cao. Kết quả là nhiều cơng trình bến cảng, kho bãi
chuyên dụng và các tuyến đường vận tải được chú trọng đầu tư xây dựng. Tóm lại,
nhờ có hoạt động giao nhận mà các thủ tục chứng từ liên quan đến q trình giao
nhận vận chủn hàng hố được đơn giản hoá, rút ngắn thời gian vận chuyển, tăng
khối lượng hàng hoá được trao đổi trong thương mại và vận tải quốc tế.
6
Sự phát triển của hoạt động giao nhận tạo điều kiện ứng dụng các thành tựu khoa
học kỹ thuật tiên tiến vào thực tế sản xuất, lưu thông và phân phối, phát huy được
những lợi ích của hoạt động gom hàng, vận tải container, vận tải đa phương thức
như tiết kiệm chi phí vận tải và bảo hiểm, hạ giá thành và tăng sức cạnh tranh của
sản phẩm, phát triển cơ sở vật chất kỹ thuật hạ tầng, tăng năng suất lao động xã
hội, tạo thêm nhiều ngành nghề dịch vụ mới giải quyết cơng ăn việc làm, góp phần
nâng cao đời sống xã hội.
1.4 Các tổ chức giao nhận trên thế giới và Việt Nam:
1.4.1. Tổ chức các cơ quan giao nhận thế giới:
Ngay từ năm 1522, hãng giao nhận đầu tiên trên thế giới đã xuất hiện ở
Badiley(Thụy Sỹ), với tên gọi là E.Vasnai. Hãng nàykinh doanh cả vận tải, giao
nhận và phí rất cao, khoảng 1/3 giá trị của hàng hóa. Cùng với sự phát tiển của
vận tải và buôn bán quốc tế, giao nhận được tách ra khỏi vận tải và buôn bán, và
dần dần trở thành một ngành kinh doanh độc lập. Những đặc điểm chính của tổ
chức giao nhận thời kỳ này là:
Hầu hết các tổ chức, hãng, công ty đều là tư nhân
Đa số các hãng kinh doanh giao nhận tổng hợp
Các hãng thường kết hợp với giao nhận nội địa và quốc tế
Có chun mơn hóa về giao nhận theo khu vực địa lý hay mặt hàng
Thường có cạnh tranh gay gắt lẫn nhau
Sự cạnh tranh gay gắt giữa các công ty giao nhận dẫn đến sự ra đời các hiệp hội
giao nhận trong phạm vi một cảng, một khu vực hay một nước, trên phậm vi quốc
tế đã hình thành các liên đoàn giao nhận như: liên đoàn những người giao nhận Bỉ,
Hà Lan, Mỹ,... và đặc biệt là liên đoàn quốc tế các hiệp hội giao nhận, gọi tắt là
FIATA
* Liên đoàn quốc tế các hiệp hội giao nhận(FIATA)
Được thành lập năm 1926 là một tổ chức giao nhận vận tải lớn nhất trên thế giới.
FIATA là 1 tổ chức phi chính trị , tự nguyện và là đại diện của 35000 công ty giao
nhận ở 130 quốc gia trên thế giới . Thành viên của FIATA là các hội viên chính
thức(Ordinnary members) và hội viên hợp tác(Associated members) Hội viên
chính thức là liên đồn giao nhận của các nước, cịn hội viên hợp tác là các cơng
ty giao nhận riêng lẻ.
7
FIATA được sự thừa nhận của các cơ quan Liên hợp quốc như: Hội đồng kinh tế xã hội LHQ(UCOSOC); Hội nghị của LHQ về thương mại và phát
triển(UNCTAD); Ủy ban châu âu của LHQ(ECE) và ESCAP...
FIATA cũng được các tổ chức liên đoàn liên quan đến vận tải và bn bán như:
Phịng thương mại quốc tế; hiệp hội vận chuyển hàng không quốc tế(IATA); các tổ
chức của người chuyên chở và chủ hàng thừa nhận.
Ngoài ra, với lịch sử 92 năm hình thành, FIATA hiện đang đảm nhận chức vụ tư
vấn cho Hội đồng Kinh tế và Xã Hội (ECOSOC) của Liên Hiệp quốc (bao gồm
ECE, ESCAP, ESCWA), Hội nghị của Liên Hiệp quốc về Thương mại và Phát
triển (UNCTAD) và Uỷ ban Liên Hiệp quốc về Luật thương mại Quốc tế
(UNCITRAL).
Một số đặc điểm, chương trình đào tạo của FIATA:
a) Giá trị phủ sóng tồn cầu: FIATA triển khai 2 chương trình đào tạo với đối
tượng, mục tiêu cụ thể và độ khó tăng dần.
- FIATA Diploma in International Freight Forwarding. Chương trình dành
cho các bạn yêu thích ngành nhưng chưa được đào tạo bài bản hay những
người trái ngành nhưng muốn được phát triển và trở thành chuyên gia trong
lĩnh vực Giao nhận Vận tải Quốc tế.
- FIATA Higher Diploma in Supply Chain Management dành cho học viên đã
có trải nghiệm nhất định về lĩnh vực này, nhằm rút ngắn thời gian chuẩn hóa
nền tảng kiến thức, ngay lập tức bước vào đào sâu kiến thức chuyên ngành
và nâng cao năng lực quản lý. Chương trình hướng đến hình thành khả năng
vận hành và định hình chiến lược cho hoạt động của tồn chuỗi.
Có thể thấy rằng, FIATA chú trọng chất lượng hơn là số lượng trong chương trình
đào tạo của mình.
b) FIATA Diploma in International Freight Forwarding – Cái nôi đào tạo nghề
chuyên nghiệp
Với sự biến chuyển không ngừng của thị trường, sự phức tạp về mơ hình vận hành
và tối ưu chuỗi cung ứng, Quản lý Giao nhận Vận tải Quốc tế (IFM) đang trở
thành hoạt động then chốt trong sự thành công của doanh nghiệp. Đặc biệt là khi
hầu hết tất cả các doanh nghiệp đã hoặc đang bước chân vào môi trường giao dịch
hàng hóa tồn cầu.
8
Nhận thấy được nhu cầu cấp bách đó, FIATA đã xây dựng chương trình Quản lý
Giao nhận Vận tải Quốc tế dựa trên bộ tiêu chuẩn ngành đang được áp dụng trên
hơn 150 quốc gia. Qua đó, người học sẽ được hệ thống hố kiến thức chun mơn
nghiệp vụ, nắm bắt được cách rút ngắn thời gian và giảm thiểu chi phí, tối ưu hố
hiệu quả ln chủn của dịng hàng cho doanh nghiệp.
Phương pháp giảng dạy kết hợp thực hành với kiến thức chun mơn, cùng sự hệ
thống hố kiến thức tương đương với người đi làm có kinh nghiệm từ 6 đến 8
năm, chất lượng nhân lực trong hoạt động giao nhận – vận tải Việt Nam sẽ được
nâng tầm.
c) FIATA Higher Diploma in Supply Chain Management – bước đệm vững chắc
cho nhà quản lý chuỗi cung ứng
Tại sao những “gã khổng lồ” tại các ngành công nghiệp lại cạnh tranh khốc liệt để
có được những tài năng hàng đầu về chuỗi cung ứng?
CEO của Apple và LEGO là 2 trong nhiều ví dụ điển hình chứng minh rằng các
nhà quản lý chuỗi cung ứng đang làm tăng thứ hạng công ty một cách rõ rệt.
Những năm chinh chiến với cương vị là Chief Supply Chain Officer (CSO) đã
giúp Tim Cook tơi luyện tầm nhìn chiến lược, dựa trên năng lực doanh nghiệp để
tối ưu hiệu quả chuỗi cung ứng cho từng vịng đời sản phẩm từ đó tạo ra sự thịnh
vượng của đế chế Apple.
Với chương trình FIATA Higher Diploma in Supply Chain Management, học viên
được đào tạo để phát triển năng lực quản lý và chuyên môn chuyên sâu cho tất cả
các mảng của chuỗi cung ứng bằng cách xây dựng hệ thống kiến thức chuyên mơn
gắn kết các phịng ban, xác định các điểm mấu chốt, các chỉ số cần nắm bắt của
nhà quản lý để cải thiện và tối ưu chuỗi cung ứng.
Sau 9 modules, các học viên sẽ có một cái nhìn bao quát hơn về chuỗi cung ứng
cũng như hiểu rõ mối lien hệ và sự tương tác qua lại giữa các phòng ban để phối
hợp tạo ra hiệu quả tốt nhất.
Mục tiêu chính của FIATA là bảo vệ và tăng cường lợi ích của người giao nhận
trên phạm vi quốc tế; nâng cao chất lượng dịch vụ giao nhận; liên kết nghề nghiệp,
tuyên truyền dịch vụ giao nhận vận tải; xúc tiến q trình đơm giản hóa và thống
nhất chứng từ và các điều kiện khinh doanh tiêu chuẩn nhằm cải tiến chất lượng
dịch vụ của các hội viên; đào tạo nghiệp vụ ở trình độ quốc tế; tăng cường mối
quan hệ phối hợp với các tổ chức giao nhận với các chủ hàng và người chuyên
9
chở. Phạm vi hđ của FIATA rất rộng, thông qua các hoạt động của hàng loạt các
tiểu ban:
Tiểu ban về quan hệ xã hội
Tiểu ban về nghiên cứu kỹ thuật vận chuyển ô tô, đường sắt, đường hàng không,...
Ủy ban về vận chuyển đường biển và vận tải đa phương thức
Tiểu ban luật pháp và chứng từ bảo hiểm
Tiểu ban đào tạo nghề nghiệp
Ủy ban về đơn giản hóa thủ tục buôn bán
Tiểu ban về hải quan
1.4.2. Các công ty giao nhận hàng hóa XNK ở Việt Nam:
Ở những năm 60 của thế kỷ XX, các tổ chức giao nhận quốc tế ở Việt Nam, mang
tính chất phân tán. Các đơn vị XNK tự đảm nhận việc tổ chức chuyên chở hàng
hóa của mình, vì vậy các cơng ty XNK đã thành lập riêng phòng kho vận; chi
nhánh XNK; trạm giao nhận ở các cảng, ga, đường sắt liên vận,...
Để tập chung cho đầu mối quản lý, chun mơn hóa khâu vận tải, giao nhận. Năm
1970 Bộ Ngoại Thương nay là Bộ Thương Mại đã thành lập 2 tổ chức giao nhận:
Cục kho Vận kiêm tổng công ty giao nhận ngoại thương , trụ sở ở Hải Phịng và
cơng ty giao nhận đường bộ, trụ sở tại Hà Nội
Năm 1976, Bộ Ngoại Thương đã sáp nhập 2 tổ chức trên thành 1 công ty giao
nhận thống nhất là Tổng công ty giao nhận và kho vận ngoại thương(Vietrans).
Trong thời kỳ bao cấp, Tổng công ty giao nhận và kho vận ngoại thương là công
ty duy nhất được phép tiến hành tổ chức giao nhận hàng hóa XNK trên cơ sở ủy
thác của các đơn vị XNK.
Giới thiệu Sơ lược về Vietrans: />Do sự phát triển mạnh mẽ của thị trường giao nhận Việt Nam, để bảo vệ quyền lợi
của các nhà giao nhận, Hiệp hội giao nhận kho vận Việt Nam(VIFFAS) đã được
thành lập năm 1994 và đã trở thành hội viên chính thức của FIATA trong năm đó.
Cho đến nay Hiệp hội giao nhận kho vận Việt Nam( dã có 46 thành viên.
Hiệp hội giao nhận kho vận Việt Nam có tên tiếng Anh là Vietnam Freight
Forwarders Association - VIFFAS.
10
Hiệp hội Giao nhận kho vận Việt Nam (dưới đây gọi là Hiệp hội) là một tổ chức
xã hội nghề nghiệp của các doanh nghiệp và các cá nhân (dưới đây gọi là Hội
viên) hoạt động trong lĩnh vực giao hàng, nhận hàng, kho hàng và tổ chức chuyên
chở hàng hóa xuất nhập khẩu của Việt Nam.
Tự nguyện thành lập nhằm mục đích hợp tác, liên kết, hỗ trợ và giúp đỡ lẫn nhau
trong việc phát triển nghề nghiệp, nâng cao hiệu quả kinh doanh và bảo vệ quyền
lợi hợp pháp của các hội viên trong các hoạt động thuộc lĩnh vực giao nhận kho
vận hàng hóa xuất nhập khẩu của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Trên cơ sở đó hội nhập với các hoạt động cùng loại của các đồng nghiệp trên thế
giới theo qui định của pháp luật.
Mục tiêu hoạt động:
Hiệp hội phối hợp hoạt động của các hội viên nhằm bảo vệ quyền lợi kinh tế,
chính trị và nâng cao địa vị của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong
các lĩnh vực có liên quan đến hoạt động giao nhận kho vận quốc tế cũng như
quyền lợi của các hội viên;
Kiến tạo mối quan hệ hợp tác, liên kết, hỗ trợ và giúp đỡ nhau giữa các đơn vị hội
viên thuộc mọi thành phần kinh tế hoạt động trong lĩnh vực giao nhận kho vận;
Góp phần nâng cao trình độ tác nghiệp, hình thức hoạt động nghiệp vụ, cải tiến
chất lượng hoạt động kinh doanh để góp phần đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả
hoạt động xuất khẩu, mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại và hợp tác đầu tư với
nước ngoài theo qui định của pháp luật Việt Nam.
Hiệp hội đại diện cho quyền lợi của cộng đồng các doanh nghiệp hội viên về các
lĩnh vực giao nhận kho vận trong các quan hệ kinh doanh và hợp tác quốc tế.
Hiệp hội tận dụng mọi điều kiện, phương tiện, tổ chức để bảo vệ và giúp hội viên
nâng cao và cải tiến chất lượng hoạt động trong lĩnh vực giao nhận kho vận nhằm
đáp ứng kịp thời các yêu cầu ngày càng tăng trong lĩnh vực này của các khách
hàng trong và ngoài nước.
Hiệp hội giúp đỡ hội viên trong quá trình đào tạo, bổ túc, nâng cao trình độ nghiệp
vụ cho các nhân viên, chuyên gia hoạt động trong lĩnh vực giao nhận kho vận để
đáp ứng các yêu cầu về nghiệp vụ của các đồng nghiệp trên thế giới.
11
II. Vai trò, quyền hạn, trách nhiệm của các bên liên quan trong q trình
giao nhận
2.1 Vai trị của người giao nhận trong thương mại quốc tế
Trước đây, người giao nhận chỉ làm đại lý thực hiện một số công việc do các nhà
XNK ủy thác như xếp dỡ, lưu kho hàng hóa, làm thủ tục giấy tờ, lo liệu vận tải nội
địa, thủ tục thanh toán tiền hàng,…
Song cùng với sự phát triển thương mại quốc tế và tiến bộ kỹ thuật trong ngành
vận tải mà dịch vụ giao nhận cũng được mở rộng gown. Ngày nay, người giao
nhận khơng chỉ làm đại lý, người ủy thác mà cịn cung cấp dịch vụ vận tải và đóng
vai trị như một bên chính(Principal) – người chun chở (Carrier)
2.1.1 Mơi giới hải quan ( Customs Broker)
Nhiệm vụ của người giao nhận: làm thủ tục hải quan hay đối với hàng nhập khẩu.
sau đó, họ mở rộng hoạt động phục vụ cả hàng xuất khẩu và dành chỗ chở hàng
trong vận tải quốc tế hoặc lưu cước với các hãng tàu theo sự ủy thác của người
xuất khẩu hoặc người nhập khẩu, tùy thuộc vào hợp đồng mua bán. Trên cơ sở
được Nhà nước cho phép, người giao nhận thay mặt người xuất khẩu, nhập khẩu
để khai báo, làm thủ tục hải quan như một môi giới hải quan.
2.1.2 Đại lý (Agent)
Người sẽ nhận ủy thác từ chủ hàng hoặc từ người chuyên chở để thực hiện các
công việc khác nhau như: nhận hàng, giao hàng, lập chứng từ làm thủ tục hải
quan, lưu kho,… trên cơ sở hợp đồng ủy thác.
Cụ thể: người giao nhận khi là đại lý:
- Nhận ủy thác từ một người chủ hàng để lo những công việc giao nhận hàng hóa
XNK, làm việc để bảo vệ lợi ích chủ hàng, làm trung gian giữa người gửi hàng với
người vận tải, người vận tải với người nhận hàng, người bán với người mua.
- Hưởng hoa hồng và khơng chịu trách nhiệm về tổn thất của hàng hóa, chỉ chịu
trách nhiệm về hành vi của mình chứ khơng chịu trách nhiệm về hành vi của
người làm công cho mình hoặc cho chủ hàng.
2.1.3 Lo liệu chuyển tải và tiếp gửi hàng hóa( transhipment and on- cariage)
Khi hàng hóa phải chuyển tải hoặc quá cảnh qua nước thứ ba, người giao nhận sẽ
lo liệu thủ tục quá cảnh hoặc tổ chức chuyển tải hàng hóa từ phương tiện vận tải
này sang phương tiện vận tải khác hoặc giao hàng đến tay người nhận.
12
2.1.4 Lưu kho hàng hóa
Về mặt bản chất, lưu kho là dịch vụ kho đơn thuần mà chủ hàng sử dụng, cho
phép hàng hóa được lưu trữ trong một thời gian xác định trước khi được chuyển
đến tay của khách hàng/người nhận.
Trong trường hợp phải lưu kho hàng hóa trước khi xuất khẩu hoặc sau khi nhập
khẩu, người giao nhận sẽ lo liệu việc đó bằng phương tiện của mình hoặc thuê
người khác và phân phối hàng hóa nếu có yêu cầu.
2.1.5 Người gom hàng( Cargo Consolidator)
Trong chuyên chở hàng hóa bằng container, dịch vụ gom hàng là khơng thể thiếu
nhằm biến hàng lẻ (LCL) thành hàng nguyên container(FCL) để tận dụng sức chở
của container và giảm cước phí vận tải. Gom hàng (consolidation) là việc tập hợp
những lô hàng lẻ từ nhiều người gửi ở cùng một nơi đi, thành những lô hàng
nguyên để gửi và giao cho nhiều người nhận ở cùng một nơi đến.
Hàng lẻ (Less than Container Load – LCL) là những lô hàng nhỏ, không đủ để
đóng vào trong một container hoặc là những lơ hàng khá lớn, nhưng có nhiều
người gửi và nhiều người nhận.
Hàng nguyên container (Full Container Load –FCL) là những lô hàng lớn hơn, đủ
để đóng vào trong một hoặc nhiều container và thường có một người gửi và một
người nhận.
* Việc gom hàng được tiến hành theo những quy trình sau đây:
- Người gom hàng nhận hàng nhận các lô hàng lẻ từ nhiều người gửi hàng
khác nhau tại một trạm gửi hàng lẻ container (CFS)
- Người gom hàng tập hợp lại thành lô hàng nguyên container, kiểm tra hải
quan và đóng hàng vào container tại CFS
- Người gom hàng gửi các container này bằng đường biển, đường sắt hoặc
đường hàng khơng,... cho đại lý của mình tại nơi đến
- Đại lý của người gom hàng ở nơi đến nhận các container này, dỡ hàng ra
và giao cho từng người nhận tại CFS nơi đến
=> Lợi ích của gom hàng đối với người giao nhận ( người giao nhận có thể đóng
vai trị là người chun chở hoặc chỉ là đại lý): Người giao nhận được hưởng
chênh lệch giữa tổng tiền cước thu được ở những người gửi hàng lẻ và tiền cước
phải trả cho người chuyên chở theo giá cước hàng nguyên thấp hơn. Người gom
13
hàng cũng thường được hưởng giá cước ưu đãi mà hàng tàu dành cho họ vì họ
ln có khối lượng hàng lớn và thường xuyên để gửi.
2.1.6 Người chuyên chở (Carrier)
- Người chuyên chở là bất kỳ người nào, tự mình hoặc trên danh nghĩa của mình,
một hợp đồng vận tải bằng đường biển đã được ký kết với người gửi hàng.
- Người giao nhận đóng vai trị là người chuyên chở, tức là người giao nhận
trực tiếp ký kết hợp đồng vận tải với chủ hàng và chịu trách nhiệm chuyên
chở hàng hóa từ một nơi này đến một nơi khác.
- Người giao nhận đóng vai trị là người thầu chuyên chở( Contracting
Carrier), nếu họ ký hợp đồng mà không trực tiếp chuyên chở. Nếu họ trực
tiếp chuyên chở thì họ là người chuyên chở thực tế.
“Người chuyên chở thực tế” là bất kỳ người nào được người chuyên chở ủy thác
thực hiện việc chuyên chở hàng hóa hoặc một phần việc chuyên chở đó, và bao
gồm bất kỳ người nào khác được giao phó thực hiện việc chuyên chở đó.
2.1.7 Người kinh doanh vận tải đa phương thức ( MTO)
- Trong trường hợp, người giao nhận cung cấp dịch vụ vận tải đi suốt hoặc còn gọi
là vận tải “ từ cửa đến cửa” thì người giao nhận đã đóng vai trị là người kinh
doanh vận tải đa phương thức ( Multimodal Transport Operator – MTO)
- MTO có thể tự mình thực hiện việc chủn chở hoặc có thể thuê người khác để
thực hiện một phần hoặc toàn bộ hợp đồng vận tải đa phương thức.
- Nếu MTO tự mình chun chở hàng hóa thì MTO đồng thời là người chuyên chở
thực tế (Actual Carrier, Performing Carrier).
- Nếu phải đi th người khác chun chở hàng hóa thì MTO là người thầu chuyên
chở (Contracting Carrier).
- Người giao nhận còn được coi là “ kiến trúc sư của vận tải” ( Architect of
Transport) vì người giao nhận có khả năng tổ chức quá trình vận tải một cách tốt
nhất, an toàn nhất và tiết kiệm nhất.
2.2. Quyền và nghĩa vụ của người giao nhận hàng hóa
Ðiều 167 Luật thương mại quy đinh, người giao nhận có những quyền và nghĩa vụ
sau đây:
- Người giao nhận được hưởng tiền công và các khoản thu nhập hợp lý khác.
- Thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của mình theo hợp đồng
- Trong q trình thực hiện hợp đồng, nếu có lý do chính đáng vì lợi ích của
khách hàng thì có thể thực hiện khác với chỉ dẫn của khách hàng, nhưng
phải thông báo ngay cho khách hàng.
14
- Sau khi ký kết hợp đồng, nếu thấy không thể thực hiện được chỉ dẫn của
khách hàng thì phải thông báo cho khách hàng để xin chỉ dẫn thêm.
- Phải thực hiện nghĩa vụ của mình trong thời gian hợp lý nếu trong hợp đồng
không thoả thuận về thời gian thực hiện nghĩa vụ với khách hàng.
2.3. Trách nhiệm của người giao nhận
2.3.1. Khi là đại lý của chủ hàng
Tuỳ theo chức năng của người giao nhận, người giao nhận phải thực hiện
đầy đủ các nghĩa vụ của mình theo hợp đồng đã ký kết và phải chịu trách
nhiệm về:
- Giao hàng khơng đúng chỉ dẫn
- Thiếu sót trong việc mua bảo hiểm cho hàng hoá mặc dù đã có hướng dẫn.
- Thiếu sót trong khi làm thủ tục hải quan
- Chở hàng đến sai nơi quy định
- Giao hàng cho người không phải là người nhận
- Giao hàng mà không thu tiền từ người nhận hàng
- Tái xuất không theo những thủ tục cần thiết hoặc không hoàn lại thuế
- Những thiệt hại về tài sản và người của người thứ ba mà anh ta gây nên.
Tuy nhiên, chúng ta cũng cần chú ý người giao nhận không chịu trách
nhiệm về hành vi lỗi lầm của người thứ ba như người chuyên chở hoặc
người giao nhận khác... nếu họ chứng minh được là đã lựa chọn cần thiết
Khi làm đại lý người giao nhận phải tuân thủ “điều kiện kinh doanh tiêu
chuẩn” (Standard Trading Conditions) của mình.
2.3.2 Khi là bên ủy thác
Khi người giao nhận đóng vai trị là bên ủy thác thì ngồi những trách nhiệm của
đại lý nói trên, người giao nhận cịn chịu tách nhiệm cả về những hành vi sơ xuất
của bên thứ 3 mà anh ta sử dụng để thực hiện hợp đồng. Trong trường hợp này,
người giao nhận thường thương lượng với khách hàng về giá cả phục vụ chứ
không phải chỉ nhận khoản hoa hồng như đại lý. Người giao nhận thường đóng vai
trị là bên chính – bên ủy thác khi thu gom hàng lẻ gửi đi, khi kinh doanh vận tải
đa phương thức, khi đảm nhận tự vận chuyển hàng hóa hay nhận bảo quản trong
kho của mình.
2.3.3. Khi là người chuyên chở (principal)
15
Khi là một người chuyên chở, người giao nhận đóng vai trị là một nhà thầu
độc lập, nhân danh mình chịu trách nhiệm cung cấp các dịch vụ mà khách
hàng yêu cầu.
- Họ phải chịu trách nhiệm về những hành vi và lỗi lầm của người chuyên
chở, của người giao nhận khác mà anh ta thuê để thực hiện hợp đồng vận tải
như thể là hành vi và thiếu sót của mình.
- Quyền lợi, nghĩa vụ và trách nhiệm của họ như thế nào là do luật lệ của các
phương thức vận tải quy định. Người chuyên chở thu ở khách hàng khoản
tiền theo giá cả của dịch vụ mà họ cung cấp chứ không phải là tiền hoa
hồng.
Người giao nhận đóng vai trị là người chun chở khơng chỉ trong trường
hợp họ tự vận chủn hàng hố bằng các phương tiện vận tải của chính
mình (perfoming carrier) mà còn trong trường hợp họ, bằng việc phát hành
chứng từ vận tải của mình hay cách khác, cam kết đảm nhận trách nhiệm
của người chuyên chở (người thầu chuyên chở - contracting carrier).
- Khi ng ười giao nhận cung cấp các dịch vụ liên quan đến vận tải như đóng
gói, lưu kho, bốc xếp hay phân phối ..... thì người giao nhận sẽ chịu trách
nhiệm như người chuyên chở nếu người giao nhận thực hiện các dịch vụ
trên bằng phương tiện của mình hoặc người giao nhận đã cam kết một cách
rõ ràng hay ngụ ý là họ chịu trách nhiệm như một người chuyên chở
Khi đóng vai trị là người chun chở thì các điều kiện kinh doanh tiêu
chuẩn thường không áp dụng mà áp dụng các cơng ước quốc tế hoặc các
quy tắc do Phịng thương mại quốc tế ban hành. Tuy nhiên, người giao nhận
không chịu trách nhiệm về những mất mát, hư hỏng của hàng hoá phát sinh
từ những trường hợp sau đây:
- Do lỗi của khách hàng hoặc của người được khách hàng uỷ thác
- Khách hàng đóng gói và ghi ký mã hiệu không phù hợp
- Do nội tỳ hoặc bản chất của hàng hố
- Do chiến tranh, đình cơng
- Do các trường hợp bất khả kháng.
Ngồi ra, người giao nhận khơng chịu trách nhiệm về mất khoản lợi đáng lẽ khách
hàng được hưởng về sự chậm chễ hoặc giao nhận sai địa chỉ mà khơng phải do lỗi
của mình.
2.3.4 Khi là người gom hàng
Khi đóng vai trị là người chun chở, người gom hàng không những chịu
trách nhiệm về hành vi, lỗi lầm của mình mà cịn phải chịu trách nhiệm về
16
hành vi, lỗi lầm của những người làm công cho mình. Họ phải chịu trách
nhiệm về tổn thất hàng hóa trong suốt quá trình vận tải từ nơi nhận hàng để
chở cho đến nơi giao hàng cuối cùng.
Nói cách khác họ phải chịu trách nhiệm về những tổn thất hư hỏng của hàng
hóa xảy ra khi hàng hóa cịn nằm trong sự trông nom của người chuyên chở
thực tế. Nhưng trong thực tế, nhiều người giao nhận cũng không chấp nhận
trách nhiệm đó. Họ vẫn tiếp tục coi mình là đại lý và ghi rõ điều này trong
vận đơn gom hàng của mình.Vì vậy, Liên đồn các hiệp hội giao nhận quốc
tế (FIATA) khuyến khích người giao nhận sử dụng vận đơn vận tải đa
phương thức (VTĐPT) của mình để chịu trách nhiệm thực sự về hàng hóa.
Theo điều khoản của vận đơn FBL, khi đã biết rõ chặng chuyên chở xảy ra
tổn thất thì trách nhiệm của người giao nhận sẽ được quyết định theo công
ước quốc tế đang áp dụng hay luật quốc gia nơi xảy ra tổn thất đó. Tuy vậy,
nếu khơng biết rõ tổn thất xảy ra ở chặng nào thì trách nhiệm của người
giao nhận sẽ được giới hạn trong 2 SDR/kg trọng lượng toàn bộ hàng bị hư
hỏng. Người giao nhận cũng phải chịu trách nhiệm về việc giao hàng chậm
với mức bồi thường không vượt quá giá trị cước của lô hàng.
III. Nguyên tắc giao nhận hàng hóa tại cảng
3.1 Cơ sở pháp lý
- Việc giao nhận hàng hoá XNK phải dựa trên cơ sở pháp lý như các quy phạm
pháp luật quốc tế, Việt nam...
- Các Công ước về vận đơn, vận tải (Công ước quốc tế về hợp đồng mua bán hàng
hố ....Ví dụ: Cơng ước Vienne 1980 về buôn bán quốc tế)
- Các văn bản quy phạm pháp luật của các quốc gia về giao nhận vận tải;
- Các loại hợp đồng và L/C mới đảm bảo quyền lợi của chủ hàng XNK
Ví dụ: Luật, bộ luật, nghị định, thông tư
+ Bộ luật hàng hải 1990
+ Luật thương mại 1997+ Nghị định 25CP, 200CP,330CP
+ Quyết dịnh của bộ trưởng bộ giao thông vận tải: quyết định số 2106 (23/8/1997)
liên quan đến việc xếp dỡ, giao nhận và vận chuyển hàng hoá tại cảng biển Việt
nam............
3.2 Nguyên tắc:
Các văn bản hiện hành đã quy định những nguyên tắc giao nhận hàng hoá XNK
tại các cảng biển Việt nam như sau:
- Khi được uỷ thác giao nhận hàng hoá xuất nhập khẩu với tầu, cảng nhận hàng
bằng phương thức nào thì phải giao hàng bằng phương thức đó
17
- Việc giao nhận hàng hoá XNK tại các cảng biển là do cảng tiến hành trên cơ sở
hợp đồng giữa chủ hàng và người được chủ hàng uỷ thác với cảng ( cơ sở có lợi
nhất )
- Ðối với những hàng hố khơng qua cảng (khơng lưu kho tại cảng) thì có thể do
các chủ hàng hoặc người được chủ hàng uỷ thác giao nhận trực tiếp với người vận
tải (tàu) (quy định mới từ 1991).
- Trong trường hợp đó, chủ hàng hoặc người được chủ hàng uỷ thác phải kết toán
trực tiếp với người vận tải và chỉ thoả thuận với cảng về địa điểm xếp dỡ, thanh
toán các chi phí có liên quan.
- Việc xếp dỡ hàng hóa trong phạm vi cảng là do cảng tổ chức thực hiện.Trường
hợp chủ hàng muốn đưa phương tiện vào xếp dỡ thì phải thoả thuận và có sự đồng
ý với cảng và phải trả các lệ phí, chi phí liên quan cho cảng.
- Cảng không chịu trách nhiệm về hàng hoá khi hàng đã ra khỏi kho bãi, cảng.
- Khi nhận hàng tại cảng thì chủ hàng hoặc người được uỷ thác phải xuất trình
những chứng từ hợp lệ xác định quyền được nhận hàng và phải nhận được một
cách liên tục trong một thời gian nhất định những hàng hố ghi trên chứng từ.
Ví dụ: vận đơn gốc, giấy giới thiệu của cơ quan....
- Việc giao nhận có thể do cảng làm theo uỷ thác hoặc chủ hàng trực tiếp làm
IV. Nội dung nghiệp vụ và thủ tục liên quan đến hoạt động giao nhận hàng
hoá xuất nhập khẩu
Phạm vi của dịch vụ giao nhận khá rộng. Trừ phi người gửi hàng hoặc người nhận
hàng muốn đích thân tham gia vào bất kỳ khâu thủ tục, chứng từ nào đó, thơng
thường thì người giao nhận thay mặt cho người gửi hàng hoặc người nhận hàng lo
liệu quá trình vận chuyển hàng hoá qua các cung đoạn cho đến tận tay người nhận
cuối cùng. Người giao nhận có thể cung cấp các dịch vụ này một cách trực tiếp
hoặc thông qua những người thầu phụ hay đại lý khác miễn là đảm bảo hàng hố
đến nơi an tồn và đạt hiệu quả kinh tế. Ngồi ra người giao nhận cịn có thể tận
dụng các dịch vụ được cung cấp bởi các đại lý của họ ở nước ngồi. Vì hoạt động
giao nhận là việc tổ chức quá trình chuyên chở hàng hoá từ nơi gửi đến nơi nhận
hàng nên nghiệp vụ này bao gồm nhiều công việc, cụ thể là:
Thay mặt cho người gửi hàng:Khi thay mặt cho người gửi hàng, người giao nhận
có thể thực hiện các cơng việc sau:
- Lựa chọn tuyến đường, phương thức vận tải và người chun chở thích hợp để
đảm bảo hàng hố được vận chủn nhanh chóng, an tồn, chính xác, tiết kiệm
18
- Ký hợp đồng chuyên chở với người chuyên chở đã được lựa chọn, thuê tàu, lưu
cước; - Nhận hàng từ người gửi hàng và cấp các chứng từ thích hợp
- Nghiên cứu các điều khoản của thư tín dụng và tất cả các quy định của Chính
phủ về việc gửi hàng tại nước xuất khẩu, nước nhập khẩu cũng như nước quá
cảnh; người giao nhận cũng phải chuẩn bị mọi chứng từ cần thiết
- Đóng gói hàng hố (trừ phi người gửi hàng đã làm trước khi giao hàng cho
người giao nhận), có tính đến tuyến đường, phương thức vận chuyển, bản chất của
hàng hoá và các quy định hiện hành, nếu có, tại nước xuất khẩu, các nước quá
cảnh và nước nhập khẩu;
- Lưu kho, bảo quản hàng hoá;
- Cân, đo hàng hoá
- Lưu ý người gửi hàng về việc cần thiết bảo hiểm cho hàng hoá và, nếu ngưòi
gửi hàng yêu cầu, lo liệu việc mua bảo hiểm cho hàng hoá
- Vận chuyển hàng hoá ra cảng, làm thủ tục thơng quan cho hàng hố, lo liệu các
chứng từ có liên quan và giao hàng cho người chuyên chở
- Tham gia vào các giao dịch ngoại hối, nếu có
- Thanh tốn cước phí và các chi phí khác
- Nhận vận đơn đã ký từ người chuyên chở và giao vận đơn cho người gửi hàng; Lo liệu việc chuyển tải trong hành trình nếu cần
- Giám sát tồn bộ hành trình vận chủn hàng hố đến khi người nhận hàng nhận
được hàng hố thơng qua người chun chở và các đại lý giao nhận ở nước ngoài
- Ghi nhận các mất mát, hư hỏng (nếu có) của hàng hố và thơng báo cho người
chun chở; lập các biên bản, chứng từ cần thiết để bảo vệ quyền lợi cho khách
hàng
- Giúp người gửi hàng khiếu nại đòi bồi thường về những mất mát, hư hỏng của
hàng hoá trong quá trình chuyên chở.
Thay mặt cho người nhận hàng: Khi thay mặt cho người nhận hàng, người giao
nhận có thể thực hiện các công việc sau:
- Giám sát quá trình vận chủn hàng hố thay mặt cho người nhận hàng khi
người nhận hàng kiểm soát tàu;
19
- Nhận và kiểm tra tất cả các chứng từ phù hợp liên quan tới q trình vận chủn
hàng hố; Nhận hàng từ người chuyên chở và, nếu cần, thanh toán cước chuyên
chở;
- Làm thủ tục hải quan và nộp thuế cùng với các loại phí và lệ phí khác; - Lo liệu
việc lưu kho, lưu bãi, nếu cần;
- Giao hàng đã làm xong thủ tục thông quan cho người nhận hàng;
- Giúp người nhận hàng khiếu nại người chuyên chở về những mất mát, hư hỏng
của hàng hoá xảy ra trong quá trình chuyên chở;
- Giúp người nhận hàng trong việc lưu kho và phân phối hàng hoá.
Các dịch vụ khác của người giao nhận: Ngoài các dịch vụ đã nêu trên, tuỳ thuộc
vào yêu cầu của khách hàng, người giao nhận cũng cung cấp các dịch vụ khác, các
dịch vụ đặc biệt như:
- Gom hàng và phân phối hàng lẻ
- Vận chuyển các hàng đặc biệt như vận chủn máy móc thiết bị cho các cơng
trình xây dựng lớn, các cơng trình chìa khố trao tay; vận chủn hàng may mặc
treo trong các container đến thẳng các cửa hàng; vận chuyển hàng triển lãm ra
nước ngoài;...
- Tư vấn cho khách hàng, cung cấp các thông tin về các nhu cầu của thị trường,
về các thị trường mới, các vị thế cạnh tranh, chiến lược xuất nhập khẩu, các điều
kiện thương mại thích hợp để đưa vào các hợp đồng ngoại thương. Trong những
năm gần đây, người giao nhận còn thường cung cấp dịch vụ vận tải đa phương
thức (đóng vai trị của MTO - người kinh doanh vận tải đa phương thức). Người
giao nhận đã khẳng định vững chắc vị trí của mình trong thương mại và vận tải
quốc tế.
V. Chứng từ sử dụng trong nghiệp vụ giao nhận hàng hóa
5.1. Khái niệm
5.1.1. Chứng từ
Chứng từ là các văn bản giấy tờ ghi lại nội dung của một sự kiện giao dịch, một nghiệp
vụ phát sinh. Chứng từ có thể bằng giấy tờ hoặc bằng sự ghi nhận của các phương tiện
điện tử.
Chứng từ hợp lệ phải đảm bảo:
20
– Tính pháp lý: ví dụ như các bên tham gia vào giao dịch phải ký xác nhận để nếu có xảy
ra tranh chấp giữa các bên thì đây sẽ là bằng chứng, là cơ sở để phân xử đúng sai mà các
bên không thể chối cãi được.
– Đảm bảo tính pháp luật: tuân thủ theo đúng các quy định của Nhà nước, kể cả về mặt
hình thức.
– Đảm bảo tính trung thực: sự kiện ghi lại phải là có thực, khơng được bịa đặt.
– Tính rõ ràng: đầy đủ nội dung, cụ thể, dể hiểu, không đa nghĩa.
Tuỳ theo từng nghiệp vụ phát sinh khác nhau mà có các chứng từ khác nhau. Có thể chỉ
một văn bản chứng từ cũng là đầy đủ cho một nghiệp vụ, và cũng có những nghiệp vụ
phải có nhiều loại văn bản chứng từ đi cùng với nhau mới tạo thành một bộ chứng từ đầy
đủ.
5.1.2. Chứng từ giao nhận đường biển
Chứng từ giao nhận đường biển là tập hợp những chứng từ cần có để đảm bảo q trình
xuất nhập khẩu hàng hóa cũng như kiểm kê tại hải quan sao cho q trình vận tải được
thơng quan nhanh nhất. Khi vận chuyển hàng hóa bằng đường biển, chủ hàng bắt buộc
phải chuẩn bị các chứng từ này để phục vụ cho quá trình vận tải.
5.2. Các loại chứng từ xuất khẩu
5.2.1. Chứng từ hải quan
Chứng từ hải quan, hay chứng từ phục vụ cho quá trình làm thủ tục hải quan hàng hóa.
Các hàng hóa khi vận chuyển ra nước ngoài bắt buộc phải chuẩn bị bộ chứng từ theo quy
định của hải quan. Theo đó, bộ chứng từ hải quan bao gồm:
– 01 bản chính văn bản cho phép xuất khẩu của bộ thương mại hoặc bộ quản lý chuyên
ngành (đối với hàng xuất khẩu có điều kiện) để đối chiếu với bản sao phải nộp.
– 02 bản chính tờ khai hải quan hàng xuất khẩu
– 01 bản sao hợp đồng mua bán ngoại thương hoặc giấy tờ có giá trị tương đương như
hợp đồng
– 01 bản giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh và giấy chứng nhận đăng ký mã số doanh
nghiệp (chỉ nộp một lần khi đăng ký làm thủ tục cho lô hàng đầu tiên tại mỗi điểm làm
thủ tục hải quan).
– 02 bản chính bản kê chi tiết hàng hố (đối với hàng khơng đồng nhất)
21
Trong đó có các nhóm chứng từ chính bao gồm:
a. Tờ khai hải quan (Customs Declaration)
Tờ khai hải quan là văn bản cho người chủ hàng, chủ phương tiện khai báo xuất trình cho
cơ quan hải quan. Tờ khai hải quan được xuất trình trước khi hàng hoặc phương tiện xuất
hoặc nhập khẩu vào lãnh thổ quốc gia.
Theo thông lệ quốc tế cũng như pháp luật tại Việt nam thì tờ khai hải quan là quy định bắt
buộc đối với phương tiện xuất hoặc nhập khẩu qua các cửa khẩu quốc gia. Mọi hành vi vi
phạm cũng như không khai báo trung thực đều bị cơ quan hải quan xử lý theo pháp luật
hiện hành.
b. Hợp đồng mua bán ngoại thương (Sales contract)
Hợp đồng ngoại thương là văn bản được ký kết về thỏa thuận mua bán hàng hóa giữa hai
bên người bán và người mua, theo đó bên xuất khẩu có nghĩa vụ chuyển vào quyền sở
hữu của bên nhập khẩu một tài sản nhất định gọi là hàng hố. Bên nhập khẩu có nghĩa vụ
nhận hàng và trả tiền hàng. Đây là văn bản quan trọng nhất khi giao dịch mua bán giữa
các bên và quyết định đến mọi hoạt động xuất nhập khẩu trong giao dịch đó.
c. Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh và giấy chứng nhận đăng ký mã số thuế doanh
nghiệp
Doanh nghiệp cần cung cấp thông tin về giấy đăng ký kinh doanh và mã số thuế của
doanh nghiệp để làm căn cứ chứng minh doanh nghiệp hoạt động hợp pháp, trong đó:
Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh là loại giấy tờ ghi nhận ngày đăng kí kinh doanh
lần đầu - “giấy khai sinh” của doanh nghiệp.
Giấy chứng nhận đăng ký mã số thuế doanh nghiệp là dãy số được tạo bởi hệ thống thông
tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp. Mỗi doanh nghiệp chỉ có một mã số thuế duy nhất
và không được sử dụng lại để cấp cho doanh nghiệp khác.
Trước đây doanh nghiệp XNK phải nộp giấy phép kinh doanh XNK loại 7 chữ số do Bộ
Thương mại cấp. Hiện tại tất cả các doanh nghiệp đủ một số điều kiện (về pháp lý, về
vốn....) là có quyền xuất nhập khẩu trực tiếp
d. Bản kê chi tiết hàng hoá (packing list)
Bản kê chi tiết hàng hoá là chứng từ về chi tiết hàng hoá trong kiện hàng được người bán
lập. Nó tạo điều kiện thuận tiện cho việc kiểm tra hàng hố. Ngồi ra nó có tác dụng bổ
sung cho hố đơn khi lơ hàng bao gồm nhiều loại hàng có tên gọi khác nhau và phẩm cấp
22
khác nhau. Phiếu đóng gói thường được đặt trong các bao bì hoặc túi gắn ở bên ngồi sao
cho người mua có thể dễ dàng tìm thấy.
Một Packing List đầy đủ gồm những nội dung:
◾ Tiêu đề trên cùng : Logo, tên, địa chỉ, Tel, Fax của doanh nghiệp
◾ Thông tin người bán: Tên, địa chỉ, Tel, Fax
◾ Số và ngày Packing List
◾ Thông tin người mua: Tên, địa chỉ, Tel, Fax của doanh nghiệp mua hàng
◾ Số lượng container và số container
◾ Ref no: Số tham chiếu ( Có thể là số đơn hàng, thông báo khi hàng đến,...)
◾ Port of Loading : cảng bốc hàng
◾ Port of Destination: Cảng đến, cảng dở hàng
◾ Vessel Name: tên tàu, số chuyến tàu
◾ ETD : Ngày dự kiến tàu chạy
◾ Product : Mơ tả hàng hóa như tên hàng, ký hiệu mã, thể tích, số kiện,...
◾ Packing: số lượng thùng, hộp, kiện đóng gói theo đơn vị ở dưới
◾ NWT ( Net weight) : Trọng lượng thực của hàng hóa
◾ GWT ( Gross weight) : Trọng lượng tổng gồm cả trọng lượng của dây buộc, thùng, hộp
đựng,...
◾ Xác nhận của bên bán hàng: Ký tên, đóng dấu
◾ Ngồi ra, phiếu đóng gói đơi khi cịn phải ghi rõ tên người đóng gói, người kiểm tra kỹ
thuật.
Trên thực tế, mỗi doanh nghiệp lại làm phiếu đóng gói chỉ cần một vài nội dung chính.
Dù dùng mẫu nào thì cũng cần có : số và ngày lập; thông tin của Seller và Buyer; thơng
tin hàng: tên hàng, mã hàng, đơn vị tính, số lượng, trọng lượng; quy cách đóng gói và
kích thước kiện hàng.
23