Tải bản đầy đủ (.doc) (33 trang)

Tình hình nợ BHXH của các doanh nghiệp tại Đà Nẵng từ 2011-2012

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (301.02 KB, 33 trang )

Tiểu luận
Tình hình nợ BHXHcủa
các doanh nghiệp tại Đà
Nẵng từ 2011-2012
MỤC LỤC
MỤC LỤC 2
LỜI MỞ ĐẦU 3
Chương 1: Lý luận chung về BHXH và công tác thu BHXH 6
I.Tổng quan về BHXH 6
1.Quỹ BHXH 6
1.1.Khái niệm về quỹ BHXH 6
1.2.Mục đích sử dụng quỹ BHXH 6
1.3.Vai trò của BHXH 6
1.4.Nguồn hình thành quỹ 7
2.Sự cần thiết khách quan và vai trò của BHXH 8
2.1.Sự cần thiết khách quan của BHXH 8
2.1.1.Đối với người lao động 8
2.1.2.Đối với người sử dụng lao động 9
2.1.3.Đối với nhà nước 9
2.1.4.Đối với xã hội : 9
2.1.5.Đối với nền kinh tế thị trường 10
3.Bản chất và chức năng của BHXH 10
3.1.Bản chất của BHXH 10
3.2.Chức năng của BHXH 12
4.Đối tương và đối tượng tham gia BHXH 12
4.1.Đối tượng BHXH 12
4.2.Đối tượng tham gia BHXH 13
5.Các chế độ BHXH 13
II.Công tác thu 14
1.Vai trò của công tác thu 14
2.Quy trình thu BHXH 14


3.Quản lý thu BHXH 15
Chương 2: Tình hình nợ BHXH của các doanh nghiệp tại Đà Nẵng từ 2011- 2012 16
I.Hiện trạng chung của toàn ngành BHXH và tại Đà Nẵng 16
Nguyễn Hoàng Giang Lớp: K15QNH5 MSSV: 152523844
I.1.Toàn ngành 16
I.2.Tại địa bàn Đà Nẵng 18
II.Nguyên nhân các doanh nghiệp nợ BHXH 19
II.1.Nguyên nhân khách quan 19
II.2.Nguyên nhân chủ quan 19
III.Ảnh hưởng về quyền lợi việc các doanh nghiệp nợ BHXH 20
III.1.Đối với người lao động 20
III.2.Đối với thành phố 21
IV.Tình hình nợ thực tế BHXH của thành phố 21
Chương 3: Tình hình sử dụng nguồn thu từ BHXH. Giải pháp nhằm giảm lượng nợ BHXH trên toàn thành
phố 22
I.Kết quả đạt được 22
II.Hướng giải quyết của thành phố 26
2.1. Hướng giải quyết của thành phố 26
2.2. Hướng giải quyết của BHXH 29
III.Giải pháp nhằm giảm bớt nợ 30
Kết luận 32
BẢO HIỂM XÃ HỘI THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
Trụ sở: Số 1A Trần Quý Cáp, phường Thạch Thang, quận Hải Châu, Tp. Đà Nẵng
Điện thoại: 0511.3834773 / 0511.3834774 - Fax: 0511.3834773
Email:
LỜI MỞ ĐẦU
Việt Nam đang đi trên con đường trở thành một quốc gia xã hội chủ nghĩa,
chăm lo đến đời sống của toàn bộ người dân trong quốc gia là yêu cầu tất yếu để đi
lên xã hội chủ nghĩa. Người dân muốn được sống ấm no, muốn được đáp ứng đủ
nhu cầu về mặt lợi ích, muốn được Nhà nước và xã hội quan tâm chia sẻ khi không

thể lao động được, khi sức khỏe bị gián đoạn Để làm được điều đó, BHXH đóng
một vai trò quan trọng nhằm gắn kết người lao động đến với những nhu cầu thiết
Nguyễn Hoàng Giang Lớp: K15QNH5 MSSV: 152523844
yếu đó, và đáp ứng được những đòi hỏi của người sử dụng lao động, qua đó người
sử dụng dùng BHXH để đáp ứng lại tất cả những yêu cầu của người lao động.
Hệ thống BHXH bảo vệ lợi ích cho mọi người lao động khi bị ốm đau thai
sản, tai nạn lao động, khi về già hoặc khi gặp phải những rủi ro biến cố trong cuộc
sống. Thông qua việc hình thành một quỹ BHXH do các bên tham gia BHXH đóng
góp và sự hỗ trợ của Nhà nước. Đây là hoạt động không kinh doanh, hoạt động
không vì mục đích lợi nhuận. BHXH như là một chiếc phao cứu sinh nhằm giúp
cho người lao động và doanh nghiệp trải qua khó khăn trong giai đoạn khó khăn.
Tuy nhiên, trong tình hình kinh tế hiện tại. Nợ BHXH đang là một vấn đề
hết sức nghiêm trọng. Nó tác động xấu tới những chính sách tốt đẹp mà Nhà nước
và Chính phủ đang áp dụng.
Nhà nước không thể giải quyết cho người lao động nhận các trợ cấp khi xảy
ra rủi ro. Còn người lao động thì khi không nhận được trợ cấp đó, với sự hiểu biết
ít ỏi, họ có nhiều suy nghĩ theo hướng không tích cực đến các chính sách từ Đảng
và Nhà nước.
Việc Nợ BHXH gần như xảy ra trên toàn bộ các doanh nghiệp, từ doanh
nghiệp lớn đến doanh nghiệp nhỏ. Việc nợ BHXH của các doanh nghiệp này gần
như là điều bất khả kháng. Các doanh nghiệp hiện đang gặp rất nhiều khó khăn
trong việc xoay chuyển dòng tiền nhằm tìm kiếm lợi nhuận. Vì thế, khi doanh
nghiệp gặp khó khăn trong việc kinh doanh, việc đóng BHXH sẽ gây gánh nặng tới
nguồn vốn kinh doanh của họ.Việc các doanh nghiệp trốn nộp, chậm nộp diễn ra
gần như suốt quá trình kinh doanh.
Chính việc nợ BHXH từ các doanh nghiệp đã gây một hậu quả trực tiếp tới
người lao động. Người lao động không hề biết các doanh nghiệp, nơi họ đang làm
việc đang trực tiếp sử dụng tiền họ đóng BHXH để làm vốn kinh doanh, đến khi
gặp tai nạn nghề nghiệp, mất việc…. họ cần tới sự giúp đỡ của BHXH thì họ hầu
như không nhận được sự trợ cấp nào từ BHXH với lý do nhận được từ cơ quan

BHXH là doanh nghiệp họ đang làm việc đang nợ BHXH.
Quỹ BHXH là một nội dung quan trọng trong chính sách BHXH. Nó vừa
mang tính kinh tế xã hội vừa mang tính chính trị nhằm ổn định cho một đất nước
phát triển. Hơn nữa, chính sách BHXH ở nước ta được phát triển toàn diện, có đủ
tài chính để chi trả các chế độ ngắn hạn và dài hạn cho người tham gia BHXH
trong và ngoài thời gian lao động để từ đó chính sách BHXH thực sự đi vào đời
sống của người dân Việt Nam thì nâng cao vai trò của công tác thu tạo quỹ BHXH
Nguyễn Hoàng Giang Lớp: K15QNH5 MSSV: 152523844
từ người lao động và người sử dụng lao động là một trong những vấn đề hết sức
cần thiết trong thời gian hiện nay.
Với vai trò là một sinh viên trong ngành Tài chính- Ngân hàng đang học tập
và sinh sống trên địa bàn Đà Nẵng. Chính bản than cũng đang sử dụng BHYT nên
hơn ai hết em hiểu tầm quan trọng của BHXH đối với cuộc sống của những người
có thu nhập thấp.
Xuất phát từ nguyện vọng bản than và tiểu luận môn “Các tổ chức tài
chính”. Em đã chọn đề tài : “Tình hình nợ BHXH của các doanh nghiệp tại Đà
Nẵng từ 2011-2012” nhằm tìm ra nguyên nhân nợ BHXH cũng như tình hình nợ
BHXH trên địa bàn thành phố. Qua đó đề xuất giải pháp nhằm giúp tháo gở khó
khăn.
Trong quá trình làm tiểu luận, thật khó để có thể tránh khỏi sai sót. Em rất
mong nhận được ý kiến đóng góp từ GVHD để tiểu luận em được hoàn thiện và
thiết thực hơn.
Nguyễn Hoàng Giang Lớp: K15QNH5 MSSV: 152523844
Chương 1: Lý luận chung về BHXH và công tác thu
BHXH.
I. Tổng quan về BHXH
1. Quỹ BHXH
1.1. Khái niệm về quỹ BHXH
Quỹ BHXH là tập hợp đóng góp bằng tiền của các bên tham gia
BHXH: NLĐ, NSDLĐ, Nhà nước bù thiếu nhằm mục đích chi trả cho các

chế độ BHXH và đảm bảo cho hoạt động của hệ thống BHXH.
Quỹ BHXH là quỹ tiền tệ tập trung, hạch toán độc lập với ngân sách
Nhà nước, được nhà nước bảo hộ và bù thiếu. Được quản lý theo cơ chế cân
bằng thu chi do đó quỹ BHXH không đơn thuần ở trạng thái tĩnh mà luôn có
sự biến động theo chiều hướng tăng lên hoặc thâm hụt.
Quỹ BHXH hình thành và hoạt động đã tạo ra khả năng giải quyết
những rủi ro của tất cả những người tham gia với tổng dự trữ ít nhất, do rủi
ro được dàn trải cho số đông người tham gia. Đồng thời quỹ này cũng góp
phần giảm chi ngân sách cho Nhà nước, khi có biến cố xã hội xảy ra như
thiên tai, hạn hán, dịch bệnh, quỹ BHXH cũng là một khoản không nhỏ giúp
Nhà nước thay cho cứu trợ xã hội, phúc lợi xã hội…
1.2. Mục đích sử dụng quỹ BHXH
Chi trả trợ cấp cho các chế độ BHXH: đây là khoản chi chiếm tỷ trọng
lớn nhất của BHXH nhằm đảm bảo ổn định, duy trì cuộc sống cho NLĐ
đóng góp phần ổn định sản xuất kinh doanh cho các doanh nghiệp.
Chi phí cho sự nghiệp quản lý BHXH: Ngoài việc trợ cấp cho các đối
tượng hưởng BHXH, quỹ BHXH còn được sử dụng để chi cho các khoản chi
phí quản lý như: tiền lương cho cán bộ làm việc trong hệ thống BHXH, khấu
hao TSCĐ, văn phòng phẩm và một số khoản chi khác.
1.3. Vai trò của BHXH
Ở bất kỳ hoàn cảnh, thời điểm nào, rủi ro luôn luôn rình rập, đe dọa
cuộc sống của mỗi người gây gánh nặng cho cộng đồng và xã hội, rủi ro
phát sinh hoàn toàn ngẫu nhiên và bất ngờ không lường trước được nhưng
Nguyễn Hoàng Giang Lớp: K15QNH5 MSSV: 152523844
xét trên bình diện xã hội thì rủi ro là một tất yếu, không thể tránh được. Để
phòng ngừa và hạn chế những tác động tiêu cực của rủi ro đối với con người
và xã hội là nhiệm vụ, mục tiêu hoạt động của BHXH.
o BHXH có vai trò ổn định thu nhập cho người lao động và gia đình
o BHXH tạo được tâm lý an tâm, tin tưởng. Khi đã tham gia BHXH
góp phần nâng cao đời sống tinh thần cho người lao động đem lại

cuộc sống bình yên, hạnh phúc cho nhân dân lao động.
1.4. Nguồn hình thành quỹ
- Người sử dụng lao động: sự đóng góp này không những thể hiện trách
nhiệm của NSDLĐ đối với NLĐ đồng thời con thể hiện lợi ích của NSDLĐ
bởi đóng góp một phần BHXH cho NLĐ, NSDLĐ sẽ tránh được thiệt hại
kinh tế do phải chi ra một khoản tiền lớn khi có rủi ro xảy ra đối với NLĐ
của mình đồng thời cũng giảm bớt được những tranh chấp. Thông thường
phần đóng góp này được xác định dựa trên quỹ lương của đơn vị, doanh
nghiệp.
- Người lao động: Người lao động tham gia đóng góp cho mình để bảo
hiểm cho chính bản than mình. Khoản đóng góp vào quỹ BHXH chính là
khoản để dành dụm, tiết kiệm cho về sau bằng cách là hưởng lương hưu
hoặc được hưởng trợ cấp khi gặp rủi ro xảy ra.
- Nhà nước đóng và hỗ trợ thêm: Quỹ BHXH được nhà nước bảo hộ và
đóng góp khi quỹ bị thâm hụt không đủ khả năng để chi trả cho các chế độ
xã hội. Nhằm mục đích đảm bảo cho các hoạt động xã hội diễn ra được đều
đặn, ổn định. Nguồn thu từ sự hỗ trợ Ngân sách Nhà nước đôi khi là khá lớn,
sự hỗ trợ này là rất cần thiết và quan trọng.
- Các nguồn khác: như sự giúp đỡ của các tổ chức từ thiện trong và
ngoài nước.Lãi do đầu tư phần quỹ nhàn rỗi, khoản tiền thu nộp phạt từ các
đơn vị chậm đóng BHXH…
 Phương thức đóng góp
- Căn cứ vào mức lương cá nhân và quỹ lương của cơ quan, doanh
nghiệp.
- Căn cứ và mức thu nhập cơ bản của NLĐ được cân đối chung trong
toàn bộ nền kinh tế quốc dân để xác định mức đóng góp
 Mức đóng góp BHXH
- NLĐ đóng 5% lương tháng cho BHXH, 1% lương tháng cho BHYT
Nguyễn Hoàng Giang Lớp: K15QNH5 MSSV: 152523844
- NSDLĐ đóng 15% quỹ lương tháng cho BHXH và 2% quỹ lương

tháng cho BHYT.
2. Sự cần thiết khách quan và vai trò của BHXH
2.1. Sự cần thiết khách quan của BHXH
Con người ai cũng phải trải qua các giai đoạn phát triển của đời người
đó là sinh ra, lớn lên, trưởng thành và chết. Đó là vòng: sinh, lão, bệnh, tử và
ước muốn của con người là có được cuộc sống an sinh, hạnh phúc. Nhưng
quy luật của tạo hóa là sinh ra lớn lên và già yếu mà ai cũng phải trải qua. Đi
theo cùng quy luật đó là những rủi ro, ốm đau, bệnh tật, hoạn nạn có thể đến
bất cứ lúc nào trong cuộc sống. Chính những lúc ốm đau, bệnh tật họ rất cần
sự quan tâm, chia sẻ từ chính doanh nghiệp họ công tác, từ xã hội và từ
những người xung quanh họ.
Xuất phát từ thực tế khách quan trên người ta hiểu rằng toàn bộ những
hoạt động với những mối quan hệ chặt chẽ đó được quan niệm là Bảo hiểm
xã hội (BHXH) đối với người lao động.
Hệ thống BHXH ngày càng được mở rộng đã góp phần to lớn vào
việc ổn định cuộc sống cho người lao động, góp phần ổn định kinh tế chính
trị xã hội của đất nước.
Sự tồn tại của hệ thống BHXH là một sự cần thiết tất yếu khách quan
cho quốc gia, cho mọi người Lao động và người Sử dụng lao động.
2.1.1. Đối với người lao động
- Góp phần bảo đảm cuộc sống ổn định cho người lao động và gia đình
họ khi gặp bất trắc rủi ro : tai nạn lao động, ốm đau, thai sản… ảnh hưởng
tới sức lao động gây ảnh hưởng tới thu nhập của NLĐ
- BHXH làm cho NLĐ ngày càng yêu nghề hơn, gắn bó với công việc,
sống có trách nhiệm hơn với bản than, gia đình bạn bè và cộng đồng hơn.
- Là sợi dây ràng buộc, kích thích họ hăng hái tham gia sản xuất hơn,
gắn kết NSDLĐ với NLĐ lại gần nhau hơn.
- BHXH còn bảo vệ và tăng cường sức khỏe cho NLĐ góp phần tái sản
xuất sức lao động cho NLĐ nhanh chóng trở lại làm việc tạo ra sản phẩm
mới cho doanh nghiệp và xã hội, đảm bảo thu nhập cho bản thân NLĐ.

Nguyễn Hoàng Giang Lớp: K15QNH5 MSSV: 152523844
2.1.2. Đối với người sử dụng lao động
- BHXH góp phần điều hòa hạn chế các mâu thuẫn giữa giới chủ và
giới thợ.
- Tạo ra môi trường làm việc ổn định cho người lao động, taọ sự ổn
định cho người sử dụng lao động trong công tác quản lý
2.1.3. Đối với nhà nước
- Giúp cho Ngân sách Nhà nước giảm chi đến mức tối thiểu nhưng vẫn
giải quyết được khó khăn về đời sống cho NLĐ và gia đình họ được phát
triển an toàn hơn.
- BHXH góp phần giữ vững an ninh, chính trị trong nước ổn định trật tự
an toàn cho xã hội: BHXH điều hòa, hạn chế các mâu thuẫn giữa giới chủ và
giới thợ đồng thời tạo ra môi trường làm việc thuận lợi, ổn định cho người
lao động
- BHXH có vai trò quan trọng trong việc tăng thu, giảm chi cho Ngân
sách Nhà nước:
o BHXH làm tăng thu cho ngân sách nhà nước
o BHXH giúp cho nhà nước thực hiện được các công trình
xây dựng trọng điểm của quốc gia, các chương trình phát
triển kinh tế.
2.1.4. Đối với xã hội :
- Tăng cường mối quan hệ giữa Nhà nước, NSDLĐ và NLĐ, mối quan
hệ ràng buộc chặt chẽ, chia sẻ trách nhiệm, chia sẻ rui ro. Mối quan hệ thể
hiện tính nhân sinh, nhân văn sâu sắc của BHXH.
- BHXH thể hiện chủ nghĩa nhân đạo cao đẹp, BHXH tạo cho những
người bất hạnh có thêm những điều kiện, những lực đẩy cần thiết để khắc
phục những biến cố xã hội, hòa nhập vào cộng đồng. BHXH là yếu tố tạo
nên sự hòa đồng mọi người, không phân biệt chính kiến, tôn giáo chủng tộc,
vị thế xã hội đồng thời giúp mọi người hướng tới một xã hội nhân ái, cuộc
sống công bằng, bình yên.

- BHXH thể hiện truyền thống đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau tương thân
tương ái của cộng đồng.
- BHXH góp phần thực hiện bình đẳng xã hội. BHXH là một công cụ
phân phối lại thu nhập giữa các thành viên trong cộng đồng.
Nguyễn Hoàng Giang Lớp: K15QNH5 MSSV: 152523844
2.1.5. Đối với nền kinh tế thị trường
- Khi chuyển sang cơ chế thị trường, xảy ra sự phân tầng giữa các tầng
lớp trong xã hội. Tạo ra sự bất bình đẳng về thu nhập giữa các ngành nghề
khác nhau trong xã hội. Nếu xảy ra rủi ro cho những người có kinh tế khó
khăn, BHXH góp phần ổn định đời sống cho họ và gia đình.
- Đối với các doanh nghiệp, khi những người lao động không may gặp
rủi ro thì đã được chuyển giao cho cơ quan BHXH chi trả. Nhờ vậy tình hình
tài chính của các doanh nghiệp được ổn định hơn.
- Khi tham gia BHXH cho người lao động sẽ phát huy tinh thần trách
nhiệm, gắn bó tận tình của người lao động trong các doanh nghiệp làm cho
mối quan hệ thị trường lao động trở nên lành mạnh hơn, thị trường sức lao
động vận động theo hướng tích cực góp phần xây dựng và có kế hoạch phát
triển chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế thị
trường.
- Quỹ BHXH do các bên tham gia đóng góp được tích tụ tập trung rất
lớn, phần quỹ nhàn rỗi được đem đầu tư cho nền kinh tế tạo ra sự tăng
trưởng, phát triển kinh tế và tạo công ăn việc làm cho người lao động
- BHXH vừa tạo động lực cho các thành phần kinh tế phát triển nhưng
mặt khác tạo ra sự bình đẳng giữa các tầng lớp dân cư thông qua hệ thống
phân phối lại thu nhập góp phần lành mạnh hóa thị trường lao động.
3. Bản chất và chức năng của BHXH
3.1. Bản chất của BHXH
- BHXH là hình thức bảo hiểm thu nhập cho người lao động, là sản
phẩm tất yếu khách quan của xã hội phát triển, là hình thức dịch vụ công để
quản lý và đáp úng nhu cầu chia sẻ các rủi ro trong cộng đồng, là quyền cơ

bản của người lao động.
- BHXH vừa để thực hiện các mục đích xã hội, vừa để thực hiện các
mục đích kinh tế trong mỗi cộng đồng, quốc gia. Trong đó, mục đích kinh tế
và mục đích xã hội luôn được thực hiện đồng thời, đan xen lẫn nhau, là hai
mặt không thể tách rời.
o Về phương diện xã hội: BHXH là sự chia sẻ rủi ro, bảo đảm
an toàn xã hội
Nguyễn Hoàng Giang Lớp: K15QNH5 MSSV: 152523844 Page
o Về phương diện kinh tế: BHXH là quá trình phân phối lại
thu nhập giữa những người tham gia bảo hiểm, thông qua việc
hình thành quỹ tiền tệ chung.
o Về phương diện chính trị, pháp lý: khi được nhà nước điều
chỉnh bằng pháp luật, BHXH đã trở thành quyền cơ bản của
người lao động, xét trên cả bình diện quốc gia và quốc tế. Đồng
thời đó cũng là trách nhiệm của NLĐ và NSDLĐ phải tham gia
BHXH.
- BHXH đóng vai trò như một vị cứu tinh cho NLĐ khi họ gặp phải
những rủi ro làm giảm thu nhập trong cuộc sống, nhu cầu về BHXH thuộc
về nhu cầu tự nhiên của con người. Xuất phát từ nhu cầu cần thiết để đảm
bảo cho các tiêu chuẩn hay giá trị cho cuộc sống tối thiểu.
- Mối quan hệ giữa các bên trong BHXH phát sinh trên cơ sở quan hệ
lao động và diễn ra giữa ba bên: bên tham gia BHXH, bên BHXH và bên
được BHXH.
- Những biến cố làm giảm hoặc mất khả năng lao động, mất việc làm
trong BHXH có thể nói là những rủi ro ngẫu nhiên trái với ý muốn chủ quan
của con người như: ốm đau, bệnh tật, tai nạn lao động- bệnh nghề nghiệp…
hoặc cũng có thể là những trường hợp xảy ra không hoàn toàn ngẫu nhiên
như tuổi già, thai sản…
- Phần thu nhập của NLĐ bị giảm hoặc mất đi khi gặp phải những biến
cố rủi ro sẽ được bù đắp hoặc thay thế từ nguồn quỹ tiền tệ tập trung được

dồn tích lại.
Chính sách BHXH nằm trong hệ thống chung của chính sách về kinh
tế xã hội và là một trong những bộ phận hữu cơ trong hệ thống chính sách
quản lý đất nước của quốc gia.
- Mục tiêu của BHXH là nhằm thỏa mãn những nhu cầu thiết yếu của
người lao động trong trường hợp bị giảm hoặc mất thu nhập, mất việc làm.
Mục tiêu này đã được tổ chức lao động Quốc tế (ILO) cụ thể hoá như
sau:
o Đền bù cho người lao động những khoản thu nhập bị mất để
đảm bảo như cầu sinh sống thiết yếu của họ
o Chăm sóc sức khỏe và chống bệnh tật
Nguyễn Hoàng Giang Lớp: K15QNH5 MSSV: 152523844 Page
o Xây dựng điều kiện sống đáp ứng các nhu cầu dân cư và nhu
cầu đặc biệt của người già, người tàn tật và trẻ em.
3.2. Chức năng của BHXH
- Thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập cho NLĐ tham gia BHXH
khi họ bị giảm hoặc mất khả năng lao động hoặc mất việc làm. Đây là chức
năng cơ bản của BHXH, quyết định nhiệm vụ, tính chất và cơ chế tổ chức
hoạt động của BHXH.
- Tiến hành phân phối và phân phối lại thu nhập giữa những người
tham gia BHXH. BHXH xã hội hóa cao hơn hẳn các loại hình BHXH khác
đồng thời cũng thể hiện tính công bằng xã hội cao.
- BHXH góp phần kích thích người lao động hăng hái sản xuất, nâng
cao năng suất lao động cá nhân tăng năng suất lao động xã hội góp phần
tăng mối quan hệ tốt đẹp và gắn bó lợi ích giữa NLĐ, NSDLĐ và Nhà nước.
- BHXH thực hiện chức năng điều hòa lợi ích giữa ba bên: NLĐ,
NSDLĐ, Nhà nước đồng thời làm giảm bớt mâu thuẫn xã hội, góp phần ổn
định chính trị, kinh tế, xã hội.
- BHXH còn thực hiện chức năng giám đốc bởi BHXH tiến hành kiểm
tra, giám sát việc tham gia thực hiện chính sách BHXH của NLĐ, NSDLĐ

theo quy định của pháp luật nhằm đảm bảo quyền lợi cho NLĐ, góp phần ổn
định xã hội.
- BHXH góp phần thu hút lao động, hình thành và phát triển thị trường
lao động, gắn bó các lợi ích của người lao động, người sử dụng lao động và
các lợi ích xã hội.
4. Đối tương và đối tượng tham gia BHXH
4.1. Đối tượng BHXH
BHXH là một hệ thống bảo đảm khoản thu nhập bị giảm hoặc mất do
giảm, mất khả năng lao động, mất việc làm vì có các nguyên nhân như ốm
đau tai nạn, tuổi già.
Chính vì vậy, đối tượng của BHXH là phần thu nhập của NLĐ bị biến
động hoặc giảm, mất đi do gặp phải những rủi ro ngẫu nhiên, bất ngờ xảy ra.
Nguyễn Hoàng Giang Lớp: K15QNH5 MSSV: 152523844 Page
Đối tượng của BHXH không chỉ là các khoản thu nhập theo lương mà
bao gồm các khoản thu nhập khác ngoài lương như: thưởng, phụ cấp… cho
NLĐ có nhu cầu đóng góp them để được hưởng mức trợ cấp BHXH.
4.2. Đối tượng tham gia BHXH
Đối tượng tham gia của BHXH là NLĐ và NSDLĐ.
Họ là những người trực tiếp tham gia đóng góp tạo nên quỹ BHXH
với một khoản % nhất định so với tiền lương của NLĐ theo quy định của
luật BHXH. Tùy theo điều kiện phát triển kinh tế- xã hội của mỗi nước mà
đối tượng này có thể là tất cả hoặc một bộ phận những NLĐ nào đó trong xã
hội.
Đối tượng tham gia của BHXH bao gồm:
o Đối tượng bắt buộc tham gia BHXH: là NLĐ và NSDLĐ phải
tham gia BHXH một cách bắt buộc với mức đóng góp và mức
hưởng BHXH theo quy định của luật BHXH.
o Đối tượng tự nguyện tham gia BHXH: áp dụng cả với người
làm công ăn lương và NLĐ không làm công ăn lương. Thường là
do sự đóng góp của NLĐ cùng với sự giúp đỡ của ngân sách Nhà

nước.
5. Các chế độ BHXH
Theo công ước 102 kí kết tại Giơnevơ tháng 6 năm 1952 của Tổ chức
Lao động quốc tế với sự tham gia của rất nhiều quốc gia đã xác định rõ,
BHXH bao gồm các chế độ sau:
1) Chế độ chăm sóc y tế
2) Chế độ trợ cấp ốm đau
3) Chế độ trợ cấp thất nghiệp
4) Chế độ trợ cấp tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp
5) Chế độ trợ cấp tuổi già
6) Chế độ trợ cấp gia đình
7) Chế độ trợ cấp sinh đẻ
8) Chế độ trợ cấp khi tàn phế
9) Chế độ trợ cấp cho người còn sống
Chín chế độ trên hình thành một hệ thống các chế độ BHXH. Tùy
điều kiện kinh tế chính trị xã hội mà mỗi nước tham gia công ước Giơnevơ
Nguyễn Hoàng Giang Lớp: K15QNH5 MSSV: 152523844 Page
thực hiện khuyến nghị đó ở mức độ khác nhau, nhưng ít nhất phải thực hiện
được 3 trong 9 chế độ. Trong đó có ít nhất một trong năm chế độ 3,4,5,8,9.
Ở Việt Nam, theo nghị định 218/CP ra đời ngày 27/12/1961 quy định
chế độ BHXH ở Việt Nam gồm 6 loại chế độ trợ cấp: ốm đau, thai sản,
TNLĐ- BNN, hưu trí, mất sức lao động, chế độ tử tuất. Khi nền kinh tế phát
triển và chuyển đổi theo cơ chế thị trường, điều kiện kinh tế đã thay đổi thì
Nghị định 43/CP ngày 22/6/1993 và Nghị định số 12/CP ngày 26/1/1995
thống nhất bỏ chế độ trợ cấp mất sức lao động. Do BHYT Việt Nam sát
nhập với BHXH Việt Nam do đó, hiện nay ở Việt Nam thực hiện 6 chế độ
BHXH. Các chế độ đó là:
1) Ốm đau
2) Thai sản
3) TNLĐ- BNN

4) Hưu trí
5) Chế độ tử tuất
6) Chế độ chăm sóc y tế.
II. Công tác thu
1. Vai trò của công tác thu
- Là hoạt động thường xuyên và đa dạng của ngành BHXH nhằm đảm
bảo nguồn quỹ tài chính BHXH đạt được tập trung thống nhất
- Để chính sách BHXH được diễn ra thuận lợi thì công tác thu BHXH
có vai trò như một điều kiện cần và đủ trong quá trình tạo lập cùng thực hiện
chính sách BHXH.
- Công tác thu BHXH vừa đảm bảo cho quỹ BHXH được tập trung về
một mối, vừa đóng vai trò như một công cụ kiểm tra số lượng người tham
gia BHXH biến đổi ở từng khối lao động, cơ quan, đơn vị ở từng địa phương
hoặc trên phạm vi toàn quốc.
- Hoạt động của công tác thu BHXH hiện tại ảnh hưởng trực tiếp đến
công tác chi và quá trình thực hiện chính sách BHXH trong tương lai
2. Quy trình thu BHXH
- NLĐ, NSDLĐ đăng ký tham gia BHXH.
Nguyễn Hoàng Giang Lớp: K15QNH5 MSSV: 152523844 Page
- Cơ quan BHXH định kỳ sẽ tiến hành thu BHXH từ người tham gia
BHXH hoặc từ các đơn vị, cơ quan.
- Quá trình thu được tiến hành theo hai cách sau:
o Trường hợp 1: Cán bộ BHXH phải trực tiếp thu BHXH từ
người tham gia BHXH. Họ sẽ xuống tận cơ sở, nơi người lao động
làm việc để trực tiếp thu.
o Trường hợp 2: Cơ quan BHXH thu thông qua NSDLĐ hoặc
thông qua đại lý thu như: Ngân hàng, bưu điện, thông qua cơ quan
Thuế… Cơ quan BHXH thường mở tài khoản tại ngân hàng hoặc tại
kho bạc nhà nước để công việc chuyển tiền từ NSDLĐ và các đại lý
thu đến cơ quan BHXH được thuận lợi hơn.

3. Quản lý thu BHXH
Tham gia BHXH là nhiệm vụ, nghĩa vụ của các đơn vị sử dụng lao
động nhằm thực hiện quyền lợi cho NLĐ nhằm thực hiện quyền lợi cho
NLĐ
Trên cơ sở nhiệm vụ của công tác thu là phải thu đúng, thu đủ, thu
đúng đối tượng và rõ ràng minh bạch nhằm đảm bảo tính công bằng và
quyền lợi giữa những người tham gia BHXH. Bên cạnh đó cần phải tổ chức
theo dõi, ghi chép kết quả đóng BHXH của từng người, đơn vị để làm cơ sở
cho việc tính mức hưởng BHXH theo quy định.
Hơn nữa, công tác thu BHXH có những đặc điểm sau:
Số đối tượng phải thu là rất lớn và gia tăng theo thời gian nên công tác
quản lý thu BHXH là rất khó khăn và phức tạp.
Công tác thu mang tính chất định kỳ, lặp đi lặp lại do đó khối lượng
công việc là rất lớn đòi hỏi nguồn nhân lực và cơ sở vật chất phục vụ
cho công tác thu cũng phải tương ứng.
Đối tượng thu là tiền nên dễ xảy ra sai phạm, vi phạm đạo đức và lạm
dụng quỹ vốn tiền thu BHXH
Để công tác thu BHXH đạt hiệu quả cao thì đòi hỏi phải có quy trình
quản lý thu chặt chẽ hợp lý, khoa học nhất là trong thời đại công nghệ thông
tin bùng nổ hiện nay. Vì vậy, công tác quản lý thu BHXH phải được tổ chức
chặt chẽ, thống nhất trong cả hệ thống từ lập kế hoạch thu, phân cấp thu, ghi
kết quả đặc biệt là quản lý tiền thu quỹ BHXH…
Nguyễn Hoàng Giang Lớp: K15QNH5 MSSV: 152523844 Page
Chương 2: Tình hình nợ BHXH của các doanh nghiệp
tại Đà Nẵng từ 2011- 2012
I. Hiện trạng chung của toàn ngành BHXH và tại Đà Nẵng
I.1. Toàn ngành
- Theo đánh giá của BHXH Việt Nam, từ đầu năm đến nay, do nền kinh
tế còn gặp nhiều khó khăn, hoạt động sản xuất kinh doanh bị đình trệ, số lao
động mất việc làm tăng mạnh…

- Nhìn chung, các lĩnh vực như xây dựng, may mặc, giày da, tàu biển…
đang là những đơn vị nợ BHXH nhiều nhất. Nợ BHXH luôn ở mức cao do
tình hình kinh tế có nhiều biến động, lạm phát tăng cao, ảnh hưởng đến hoạt
động sản xuất kinh doanh của nhiều doanh nghiệp. Hiện nay, số lượng người
đến đăng ký bảo hiểm thất nghiệp và hưởng bảo hiểm thất nghiệp ngày một
tăng. Mỗi ngày, Phòng Bảo hiểm thất nghiệp của Trung tâm giới thiệu việc
làm Hà Nội tiếp nhận 3.000 - 4.000 người đến đăng ký bảo hiểm thất nghiệp
và hưởng bảo hiểm thất nghiệp.
- Số người được hưởng bảo hiểm thất nghiệp cũng tăng. Theo thống kê,
trong 3 năm (2009-2012) thực hiện chính sách bảo hiểm thất nghiệp, trên địa
bàn TP. Hà Nội đã có gần 43.000 người đến đăng ký tham gia bảo hiểm thất
nghiệp và hơn 36.000 người được hưởng bảo hiểm thất nghiệp. Số tiền
Trung tâm Giới thiệu việc làm Hà Nội đã chi trả hưởng bảo hiểm thất nghiệp
là hơn 295 tỷ đồng.
Nguyễn Hoàng Giang Lớp: K15QNH5 MSSV: 152523844 Page
- Hiện nay, không chỉ lao động phổ thông mà những người có chuyên
môn, thu nhập cao cũng tìm đến bảo hiểm thất nghiệp. Cụ thể trong 11 tháng
đầu năm 2012, số lao động phổ thông đến đăng ký chiếm 53%, lao động có
trình độ đại học, cao đẳng chiếm 35%. Trong các loại hình DN thì đối tượng
đăng ký nhận bảo hiểm thất nghiệp thuộc loại hình DN TNHH chiếm đến
60%, công ty cổ phần chiếm 33% và các loại hình DN khác chiếm 7%.
- Thống kê của Trung tâm Giới thiệu việc làm TP. HCM cho thấy, 11
tháng đầu năm 2012, tại TP. HCM có khoảng 130.000 người đăng ký bảo
hiểm thất nghiệp, tăng hơn 30% so với cùng kỳ năm 2011, trung bình mỗi
tháng trên địa bàn thành phố có khoảng 11.000 người thất nghiệp.
- Gia tăng tình trạng nợ đọng. Tính đến hết tháng 10-2012, số tiền nợ
bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế của các cơ quan, đơn vị, DN đã lên đến
8.492,7 tỷ đồng, tăng 2.047,2 tỷ đồng (31,8%) so với cùng kỳ năm 2011.
Trong số này, nợ bảo hiểm xã hội là 6.554,1 tỷ đồng (trong đó: nợ bảo hiểm
thất nghiệp là 410,8 tỷ đồng, riêng ngân sách các địa phương nợ 256,7 tỷ

đồng, chiếm 62,5% tổng số nợ bảo hiểm thất nghiệp), tăng 500,9 tỷ đồng so
với tháng 9-2012. Tình trạng nợ đọng, chậm đóng bảo hiểm xã hội, bảo
hiểm y tế xảy ra hầu hết ở các địa phương và ngày càng diễn biến phức tạp,
gia tăng cả số đơn vị, số tiền. Nhiều đơn vị để nợ đọng trong thời gian dài,
gây ảnh hưởng đến quyền lợi của người lao động. Không ít trường hợp chủ
DN trích tiền lương của người lao động để đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm
y tế nhưng không nộp hoặc khi các cơ quan thanh tra, xử lý thì DN mới chịu
nộp. Đáng chú ý, nợ bảo hiểm thất nghiệp ở khu vực hành chính, sự nghiệp
lại phổ biến hơn ở các khối ngành nghề khác.
- Nợ bảo hiểm y tế (BHYT) và bảo hiểm thất nghiệp (BHTN) cũng tăng
cao. Cụ thể, số nợ BHTN trong 9 tháng là 38,1 tỷ đồng, tăng 47,2% so với
cùng kỳ; nợ BHYT là 276 tỷ đồng, tăng 27,5%.
- Tình trạng trốn, chậm đóng bảo hiểm hoặc khai báo không trung thực
về số lao động và mức lương tại doanh nghiệp cũng còn diễn ra.
- Rất nhiều doanh nghiệp đã giải thể không còn hoạt động, hoặc chuyển
đi nơi khác cũng đã bỏ luôn nghĩa vụ phải đóng BHXH, khiến cho số nợ
tăng lên nhưng BHXH không thu được. Nhiều doanh nghiệp đã bị khởi kiện
ra tòa nhưng việc thi hành gặp khó khăn do doanh nghiệp cố tình né tránh,
trì hoãn việc thi hành án.
Nguyễn Hoàng Giang Lớp: K15QNH5 MSSV: 152523844 Page
I.2. Tại địa bàn Đà Nẵng
- Những năm gần đây, tình hình các doanh nghiệp nợ BHXH trên địa
bàn Đà Nẵng có xu hướng tăng đột biến. Đặc biệt là các doanh nghiệp lớn,
kinh doanh trong những lĩnh vực chính của nền kinh tế và đặc biệt theo định
hướng phát triển của thành phố như: Xây dựng, Công nghệ thông tin….với
số lượng người lao động lớn.
- Trong các năm 2009 và 2010, BHXH TP Đà Nẵng đã khởi kiện 15
doanh nghiệp, đơn vị để xử lý nợ tồn đọng kéo dài. Tuy nhiên, đến cuối năm
2010, vẫn có 448 doanh nghiệp, đơn vị nợ BHXH 27,5 tỉ đồng.
- Từ đầu năm 2011 đến nay, số đơn vị nợ BHXH tăng thêm 270 doanh

nghiệp và hơn 13 tỉ đồng. Tính đến cuối năm 2012, nhiều doanh nghiệp trên
địa bàn vẫn nợ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế (BHXH, BHYT) của người
lao động lên đến 127 tỉ đồng, trong đó số tiền nợ BHXH, BHYT trên ba
tháng là 67 tỉ đồng, khiến người lao động gặp rất nhiều thiệt thòi.
- Hiện nay, TP Đà Nẵng có hơn 10.000 doanh nghiệp sử dụng trên
193.000 lao động, nhưng chỉ có gần 4.000 đơn vị với hơn 160.000 lao động
đăng kí tham gia BHXH và y tế.
- Theo thống kê của Liên đoàn Lao động TP.Đà Nẵng, thu nhập trung
bình của công nhân, viên chức và người lao động tại TP.Đà Nẵng năm 2012
đạt 3,5 triệu đồng/người/tháng, tuy tăng 3,92% so với trước nhưng chỉ số giá
tiêu dùng tăng, đặc biệt là ở các mặt hàng thiết yếu nên đời sống vẫn chưa
cao.
- Đặc biệt, hiện nay diễn ra tình trạng nhiều người lao động chỉ đến cơ
quan bảo hiểm để nhận khoản tiền hỗ trợ thất nghiệp mà quên mất những
khoản hỗ trợ khác ngoài trợ cấp bằng tiền. Một phần trong hoạt động của
bảo hiểm thất nghiệp là hỗ trợ người lao động học nghề và tư vấn giới thiệu
việc làm. Tuy nhiên, khoản chi hỗ trợ học nghề cho cơ sở dạy nghề để đào
tạo người lao động trong thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp hàng tháng lại
rất thấp, số lượng người học nghề để tìm kiếm công việc mới càng thấp hơn,
chỉ bằng 0,2% so với tổng số người hưởng trợ cấp thất nghiệp.
Nguyễn Hoàng Giang Lớp: K15QNH5 MSSV: 152523844 Page
II. Nguyên nhân các doanh nghiệp nợ BHXH
II.1. Nguyên nhân khách quan
- Trước hết xuất phát từ ý thức pháp luật và đạo đức yếu kém của chủ
doanh nghiệp
- Tình hình kinh tế khó khăn, tốc độ tăng trưởng chậm
- Sản xuất kinh doanh đình đốn
- Sức mua thị trường giảm
- Nhiều doanh nghiệp phá sản, giải thể, hoặc tạm ngừng hoạt động.
- Các công trình xây dựng đều bị cắt giảm đầu tư

- Kinh phí chậm quyết toán
- Doanh nghiệp mất khả năng chi trả.
- Doanh nghiệp bị chiếm dụng vốn
- Bị chậm thanh toán các công trình đã hoàn thành
- Xử phạt tối đa chỉ đến 30 triệu đồng chưa đủ răn đe
- Việc chiếm dụng tiền BHXH có lợi hơn so với việc vay tiền ngân
hàng do không cần thế chấp tài sản, hay kê khai thủ tục mà lãi suất chậm
đóng BHXH lại thấp hơn lãi suất vay ngân hàng.
- BHXH không có chức năng xử phạt mà chỉ được quyền lập biên bản
và sau đó báo cáo cơ quan chức năng tiến hành thanh, kiểm tra với các đơn
vị còn nợ, nợ đọng kéo dài. Điều này khiến cho công tác thanh tra xử phạt
không chủ động được
- Chế tài xử phạt thấp, thủ tục xử phạt phức tạp và không quy định xử
lý hình sự khi chiếm dụng tiền đóng BHXH của người lao động.
Tại Đà Nẵng, năm 2011 có 80 đơn vị nợ BHXH với số tiền 23 tỷ đồng chỉ bị
xử phạt gần 48 triệu. Mức xử phạt quá thấp, không đủ sức răn đe.
II.2. Nguyên nhân chủ quan
- Doanh nghiệp chỉ muốn thu lợi nhuận tối đa, không quan tâm đến
quyền lợi của người lao động, tìm cách trốn tránh, đối phó với cơ quan chức
năng.
- Nhiều cơ quan, doanh nghiệp lại phân biệt cán bộ trong biên chế và
ngoài biên chế. Chỉ có cán bộ trong biên chế mới được hưởng các chế độ
BHXH, BHYT.
Nguyễn Hoàng Giang Lớp: K15QNH5 MSSV: 152523844 Page
- Việc nợ- chiếm dụng quỹ BHXH vốn luôn là “căn bệnh mãn tính” của
nhiều doanh nghiệp.
- Tổ chức Công đoàn của nhiều doanh nghiệp thiếu tính độc lập, chưa
trở thành chỗ dựa tin cậy của người lao động.
- Công tác thanh, kiểm tra chưa thường xuyên, chế tài xử lí chưa đủ
mạnh để buộc các doanh nghiệp phải tuân thủ luật Lao động và luật BHXH.

Lực lượng Thanh tra lao động của các địa phương rất mỏng, mỗi năm chỉ
tiến hành thanh tra được cài chục doanh nghiệp.
- Ngoài những doanh nghiệp thật sự đang gặp khó khăn do sản xuất
kinh doanh thua lỗ, phần lớn doanh nghiệp còn lại cố tình chây ì dây dưa
chậm nộp để chiếm dụng quỹ BHXH làm vốn phục vụ cho sản xuất kinh
doanh.
- Nhận thức về pháp luật lao động của người lao động còn rất nhiều hạn
chế. Người lao động chưa nhận thức đầy đủ về quyền lợi của mình. Một số
lao động không muốn tham gia tổ chức Công đoàn, không muốn trích nộp
BHXH vì sợ thu nhập bị giảm đi. Hoặc người lao động không dám đấu tranh
do tâm lí sợ bị trù dập, đuổi việc.
- Một số chủ doanh nghiệp thiếu trách nhiệm với người lao động.
- Các NHTM chưa thực hiện trích tiền từ tài khoản của doanh nghiệp
nợ BHXH để đóng BHXH theo quy định tại Thông tư liên tịch số
03/2008/TTLT- BLĐTBXH- BTC- NHNN ngày 18/2/2008 của Bộ Lao
động- Thương bình và Xã hội, Bộ Tài chính, Ngân hàng Nhà nước.
III. Ảnh hưởng về quyền lợi việc các doanh nghiệp nợ BHXH
III.1. Đối với người lao động
- Để trốn tránh nộp BHXH, các doanh nghiệp không kí kết hợp đồng,
hoặc kí kết hợp đồng ngắn hạn (dưới 3 tháng).Điều này gây ảnh hưởng tới
sự ổn định trong công việc của người lao động. Gây tâm lý không tốt trong
quá trình tham gia hoạt động sản xuất
- Doanh nghiệp không đóng BHXH đồng nghĩa không đóng BHYT. Vì
thế các quyền lợi về thai sản, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, tử tuất,
hưu trí, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp… của người lao động coi như
mất trắng.
Nguyễn Hoàng Giang Lớp: K15QNH5 MSSV: 152523844 Page
- Người lao động không được hưởng bất kỳ chế độ nào khi rủi ro xảy ra
và không được các cơ quan BHXH bồi thường khi gặp rủi ro.
- Quyền lợi của NLĐ mất đi, dù họ vẫn phải đóng BHXH ngay tại

doanh nghiệp, và lương của họ bị trích ra để đóng BHXH.
III.2. Đối với thành phố
- Không có quỹ để đền bù, giải quyết cho NLĐ khi gặp rủi ro.Mặc dù
họ là người trực tiếp đóng BHXH
- Không có quỹ để tiến hành đầu tư vào các chương trình trọng điểm
cho NLĐ liên quan tới BHXH, BHYT.
- Gây hiểu lầm về chính sách bồi thường cho NLĐ khi không giải quyết
bồi thường theo đúng thỏa thuận
- Thiếu tiền để duy trì các hoạt động liên quan tới BHXH như: thuê lao
động làm việc, xây dựng trang thiết bị để kiểm định rủi ro, xây dựng chế tài
cho NLĐ gặp rủi ro…
- Thiếu vốn để đầu tư các dự án nhằm mang lại lợi nhuận.
IV. Tình hình nợ thực tế BHXH của thành phố
- Số tiền nợ còn cao nhưng chậm được khắc phúc.
- Hiện tại trên địa bàn tỉnh, có 65 đơn vị có số nợ BHXH, BHYT hơn 3
tháng trở lên với số tiền hàng trăm triệu đồng/đơn vị. Tổng số nợ BHXH,
BHYT của 65 đơn vị trên hiện nay là hơn 35 tỷ đồng.
- Trong sáu tháng đầu năm 2012, trên địa bàn Đà Nẵng có 1.393 doanh
nghiệp giải thể, bỏ trụ sở, đóng mã số thuế hoặc tạm ngừng sản xuất, kinh
doanh. Số lao động mất việc, thiếu việc làm có xu hướng tăng, với 5.127
trường hợp được nhận trợ cấp thất nghiệp.
- Số doanh nghiệp nợ BHXH từ một tỷ đồng trở lên ngày càng tăng. Có
nhiều doanh nghiệp nợ tiền BHXH kéo dài nhiều năm như:
 Chi nhánh Trung tâm điện thoại di động CDMA Đà Nẵng
đã hơn ba năm - rưỡi
 Công ty CP Tư vấn đầu tư và xây dựng thuộc Tổng công ty
Xây dựng Miền Trung ba năm ba tháng
 Công ty CP ECICO hai năm tám tháng
- Tính đến ngày 30/9/2012, tổng số tiền nợ BHXH, BHYT (bao gồm cả
bảo hiểm thất nghiệp) là 122 tỷ đồng (chiếm khoảng 6,9%/kế hoạch giao

Nguyễn Hoàng Giang Lớp: K15QNH5 MSSV: 152523844 Page
năm 2012). Hàng trăm doanh nghiệp đang là “con nợ” của Bảo hiểm Xã hội
Việt Nam với những món nợ từ vài trăm triệu đến cả chục tỷ đồng, dây dưa,
kéo dài.
- Theo số liệu tổng hợp, tính đến ngày 31 tháng 10 năm 2012, toàn
thành phố Đà Nẵng có 858 đơn vị sử dụng lao động nợ BHXH, BHYT từ 03
tháng trở lên ứng với số tiền nợ là 76 tỷ đồng, trong đó có hàng chục đơn vị
nợ với số tiền từ 01 đến 02 tỷ đồng, thậm chí có những đơn vị nợ trên 2 tỷ
đồng như:
- Chi nhánh Công ty cổ phần Someco Sông Đà tại miền
Trung, nợ 2.876.868.730 đồng;
- Chi nhánh Trung tâm điện thoại di động C.D.M.A tại Đà
Nẵng, nợ 2.283.471.627 đồng.
- Chi nhánh công ty cổ phần đầu tư xây dựng và thương
mại VINAWACO 25 nợ 1,7 tỷ đồng
- Công ty cổ phần xây dựng điện VNECO 6 nợ 1,3 tỷ đồng
- Công ty cổ phân Tư vấn đầu tư và xây dựng TCT Miền
Trung nợ 1,3 tỷ đồng
- Công ty cổ phần ECICO nợ 1,1 tỷ đồng…
Trong 858 đơn vị, doanh nghiệp nợ tiền BHXH từ 3 tháng trở lên với
tổng số gần 76 tỷ đồng, có 65 đơn vị có số tiền nợ nhiều và mang tính dây
dưa kéo dài với số tiền trên 35 tỷ đồng.
Chương 3: Tình hình sử dụng nguồn thu từ BHXH.
Giải pháp nhằm giảm lượng nợ BHXH trên toàn
thành phố.
I. Kết quả đạt được
- Trong ba năm qua, Bảo hiểm hiểm xã hội thành phố Đà Nẵng đã tiếp
nhận, quản lý chi trả và cấp thẻ bảo hiểm y tế cho gần 19 ngàn người hưởng
Nguyễn Hoàng Giang Lớp: K15QNH5 MSSV: 152523844 Page
trợ cấp thất nghiệp với số tiền gần 75 tỷ đồng. Trong đó chi trợ cấp bảo hiểm

thất nghiệp một lần cho 153 người số tiền hơn 860 triệu đồng, chi hỗ trợ học
nghề cho 5 người số tiền 3,3 triệu đồng.
- Trong năm 2011, có 4.121 đơn vị với 173.246 người tham gia BHXH
bắt buộc, tổng số thu BHXH là 978.074 triệu đồng, so kế hoạch đạt
111,90%, so với năm 2010 tăng 25,00%.
Tình hình chi trả trong năm 2011: (Đvt: triệu đồng)
- Tuy nhiên, vẫn còn tình trạng chậm đóng và nợ đọng BHXH. Số
người tham gia BHXH tự nguyện còn ít, chỉ có 434 người tham gia; gần
157.000 người tham gia Bảo hiểm thất nghiệp
Tình hình chi trả chế độ bảo hiểm thất nghiệp trong năm 2011 tăng cao
do nhiều công ty, doanh nghiệp trên địa bàn thành phố hoạt động kinh
doanh không hiệu quả, dẫn đến giải thể, nhiều lao động bị mất việc làm.
BHXH thành phố đã phối hợp với Sở Lao động Thương binh và Xã hội
thành phố tổ chức chi trả kịp thời, đầy đủ, đúng chế độ chính sách cho
người hưởng Bảo hiểm thất nghiệp.
Nguyễn Hoàng Giang Lớp: K15QNH5 MSSV: 152523844 Page
- Công tác hỗ trợ học nghề và hỗ trợ tìm việc làm cho người hưởng bảo
hiểm thất nghiệp còn hạn chế, do người lao động chưa tích cực liên hệ và
phối hợp với Trung tâm giới thiệu việc làm và các cơ sở đào tạo nghề trên
địa bàn. Bên cạnh đó, tình trạng người sử dụng lao động “lách luật” để
không đóng BHXH cho người lao động vẫn còn xảy ra, công tác tuyên
truyền pháp luật còn hạn chế nên nhiều người lao động chưa hiểu rõ về
quyền, nghĩa vụ của mình khi tham gia đóng BHXH
Công tác quản lý số lượng người tham gia BHXH tại các doanh
nghiệp còn nhiều bất cập. Một trong những nguyên nhân chủ yếu là do cơ
quan quản lý Nhà nước chưa nắm bắt được tình hình hoạt động và việc ký
hợp đồng lao động của các doanh nghiệp. Đồng thời, chủ sử dụng lao động
không khai báo đúng, đầy đủ số lao động phải tham gia BHXH với cơ quan
quản lý Nhà nước.
- Năm 2012, cùng với sự phối hợp làm việc giữa ngành đóng vai trò

chủ trì là Y tế và Bảo hiểm xã hội với các ngành khác một cách chặt chẽ,
đồng bộ như:
 Ngành Thông tin truyền thông đã tổ chức tuyên truyền thường
xuyên, liên tục chủ trương BHYT toàn dân của thành phố trên
nhiều phương tiện thông tin với nhiều hình thức khác nhau. Cho
mọi người biết được đây là chủ trương lớn của Cấp ủy đảng và
Chính quyền thành phố với mục tiêu thực hiện BHYT toàn dân,
thực hiện tốt công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân gắn với các
chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội theo năm
hướng đột phá chiến lược của thành phố
 Ngành Lao động Thương binh và Xã hội đã tiến hành rà soát
các loại đối tượng do ngành quản lý để tiếp tục bổ sung, đặc
biệt là đối tượng cận nghèo.Đã cấp thẻ BHYT miển phí cho
11.916 người.
 Ngành Giáo dục đào tạo và Đại học Đà Nẵng phối hợp với Bảo
hiểm xã hội thành phố.
 Ngành Tài chính thành phố chủ động bố trí nguồn kinh phí và
cấp phát kịp thời cho các nhóm đối tượng.
 Hội Nông dân thành phố tham gia công tác tuyên truyền vận
động nhân dân, đặc biệt là vùng nông thôn
Nguyễn Hoàng Giang Lớp: K15QNH5 MSSV: 152523844 Page
 Ở cấp quận, huyện, các cơ quan chuyên môn của Quận ủy, Ủy
ban nhân dân cũng đã tăng cường phối hợp với cơ quan Bảo
hiểm xã hội quận, huyện để triển khai tuyên truyền, vận động,
quán triệt chủ trương của thành phố đến từng tổ dân phố, thông
qua tổ dân phố để thống kê tổng hợp số người chưa có thẻ
BHYT trên địa bàn.
Đà Nẵng đã cơ bản hoàn thành bảo hiểm y tế toàn dân vào cuối năm
2012. Theo báo cáo của Bảo hiểm xã hội thành phố Đà Nẵng, tính đến ngày
30 tháng 11 năm 2012 tổng số người tham gia các loại hình bảo hiểm y tế

trên địa bàn thành phố Đà Nẵng là 887.058 người
Tuy nhiên, đây cũng mới chỉ là kết quả bước đầu, để tiếp tục duy trì
độ bao phủ BHYT đã đạt được và phát triển trong những năm tiếp theo, theo
hướng phấn đấu 100% dân số thành phố tham gia BHYT vào năm 2014
Mặt khác, đồng thời với việc duy trì, phát triển độ bao phủ là chất lượng
dịch vụ y tế và quyền lợi của đối tượng tham gia cần đươc mở rộng và phát
Nguyễn Hoàng Giang Lớp: K15QNH5 MSSV: 152523844 Page

×