Tải bản đầy đủ (.pdf) (22 trang)

Phân loại và giải các bài toán hóa học hữu cơ lớp 12 theo một phương pháp chung góp phần nâng cao hiệu quả dạy và học môn hóa học trung học phổ thông

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (773.81 KB, 22 trang )

1

Phân loại và giải các bài toán hóa học hữu cơ
lớp 12 theo một phương pháp chung
góp phần nâng cao hiệu quả dạy và học
môn hóa học trung học phổ thông
Classifying and doing organic chemistry exercises grade 12 in a general method morder to
improve effectiveness of teaching and learning chemistry at highschool
NXB H. : ĐHGD, 2012 Số trang 109 tr. +
Phùng Thị Kim Ngân


Trường Đại học Giáo dục
Luận văn ThS ngành: Lý luận và phương pháp dạy học (bộ môn Hóa học);
Mã số: 60 14 10
Người hướng dẫn: PGS.TS. Vũ Ngọc Ban
Năm bảo vệ: 2012

Abstract: Nghiên cứu cơ sở lý luận của việc nâng cao chất lượng dạy và học môn hóa học
THPT; ý nghĩa, tác dụng của bài tập hóa học trong quá trình dạy và học môn hóa học; cơ
sở lựa chọn và cách phân loại các bài tập hóa học. Thực trạng của việc sử dụng các bài
toán hóa học của GV và HS ở trường phổ thông. Trình bày phương pháp chung giải các
bài toán hóa học trung học phổ thông và vận dụng để giải các bài toán hóa học hữu cơ lớp
12. Thực nghiệm sư phạm để đánh giá hiệu quả và tính khả thi của đề tài.

Keywords: Phương pháp giảng dạy; Hóa học hữu cơ; Hóa học

Content
1. Lý do chọn đề tài
Trong quá trình dạy và học môn Hóa học, bài tập hóa học có một vai trò quan trọng trong
việc củng cố kiến thức, rèn luyện và phát triển năng lực nhận thức tư duy cho HS. Thông qua việc


giải bài tập, HS rèn luyện tính tích cực, trí thông minh, tính tự lập, sáng tạo và tăng cường niềm
say mê, hứng thú trong học tập.
Trong quá trình dạy và học, các GV và HS luôn mong muốn có được những câu hỏi, bài
toán tốt, có những cách giải dễ dàng, thuận tiện để nâng cao hiệu quả dạy và học. Tuy nhiên, hiện
nay trong các tài liệu tham khảo hóa học số lượng bài tập hóa học quá lớn và đa dạng, phương
pháp giải các bài toán hóa học đưa ra lại nhiều nên HS và ngay cả một số GV cũng cảm thấy lúng
túng trong việc lựa chọn và giải các bài toán hóa học.
Gần đây, trong cuốn sách “Phương pháp chung giải các bài toán hóa học trung học phổ
thông”, tác giả đã hệ thống hóa và đưa ra một phương pháp chung để giải các bài toán hóa học.
Đó là phương pháp dựa vào quan hệ giữa số mol của các chất phản ứng và các công thức biểu thị
quan hệ giữa số mol chất với các đại lượng thường gặp như khối lượng, thể tích, nồng độ… của
chất. Quan hệ giữa số mol của các chất phản ứng dễ dàng thiết lập được khi đã viết và cân bằng
2

được các phương trình hóa học, còn số công thức hóa học cần thiết khi giải bài toán hóa học
không nhiều (4 công thức chính). Do đó việc giải bài toán hóa học theo phương pháp trên là đơn
giản, thuận tiện đối với HS.
Việc vận dụng phương pháp chung nêu trên để giải các bài toán hóa học cụ thể, như các
bài toán hóa học hữu cơ, sẽ giúp cho HS nắm vững cách giải các bài toán đó, đồng thời có được
một phương pháp tư duy thống nhất để giải các bài toán hóa học khác.
Xuất phát từ các lý do trên, chúng tôi đã chọn đề tài:
“Phân loại và giải các bài toán hóa học hữu cơ lớp 12 theo một phƣơng pháp chung
góp phần nâng cao hiệu quả dạy và học môn hóa học trung học phổ thông”
2. Lịch sử nghiên cứu
Như đã trình bày ở trên, cho đến nay đã có nhiều tác giả nêu ra nhiều cách phân loại và
cách giải các bài toán hóa học, đặc biệt là các phương pháp giải nhanh các bài tập trắc nghiệm.
Trong tài liệu “Phương pháp chung giải các bài toán hóa học trung học phổ thông”, tác giả
đã đưa ra một phương pháp chung đơn giản và thuận tiện để giải các bài toán hóa học THPT. Việc
áp dụng phương pháp chung nêu trên trong việc giải các bài toán Hóa vô cơ lớp 12 và bài toán xác
định công thức hợp chất hữu cơ đã được trình bày ở hai luận văn thạc sĩ sư phạm hóa học.

Bản luận văn này tiếp tục áp dụng phương pháp chung giải các bài toán hóa học THPT để giải
các bài toán hóa học hữu cơ lớp 12 góp phần nâng cao hiệu quả dạy và học môn hóa học THPT.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu
- Lựa chọn và phân loại các bài toán hóa học hữu cơ lớp 12.
- Nêu phương pháp chung giải các bài toán hóa học THPT và vận dụng để giải các bài toán
hóa học hữu cơ lớp 12 góp phần nâng cao hiệu quả dạy và học môn hóa học THPT.
Nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu cơ sở lý luận của việc nâng cao chất lượng dạy và học môn hóa học THPT; ý
nghĩa, tác dụng của bài tập hóa học trong quá trình dạy và học môn hóa học; cơ sở lựa chọn và
cách phân loại các bài tập hóa học. Thực trạng của việc sử dụng các bài toán hóa học của GV và
HS ở trường phổ thông.
Trình bày phương pháp chung giải các bài toán hóa học trung học phổ thông và vận dụng
để giải các bài toán hóa học hữu cơ lớp 12.
Thực nghiệm sư phạm để đánh giá hiệu quả và tính khả thi của đề tài.
4. Khách thể nghiên cứu và đối tƣợng nghiên cứu
Khách thể nghiên cứu
Quá trình dạy và học môn hóa học ở trường THPT
Đối tượng nghiên cứu
Các bài toán hóa học hữu cơ lớp 12 .

3

5. Phạm vi nghiên cứu
Phần hóa học hữu cơ lớp 12.
6. Câu hỏi nghiên cứu
Cơ sở lựa chọn và phân loại các bài tập hóa học là gì?
Phương pháp chung giải các bài toán hóa học THPT là phương pháp nào?
7. Giả thuyết nghiên cứu
Nếu HS và GV có được một hệ thống bài tập được lựa chọn, phân loại theo các mức độ

nhận thức tư duy và nắm được phương pháp chung giải các bài toán hóa học THPT để vận dụng
giải các bài toán hóa học hữu cơ lớp 12, thì HS sẽ nắm vững được kiến thức và dễ dàng giải các
bài toán cụ thể, đồng thời GV có được một phương pháp thống nhất để hướng dẫn HS giải các bài
toán hóa học nói chung góp phần nâng cao hiệu quả dạy và học môn hóa học THPT.
8. Phƣơng pháp nghiên cứu
Sử dụng phối hợp các phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp nghiên cứu lý thuyết.
- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn.
- Phương pháp thống kê toán học, xử lý số liệu.
9. Đóng góp mới của đề tài
Đã lựa chọn và phân loại các bài toán hóa học hữu cơ lớp 12 theo các mức độ nhận thức tư duy
và giải chúng theo phương pháp chung giải các bài toán hóa học THPT. Đây là một tài liệu tham khảo
tốt cho GV và HS, góp phần nâng cao chất lượng dạy và học môn hóa học ở trường THPT.
10. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung của luận văn được
trình bày trong 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài.
Chương 2: Lựa chọn, phân loại và giải các bài toán hóa học hữu cơ lớp 12 theo phương
pháp chung giải các bài toán hoá học trung học phổ thông.
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm.

CHƢƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.1. Cơ sở lý luận của việc nâng cao chất lượng, hiệu quả quá trình dạy và học môn hóa học
THPT
1.1.1. Quá trình dạy học
Quá trình dạy học là toàn bộ các hoạt động chung của cả thầy và trò, trong đó dưới vai trò
chủ đạo ( tổ chức, điều khiển, thiết kế, chỉ đạo) của thầy mà học sinh tích cực, chủ động, độc lập,
sáng tạo lĩnh hội kiến thức nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu và các nhiệm vụ
dạy học.

4

1.1.2. Chất lượng dạy học
Chất lượng dạy học được hiểu là chất lượng giảng dạy của người dạy và chất lượng học
tập của người học xét cả về mặt định lượng và định tính so với các mục tiêu của môn học.
Tiêu chuẩn của một quá trình dạy học có chất lượng và hiệu quả (theo quan điểm của công
nghệ dạy học) là phải thực hiện đầy đủ các nhiệm vụ dạy học trong nhà trường, đáp ứng được một
cách đúng đắn và kịp thời các yêu cầu của nền kinh tế - xã hội với sự chi phí tối ưu về thời gian,
sức lực và tiền của của GV, HS, nhân dân và nhà nước.
1.1.3. Một số biện pháp để nâng cao chất lượng dạy học
Chất lượng, hiệu quả của quá trình dạy học hóa học phụ thuộc vào nhiều yếu tố như nội
dung chương trình đào tạo, hệ thống sách giáo khoa, điều kiện cơ sở vật chất phục vụ quá trình
dạy và học, đổi mới phương pháp dạy học, kiểm tra đánh giá Trong phạm vi bản luận văn này
chúng tôi chỉ đề cập đến tầm quan trọng của bài tập hóa học trong giảng dạy môn hóa học, trong
đó tập trung vào việc lựa chọn, phân loại và phương pháp giải bài toán hóa học để góp phần nâng
cao hiệu quả của việc dạy và học môn hóa học.
1.2. Bài tập hóa học
1.2.1. Ý nghĩa, tác dụng của bài tập hóa học
Việc dạy học không thể thiếu bài tập. Sử dụng bài tập trong dạy học là một biện pháp hết
sức quan trọng để nâng cao chất lượng dạy học.
Bài tập hóa học có ý nghĩa tác dụng to lớn về nhiều mặt: trí dục, giáo dục, phát triển.
1.2.2. Lựa chọn và phân loại bài tập hóa học
1.2.2.1. Lựa chọn bài tập hóa học
Hiện nay số lượng câu hỏi và bài toán hóa học trong sách giáo khoa và các tài liệu tham
khảo rất phong phú và đa dạng. Để phục vụ tốt cho việc dạy và học môn hóa học cần phải lựa
chọn những bài toán hóa học đảm bảo các yêu cầu: bám sát và phục vụ tốt mục tiêu dạy học; nội
dung phải phong phú, ngắn gọn; chú trọng đến bản chất hóa học; không lắt léo, đánh đố về mặt
toán học; bên cạnh những bài toán cơ bản cần có những bài toán nâng cao, tổng hợp để phát huy
tính độc lập, sáng tạo trong nhận thức, tư duy của HS
1.2.2.2. Phân loại bài tập hóa học

Sau khi đã lựa chọn được các bài tập thì việc phân loại chúng có ý nghĩa quan trọng. Có
nhiều cách phân loại bài tập hoá học tùy thuộc vào cơ sở phân loại.
Trong đề tài này, chúng tôi lựa chọn cách phân loại bài toán hóa học theo hướng dẫn của
Bộ Giáo dục và Đào tạo Việt Nam. Cụ thể các bài tập được phân loại theo 4 mức độ nhận thức tư
duy: Nhận biết, Thông hiểu, Vận dụng ( mức cơ bản) và Vận dụng sáng tạo (mức nâng cao)
- Nhận biết : Là sự nhớ lại các dữ liệu, thông tin đã có trước đây; nghĩa là có thể nhận biết
thông tin, ghi nhớ, tái hiện thông tin, nhắc lại một loạt dữ liệu, từ các sự kiện đơn giản đến các lí
thuyết phức tạp
5

- Thông hiểu : Là khả năng nắm được, hiểu được ý nghĩa của các khái niệm, sự vật, hiện
tượng; giải thích, chứng minh được ý nghĩa của các khái niệm, sự vật, hiện tượng.
- Vận dụng: Là khả năng sử dụng các kiến thức đã học vào một hoàn cảnh cụ thể mới: vận
dụng nhận biết, hiểu biết thông tin để giải quyết vấn đề đặt ra.
- Vận dụng sáng tạo: Là khả năng phân tích, đánh giá, tổng hợp, sắp xếp, thiết kế lại thông
tin; khai thác, bổ sung thông tin từ các nguồn tư liệu khác để sáng lập một hình mẫu mới.
1.2.3. Thực trạng việc sử dụng bài toán hóa học ở trường phổ thông.
Để tìm hiểu thực trạng của việc sử dụng bài toán hóa học ở trường phổ thông, chúng tôi đã
tiến hành khảo sát GV và HS ở các trường THPT trên địa bàn huyện An Lão – Hải Phòng dưới
hình thức phát phiếu tham khảo ý kiến của GV và phiếu thăm dò ý kiến HS.
Kết quả khảo sát cho thấy việc lựa chọn, phân loại các bài toán hóa học và giải chúng theo
một phương pháp chung là yêu cầu cần thiết đối với GV và HS trong việc dạy và học môn Hóa
học ở THPT.
1.3. Phƣơng pháp chung giải bài toán hóa học THPT
Các bài toán hóa học có thể giải dựa vào quan hệ giữa số mol của các chất phản ứng và
dựa vào các công thức chuyển đổi giữa số mol chất (n) với khối lượng (m), thể tích (V), nồng độ (
C
M
, C%) của chất.
1.3.1. Các công thức cần thiết khi giải bài toán hóa học.

STT
Công thức
Số mol chất
1
n.Mm 

M
m
n 

2
n.4,22V
0


4,22
V
n
0


3
V
n
C
ct
M


Mct

C.Vn 

4
%100.
d.V
m
%100.
m
m
%C
ct
dd
ct



%100
%C
.d.V.
M
1
%100
%C
.m.
M
1
n
ct
dd
ct

ct



1.3.2. Quan hệ giữa số mol của các chất phản ứng.
Ví dụ 1: Xét phản ứng: aA + bB  cC + dD.
Gọi số mol các chất A, B, C, D tham gia hay hình thành sau phản ứng là n
A
, n
B
, n
C
, n
D
, ta có:
d
n
c
n
b
n
a
n
D
C
BA


6


Từ hệ thức này, ta có thể tính số mol của một chất bất kì theo số mol của các chất khác đã
tham gia phản ứng:

DCBA
n
d
a
n
c
a
n
b
a
n 
;
v.vn
c
d
n
b
d
n
a
d
n
CBAD


Ví dụ 2:
Xét dãy biến hóa:

2A + 5B  C +3D (1)
3C + E  5G + 4H (2)
2H + 3I  5K + 3M (3)
Giả thiết các phản ứng xảy ra hoàn toàn. Hãy thiết lập mối quan hệ giữa số mol của các
chất bất kì đã tham gia phản ứng, ví dụ giữa n
K
và n
A
, giữa n
B
và n
M
?
Hướng dẫn giải:
Để thiết lập mối quan hệ giữa n
K
và n
A
, ta xuất phát từ chất K và xét mối quan hệ giữa K
và A thông qua các chất trung gian H, C. Cụ thể theo các phản ứng (3), (2), (1) ta có:

AAKACAHHK
n
3
5
n
2
1
.
3

4
.
2
5
nn
2
1
n;n
3
4
n;n
2
5
n 

Tương tự, để thiết lập quan hệ giữa n
B
và n
M
, ta xuất phát từ chất B và xét mối quan hệ
giữa B và M thông qua các chất trung gian C và H, ta có:

MMBMHHCCB
n
2
5
n
3
2
.

4
3
.5nn
3
2
n;n
4
3
n;n5n 

1.3.3. Phương pháp chung giải các bài toán hóa học trung học phổ thông
Các bài toán hóa học có thể chia thành 2 loại là bài toán hỗn hợp và “không hỗn hợp”.
- Bài toán “không hỗn hợp” là loại bài toán liên quan đến phản ứng của 1 chất qua một giai
đoạn hay một dãy biến hóa
- Bài toán hỗn hợp là loại bài toán liên quan đến phản ứng của hỗn hợp chất
Loại bài toán “không hỗn hợp”
Phương pháp giải các bài toán loại này là: Lập biểu thức tính đại lượng mà bài toán đòi
hỏi, rồi dựa vào quan hệ giữa số mol của “chất cần tính toán” với số mol của “chất có số liệu
cho trước” trong phương trình hóa học và dựa vào các công thức để giải.
Loại bài toán hỗn hợp
Phương pháp giải loại bài toán này là: Đặt ẩn số, lập hệ phƣơng trình và giải hệ phƣơng
trình để tìm ra các yêu cầu bài toán.
- Ẩn số thường đặt là số mol các chất trong hỗn hợp.
- Các phương trình được thiết lập bằng cách biểu thị mối quan hệ giữa các số liệu đã
cho trong bài (sau khi đã đổi ra số mol chất, nếu có thể được) với các ẩn số.
7

- Giải hệ phương trình để xác định các ẩn số, rồi dựa vào đó suy ra các đòi hỏi khác
nhau của bài toán.
Chú ý:

1) Nhiều bài toán hỗn hợp có số phƣơng trình lập đƣợc ít hơn số ẩn số. Trong trường
hợp này, để giải hệ các phương trình vô định có 2 phương pháp chính, đó là:
- Giải hệ kết hợp với biện luận dựa vào các điều kiện của ẩn số.
Ví dụ nếu ẩn số là số mol chất thì chúng phải luôn dương, ẩn số là số nguyên tử cacbon (n)
trong các chất hữu cơ thì n phải nguyên, dương… Dựa vào các điều kiện như vậy có thể biện luận
để giải được hệ phương trình vô định và giải được bài toán.
- Giải hệ dựa vào việc tính khối lượng mol trung bình của hỗn hợp.
Ví dụ, với hỗn hợp gồm 2 chất 1 và 2:

21
2211
hh
hh
hh
nn
M.nM.n
n
m
M




Tính
hh
M
và giải bất đẳng thức
2
hh
1

MMM 
sẽ giải được hệ phương trình vô định. Phương
pháp này thường được sử dụng khi đã biết khối lượng và số mol của hỗn hợp, đặc biệt với bài toán
hỗn hợp các chất hữu cơ liên tiếp nhau trong dãy đồng đẳng
2) Với bài toán hỗn hợp của các chất cùng loại, có các phản ứng xảy ra tương tự nhau,
hiệu suất của phản ứng như nhau,…thì có thể thay thế hỗn hợp đó bằng một chất có công thức
phân tử trung bình (CTPTTB) để giải.
Khi đó, số ẩn số của bài toán giảm xuống và việc giải bài toán sẽ thuận lợi và nhanh gọn
hơn. Đây cũng là một phương pháp có hiệu quả để giải các bài toán hỗn hợp (các chất cùng loại)
có số phương trình lập được ít hơn số ẩn số.
Qua các điều trình bày ở trên, nhận thấy các bài toán “không hỗn hợp” và bài toán hỗn hợp
tuy cách giải có những điểm khác nhau nhưng chúng đều thống nhất ở chỗ là đều dựa vào mối
quan hệ về số mol của các chất phản ứng và dựa vào các công thức biểu thị quan hệ giữa số
mol chất với khối lượng, thể tích, nồng độ,…của chất để giải. Đó chính là nội dung của phương
pháp chung giải bài toán hóa học THPT.
Hiện nay, hình thức thi trắc nghiệm ngày càng phổ biến, mà đặc điểm của loại hình kiểm
tra này là số lượng câu hỏi, bài toán nhiều vì thế mà thời gian làm mỗi câu hỏi, bài toán rất ngắn.
Để có kết quả cao trong các kì thi, đặc biệt là kì thi tốt nghiệp THPT và tuyển sinh Đại học - Cao
đẳng đòi hỏi học sinh phải biết vận dụng linh hoạt, sáng tạo các định luật sẵn có trong hóa học
để giải các bài toán. Đối với các bài toán hữu cơ, 2 định luật được sử dụng phổ biến là định luật
bảo toàn khối lượng, định luật bảo toàn nguyên tố.

Tiểu kết chƣơng 1
Trong chương này, chúng tôi đã trình bày cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài:
8

- Cơ sở lý luận của việc nâng cao chất lượng, hiệu quả quá trình dạy và học môn hóa học
THPT.
- Vai trò, ý nghĩa của bài tập hóa học.
- Cơ sở lựa chọn và phân loại các bài tập hóa học.

- Phương pháp chung giải các bài toán hóa học THPT.
Đây là những cơ sở lí luận và thực tiễn định hướng cho chúng tôi nghiên cứu, lựa chọn,
phân loại và vận dụng phương pháp chung để giải các bài toán hóa học hữu cơ lớp 12 THPT.

CHƢƠNG 2
LỰA CHỌN, PHÂN LOẠI VÀ GIẢI CÁC BÀI TOÁN HÓA HỌC HỮU CƠ LỚP 12 THEO
PHƢƠNG PHÁP CHUNG GIẢI CÁC BÀI TOÁN HÓA HỌC THPT
2.1. Tổng quan về chƣơng trình hóa học hữu cơ lớp 12 THPT
Chương trình cơ bản:

Chƣơng

Tên chƣơng
Số tiết
Lý thuyết
Luyện tập
Thực
hành
1
Este - Lipit
3
1

2
Cacbohiđrat
4
1
1
3
Amin - Aminoaxit - Protein

5
1

4
Polime và vật liệu polime
4
1
1
Chương trình nâng cao:

Chƣơng

Tên chƣơng
Số tiết
Lý thuyết
Luyện tập
Thực
hành
1
Este - Lipit
3
1

2
Cacbohiđrat
6
2
1
3
Amin - Aminoaxit - Protein

7
1
1
4
Polime và vật liệu polime
4
1



9

2.2. Phân loại và giải các bài toán hóa học hữu cơ lớp 12 theo phƣơng pháp chung giải các
bài toán hóa học THPT
Để thuận tiện cho quá trình dạy học, chúng tôi sắp xếp các bài toán hóa học hữu cơ lớp
12 theo từng chương, bài cụ thể. Mỗi chương có hệ thống bài toán được sắp xếp theo bốn mức độ
nhận thức, tư duy (biết, hiểu, vận dụng, vận dụng sáng tạo) dưới cả hai hình thức tự luận và trắc
nghiệm khách quan.
2.2.1. Chương Este – Lipit
a) Một số kiến thức cần nắm vững
b) Bài toán hóa học phân loại theo các mức độ nhận thức tƣ duy và giải theo phƣơng pháp
chung giải các bài toán hóa học THPT
- Dạng biết
- Dạng hiểu
- Dạng vận dụng
- Dạng vận dụng sáng tạo
c) Bài tập tự luyện
2.2.2. Chương Cacbohiđrat
2.2.3. Chương Amin - Aminoaxit - Protein
2.2.4. Chương Polime và vật liệu polime

2.3. Sử dụng hệ thống bài toán hóa học theo các mức độ nhận thức tƣ duy trong dạy học
phần hữu cơ - Hóa học lớp 12
Trên cơ sở hệ thống các bài tập hóa học đã được biên soạn ở trên, chúng tôi đã lựa chọn,
sử dụng một số bài toán để đưa vào các khâu dạy học nhằm mục đích sau:
- Xây dựng kiến thức mới, kĩ năng mới.
- Vận dụng, củng cố kiến thức, kĩ năng.
- Kiểm tra, đánh giá kiến thức, kĩ năng.
2.3.1 Sử dụng hệ thống bài toán hóa học theo các mức độ nhận thức tư duy trong việc xây
dựng kiến thức mới, kĩ năng mới.
Thông thường trong một bài học GV chuẩn bị các câu hỏi ở dạng sau ứng với các giai
đoạn dạy học:
Giai đoạn một: Câu hỏi và các bài toán ở mức độ biết, hiểu và vận dụng để kiểm tra
kiến thức cũ.
Giai đoạn hai: Giải quyết các vấn đề thuộc bài mới bằng các bài toán chủ yếu ở mức độ
biết, hiểu.
Giai đoạn ba: Tổng kết, tìm ra các logic, các mối liên hệ. Thông thường sử dụng các bài
toán dạng vận dụng và vận dụng sáng tạo.
Các bài toán được sử dụng để xây dựng kiến thức mới, kĩ năng mới ứng với giai đoạn
hai ở trên thường được sử dụng dưới hình thức phát phiếu học tập cho HS.
10

2.3.2. Sử dụng hệ thống bài toán hóa học theo các mức độ nhận thức tư duy trong việc vận
dụng, củng cố kiến thức, kĩ năng
Như đã phân tích ở trên thì khi kết thúc một bài học hoặc khi có bài luyện tập, ôn tập, thì hệ
thống bài toán hóa học càng quan trọng. Nó sẽ giúp HS vận dụng những kiến thức đã học để củng cố
và khắc sâu kiến thức, kĩ năng thông qua các bài tập dạng vận dụng và vận dụng sáng tạo.
Sau mỗi tiết học hoặc sau mỗi giờ luyện tập, GV có thể sử dụng hệ thống bài tập tự
luyện giao cho HS tự làm ở nhà giúp HS nâng cao tính chủ động, độc lập, sáng tạo trong học tập.
2.3.3 Sử dụng hệ thống bài toán hóa học theo các mức độ nhận thức tư duy vào việc kiểm tra,
đánh giá kiến thức, kĩ năng của học sinh

Tùy vào mục đích kiểm tra và đối tượng HS ta có thể sử dụng các dạng bài tập ở cả 4
mức độ nhận thức tư duy.
Chúng tôi xây dựng các đề kiểm tra 15 phút và 45 phút (chỉ có các bài toán hóa học), và
sử dụng để đánh giá kiến thức, kĩ năng của HS. Qua kết quả kiểm tra, GV chỉ ra cho HS biết các
thiếu sót, lỗ hổng trong kiến thức, đồng thời có kế hoạch bổ sung trong quá trình dạy học.

Tiểu kết chƣơng 2
Trong chương này, chúng tôi đã:
- Giới thiệu về chương trình hóa học hữu cơ lớp 12 THPT
- Lựa chọn, phân loại các bài toán hóa học hữu cơ lớp 12 theo 4 mức độ nhận thức tư
duy và giải chúng theo phương pháp chung giải các bài toán hóa học THPT. Cụ thể chúng tôi đã
biên soạn được 120 bài toán hóa học hữu cơ lớp 12 (trong đó có 60 bài tập tự luận và 60 bài tập
trắc nghiệm khách quan) và 40 bài tập tự luyện (trong đó có 20 bài tập tự luận và 20 bài tập trắc
nghiệm khách quan).
- Đề xuất việc sử dụng hệ thống bài toán đã biên soạn trong dạy và học phần hóa học
hữu cơ lớp 12, THPT.

CHƢƠNG 3
THỰC NGHIỆM SƢ PHẠM
3.1. Mục đích của thực nghiệm sƣ phạm.
Chúng tôi đã tiến hành thực nghiệm sư phạm nhằm khẳng định mục đích nghiên cứu của
đề tài là thiết thực, khả thi, đáp ứng được yêu cầu nâng cao năng lực nhận thức tư duy cho HS và
góp phần nâng cao hiệu quả dạy và học môn hóa học THPT.
3.2. Nhiệm vụ của thực nghiệm sƣ phạm
- Lựa chọn đối tượng và địa bàn thực nghiệm sư phạm, kiểm tra trước thực nghiệm để đánh giá
sự tương đương giữa lớp thực nghiệm (TN) và lớp đối chứng (ĐC).
- Thiết kế chương trình thực nghiệm. Soạn thảo các giáo án, các đề kiểm tra theo nội dung
của đề tài.
11


- Chấm điểm kiểm tra, thu thập số liệu và phân tích, xử lí kết quả thực nghiệm sư phạm để:
+ Đánh giá sự phù hợp của các bài toán theo các mức độ nhận thức tư duy của HS.
+ Đánh giá hiệu quả của việc sử dụng hệ thống bài toán đã biên soạn trong việc phát triển
năng lực nhận thức tư duy của HS.
Qua đó đánh giá hiệu quả của đề tài.
3.3. Quá trình tiến hành thực nghiệm sƣ phạm
3.3.1. Đối tượng và địa bàn thực nghiệm
- Địa bàn TN: chúng tôi tiến hành thực nghiệm ở trường THPT An Lão và THPT Hàng
Hải - Hải Phòng là các trường có cơ sở trang thiết bị vật chất khá tốt, với đội ngũ GV có trình độ
chuyên môn vững vàng, tâm huyết với nghề.
- Đối tượng TN: HS lớp 12 trường THPT An Lão và THPT Hàng Hải năm học 2012 –
2013.
STT
Trường
Lớp TN
Lớp ĐC
Giáo viên
1
THPT An Lão
12A4
12A6
Phùng Thị Kim Ngân
2
THPT Hàng Hải
12A01
12A02
Hoàng Sơn Hải
- Để đảm bảo tính khách quan khi tiến hành TN, chúng tôi chọn các lớp TN và lớp ĐC có
sĩ số tương đương và có sức học tương đương nhau.
+ Lớp TN: 83 HS của 2 lớp 12, GV hướng dẫn HS phương pháp chung giải bài toán hóa học và

tiến hành giờ dạy cho HS có sử dụng hệ thống bài tập đã biên soạn.
+ Lớp ĐC: 84 học sinh của 2 lớp 12 với cách dạy học bình thường.
Trước khi tiến hành thực nghiệm, HS đều tham gia kiểm tra một bài 15 phút gồm 3 câu
trắc nghiệm khách quan và 2 câu tự luận về các kiến thức đã học trước đó (các bài toán hóa hữu
cơ lớp 11) và có liên quan đến nội dung thực nghiệm, chủ yếu để đánh giá về khả năng tư duy hóa
học của HS. Kết quả bài kiểm tra này được xem là yếu tố để khẳng định cách chọn mẫu thực
nghiệm là phù hợp và sự tương đương của lớp TN và lớp ĐC.
Bảng 3.1. Phân phối tần suất số học sinh theo điểm bài kiểm tra
Nhóm
Số học sinh đạt điểm
Trung
bình
Độ
lệch
chuẩn
Tổng số
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
Thực nghiệm
83
0
0

3
10
11
17
17
13
9
3
6.506
1.763
Đối chứng
84
0
0
2
14
10
16
19
11
8
4
6.440
1.793

12

Kết quả kiểm tra cho thấy điểm trung bình của hai nhóm (TN và ĐC) có sự khác nhau, do
đó chúng tôi dùng phép kiểm chứng T-Test để kiểm chứng sự chênh lệch giữa điểm số trung bình
của hai nhóm trước khi tác động: p = 0,406 > 0,05, từ đó kết luận sự chênh lệch điểm số trung

bình của hai nhóm TN và ĐC là không có ‎ nghĩa, hai nhóm được coi là tương đương.
3.3.2. Thiết kế chương trình thực nghiệm sư phạm
Tổ chức biên soạn giáo án các bài dạy có sử dụng hệ thống bài toán hóa học theo các mức
độ nhận thức tư duy trong dạy học hóa học hữu cơ lớp 12. Đồng thời, chúng tôi trao đổi ý kiến với
GV dạy thực nghiệm về ý đồ sư phạm của các đợt thực nghiệm để có sự thống nhất về nội dung
và phương pháp giảng dạy (hướng dẫn HS sử dụng phương pháp chung giải các bài toán hóa học
THPT để giải các bài toán hóa học hữu cơ lớp 12). Sau khi đã dạy các bài thực nghiệm, chúng tôi
tiến hành kiểm tra đồng thời lớp TN và lớp ĐC. Việc kiểm tra đánh giá được tiến hành để thực
hiện hai nhiệm vụ:
- Nhiệm vụ thứ nhất
Để đánh giá mức độ khó của các dạng bài tập theo các mức độ nhận thức tư duy của HS,
chúng tôi tiến hành lựa chọn và sử dụng các bài toán đã biên soạn để xây dựng 2 đề kiểm tra 45
phút (đề số 1, 2) cho cả hai nhóm lớp TN và ĐC.
- Nhiệm vụ thứ hai
Để đánh giá hiệu quả của việc sử dụng hệ thống bài toán hóa học đã biên soạn đối với quá
trình dạy và học môn hóa học THPT chúng tôi tiến hành áp dụng vào dạy các bài cụ thể trong 4
chương của chương trình hóa hữu cơ lớp 12 ( từ chương 1 đến chương 4) đối với các lớp TN
12A4 – trường THPT An Lão và lớp 12A01 – trường THPT Hàng Hải. Sau đó chúng tôi tiến hành
kiểm tra cho cả 4 lớp
(2 lớp TN và 2 lớp ĐC) với 2 đề kiểm tra 45 phút (đề số 3, 4).
3.4. Kết quả thực nghiệm sƣ phạm
3.4.1. Kết quả thực hiện nhiệm vụ thứ nhất
Sau khi chấm bài kiểm tra (đề số 1, 2) của HS ở hai lớp TN và ĐC, chúng tôi tổng hợp kết
quả thu được ở bảng sau:
Bảng 3.2. Tỉ lệ HS trả lời đúng câu hỏi
Nhóm
Tổng số HS
Tỉ lệ HS trả lời đúng câu hỏi
Dạng 1
Dạng 2

Dạng 3
Dạng 4
TN
83
100%
90,4%
77,1%
6,02%
ĐC
84
100%
85%
52,3%
1,19%

Với dạng 1 - dạng biết, dạng 2 - dạng hiểu, dạng 3 - dạng vận dụng, dạng 4 - dạng vận
dụng sáng tạo.
13

Phân tích kết quả:
- Đối với các bài tập ở dạng 1 là các bài tập đơn giản, mang tính chất tìm hiểu, HS chỉ cần
nhớ là có thể trả lời được. Vì vậy ở dạng này 100% HS trả lời đúng.
- Đối với các bài tập thuộc dạng 2 là những bài tập mà HS học bài cẩn thận là có thể trả lời
đúng. Bài tập dạng này không đòi hỏi trình độ tư duy cao, có khoảng 85% đến 90,4% HS ở cả hai
nhóm trả lời đúng.
- Đối với bài tập ở dạng 3 là các bài tập mang tính vận dụng, HS phải thực hiện các thao
tác tư duy phân tích, tổng hợp tuy nhiên ở mức độ đơn giản do đó đòi hỏi HS phải nắm vững kiến
thức, hiểu và vận dụng kiến thức vào các tình huống khác nhau. Với loại bài tập này chỉ có 52,3%
đến 77,1% trả lời đúng.
- Đối với bài tập ở dạng 4 là những bài tập ở mức độ vận dụng sáng tạo, đòi hỏi HS phải

có tư duy ở mức độ cao, linh hoạt sáng tạo, suy luận để tìm ra câu trả lời. Với bài tập này chỉ có
1,19% đến 6,02% HS trả lời đúng.
Từ phân tích trên, chúng tôi thấy việc lựa chọn, phân loại các bài toán hóa học theo 4 mức
độ nhận thức tư duy của HS ở trên là phù hợp. Hệ thống bài tập trên đánh giá được năng lực nhận
thức tư duy của HS và giúp GV phát hiện ra những HS có năng khiếu về hóa học.
3.4.2. Kết quả thực hiện nhiệm vụ thứ hai
Kết quả bài kiểm tra (đề số 3, 4) của HS được thể hiện qua các bảng và biểu đồ sau:
- Bảng phân phối tần suất:
Bảng 3.3. Bảng điểm kiểm tra của học sinh
Đề
số
Trường
THPT
Lớp

số
Số HS đạt điểm X
i

1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
3


An Lão
12A4
(TN)
40
0
0
0
1
2
4
10
14
7
2
12A6
(ĐC)
42
0
0
1
5
5
10
9
9
2
1
Hàng
Hải

12A01
(TN)
43
0
0
0
2
3
7
11
12
7
1
12A02
(ĐC)
42
0
0
0
5
9
7
11
8
2
0
4
An Lão
12A4
(TN)

40
0
0
0
1
2
5
8
12
9
3
14

12A6
(ĐC)
42
0
0
0
5
6
11
10
7
2
1
Hàng
Hải
12A01
(TN)

43
0
0
0
1
4
6
8
14
8
2
12A02
(ĐC)
42
0
0
1
3
9
8
12
8
1
0

Bảng 3.4. Bảng điểm trung bình
Đề số
THPT An Lão
THPT Hàng Hải
12A4

12A6
12A01
12A02
3
7,575
6,452
7,233
6,333
4
7,675
6,429
7,442
6,31

Bảng 3.5. Bảng % HS đạt điểm yếu, kém; trung bình; khá; giỏi
Đề
số
Trường
THPT
Lớp
% Yếu,
kém
% Trung
bình
% Khá
% Giỏi
3
An Lão
12A4 (TN)
2.50

15.00
60.00
22.50
12A6 (ĐC)
14.29
35.71
42.86
7.14
Hàng Hải
12A01 (TN)
4.65
23.26
53.49
18.60
12A02 (ĐC)
11.90
38.10
45.24
4.76
4
An Lão
12A4 (TN)
2.50
17.50
50.00
30.0
12A6 (ĐC)
11.90
40.48
40.48

7.14
Hàng Hải
12A01 (TN)
2.33
23.26
51.16
23.26
12A02 (ĐC)
9.52
40.48
47.62
2.38



15

Bảng 3.6. Bảng % HS đạt điểm từ X
i
trở xuống
Đề
số
Lớp
% HS đạt điểm từ X
i
trở xuống
1
2
3
4

5
6
7
8
9
10
3
12A4
(TN)
0
0
0
2.50
7.50
17.50
42.50
77.50
95.00
100
12A6
(ĐC)
0
0
2.32
14.29
26.19
50.00
71.49
92.86
97.62

100
12A0
1
(TN)
0
0
0
4.65
11.63
27.91
53.49
81.39
97.67
100
12A0
2
(ĐC)
0
0
0
11.91
33.33
50.00
76.19
95.24
100
100
4
12A4
(TN)

0
0
0
2.50
7.50
20.00
40.00
70.00
92.50
100
12A6
(ĐC)
0
0
0
11.91
26.19
52.38
76.19
92.86
97.62
100
12A0
1
(TN)
0
0
0
2.33
11.63

25.58
44.19
76.74
95.35
100
12A0
2
(ĐC)
0
0
2.38
9.52
30.95
50.00
78.57
97.62
100
100

- Đồ thị, biểu đồ:
Đường lũy tích ứng với kết quả nêu trong bảng 3.6. Trục tung chỉ %HS đạt điểm từ X
i
trở
xuống, trục hoành chỉ điểm số.
16


0
20
40

60
80
100
120
1 2 3 4 5 6 7 8 9 10
Điểm
Tỉ lệ %
TN - 12A4
ĐC - 12A6

Đồ thị 3.1. Đƣờng luỹ tích điểm kiểm tra - Đề số 3 -Trƣờng THPT An Lão

0
20
40
60
80
100
120
1 2 3 4 5 6 7 8 9 10
Điểm
Tỉ lệ %
TN - 12A01
ĐC - 12A02

Đồ thị 3.2. Đƣờng luỹ tích điểm kiểm tra - Đề số 3- Trƣờng THPT Hàng Hải

0
20
40

60
80
100
120
1 2 3 4 5 6 7 8 9 10
Điểm
Tỉ lệ %
TN - 12A4
ĐC - 12A6

Đồ thị 3.3. Đƣờng luỹ tích điểm kiểm tra - Đề số 4- Trƣờng THPT An Lão
17


0
20
40
60
80
100
120
1 2 3 4 5 6 7 8 9 10
điểm
Tỉ lệ %
TN - 12A01
ĐC - 12A02

Đồ thị 3.4. Đƣờng luỹ tích điểm kiểm tra – Đề số 4 - Trƣờng THPT Hàng Hải
Biểu đồ hình cột biểu diễn trình độ của HS thông qua dữ liệu trong bảng 3.5.
0

10
20
30
40
50
60
YK TB K G
TN - 12A4 - L1 ĐC - 12A6 - L1
0
10
20
30
40
50
60
YK TB K G
TN - 12A01 - L1 ĐC - 12A02 - L1

Biểu đồ 3.1. Đề số 3 - An Lão Biểu đồ 3.2. Đề số 3 - Hàng Hải

0
5
10
15
20
25
30
35
40
45

50
YK TB K G
TN - 12A4 - L2 ĐC - 12A6 - L2

0
10
20
30
40
50
60
YK TB K G
TN - 12A01 - L2 ĐC - 12A02 - L2

Biểu đồ 3.3. Đề số 4 - An Lão Biểu đồ 3.4. Đề số 4 - Hàng Hải
Các tham số đặc trưng thống kê
- Trung bình cộng: đặc trưng cho sự tập trung số liệu
18


X




k
i
ii
xn
n

1
.
1

Trong đó: n – số HS thực nghiệm, n
i
– số HS đạt điểm x
i
.
- Phương sai (S
2
) và độ lệch chuẩn (S): là các tham số đo mức độ phân tán của các số liệu quanh
giá trị trung bình cộng:






k
1i
2
ii
2
)Xx(n
1n
1
S

2

SS 

Độ lệch chuẩn càng nhỏ bao nhiêu thì số liệu càng ít phân tán bấy nhiêu.
- Hệ số biến thiên V:
%100.
X
S
V 

Nếu V nằm trong khoảng 10 - 30% thì độ dao động tin cậy.
- Sai số tiêu chuẩn
n/S: 

Muốn so sánh chất lượng của các tập thể HS khi đã tính được giá trị trung bình cộng thì sẽ có 2
trường hợp:
- Nếu giá trị trung bình cộng bằng nhau thì trường hợp nào có độ lệch chuẩn S nhỏ hơn sẽ có chất
lượng tốt hơn.
- Nếu giá trị trung bình cộng khác nhau thì trường hợp nào có hệ số biến thiên V nhỏ hơn thì chất
lượng đều hơn, còn giá trị
X
lớn hơn thì trình độ tốt hơn.
Từ các giá trị trên ta có bảng các tham số đặc trưng:

Bảng 3.7. Tổng hợp các tham số đặc trƣng
Đề số
Đối tượng
X

S
2

S
V
3
TN (83)
7.40

0.15
1.88
1.37
18.51
ĐC (84)
6.39

0.17
2.29
1.51
23.67
4
TN (83)
7.55

0.16
2.06
1.44
19.01
ĐC (84)
6.37

0.16
2.04

1.43
22.44

Phân tích kết quả:
- Phân tích định tính:
Sau khi tiến hành kiểm tra và chấm điểm chúng tôi nhận thấy rằng:
+ Trong quá trình dạy học, việc phân loại bài tập theo các mức độ nhận thức tư duy và
hướng dẫn HS phương pháp chung giải bài toán hóa học đã tạo nên sự thay đổi rõ rệt về không khí
19

học tập của HS trong giờ học. Trong giờ học ở lớp TN, HS rất sôi nổi, hứng thú tham gia vào các
hoạt động học tập và nắm vững kiến thức hóa học, giải bài toán hóa học nhanh hơn so với HS ở
lớp ĐC.
+ Các GV tham gia giảng dạy thực nghiệm đều thấy việc phân loại bài toán hóa học theo
các mức độ nhận thức tư duy và sử dụng phương pháp chung giải các bài toán hóa học THPT giúp
cho việc hướng dẫn HS giải bài tập dễ dàng hơn, hiệu quả dạy học tốt hơn.
- Phân tích định lượng:
Các bảng phân phối tần suất, đồ thị đường luỹ tích và các tham số đặc trưng cho thấy chất
lượng học tập của HS lớp TN cao hơn HS lớp ĐC, thể hiện:
+ Tỉ lệ phần trăm (%) HS yếu, kém; trung bình của lớp TN luôn thấp hơn lớp ĐC (thể hiện
qua biểu đồ hình cột).
+ Tỉ lệ phần trăm (%) HS khá, giỏi của lớp TN luôn cao hơn lớp ĐC (thể hiện qua biểu đồ
hình cột).
+ Đồ thị đường luỹ tích của lớp TN luôn ở bên phải và phía dưới đường luỹ tích của lớp
ĐC, điều đó cho thấy chất lượng học tập của lớp TN tốt hơn và đồng đều hơn lớp ĐC.
+ Điểm trung bình cộng của HS lớp TN cao hơn lớp ĐC.
+ Hệ số biến thiên V của lớp TN luôn nhỏ hơn của lớp ĐC chứng tỏ chất lượng của lớp TN
đồng đều hơn.
Như trên đã chứng minh kết quả hai nhóm (TN và ĐC) trước tác động là tương đương.
Sau tác động, kiểm chứng sự chênh lệch điểm trung bình bằng T-Test cho kết quả: đề kiểm tra số

3 (kiểm tra lần 1) có p = 6,4.10
-6
< 0,05; đề kiểm tra số 4 (kiểm tra lần 2) có p = 1,3.10
-7
< 0,05.
Điều đó cho thấy, sự chênh lệch giữa điểm trung bình của nhóm TN và nhóm ĐC rất có ý nghĩa,
tức là chênh lệch giữa điểm trung bình của nhóm TN và nhóm ĐC không ngẫu nhiên mà do kết
quả tác động.
Chênh lệch giá trị trung bình chuẩn SMD = 0,664 (kiểm tra lần 1), và SMD = 0,829
(kiểm tra lần 2). Theo bảng tiêu chí Cohen, chênh lệch giá trị trung bình chuẩn SMD cho thấy
mức độ ảnh hưởng của dạy học có sử dụng việc phân loại bài toán hóa học theo các mức độ nhận
thức tư duy và sử dụng phương pháp chung giải các bài toán hóa học THPT đến kết quả học tập
của nhóm TN là trung bình (với bài kiểm tra lần 1) do HS mới được làm quen với phương pháp
chung giải các bài toán hóa học THPT và có ảnh hưởng lớn (với bài kiểm tra lần 2) sau quá trình
thực nghiệm.
Như vậy, việc lựa chọn, phân loại và giải các bài toán hóa học hữu cơ lớp 12 theo một
phương pháp chung đã góp phần thiết thực nâng cao hiệu quả dạy và học môn hóa học lớp 12 nói
riêng và môn hóa học THPT nói chung.



20

Tiểu kết chƣơng 3
Trong chương này, chúng tôi trình đã tiến hành thực nghiệm sư phạm tại 4 lớp thuộc 2
trường THPT An Lão và Hàng Hải - thành phố Hải Phòng nhằm đánh giá tính hiệu quả và khả thi
của đề tài.
Chúng tôi đã thiết kế chương trình thực nghiệm sư phạm với hai nhiệm vụ:
- Đánh giá mức độ khó của các dạng bài tập theo các mức độ nhận thức tư duy của HS.
- Đánh giá hiệu quả của việc sử dụng hệ thống bài toán hóa học hữu cơ lớp 12 phân loại

theo 4 mức độ nhận thức tư duy và giải theo phương pháp chung đối với quá trình dạy và học môn
hóa học trung học phổ thông.
Các kết quả thực nghiệm sư phạm đã khẳng định:
- Việc lựa chọn, phân loại các bài toán hóa học theo 4 mức độ nhận thức tư duy của HS ở
trên là phù hợp. Hệ thống bài tập trên đánh giá được năng lực nhận thức tư duy của HS và giúp
GV phát hiện ra những HS có năng khiếu về hóa học.
- Hệ thống bài toán hóa học đã biên soạn đã thiết thực góp phần nâng cao chất lượng dạy
và học phần hóa học hữu cơ lớp 12 nói riêng và môn hóa học ở trường phổ thông nói chung.

KẾT LUẬN

Đối chiếu với mục đích, nhiệm vụ của đề tài, chúng tôi đã giải quyết được những vấn đề sau:
- Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài bao gồm cơ sở lý luận của việc nâng cao
chất lượng, hiệu quả quá trình dạy và học môn hóa học THPT; vai trò, ý nghĩa của BTHH; cơ sở
lựa chọn, phân loại bài tập hóa học; thực trạng của việc sử dụng bài toán hóa học ở trường THPT;
phương pháp chung giải các bài toán hóa học THPT.
- Đã lựa chọn, phân loại các bài toán hóa học hữu cơ lớp 12 và giải chúng theo phương
pháp chung giải các bài toán hóa học THPT.
Cụ thể chúng tôi đã lựa chọn được 120 bài toán hóa học hữu cơ lớp 12 (gồm 60 bài toán
tự luận và 60 bài toán trắc nghiệm khách quan) và 40 bài tập tự luyện (gồm 20 bài toán tự luận và
20 bài toán trắc nghiệm khách quan). Ngoài ra chúng tôi còn xây dựng được 5 đề kiểm tra ( 1đề
kiểm tra 15 phút và 4 đề kiểm tra 45 phút) để kiểm tra đánh giá HS.
- Đề xuất cách sử dụng hệ thống bài toán hóa học đã biên soạn trong dạy học hóa học
hữu cơ lớp 12 khi xây dựng kiến thức mới, kĩ năng mới; khi vận dụng, củng cố kiến thức, kĩ năng
và khi kiểm tra, đánh giá kiến thức, kĩ năng của HS.
- Đã tiến hành thực nghiệm sư phạm tại 4 lớp của trường THPT An Lão và trường THPT
Hàng Hải - Hải Phòng. Đã xử lí các số liệu TN sư phạm đồng thời trao đổi, lấy ý kiến của các GV
và HS để khẳng định tính cần thiết, tính khả thi của đề tài: việc lựa chọn, phân loại và sử dụng
hợp lý hệ thống bài toán hóa học hữu cơ lớp 12 theo các mức độ nhận thức tư duy và vận dụng
21


phương pháp chung giải các bài toán hóa học THPT để giải các bài toán đó đã góp phần thiết thực
nâng cao hiệu quả quá trình dạy và học môn hóa học THPT
Tuy nhiên do những hạn chế về điều kiện thời gian, năng lực và trình độ của bản thân
nên các kết quả chúng tôi thu được còn nhiều hạn chế và chắc chắn việc nghiên cứu của chúng tôi
còn nhiều thiếu sót. Chúng tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng góp quý báu của các thầy
cô giáo và các bạn đồng nghiệp để việc nghiên cứu tiếp theo của chúng tôi đạt được những kết quả
tốt hơn.
Chúng tôi xin chân thành cảm ơn!

References
1. Cao Thị Thiên An (2009), Hướng dẫn giải các dạng bài tập từ các đề thi Quốc gia môn Hóa
học của Bộ Giáo Dục và Đào tạo. Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội.
2. Cao Thị Thiên An (2011), Phân dạng và phương pháp giải bài tập hóa học 12 - phần hữu cơ
(tự luận và trắc nghiệm). Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội.
3. Vũ Ngọc Ban (2006), Phương pháp chung giải các bài toán hóa học trung học phổ thông.
Nxb Giáo dục.
4. Hoàng Thị Bắc - Đặng Thị Oanh (2008), 10 phương pháp giải nhanh bài tập trắc nghiệm
hóa học. Nxb Giáo dục Hà Nội.
5. Lƣơng Thị Bình (2011), Phương pháp giải các bài toán hóa học vô cơ lớp 12 trung học phổ
thông. Luận văn thạc sĩ sư phạm hóa học, Đại học Giáo dục – Đại học Quốc gia Hà Nội.
6. Phạm Đức Bình - ThS Lê Thị Tam - Hà Văn Độ (2011), Phân dạng và phương pháp giải
đề thi tuyển sinh ĐH và CĐ Hóa hữu cơ. Nxb Đại học Sư phạm.
7. Bộ giáo dục và Đào tạo (2008), Hóa học 12. Nxb Giáo dục.
8. Bộ giáo dục và Đào tạo (2012), Hóa học 12 nâng cao. Nxb Giáo dục Việt Nam.
9. Bộ giáo dục và Đào tạo (2009), Hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ Giáo dục trung học năm học
2009 -2010.
10. Nguyễn Cƣơng (2007), Phương pháp dạy học hoá học ở trường phổ thông và đại học – Một
số vấn đề cơ bản. Nxb Giáo dục Việt Nam.
11. Nguyễn Cƣơng - Nguyễn Ngọc Quang – Dƣơng Xuân Trinh (1995), Lý luận dạy học hoá

học( tập1). Nxb Giáo dục Hà Nội.
12. ThS Lê Tấn Diện (2011), Suy luận logic phương pháp giải nhanh môn Hóa học (Áp dụng vào giải
chi tiết đề thi tuyển sinh ĐH và CĐ từ năm 2007 đến năm 2010). Nxb Tổng hợp TP HCM.
13. Cao Cự Giác (2002), Hướng dẫn giải nhanh bài tập hóa học. Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội.
14. Lê Thanh Hải - Đinh Quang Cảnh - Nguyễn Thị Kim Tiến (2009), Trọng tâm kiến thức và
bài tập Hóa học 12. Nxb Giáo dục Việt Nam.
22

15. Võ Tƣờng Huy (2001), Giáo khoa và phương pháp giải toán hoá hữu cơ. Nxb Trẻ.
16. Đỗ Xuân Hƣng (2012), Phương pháp mới giải nhanh bài tập trắc nghiệm Hóa hữu cơ. Nxb
Đại học Quốc gia Hà Nội.
17. Nguyễn Thị Ngà - Vũ Anh Tuấn (2009), Hợp chất chứa nitơ - Gluxit - Hợp chất cao phân
tử. Nxb Giáo dục Việt Nam.
18. Nguyễn Thị Bích Phƣơng (2011), Phương pháp giải các bài toán xác định công thức hợp
chất hữu cơ chương trình hóa học trung học phổ thông. Luận văn thạc sĩ sư phạm hóa học, Đại
học Giáo dục – Đại học Quốc gia Hà Nội.
19. Nguyễn Ngọc Quang (1994), Lí luận dạy học hóa học.Nxb Giáo dục.
20. Quan Hán Thành (1998), Phân loại và phương pháp giải toán Hóa hữu cơ. Nxb trẻ.
21. Quan Hán Thành (2010), Một số kinh nghiệm và phương pháp giải toán trắc nghiệm Hóa
học 12 - phần hữu cơ. Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội.
22. Phùng Ngọc Trác (chủ biên) (2009), Phương pháp mới giải nhanh các bài toán hóa học
THPT. Nxb Hà Nội.
23. PGS.TS Nguyễn Xuân Trƣờng - ThS Hoàng Thị Thúy Hƣơng - ThS Quách Văn Long
(2001), Phương pháp giải nhanh bài tập trắc nghiệm hóa học THPT, Hóa học hữu cơ. Nxb Hà
Nội.
24. Nguyễn Xuân Trƣờng (1997), Bài tập hóa học ở trường phổ thông. Nxb Đại học Quốc Gia
Hà Nội.
25. Nguyễn Xuân Trƣờng (2011), Phương pháp giải nhanh bài toán hóa hữu cơ. Nxb Hà Nội.
26. PGS.TS Nguyên Xuân Trƣờng - TS Trần Trung Ninh (2007), 54 đề thi trắc nghiệm môn
Hóa học-Phần hữu cơ. Nxb Đại học Quốc Gia Hà Nội.

27. Vũ Anh Tuấn (chủ biên) (2008), Hướng dẫn thực hiện chương trình, sách giáo khoa lớp 12
môn hóa học. Nxb Giáo Dục.

×