Tải bản đầy đủ (.pdf) (46 trang)

Khơi thông những nút thắt thể chế để phục hồi tăng trưởng

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (2.78 MB, 46 trang )




CHƯƠNG TRÌNH CHÂU Á
79 John F. Kennedy Street, Cambridge, MA 02138
Tel: (617) 495-1134 Fax: (617) 495-4948



CHƯƠNG TRÌNH GIẢNG DẠY KINH TẾ FULBRIGHT
232/6 Võ Thị Sáu, Quận 3, TP. Hồ Chí Minh
Tel: (848) 3932-5103 Fax: (848) 3932-5104


Khơi thông những nút thắt thể chế
để phục hồi tăng trưởng

Bài thảo luận chính sách chuẩn bị cho

CHƯƠNG TRÌNH LÃNH ĐẠO QUẢN LÝ CAO CẤP VIỆT NAM (VELP)

Harvard Kennedy School, 26-30/8/2013


15 tháng 8 năm 2013

Bài vit này
1
c chun b Lãnh o Qun lý Cao cp Vit Nam (VELP)
hà  n th  c t chc t ng Harvard Kennedy trong thi gian 26-
30/8/2013. Mc tiêu ca bài vit này là cung cp các phân tích v mt s thách thc chính


sách công ch yu ca Vit Nam cho các thành viên ca Dim các quan
chc chính ph Vit Nam, hc gi quc tu hành công ty. Bài vit này không
ng ti vic phân tích mt cách toàn din nn kinh t Vit Nam mà ch tp trung mt cách
có chn lc vào nha Chính ph Vit Nam, c th hin trong các thông ip
chính sách Bài vit này hin nay vn  dng d tho. Nhóm tác gi
mong nhc nhia các thành viên trong Di có th
hoàn chnh bài vit sau khi VELP kt thúc. Hy vng rng bài vit này s  vai trò t
cht xúc tác cho các cuc tho lun không ch gia các thành viên ca VELP mà còn trong
cng hoch nh và phân tích chính sách l  Vit Nam.


1
Tác giả của bài viết này gồm Dwight Perkins (), David Dapice
(), Phạm Duy Nghĩa (), Nguyễn Xuân Thành
(), Huỳnh Thế Du (), Đỗ Thiên Anh Tuấn
(), Ben Wilkinson (), và Vũ Thành Tự Anh
(). Quan điểm trình bày trong bài viết là của các tác giả chứ không phải của Trường
Quản lý Nhà nước Harvard Kennedy School hay Đại học Harvard.
Khơi thông những nút thắt thể chế để phục hồi tăng trưởng
Trang 2/46
“Đặt yêu cầu cải cách thủ tục hành chính ngay trong quá trình xây dựng thể chế, tổng kết kinh
nghiệm thực tiễn và tăng cường đối thoại giữa Nhà nước với doanh nghiệp và nhân dân; mở
rộng dân chủ, phát huy vai trò của các tổ chức và chuyên gia tư vấn độc lập trong việc xây
dựng thể chế, chuẩn mực quốc gia về thủ tục hành chính; giảm mạnh các thủ tục hiện hành.
Công khai các chuẩn mực, các quy định hành chính để nhân dân giám sát việc thực hiện.
Tăng cường tính minh bạch, trách nhiệm trong hoạt động công vụ”.
Đảng Cộng Sản Việt Nam, -
2011-2020, Văn kiện Đại hội Đảng XI.
2



“Thể chế là yếu tố quan trọng hàng đầu trong việc phân bổ và sử dụng hiệu quả các nguồn
lực, ổn định kinh tế vĩ mô và tăng trưởng bền vững. Thể chế có chất lượng cao với thủ tục
hành chính đơn giản, công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình đầy đủ sẽ tạo ra môi
trường thuận lợi cho đầu tư kinh doanh, ngăn chặn tham nhũng lãng phí, góp phần quan trọng
nâng cao sức cạnh tranh tổng thể của nền kinh tế”.
Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, 
 ch
, Thông điệp Đầu năm mới 2013.
3



Phần I. Giới thiệu

A. Thể chế - động cơ cho tăng trưởng và thịnh vượng
Acemoglu và Robinson kết thúc một chương trong cuốn sách nổi tiếng “Vì sao các quc gia
tht bi?” bằng điệp khúc “Th ch, th ch, th ch”, với thông điệp rõ ràng rằng: phát triển,
thịnh vượng, xã hội hài hòa, dân chủ và tiến bộ, hết thảy đều có thể giải thích từ cấu trúc thể
chế của mỗi xã hội. Vì lẽ đó, muốn đạt tới thịnh vượng, cải cách thể chế phải là chìa khóa.
Tuy mức độ nhấn mạnh tùy từng thời điểm có khác nhau, song “cải cách thể chế” cũng luôn
là mối quan tâm của Đảng và Chính phủ Việt Nam trong gần 3 thập kỷ Đổi mới. Xây dựng
thể chế kinh tế thị trường, hoàn thiện thể chế quản lý nhà nước, nâng cao hiệu quả quản lý
bằng pháp luật là những định hướng được tái khẳng định nhiều lần trong các văn kiện chính
trị của Đảng, và gần đây nhất được xác định là một trong ba khâu đột phá tại Đại hội XI của
Đảng. Trong hoạt động hành pháp, Chính phủ cũng ưu tiên xây dựng thể chế. Chương trình
hành động của Chính phủ nhiệm kỳ 2011-2016, Chương trình tổng thể cải cách hành chính
nhà nước giai đoạn 2011-2020, trích đoạn nêu trên trong Thông điệp Năm mới 2013 của Thủ
tướng Chính phủ đều nhấn mạnh ưu tiên xây dựng thể chế.
4

Điều này cũng tương thích với
Chương trình lập pháp của Quốc hội khóa XIII cho tới năm 2016, trong đó xác định rất rõ ưu
tiên cải cách thể chế. Quan trọng bậc nhất là việc sửa đổi Hiến pháp 1992, từ đó kéo theo sửa
đổi các luật về tổ chức bộ máy nhà nước như Luật Tổ chức Chính phủ, Luật Tổ chức chính

2
Báo Điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam
http://123.30.190.43:8080/tiengviet/tulieuvankien/vankiendang/details.asp?topic=191&subtopic=8&leader_topi
c=989&id=BT531160686
3
Cổng TTĐT Chính phủ, Thông điệp đầu năm mới 2013 />Thu-tuong-Nguyen-Tan-Dung/20131/158212.vgp
4
Nghị quyết số 30c/NQ-CP do Chính phủ ban hành ngày 08/11/2010 về Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà
nước giai đoạn 2011-2020, sửa đổi bổ sung bởi Nghị quyết số 76/NQ-CP ban hành ngày 13/06/2013.
Khơi thông những nút thắt thể chế để phục hồi tăng trưởng
Trang 3/46
quyền địa phương, Luật tổ chức tòa án nhân dân, Luật ngân sách, Luật đầu tư công và các
đạo luận liên quan đến nhiều lĩnh vực quản trị nhà nước khác.

Những nỗ lực và quyết tâm cải cách thể chế của Việt Nam hoàn toàn phù hợp với xu thế toàn
cầu, vì lẽ đó nhận đã được sự ủng hộ của cộng đồng quốc tế, các nhà tài trợ và đầu tư quốc tế.
Uy tín quốc tế, sức hấp dẫn của Việt Nam đối với các nhà đầu tư quốc tế phụ thuộc đáng kể
vào thành công trong việc xây dựng một quốc gia tuân thủ chế độ pháp quyền, có một nền
hành chính nhất quán, minh bạch, đáng tin cậy và một hệ thống pháp luật có chất lượng cao,
hài hòa với thông lệ và các chuẩn mực quốc tế phổ biến.

Như vậy, để duy trì ổn định và đảm bảo phát triển bền vững, cần ưu tiên cải cách thể chế, đó
là một nhận thức đã đạt được đồng thuận cao, được chia sẻ rộng rãi từ giới lãnh đạo cao cấp
cho tới các giai tầng xã hội Việt Nam. Tuy nhiên, nói thường dễ hơn làm. Qua gần ba thập kỷ
cải cách, những bất cập trong quản lý kinh tế và xã hội, từ việc lớn như ổn định nền kinh tế vĩ

mô, ngăn chặn suy thoái, kiểm soát nợ công, cho tới những lo toan đời thường như kẹt xe,
bệnh viện quá tải và tai nạn giao thông mỗi ngày, hết thảy các bất cập trong quản lý đó suy
cho cùng đều có một phần nguyên nhân sâu xa từ chất lượng thể chế yếu kém.

Luận điểm chính xuyên suốt Báo cáo này có thể diễn đạt ngắn gọn như sau: thể chế yếu kém
chính là nguyên nhân sâu xa đã dẫn tới những bất ổn của nền kinh tế và nguy cơ suy thoái
kinh tế hiện nay. Các nguy cơ về kinh tế, chính trị và xã hội ngày nay đều có thể lý giải được
bởi những cuộc cải cách thể chế bị trì hoãn hoặc chưa được tiến hành triệt để trong quá khứ.
Để phục hồi tăng trưởng, luận điểm chính của Báo cáo này là cần tận dụng những cơ hội cải
cách thể chế trong các năm tới để tiếp tục trao quyền kinh tế và chính trị mạnh mẽ hơn cho
người dân.

B. Tóm lược về bài viết này
Báo cáo này nhằm cung cấp bối cảnh cho thảo luận chính sách trong Chương trình Lãnh đạo
Quản lý Cao cấp Việt Nam (VELP) thường niên. Đây là công trình nghiên cứu đang thực
hiện, chưa phải là báo cáo cuối cùng. Trong Chương trình VELP 2013, chúng tôi hy vọng sẽ
nhận được các ý kiến đóng góp và thảo luận từ các thành viên để hoàn thiện các phân tích
trong báo cáo. Sau khi VELP 2013 kết thúc, các tác giả sẽ tổng hợp các ý kiến này để đưa ra
bản báo cáo cuối cùng trình Chính phủ.

Nền kinh tế Việt Nam hiện đang trải qua giai đoạn tăng trưởng thấp nhất kể từ Đổi mới và
thấp gần như tương đương so với thời kỳ hậu khủng hoảng tài chính khu vực 1997-1998. Một
phần của nguyên nhân chắc chắn liên quan đến những trục trặc của các nền kinh tế ở Liên
minh châu Âu và Bắc Mỹ. Nhưng lý do chính khiến nền kinh tế Việt Nam tăng trưởng chậm
lại chính là vì ba trong bốn động cơ của cỗ máy tăng trưởng kinh tế đang trục trặc. Bốn động
cơ tăng trưởng này là khu vực doanh nghiệp nhà nước (DNNN), khu vực tư nhân trong nước,
nông nghiệp, và khu vực đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI). Trong những năm đầu của thế kỷ
này, khu vực FDI và tư nhân trong nước bắt đầu phát triển mạnh, ngành nông nghiệp cũng
hoạt động tốt. Khu vực doanh nghiệp nhà nước tuy kết quả không tốt nhưng cũng chỉ là một
trong bốn động cơ tăng trưởng. Tuy nhiên, từ khi các tổng công ty (TCT) được chuyển ào ạt

thành tập đoàn kinh tế (TĐKT), những yếu kém cơ bản của khu vực DNNN bộc lộ ngày càng
Khơi thông những nút thắt thể chế để phục hồi tăng trưởng
Trang 4/46
rõ, đặc biệt là dưới tác động của bất ổn kinh tế vĩ mô trong nước và khủng hoảng kinh tế toàn
cầu. Kết quả là sự sụp đổ của một số TĐKT và sự kém hiệu quả của khu vực DNNN đã được
phơi bày, những điều này đã góp phần tạo ra những trục trặc hiện nay của hệ thống ngân
hàng. Những trục trặc này, đến lượt mình, tác động tiêu cực đến kết quả kinh doanh của hai
động cơ tăng trưởng nội địa khác là khu vực tư nhân và nông nghiệp. Duy nhất chỉ còn khu
vực FDI là tiếp tục có kết quả tốt chủ yếu nhờ các doanh nghiệp FDI không hoàn toàn lệ
thuộc vào hệ thống thể chế trong nước, đồng thời đang được hưởng lợi từ việc các ngành
thâm dụng lao động bắt đầu dời khỏi Trung Quốc do tiền lương ở nước này tăng cao.

Báo cáo này gồm 8 phần. Sau phần Giới thiệu, Phần 2 thảo luận về khu vực kinh tế nhà nước
và xác định các nguyên nhân của đổ vỡ, trì trệ và yếu kém từ góc nhìn cải cách thể chế. Phần
3 thảo luận về khu vực kinh tế tư nhân, đặc biệt từ góc nhìn của sự phân tán và kém hiệu qủa
của các thể chế hỗ trợ thị trường. Phần 4 thảo luận thành tựu và khó khăn trong lĩnh vực nông
nghiệp. Phần 5 đánh giá tình hình khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, các thành công
và hạn chế từ góc nhìn thể chế. Phần 6 đánh giá khu vực ngân hàng thương mại và thảo luận
các giải pháp thể chế nhằm lành mạnh hóa lĩnh vực này. Phần 7 thảo luận ba lựa chọn tái cấu
trúc nền kinh tế và gợi mở các hướng cải cách thể chế cần phải thực hiện. Phần 8 có tính chất
khái quát hóa những nút thắt thể chế và gợi mở các hướng ưu tiên thúc đẩy cải cách thể chế
hướng tới một nền quản trị nhà nước hiệu năng và hiện đại.


Khơi thông những nút thắt thể chế để phục hồi tăng trưởng
Trang 5/46
Phần II. Khu vực kinh tế Nhà nước

Khu vực DNNN luôn chiếm vị trí trung tâm trong chiến lược phát triển kinh tế của Việt Nam.
Chính phủ kỳ vọng khu vực này là nòng cốt để kinh tế nhà nước thực hiện được vai trò chủ

đạo; là lực lượng vật chất để Nhà nước định hướng, điều tiết nền kinh tế và ổn định kinh tế vĩ
mô; phải nâng cao sức cạnh tranh và hiệu quả kinh doanh; và phải hoàn thành các nhiệm vụ
xã hội và công ích.
5
Quả thật, cho đến cuối thập niên 1990, khi khu vực doanh nghiệp tư nhân
mới manh nha thành hình sau nhiều năm bị trói buộc, việc Chính phủ chọn khu vực DNNN
đóng vai trò trung tâm trong nền kinh tế và là động lực chính của tăng trưởng là điều dễ hiểu.
Thế nhưng trong vòng hơn một thập niên trở lại đây, với sự lớn mạnh không ngừng của khu
vực tư nhân kể từ khi Luật Doanh nghiệp 1999 có hiệu lực và Hiệp định Thương mại Song
phương Việt Nam – Hoa Kỳ (2001) được ký kết, vai trò của khu vực DNNN trên thực tế đang
ngày càng giảm dần (xem Bảng 1).

Bảng 1. Tỷ trọng của khu vực nhà nước so với ngoài Nhà nước và FDI 2000-2012 (%)
Chỉ tiêu so sánh
Khu vực Nhà nước
KV ngoài Nhà nước
Khu vực FDI
2000
2005
2012
2000
2005
2012
2000
2005
2012
Vốn đầu tư
59,1
47,1
37,8

22,9
38,0
38,9
18,0
14,9
23,3
GDP
38,5
38,4
32,6
48,2
45,6
49,3
13,3
16,0
18,1
Ngân sách (ngoài dầu thô)
65,1
52,0
43,5
15,7
25,4
27,0
19,2
22,6
29,6
Việc làm
59,1
32,7
14,7

29,4
47,8
61,8
11,5
19,6
23,6
Giá trị sản xuất công nghiệp
34,2
25,1
18,4
24,6
31,2
38,4
41,3
43,7
43,3
Ghi chú: Số liệu của năm 2012 là ước tính. Số liệu việc làm là của các năm 2000, 2005, và 2011.
Ngun: Tính toán từ số liệu của Tổng cục Thống kê, Bộ Tài chính, và Quỹ Tiền tệ Quốc tế.

Số liệu của Bảng 1 cho thấy trong tất cả các chỉ tiêu, từ vốn đầu tư và GDP cho đến ngân
sách, việc làm, và giá trị sản xuất công nghiệp, tỷ trọng đóng góp của khu vực nhà nước đều
giảm mạnh trong suốt 12 năm trở lại đây. Nguyên nhân cơ bản của tình trạng này là do hiệu
quả của khu vực kinh tế nhà nước thấp hơn nhiều so với khu vực tư nhân, không những thế
lại đang ngày một giảm.
6
Như vậy, hiệu quả và vai trò của khu vực DNNN ngày một suy
giảm so với khu vực tư nhân, đồng thời đóng góp của khu vực DNNN cho nền kinh tế hoàn
toàn không tương xứng với những ưu ái và nguồn lực mà khu vực này đang được hưởng.

Tại sao tầm quan trọng của khu vực DNNN trong nền kinh tế ngày càng trở nên mờ nhạt? Tại

sao vai trò của khu vực DNNN như một động cơ tăng trưởng ngày càng trở nên yếu ớt? Như
chủ đề chung của báo cáo này gợi ý, nguyên nhân sâu xa của những thực trạng này nằm ở hệ
thống thể chế.

Ở Việt Nam, để phản ảnh đặc trưng “chủ nghĩa xã hội”, kinh tế nhà nước – mà trung tâm là
DNNN – được Đảng và Chính phủ lựa chọn đóng vai trò chủ đạo. Để đóng được vai trò chủ
đạo, các DNNN được giao nắm các “yết hầu” của nền kinh tế, không những thế phải có quy
mô áp đảo so với các thành phần kinh tế khác. Hai tiền đề này dẫn đến một số hệ lụy sâu sắc.

5
Xem Quyết định 929/QĐ-TTg ngày 17/7/2012 phê duyệt Đề án “Tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước, trọng tâm là tập đoàn
kinh tế, tổng công ty nhà nước giai đoạn 2011 – 2015.”
6
Theo nghiên cứu của Bùi Trinh thì ICOR của khu vực nhà nước tăng từ 6,9 trong giai đoạn 2000-2005 lên 9,7 trong giai
đoạn 2006-2010, trong khi ICOR của khu vực dân doanh trong hai giai đoạn này lần lượt chỉ là 2,9 và 4,0.
Khơi thông những nút thắt thể chế để phục hồi tăng trưởng
Trang 6/46

Đầu tiên, với vai trò chủ đạo, các DNNN đương nhiên không cần phải cạnh tranh mà vẫn
luôn là “người thắng cuộc”, ít nhất là trên thị trường nội địa
7
. Kinh nghiệm quốc tế cho thấy
chính sách “chọn trước người thắng cuộc” (“picking the winners”) thường dẫn đến sự thất
bại,
8
nhất là trong môi trường quản trị quốc gia và quản trị doanh nghiệp yếu kém.

Thứ hai, các DNNN lớn – các tập đoàn kinh tế nhà nước và tổng công ty – nghiễm nhiên
được hưởng vị thế độc quyền trong các lĩnh vực then chốt hay thiết yếu và vị thế thống lĩnh
thị trường trong bất kỳ thị trường nào mà chúng tham gia. Theo Báo cáo Tập trung kinh tế

của Bộ Công Thương (2012), các tập đoàn kinh tế nhà nước đều chiếm vị trí thống lĩnh thị
trường ở những ngành, lĩnh vực then chốt của nền kinh tế. Đặc biệt, các tập đoàn kinh tế nhà
nước giữ vị trí độc quyền hoặc chi phối trong các ngành dầu khí, than và khoáng sản, cơ sở
hạ tầng giao thông, hàng không, đường sắt, và điện lực.

Thứ ba, các tập đoàn và tổng công ty còn chi phối quyền và cơ hội kinh doanh thông qua một
số cơ chế và thể chế có liên quan, đặc biệt là thông qua quy hoạch và chiến lược phát triển
ngành – mà trong hầu hết các trường hợp, được Chính phủ và các bộ chỉ định trực tiếp biên
soạn và thực hiện bởi các tập đoàn và tổng công ty nhà nước. Vô hình trung, với cơ chế này,
các tập đoàn và tổng công ty đã đồng nhất chiến lược và kế hoạch phát triển của toàn ngành
với chiến lược và kế hoạch của chính họ.

Thứ tư, để biến các DNNN thành các tổng công ty và sau đó thành tập đoàn quy mô, Nhà
nước không chỉ ưu ái dành cho chúng rất nhiều nguồn lực (đặc biệt là đất đai, nguồn vốn, tín
dụng, hợp đồng mua sắm công),
9
mà còn tạo nên một vị thế cạnh tranh không công bằng, một
khuôn khổ pháp lý và chính sách thiên lệch đối với khu vực tư nhân, đặc biệt là dân doanh
trong nước. Kết quả là khu vực tư nhân – vốn năng động và hiệu quả hơn – bị khu vực
DNNN chèn lấn một cách toàn diện, từ độc quyền kinh doanh, vốn, cơ hội tiệm cận các
nguồn lực kinh tế, cho tới khả năng tham gia xây dựng chính sách, vì những lý đo đó khu vực
tư nhân không thể phát triển được hết tiềm năng sẵn có của mình.

Thứ năm, chính những biệt đãi về vai trò, vị thế, và nguồn lực kể trên đã nuôi dưỡng sự thụ
động, phụ thuộc, thậm chí là ỷ lại, của các DNNN. Điều này, cộng với tính chất quan liêu vốn
có của hệ thống nhà nước, dần dần làm thui chột sự chủ động, sáng tạo và tính chịu trách
nhiệm của các DNNN mà kết quả cuối cùng là sự trì trệ và kém hiệu quả.

Thứ sáu, khi các DNNN trì trệ, kém hiệu quả mà vẫn được đóng vai trò chủ đạo thì Nhà nước
lại càng phải bơm thêm nguồn lực, thậm chí để cứu những DNNN đã và đang trên bờ vực phá

sản – hiện tượng mà thuật ngữ kinh tế gọi là “giới hạn ngân sách mềm”. Như vậy, các DNNN
này không những không phải chịu kỷ luật khắc nghiệt “lời ăn – lỗ chịu” của thị trường, mà
còn không phải đối diện với kỷ cương của nhà nước. Gánh nặng do sự trì trệ, kém hiệu quả
của khu vực DNNN này sau đó được chuyển thành gánh nặng ngân sách và nợ công, mà

7
Vinashin là một trường hợp ngoại lệ vì bị buộc phải cạnh tranh trên thị trường quốc tế, và chính sức ép cạnh tranh quốc tế
này đã làm bộc lộ hết những điểm yếu chết người của tập đoàn này, khiến nó sụp đổ ngay khi khủng hoảng kinh tế toàn cầu
ập tới.
8
Xem tác phẩm “Boulevard of Broken Dreams” của Josh Lerner thuộc Đại học Harvard.
9
Các tập đoàn và tổng công ty nhà nước còn được hưởng lợi từ khả năng tiếp cận và mối quan hệ chặt chẽ với các công chức
và lãnh đạo, kể cả lãnh đạo cao cấp.
Khơi thông những nút thắt thể chế để phục hồi tăng trưởng
Trang 7/46
người chịu gánh nặng sau cùng chính là những người đóng thuế và những thế hệ tương lai
của đất nước.

Nhìn từ góc độ quản trị, mọi yếu kém của DNNN đều bắt nguồn từ quyền sở hữu không rõ
ràng. Mặc dù các DNNN đã được chuyển đổi thành các công ty, đặc biệt là DNNN 100% vốn
Nhà nước được chuyển thành Công ty TNHH một thành viên theo Nghị định 25/2010/NĐ-
CP, nhưng chúng vẫn thuộc sở hữu toàn dân và do nhà nước đại diện. Tùy theo quy mô của
từng DNNN, quyền đại diện sở hữu của nhà nước được thực hiện bởi Hội đồng thành viên
hoặc Chủ tịch công ty. Cơ chế đại diện sở hữu nhiều tầng này cộng với tính hình thức của tất
cả các tầng đại diện tạo ra một khoảng cách diệu vợi giữa những người chủ sở hữu cuối cùng
với những người đại diện của mình. Bên cạnh đó, những hạn chế khác về quản trị (như thông
tin kém minh bạch, thiếu trách nhiệm giải trình, sự tham gia hạn chế của công chúng) làm
cho DNNN giống như những “hộp đen” trong nhận thức của người dân. Kết quả là những
người chủ sở hữu cuối cùng – 90 triệu người dân Việt Nam – không thể thực thi được quyền

sở hữu của mình, và do vậy quyền sở hữu thực sự, quyền kiểm soát (control rights) và quyền
định đoạt cuối cùng (residual rights) đối với tài sản của DNNN đều nằm hoàn toàn trong tay
các cơ quan nhà nước và các thể chế đại diện của nó.

Vậy quyền đại diện sở hữu của nhà nước tại các DNNN được thực hiện như thế nào? Trên
thực tế, quyền này không được thực thi một cách thống nhất mà có tính chia cắt, thậm chí cát
cứ. Theo tác giả Trần Tiến Cường
10
“chức năng đại diện chủ sở hữu DNNN do rất nhiều cơ
quan thực hiện, hợp thành hệ thống theo chiều dọc (từ trung ương đến địa phương) và hệ
thống theo chiều ngang (gồm nhiều Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ)”. Cụ
thể là đến cuối năm 2011, chỉ riêng 1.309 DNNN có 100% vốn nhà nước đã có tới 101 đầu
mối vừa là đại diện chủ sở hữu nhà nước, đồng thời thực hiện chức năng quản lý, giám sát.
11

Vì không có cơ quan nào chịu trách nhiệm chính về đại diện sở hữu nhà nước, đồng thời cơ
chế phối hợp chưa thống nhất và thiếu hiệu quả nên hiệu lực quản lý của nhà nước rất yếu.

Cho đến nay trong khu vực DNNN, quyền đại diện sở hữu, thẩm quyền quản lý nhà nước, và
chức năng quản lý – điều hành kinh doanh vẫn bị trộn lẫn vào nhau – hiện tượng thường được
gọi là “ba trong một” trong hệ thống quản lý DNNN. Đồng thời, trong thẩm quyền quản lý
nhà nước lại thiếu sự tách bạch giữa các vai trò của bộ chủ quản, cơ quan hoạch định chính
sách, và cơ quan điều tiết – một tình trạng “ba trong một” nữa trong hệ thống quản lý
DNNN.
12
Rõ ràng là những cơ quan này có mục tiêu, chức năng, vai trò, nhiệm vụ, và công
cụ khác nhau, vì vậy khi trộn “ba trong một”, tất yếu sẽ dẫn tới nhiều sự chồng chéo và lẫn
lộn trong những khía cạnh này, từ đó gây ra nhiều mâu thuẫn và xung đột lợi ích, làm triệt

10

Xem Trần Tiến Cường (2012). “Phân công, phân cấp quản lý DNNN: Thực trạng, vấn đề, nguyên nhân và khuyến nghị
đổi mới.” Kỷ yếu Diễn đàn Kinh tế mùa Thu 2012 do Ủy ban Kinh tế của Quốc hội xuất bản.
11
101 đầu mối này bao gồm 17 bộ, cơ quan ngang bộ hoặc thuộc Chính phủ quản lý 355 doanh nghiệp; 63 tỉnh, thành phố
quản lý 701 doanh nghiệp; 11 TĐKT nhà nước quản lý 147 DN; và 10 tổng công ty 91 quản lý 106 doanh nghiệp. Bên cạnh
đó cũng phải kể đến 7 cơ quan, ban, ngành có lãnh đạo nằm trong Ban Chỉ đạo đổi mới và phát triển doanh nghiệp nhà nước.
12
Một số ví dụ điển hình là (i) Bộ Y tế có trách nhiệm hoạch định chính sách và quản lý nhập khẩu dược phẩm và thiết bị y
tế nhưng đồng thời cũng là cơ quan chủ quản của nhiều công ty dược và và thiết bị y tế quan trọng; (ii) Bộ Giao thông Vận
tải có trách nhiệm quản lý và điều tiết hàng không dân dụng nhưng đồng thời cũng điều hành hãng hàng không nội địa lớn
nhất; (iii) Bộ Công Thương có có trách nhiệm hoạch định chính sách và đảm bảo sân chơi công bằng cho các doanh nghiệp
công nghiệp và thương mại nhưng đồng thời cũng quản lý các công ty có vị thế độc quyền như điện lực và xăng dầu.
Khơi thông những nút thắt thể chế để phục hồi tăng trưởng
Trang 8/46
tiêu hiệu quả và hiệu lực của toàn bộ hệ thống quản trị DNNN.
13
Kết quả cuối cùng là sự thất
bại của nhiều tập đoàn và tổng công ty, trong đó tiêu biểu là Vinashin, Vinalines và Sông Đà
như chúng ta đã chứng kiến trong thời gian qua.

Sự xung đột lợi ích trong điều tiết – ví dụ như khi bộ chủ quản đồng thời là cơ quan điều tiết
nên tìm cách bảo vệ quyền lợi cho các doanh nghiệp trực thuộc mình – bản thân đã nguy
hiểm, nhưng nó còn trở nên nguy hiểm hơn khi các doanh nghiệp được bảo vệ vừa kém hiệu
quả vừa có vị thế độc quyền. Ở Việt Nam, sự bảo vệ này nhiều khi được khoác tấm áo thị
trường – cụ thể là DNNN độc quyền được phép “định giá theo cơ chế thị trường”. Cần nhớ
rằng cơ chế giá thị trường chỉ thực sự tồn tại trong môi trường cạnh tranh chứ không thể hình
thành trong môi trường độc quyền. Nói cách khác, việc DNNN độc quyền được định giá theo
cơ chế thị trường là một biểu hiện của tình trạng quyền lực nhà nước bị lợi dụng để bảo vệ lợi
ích cho một nhóm thiểu số doanh nghiệp với cái giá phải trả của toàn bộ nền kinh tế.


Khi DNNN không bị ép buộc phải cạnh tranh – tức là không phải chịu kỷ luật của thị trường,
đồng thời không chịu sự điều tiết và giám sát của nhà nước – tức là không phải chịu kỷ cương
của nhà nước, thì để vãn hồi hiệu quả, ít nhất nó cũng phải chịu sự giám sát của xã hội. Thế
nhưng với tình trạng kém minh bạch thông tin ở các DNNN hiện nay thì khả năng giám sát
của xã hội cũng hết sức hạn chế.

Bảng 2: Thông tin thu được từ trang web của các tập đoàn và tổng công ty
Tổng công ty
Tổng
quan
về
công
ty
Chiến
lược/tin
tức
Kết
quả
kinh
doanh
Báo cáo
thường
niên/ tài
chính/
kiểm toán
Các quyết
định quan
trọng/nghị
quyết
ĐHTV

TCT Nhà và phát triển đô thị

x
x
x
x
TCT Sông Đà


x
x

TCT Lương thực miền Bắc


x
x
x
TCT Lương thực miền Nam

x
x
x
x
TCT Giấy Việt Nam

x
x
x
x

TCT Cà-phê Việt Nam

x
x
x
x
TCT Hàng không Việt Nam

x
x
x
x
TCT Thuốc lá Việt Nam

x
x
x
x
TCT Vận tải biển


x
x

TCT Đường sắt Việt Nam


x
x


TCT Thép Việt Nam





TCT Xi măng Việt Nam


x
x
x

Tập đoàn Nhà nước
Tổng
quan
về
công
ty
Chiến
lược/tin
tức
Kết
quả
kinh
doanh
Báo cáo
thường
niên/ tài
chính/

kiểm toán
Các quyết
định quan
trọng/nghị
quyết
ĐHTV
TĐ Bưu chính – Viễn thông VN


x
x
x
TĐ Than – Khoáng sản VN


x
x
x
TĐ Dầu khí Quốc gia VN


x

x
TĐ Điện lực VN


x
x
x

TĐ Dệt May VN


x
x
x
TĐ Cao su VN


x

x
TĐ Tài chính – Bảo hiểm Bảo
Việt





TĐ Viễn thông Quân đội


x

x
TĐ Hóa chất VN


x
x

x
TĐ Công nghiệp Tàu thủy VN


x
x
x
TĐ Xăng Dầu VN


x



Ngun: Ngân hàng Thế giới (2013). “Hiệu quả doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam: làm thế nào để việc công bố
thông tin giúp đạt được mục tiêu này?” (State Owned Enterprise Efficiency in Vietnam: How can information
disclosure help get there?).

Nghiên cứu mới đây về tính minh bạch của khu vực DNNN của Ngân hàng Thế giới cho thấy
phần lớn thông tin của DNNN nhằm phục vụ cho các mục đích nội bộ, không những thế chất
lượng của các thông tin này cũng rất thấp. Đối với công chúng, các DNNN nhiều khi không
cung cấp thông tin, và nếu có thì thông tin thường lỗi thời, không rõ ràng, thậm chí mâu
thuẫn. Ngay đối với các tập đoàn và tổng công ty – những DNNN lớn và có mức độ công bố
thông tin tốt hơn cả – thì tình trạng minh bạch thông tin cũng rất kém (xem Bảng 2), gây cản

13
Xem thêm bài của Nguyễn Đình Cung nhan đề “Áp đặt kỷ luật của thị trường cạnh tranh thức đẩy tái cơ cấu doanh nghiệp
nhà nước.”
Khơi thông những nút thắt thể chế để phục hồi tăng trưởng
Trang 9/46

trở nghiêm trọng cho việc quản lý và điều tiết của Chính phủ cũng như giám sát của công
chúng và người dân – những chủ sở hữu cuối cùng của chính các doanh nghiệp này.

Tóm lại, những đỗ vỡ, trì trệ và kém hiệu quả trong khu vực DNNN có nguyên nhân do chế
độ sở hữu không rõ ràng, do các áp lực cạnh tranh và kỷ luật thị trường chưa thể vận hành đối
với loại hình doanh nghiệp này, và do sự nuông chiều, thiếu kỷ cương trong quản lý và điều
tiết của nhà nước. Sự yếu kém của khu vực DNNN không chỉ gây ra lãng phí và phân bổ
nguồn lực kém hiệu quả, mà quan trọng hơn, nó làm khu vực này trở thành lực cản đối với
những đòi hỏi cấp bách của chương trình tái cơ cấu nền kinh tế. Rõ ràng là nếu không thay
đổi được vai trò, động cơ khuyến khích, hệ thống quản lý và điều tiết đối với khu vực này thì
chương trình tái cơ cấu không thể thành công.


Khơi thông những nút thắt thể chế để phục hồi tăng trưởng
Trang 10/46
Phần III. Khu vực doanh nghiệp tư nhân

Khu vực doanh nghiệp tư nhân đã trở nên rất năng động từ khi đổi mới đến nay, nhất là sau
thập niên 2000. Khu vực này đã đóng vai trò đáng kể vào tăng trưởng và giải quyết việc làm.
Tuy nhiên, trong thời gian gần đây khu vực kinh tế tư nhân trong nước đang đứng trước nguy
cơ teo tóp, số lượng doanh nghiệp ngừng hoạt động tăng đến mức báo động. Ngoài ra, trong
khu vực kinh tế tư nhân có sự phân hóa rõ rệt thành những doanh nghiệp thân hữu, có mối
quan hệ khăng khít với các định chế ngân hàng và giới chức chính quyền và những doanh
nghiệp quy mô nhỏ ít có cơ hội tiệm cận các nguồn lực kinh tế. Sau khi Việt Nam gia nhập
WTO, nhiều cơ hội chưa được tận dụng triệt để, trong khi những nguy cơ, đe dọa lại trở
thành hiện thực. Có thể thấy doanh nghiệp tư nhân trong nước đang gặp các thách thức cơ
bản dưới đây: th nht, quyền sở hữu tuy được ghi nhận trên giấy nhưng việc thực thi bảo hộ
những quyền ấy còn yếu kém, th hai, doanh nghiệp tư nhân chưa bình đẳng trong tiếp cận
nguồn lực; th ba, sự nhũng nhiễu của bộ máy quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp chưa
giảm, và th , các thể chế hỗ trợ thị trường hoặc thiếu vắng hoặc hoạt động kém hiệu quả.


Quyền sở hữu tuy được ghi nhận, song được bảo vệ không hữu hiệu

Quyền tài sản của doanh nghiệp nói riêng và của người dân nói chung đã được ghi nhận bởi
nhiều đạo luật thành văn của Việt Nam. Tuy nhiên, trên thực tế quyền sở hữu, nhất là các tài
sản gắn liền với đất, vẫn còn chưa chắc chắn. Sự bảo hộ của nhà nước còn kém hiệu quả,
thậm chí quyền tài sản của doanh nghiệp dễ dàng bị vi phạm mà chưa nhận được sự can thiệp
bảo hộ một cách hiệu quả của nhà nước. Ví dụ quyền sử dụng đất của doanh nghiệp vẫn có
thể bị Nhà nước thu hồi vì các lý do được định nghĩa rộng rãi như vì mục tiêu phát triển kinh
tế. Quy định có phần mơ hồ này cần phải được thắt chặt lại để bảo vệ chắc chắn hơn các
quyền của người sử dụng đất, tránh các nguy cơ nhân danh mục tiêu phát triển kinh tế để thu
hồi tài sản và đất đai của doanh nghiệp và người dân một cách không thỏa đáng. Theo số liệu
điều tra PCI 2012 có đến 61% doanh nghiệp được hỏi cho rằng tính ổn định của mặt bằng
kinh doanh của họ chỉ ở mức trung bình. Điều này có nghĩa là một số lượng lớn các doanh
nghiệp phải đối mặt với rủi ro bị thu hồi mặt bằng sản xuất hiện hữu. Cũng cần lưu ý thêm
rằng, cũng theo PCI 2012, chỉ có 36% số doanh nghiệp được hỏi tin rằng họ sẽ được đền bù
thỏa đáng nếu mặt bằng kinh doanh của họ bị thu hồi.
14


Trong bối cảnh thể chế yếu kém, hiển nhiên các mối quan hệ với giới chức trong chính quyền
trở nên quan trọng như chìa khóa dẫn tới cơ hội và thành công trong kinh doanh. Tạo dựng và
duy trì quan hệ thân thiện với giới chức trong chính quyền giúp doanh nghiệp tư nhân bảo vệ
được các quyền tài sản và mở ra khả năng thông qua các dự án để thâu tóm các nguồn lực
kinh tế và tài nguyên. Kết quả tất yếu là nhiều doanh nghiệp phải dành một phần đáng kể thời
gian và các nguồn lực cho việc xây dựng các mối quan hệ thay vì tập trung sáng tạo, nâng cao
khả năng cạnh tranh, hay tìm ra sự khác biệt trong các sản phẩm hay hoạt động kinh doanh
của mình. Chúng tôi gọi những doanh nghiệp tư nhân có quan hệ khăng khít với giới chức
trong chính quyền hoặc thiết lập quan hệ khăng khít với các ngân hàng và định chế tài chính
là doanh nghiệp thân hữu. Trên thực tế, như sẽ được phân tích dưới đây, quan hệ giúp cho


14
VCCI (2013), Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh của Việt Nam năm 2012
Khơi thông những nút thắt thể chế để phục hồi tăng trưởng
Trang 11/46
doanh nghiệp thân hữu có lợi thế cạnh tranh đáng kể hơn so với các doanh nghiệp tư nhân
không thiết lập được những mối quan hệ như vậy.

Bất bình đẳng trong tiếp cận nguồn lực

Sự bất bình đẳng trong tiếp cận nguồn lực của khu vực doanh nghiệp tư nhân được thể hiện
dưới hai khía cạnh: (i) bất bình đẳng giữa các DNNN và doanh nghiệp tư nhân, và (ii) bất
bình đẳng giữa doanh nghiệp thân hữu và các doanh nghiệp khác. Trong các nguồn lực kinh
tế, đất đai và tín dụng là hai nguồn lực quan trọng bậc nhất. Sự thiên lệch hay những ưu ái
cho DNNN, như đã trình bày trong Phần II, ngoài các độc quyền và chính sách hỗ trợ của nhà
nước, cũng thể hiện trong tiếp cận nguồn lực đất đai và vốn. Tuy nhiên, cần ghi nhận tình
trạng này đã được cải thiện một phần trong thời gian gần đây. Nhiều doanh nghiệp của khu
vực tư nhân có thể tiệm cận những diện tích đất rất lớn và tỷ trọng tín dụng cho khu vực kinh
tế tư nhân đã chiếm khoảng 2/3 trong tổng dư nợ của toàn nền kinh tế. Đây là một bước cải
thiện đáng kể.

Tuy vậy, xuất hiện một vấn đề khác là sự bất bình đẳng trong tiếp cận các nguồn lực giữa các
doanh nghiệp tư nhân với nhau. Tổng dư nợ tín dụng của khu vực tư nhân (bao gồm cả các
doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài) ở thời điểm hiện tại tương đương với 80% GDP.
Theo số liệu của Ngân hàng Thế giới, chỉ tính riêng tín dụng so với GDP của khu vực ngoài
quốc doanh thì Việt Nam đã ở mức rất cao.
15
Điều này có nghĩa là tín dụng không phải là vấn
đề nan giải cho khu vực tư nhân nói chung. Tuy nhiên, kết quả từ rất nhiều cuộc điều tra,
nhất là các cuộc điều tra của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), khó tiếp

cận tín dụng và đất đai là những rào cản lớn đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt
Nam. Ví dụ, không tiếp cận được tín dụng chiếm đến 21,4% nguyên nhân dẫn đến hàng loạt
các doanh nghiệp vừa và nhỏ phải đóng cửa hoặc ngừng hoạt động trong thời gian gần đây.
16

Điều này có nguyên nhân từ sự thiên lệch trong việc phân bổ nguồn lực trong bản thân khu
vực doanh nghiệp tư nhân. Doanh nghiệp thân hữu, có những mối quan hệ hay thậm chí có cổ
phần chi phối ở một số ngân hàng thương mại, có thể có được rất nhiều đất đai và tín dụng,
ngược lại, những doanh nghiệp vừa và nhỏ khác khó tiếp cận hai nguồn lực kể trên.

Vấn đề tiếp theo là nhiều doanh nghiệp tư nhân trên thực tế có sở hữu cổ phần hoặc có liên hệ
mật thiết với các ngân hàng thương mại cổ phần. Hậu quả là nhiều ngân hàng thương mại cổ
phần có nguy cơ bị thao túng để trở thành công cụ huy động vốn cho các doanh nghiệp này
sử dụng tiền nhàn rỗi trong các tầng lớp dân cư vào các mục đích đầu cơ.
17
Những rắc rối
hiện nay của kinh tế Việt Nam có một phần nguyên nhân từ sự phân bổ nguồn lực thiên lệch
này. Sau một thời gian tập trung cấu trúc lại hệ thống ngân hàng và xử lý nợ xấu (giai đoạn
1999-2004), sự liên kết giữa một số doanh nghiệp và ngân hàng thương mại trở nên phổ biến.
Như sẽ được phân tích chi tiết hơn trong các phần tiếp theo của Báo cáo này, sở hữu chéo

15
Theo số liệu trong các chỉ số phát triển của NHTG, số nước đang phát triển có tổng tín dụng nội địa so với GDP trên 80%
là rất ít.
16
VBiS 2012, VCCI.
17
Điển hình trong giai đoạn này là vụ Công ty Ngọc Thảo và Ngân hàng Nam Đô. Trần Thị Hiếu, Giám đốc công ty Ngọc
Thảo đã thao túng để sử dụng gần như toàn bộ các nguồn vốn huy động của Ngân hàng Nam Đô cho các hoạt động kinh
doanh của mình dẫn đến thua lỗ làm ngân hàng phải đóng cửa kèm theo rất nhiều hệ lụy khác, nguồn

/>1953182.html
Khơi thông những nút thắt thể chế để phục hồi tăng trưởng
Trang 12/46
trong các ngân hàng cổ phần hiện nay trở thành một rủi ro khó kiểm soát, làm giảm hiệu lực
giám sát của Nhà nước đối với thị trường tài chính. Với lợi thế trong quan hệ của mình,
doanh nghiệp thân hữu thâu tóm được đất đai cho những dự án kinh doanh bất động sản. Sẵn
có quyền kiểm soát hoặc quan hệ thân hữu với ngân hàng, một lượng vốn lớn đã được đầu cơ
vào bất động sản. Điều này tạo ra bong bóng bất động sản và nhiều hệ lụy tiêu cực cho nền
kinh tế.

Cuốn theo trào lưu đó, không ít doanh nghiệp đã chuyển từ hoạt động sản xuất kinh doanh tạo
ra giá trị gia tăng cho nền kinh tế sang các hoạt động đầu cơ, thương mại, nhất là kinh doanh
bất động sản với suất sinh lợi cao trong bối cảnh thị trường đang nóng lên. Khi bong bóng vỡ
và thị trường bất động sản đóng băng như hiện nay, doanh nghiệp có quy mô lớn rơi vào tình
trạng khốn đốn, từ đó tăng nợ xấu của các ngân hàng thương mại, điều ấy đe dọa sự ổn định
của hệ thống tài chính và ảnh hưởng nghiêm trọng đến tăng trưởng kinh tế. Nói cách khác, sự
phân bổ nguồn lực thiên lệch trong nội bộ khu vực doanh nghiệp tư nhân đã làm thay đổi
hành vi kinh doanh của họ. Sự sáng tạo, tinh thần doanh nhân không được vun đắp. Ngược
lại, cơ chế phân bổ nguồn lực hiện tại đã kích thích tâm lý đầu cơ, gây dựng quan hệ, tạo ra
sự không minh bạch và những hệ lụy khôn lường cho nền kinh tế và xã hội nói chung.

Cũng như bất kỳ nơi nào trên thế giới, khi mà sự tác động của các nhóm lợi ích khác nhau
trong quá trình hoạch định và thực thi chính sách là điều không thể tránh khỏi thì việc tạo ra
một môi trường cạnh tranh bình đẳng giữa các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế
khác nhau là giải pháp khả thi hơn cả. Việc mong mỏi các doanh nghiệp tự động “vứt bỏ” các
mối lợi của mình là không thực tế. Do vậy Chính phủ nên tập trung vào việc tạo ra các thể
chế để tất cả các doanh nghiệp có thể cạnh tranh với nhau một cách minh bạch và bình đẳng
trong cả hoạt động sản xuất kinh doanh và việc tạo ảnh hưởng hay vận động quá trình hoạch
định chính sách. Khi các “rào cản” gia nhập bị gỡ bỏ, các doanh nghiệp phải tự cạnh tranh
bình đẳng với nhau trong việc giành giật thị trường và các nguồn lực. Lúc này các doanh

nghiệp sẽ tự chế tài lẫn nhau và nhu cầu có những luật chơi công bằng sẽ hiện hữu. Khi đó,
cho dù phải cạnh tranh với nhau, nhưng các doanh nghiệp sẽ có thể cùng ngồi lại với nhau để
đề xuất hoặc “giúp” Chính phủ thiết kế ra những luật chơi công bằng hơn.

Nhũng nhiễu của bộ máy quản lý nhà nước

Sau khi thực thi Luật Doanh nghiệp năm 1999, môi trường kinh doanh của Việt Nam đã được
cải thiện đáng kể, đồng thời với việc rà soát loại bỏ giấy phép con và đẩy mạnh cải cách hành
chính. Tuy nhiên, trong thời gian gần đây tình trạng nhũng nhiễu doanh nghiệp có vẻ đang trở
lại.
18
Mặc dù được nhiều chuyên gia đánh giá là chưa phản ánh hết mức độ khó khăn của khu
vực tư nhân ở Việt Nam, Báo cáo môi trường kinh doanh 2013 của Ngân hàng Thế giới xếp
hạng Việt Nam thứ 99 trong 185 nền kinh tế toàn cầu, vị trí này hoàn toàn ở mức trung bình
và không được cải thiện trong nhiều năm qua.
19
Báo cáo chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh
năm 2012 của VCCI cũng chỉ ra rằng, cải cách hành chính công trong lĩnh vực sau đăng ký
kinh doanh không có bước tiến mới.
20
Trong bối cảnh môi trường kinh doanh không được cải

18

19

20
VCCI (2012), Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh,
Khơi thông những nút thắt thể chế để phục hồi tăng trưởng
Trang 13/46

thiện đáng kể, một phần lớn thời gian và tiền bạc của doanh nghiệp được tiêu tốn để đáp ứng
các thủ tục quản lý còn thiếu tường minh và không nhất quán từ phía các cơ quan quản lý nhà
nước.

Thiếu vắng các thể chế hỗ trợ thị trường có hiệu quả

Doanh nghiệp tư nhân chỉ có thể hoạt động ổn định, nếu hệ thống pháp luật hợp đồng, thực
thi khế ước, pháp luật và hệ thống giao dịch bảo đảm được rõ ràng, cơ chế giải quyết tranh
chấp kinh doanh đáng tin cậy được hỗ trợ bởi một hệ thống tư pháp không thiên vị, đưa ra
các phán quyết công bằng và có thể thi hành với thời gian và chi phí hợp lý. Các cuộc điều tra
về môi trường kinh doanh của Ngân hàng Thế giới và chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh
(PCI) của VCCI đều cho thấy những thể chế này còn hoạt động rất kém hiệu quả. Trích đoạn
từ báo chí trong nước có thể cho thấy cảm nhận của doanh nghiệp về chất lượng và hiệu quả
của các thiết chế pháp lý ở Việt Nam được VCCI đo lường năm 2012 như sau:

l



 Nói nôm na là DN ngày càng

21

Khi các thiết chế pháp lý kém hiệu quả và không được doanh nghiệp tin dùng, xuất hiện tình
trạng mà Douglas North đã dự báo trước đây nhiều thập kỷ, áp dụng vào Việt Nam có thể
nhận xét khái quát rằng: “Trong môi trường mà quyền tài sản không an toàn, pháp luật kém
hiệu lực, tồn tại nhiều rào cản gia nhập thị trường và cản trở của độc quyền, để tối đa hóa lợi
nhuận, các công ty tư nhân của Việt Nam thường chỉ chạy theo các mục tiêu trước mắt (thậm
chí là đánh quả và chộp giật), ít đầu tư vào tài sản cố định, và thường có quy mô nhỏ. Hệ quả
là các doanh nghiệp có tỷ suất lợi nhuận cao nhất thường xuất hiện trong các lĩnh vực thương

mại hay có tính đầu cơ và tìm kiếm đặc quyền – đặc lợi (rent-seeking). Các công ty sản xuất
lớn, có vốn cố định đáng kể, sẽ chỉ tồn tại được với ô dù bảo vệ của chính phủ thông qua trợ
cấp, bảo hộ thuế quan, và quan hệ có đi có lại – vốn là những hành vi không thể mang lại
hiệu quả cho nền kinh tế”.
22


Đặc biệt, khi nền kinh tế gặp khó khăn, cơ chế phá sản, hay còn gọi là “sự phá hủy mang tính
sáng tạo” cần được thiết lập để thị trường thanh lọc các doanh nghiệp yếu kém. Xét về mặt
kinh tế, phá sản là quá trình phân bổ lại nguồn lực từ người sử dụng kém hiệu quả sang người
sử dụng có hiệu quả hơn. Tiến trình này vẫn chưa diễn ra suôn sẻ ở Việt Nam. Do Luật phá
sản không được thực thi trên thực tế, hàng chục ngàn doanh nghiệp đã thông báo ngừng hoạt
động, song rất ít doanh nghiệp được tuyên bố phá sản, chúng biến thành những xác chết biết
đi (Zombie). Cụ thể, theo số liệu thống kê chính thức, trong giai đoạn 2008- 2011, ngành tòa
án chỉ nhận được 636 đơn yêu cầu phá sản doanh nghiệp và chỉ có 45 vụ ra được quyết định

21
Báo Pháp luật TPHCM 15/03/2013,
22
Xem thêm phân tích của Douglass North trong “Thể chế, thay đổi thể chế, và kết quả hoạt động kinh tế” xuất bản năm
1990.
Khơi thông những nút thắt thể chế để phục hồi tăng trưởng
Trang 14/46
tuyến bố phá sản.
23
Điều này không tương xứng so với gần 30% doanh nghiệp được cho là
mất khả năng thanh toán, đã tạm ngừng hoạt động do vỡ nợ trong số 600 nghìn doanh nghiệp
vẫn còn đăng ký kinh doanh về danh nghĩa.
24



Không thực thi được Luật Phá sản, các chủ nợ và doanh nghiệp mắc nợ thiếu đi những cơ chế
hữu hiệu để tái cấu trúc các khoản nợ và thực thi các cam kết phục hồi, tái tổ chức doanh
nghiệp một cách nhân văn và có trật tự. Nợ quá hạn từ các doanh nghiệp mất khả năng thanh
toán lan rộng sang các doanh nghiệp khác, làm lây lan căn bệnh mất khả năng thanh toán, phá
hủy kỷ luật hợp đồng, xói mòn niềm tin vào đối tác trong kinh doanh. Một khi hệ thống tư
pháp để giải quyết tranh chấp kinh doanh chưa hiệu quả, ngay lập tức xuất hiện những cơ chế
xiết nợ phi chính thức khác. Làn sóng vỡ nợ cộng với cơ chế giải quyết nợ khó đòi trong khu
vực tư nhân không theo những trình tự minh bạch trên thực tế đang là mối đe dọa lớn có thể
cuốn trôi những thành quả hơn xây dựng khu vực kinh tế tư nhân kể từ khi Luật Doanh
nghiệp có hiệu lực hơn một thập kỷ trước đây.

Tóm lại, các yếu kém về thể chế đã giải thích sự phát triển thiên lệch và nguy cơ tiềm ẩn dẫn
tới đổ vỡ hàng loạt trong khu vực doanh nghiệp tư nhân ở Việt Nam. Nhiều doanh nghiệp tư
nhân có mức độ tăng trưởng quy mô đột biến chủ yếu nhờ vào các hoạt động thương mại
hoặc đầu cơ, nhất là dồn vốn vào kinh doanh bất động sản. Ngược lại, nếu không có quan hệ,
các doanh nghiệp nhỏ và vừa một phần bị chèn ép bởi khu vực DNNN, một phần bị mất lợi
thế bởi doanh nghiệp thân hữu, không thể đầu tư lâu dài để tăng quy mô trở thành những
doanh nghiệp có quy mô đáng kể hơn. Điều này giải thích vì sao các doanh nghiệp tư nhân
quy mô lớn, dựa trên sản phẩm có sức cạnh tranh cao, hay sản phẩm riêng biệt tạo ra nhiều
gia trị gia tăng cho xã hội gần như chưa xuất hiện. Ba mươi năm cải cách ở Việt Nam chắc
chắn đã góp phần giúp không ít doanh nhân tích lũy nhiều của cải, song chưa tạo ra được một
thế hệ các nhà công nghiệp gắn liền tên tuổi và sự nghiệp của mình với sự hình thành và phát
triển các cụm ngành công nghiệp quốc gia.




23


24
/>thanh-zombie/
Khơi thông những nút thắt thể chế để phục hồi tăng trưởng
Trang 15/46
Phần IV. Nông nghiệp

Kể từ khi Việt Nam bắt đầu Đổi mới, khu vực nông nghiệp (gồm cả nông nghiệp, lâm nghiệp
và nuôi trồng thủy sản) luôn có đóng góp quan trọng vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội
của đất nước. Theo định hướng xuất khẩu và có năng lực cạnh tranh cao, sản xuất nông
nghiệp phát triển nhờ vào sự tăng trưởng năng suất nhanh chóng. Từ năm 2001 đến 2009,
năng suất nông nghiệp ở Việt Nam tăng trưởng bình quân 4,6%/năm, cao nhất trong các nước
Đông Nam Á.
25
Tính toán đóng góp năng suất các nhân tố sản xuất tổng hợp (TFP) vào tăng
trưởng nông nghiệp cũng cho thấy một bức tranh tương tự. Theo Bảng 3, cho đến giữa thập
niên 2000, TFP đóng góp tới gần 60% tăng trưởng GDP nông nghiệp.

Bảng 3. Đóng góp của các nhân tố sản xuất và TFP vào tăng trưởng GDP nông nghiệp (%)
Giai đoạn
Lao động
Máy kéo
Máy bơm
Phân bón
Diện tích
đất
TFP
1996-2000
8,9
7,0
11,4

10,9
31,4
30,3
2001-2005
8,5
5,1
6,5
5,3
15,1
59,5
Ngun: Tính toán của Viện Chính sách và Chiến lược Phát triển Nông nghiệp Nông thôn (IPSARD) dựa trên số
liệu của Tổng cục Thống kê Việt Nam.

Sự phát triển tích cực của khu vực nông nghiệp ở Việt Nam thường được phân tích với ba
nhận định quan trọng: năng suất sẽ tiếp tục tăng trưởng nhanh; kinh tế nông nghiệp và nông
thôn là nơi hấp thụ lao động mất việc ở các khu vực khác và giảm sốc cho nền kinh tế; tài
nguyên nông nghiệp vẫn còn dồi dào để tiếp tục mở rộng sản xuất. Tuy nhiên, thực tiễn sản
xuất nông nghiệp trong vòng ba năm trở lại đây (2010-2012) cho thấy những nhận định trên
có thể không còn đúng nữa.

Th nht, tiềm năng cho tăng trưởng năng suất ngày càng bị giới hạn. Các yếu tố thúc đẩy
tăng năng suất nông nghiệp trong giai đoạn trước đây bao gồm cải cách thị trường, đầu tư cơ
sở hạ tầng, chuyển đổi sang sản phẩm mới với giá trị gia tăng cao hơn và thị trường rộng hơn,
giá thế giới của các sản phẩm nông nghiệp tăng cao.
26
Đến nay, động lực thúc đẩy của các
yếu tố này không còn nhiều. Trong khi đó, nguồn tăng trưởng mới đến từ việc đa dạng hóa sở
hữu đất đai để tạo động lực mới cho sản xuất nông nghiệp, Nhà nước cung cấp hàng hóa công
để khuyến khích hoạt động nghiên cứu phát triển và tạo điều kiện cho khu vực tư nhân - bao
gồm cả nông dân và doanh nghiệp - tiếp tục đầu tư dài hạn lại thiếu vắng.


Th hai, nền kinh tế nông nghiệp không còn có thể tiếp tục vận hành như tấm lưới an toàn,
tiếp nhận lao động quay về khi mất việc trong các khu vực kinh tế khác. Ở Việt Nam, con số
thống kê chính thức về tỷ lệ thất nghiệp luôn thấp một cách đáng ngạc nhiên, thậm chí thấp
hơn cả ngưỡng thất nghiệp tự nhiên, cho dù kinh tế tăng trưởng nóng hay suy giảm, thường
được sử dụng để minh họa cho khả năng hấp thụ và giảm sốc của khu vực nông nghiệp.
27
Tuy
nhiên trước bối cảnh bất ổn kinh tế vĩ mô trong thời gian qua, làn sóng người lao động không

25
Chương trình Việt Nam tại Trường Harvard Kennedy và Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright (2012), Cải cách cơ
cấu vì mục tiêu tăng trưởng, công bằng và chủ quyền quốc gia, Bài thảo luận chính sách chuẩn bị cho Chương trình Lãnh
đạo Quản lý Cao cấp Việt Nam (VELP) tháng 2 năm 2012.
26
OECD (2007), Economic Importance of Agriculture for Sustainable Development and Poverty Reduction: The Case Study
of Vietnam, Paris.
27
Theo Tổng cục Thống kê Việt Nam, tỷ lệ thất nghiệp của lao động trong độ tuổi năm 2012 là 1,99%, trong đó khu vực
thành thị là 3,25%, khu vực nông thôn là 1,42%. Các tỷ lệ tương ứng năm 2011 là 2,22%, 3,60% và 1,60%.
Khơi thông những nút thắt thể chế để phục hồi tăng trưởng
Trang 16/46
tìm được việc làm trong khu vực đô thị và khu công nghiệp đã không còn dội ngược lại nông
thôn như trước. Về mặt dài hạn, lao động quay về nông thôn cũng không có đất để sản xuất
nông nghiệp trước xu hướng thu hồi đất, chuyển mục đích sử dụng, và giảm diện tích canh
tác. Ngoài ra, lao động di cư từ nông thôn vẫn giữ quyền sử dụng đất nông nghiệp nhưng
không khai thác, dẫn tới giảm hiệu quả sử dụng đất.
28
Vì vậy, lao động có quay về cũng
không thể khai thác trở lại đất bị bỏ hoang hoặc không được chăm sóc. Về ngắn hạn, sự

chững lại của giá nông sản thế giới, suy giảm tăng trưởng sức mua trong nước
29
và giới hạn
tiếp cận tín dụng tạo ra tình trạng mà báo chí gọi là “nông thôn bội thực lao động dư thừa”.
30


Th ba, tài nguyên nông nghiệp đã và đang dần cạn kiệt do bị ô nhiễm và khai thác quá mức.
Theo Viện Chính sách và Chiến lược Phát triển Nông nghiệp Nông thôn (IPSARD), việc sử
dụng lãng phí đất đai, bao gồm cả nguyên nhân sử dụng đất tràn làn cho phát triển khu công
nghiệp với tỷ lệ lấp đầy thấp, đầu cơ đất và bỏ hoang hóa, sử dụng phân bón và thuốc trừ sâu
quá mức đã làm giảm nguồn cung tương lai cho sản xuất nông nghiệp. Diện tích và chất
lượng rừng tiếp tục suy giảm.
31
Nước ngầm đang nhanh chóng cạn kiệt ở Đồng bằng sông
Cửu Long, Tây Nguyên cũng như bị ô nhiễm vì nước biển và chất thải độc hại. Một số nhà
nghiên cứu tuyên bố rằng nước ngầm sẽ rớt xuống “mức chết” chỉ trong vòng 5 năm nữa ở
khu vực Đồng bằng sông Cửu Long. Ở Tây Nguyên, mực nước ngầm giảm đang đe dọa
nguồn nước tưới tiêu phục vụ cây cà phê và cao su. Khi sản xuất công nghiệp, nuôi tôm và
tưới tiêu cho cây trồng mở rộng nhanh chóng, rất có khả năng xảy ra nhiều vấn đề về sức
khỏe và nguồn cung cấp nước cho con người và cho công nghiệp.
32


Việc không giải quyết được những thách thức nêu trên đối với sản xuất nông nghiệp là do sự
tiếp tục tồn tại của những yếu kém về chính sách và thể chế, trong đó quan trọng nhất là
quyền sở hữu đất đai nông nghiệp không rõ ràng, các chương trình hỗ trợ nông nghiệp sai địa
chỉ, và công nghiệp hóa tràn lan, không lựa chọn tại các tỉnh nông nghiệp.

Luật Đất đai 2003 cho phép nông dân có quyền sử dụng, chuyển giao, cho thuê, thừa kế, thế

chấp, cho tặng và góp vốn bằng đất. Tuy nhiên, thời hạn giao đất hạn chế đối với cả đất canh
tác cây hàng năm, đất nuôi trồng thủy sản và đất rừng tạo ra tình trạng không rõ ràng về việc
ai là người sẽ nắm giữ quyền sử dụng đất sau khi hết hạn giao đất. Tính bất trắc này rõ ràng
đã làm giảm động lực khuyến khích hộ gia đình và doanh nghiệp tư nhân đầu tư dài hạn vào
nông nghiệp, làm cho đất nông nghiệp có giá trị thị trường thấp hơn quá mức so với các loại
đất khác và dẫn tới tình trạng khai thác đất tối đa trong thời hạn giao đất. Sở hữu không rõ
ràng còn tạo ra sự bất bình đẳng trong tiếp cận và đảm bảo các quyền về đất. Diện tích đất rất
lớn vẫn trong sự kiểm soát của các nông lâm trường, mặc dù hiệu quả không cao. Theo số
liệu của IPSARD, ngay cả sau khi sắp xếp, đổi mới, diện tích đất do các nông lâm trường
quản lý vẫn là 4 triệu ha năm 2010, giảm từ con số 4,6 triệu ha vào năm 2003.


28
Đặng Kim Sơn (2011), Giải quyết triệt để vấn đề đất đai: một trong những tiền đề của quá trình tái cơ cấu nền kinh tế, báo
cáo tại Diễn đàn Kinh tế mùa Xuân 2012 của Ủy ban Kinh tế Quốc hội.
29
Theo Tổng cục Thống kê Việt Nam, giá bán sản phẩm cây trồng ngắn ngày giảm 1,46%, cây ăn trái lâu năm giảm 2,64%,
chăn nuôi giảm 9,09%, thủy sản nuôi trồng giảm 0,39% vào tháng 6 năm 2013 so với cùng kỳ 2012.
30
Tạp chí Nhịp cầu Đầu tư, Nông thôn “bội thực” lao động dư thừa, 12 tháng 1 năm 2009.
31
Đặng Kim Sơn (2011), Giải quyết triệt để vấn đề đất đai: một trong những tiền đề của quá trình tái cơ cấu nền kinh tế, báo
cáo tại Diễn đàn Kinh tế mùa Xuân 2012 của Ủy ban Kinh tế Quốc hội.
32
David Dapice (2011), Vai trò của nhà nước: Các mô hình châu Á cho Việt Nam, Bài viết chính sách cho Chương trình
Phát triển Liên Hợp Quốc Việt Nam và Viện Chiến lược Phát triển, Bộ Kế hoạch Đầu tư.
Khơi thông những nút thắt thể chế để phục hồi tăng trưởng
Trang 17/46
Các chương trình hỗ trợ nông nghiệp (tiếp cận tín dụng, tiếp cận các nhân tố đầu vào, hậu
cần, tiếp thị, hoạt động sau thu hoạch và chế biến, rồi thậm chí cả phát tiền hỗ trợ người

nghèo ở nông thôn) trong nhiều trường hợp không đến đúng địa chỉ là người nông dân.
Những đối tượng hưởng lợi nhiều nhất từ các những chương trình này lại là các tổ chức trung
gian. Không kể đến các nguyên nhân xuất phát từ sai lệch trong thực thi chính sách, về mặt
thể chế các chương trình thực ra được thiết kế để nguồn lực hỗ trợ được chuyển từ Nhà nước
đến các tổ chức đầu mối đóng vai trò cung cấp nhân tố đầu vào và/hoặc thu mua đầu ra của
nông dân. Mặc định của thiết kế này là nguồn lực được phân phối cho một vài tổ chức lớn (để
tiết kiệm chi phí) rồi sau đó sẽ được phân phối lại cho hộ gia đình và cá nhân làm nông
nghiệp. Nhưng thực tế là hỗ trợ không đến được tay của những người trực tiếp làm nông
nghiệp.

Chính sách thúc đẩy công nghiệp hóa căn cứ vào chỉ tiêu nâng cao tỷ trọng công nghiệp trong
cơ cấu GDP và xây dựng tràn lan khu công nghiệp (KCN) và khu kinh tế (KKT) đã dẫn tới
kết cục hy sinh nông nghiệp nông thôn để phục vụ công nghiệp hóa, đô thị hóa. Tính phi hiệu
quả của việc đầu tư dàn trải nhiều KCN và đặc biệt là KKT với diện tích lớn đã được cảnh
báo với nhiều khu không có khả năng kết nối với CSHT trục quốc gia và không dựa vào lợi
thế so sánh của địa phương và không có liên kết ngành theo chiều dọc và chiều ngang. Cho
đến nay, hầu như chưa thấy động thái rõ ràng nào, đặc biệt từ phía địa phương, về việc điều
chỉnh quy hoạch KCN-KKT theo hướng thu hẹp. Hoặc nếu quy hoạch hiện hữu được đánh
giá khả thi thì cũng không thấy quyết tâm đầu tư trọng điểm để phát triển công nghiệp theo
hướng cụm ngành liên hoàn và hỗ trợ cho sản xuất nông nghiệp.

Một điểm bất hợp lý nữa là định hướng phát triển ồ ạt các khu đô thị mới. Trong một môi
trường kinh tế thuận lợi với nguồn vốn dồi dào thì việc phát triển đô thị mới đi trước cả hoạt
động kinh tế là đúng đắn. Nhưng sẽ là không hiệu quả nếu đổ vốn vào những khu đô thị mới
với các tiêu chí quy hoạch “quá hiện đại”, trong khi nhu cầu thực tế là nhà ở và dịch vụ
thương mại, cơ sở hạ tầng xã hội với chi phí thấp cho người lao động thì không được đáp
ứng, ngoại trừ ở các đô thị lớn. Ngay cả ở nhiều địa phương đang thu hút được đầu tư công
nghiệp với giá trị đầu tư lớn thì đó cũng là các dự án năng lượng và công nghiệp nặng thâm
dụng vốn nên áp lực dân cư tại đô thị hiện hữu vẫn không lớn. Vì vậy, đầu tư công cho cơ sở
hạ tầng kỹ thuật cũng như xã hội để hỗ trợ cho kinh tế nông nghiệp – nông thôn ở những địa

phương này vẫn phải là một trong những ưu tiên hàng đầu.



Khơi thông những nút thắt thể chế để phục hồi tăng trưởng
Trang 18/46
Phần V. Khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài

Cải cách theo hướng thị trường và hội nhập quốc tế đã đem lại cho nền kinh tế Việt Nam hai
khu vực có tốc độ tăng trưởng cao cho đến năm 2008 là doanh nghiệp tư nhân trong nước và
khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI). Tăng trưởng của khu vực FDI đạt đỉnh cao
ở mức 14% trong năm 2006, trong khi tăng trưởng khu vực tư nhân đạt mức cao nhất vào
năm 2008 với tốc độ 9%.
33


Tuy nhiên, kể từ khi có bất ổn kinh tế vĩ mô – và qua đó những yếu kém về cơ cấu kinh tế bị
bộc lộ – khu vực doanh nghiệp nước ngoài và trong nước bắt đầu phân cực. Như đã phân
tích ở phần trước, các doanh nghiệp tư nhân hiện nay đang đứng trước những khó khăn lớn
nhất kể từ khi có Luật Doanh nghiệp, thể hiện trong việc thu hẹp sản xuất, giảm đầu tư, sa
thải lao động và đóng cửa. Các doanh nghiệp tư nhân lớn hiện có gánh nặng nợ cao, còn
doanh nghiệp nhỏ và vừa thì không tiếp cận được tín dụng và nhiều nguồn lực cần thiết khác.
Nhưng trong khi đó, khu vực FDI vẫn phát triển nhanh. Dòng vốn FDI mới tiếp tục đổ vào
nền kinh tế Việt Nam và các doanh nghiệp FDI hiện hữu tiếp tục mở rộng sản xuất. Hình 1
cho thấy, ngay cả khi giải ngân FDI không còn ở mức như những năm ngay sau khi gia nhập
WTO, thì tỷ lệ vốn FDI lũy tích so với GDP của Việt Nam vẫn ở mức cao nhất trong các nền
kinh tế châu Á.

Hình 1: Tỷ lệ FDI lũy tích/GDP của một số nước châu Á năm 2000 và 2010 (%)


Ngun: UNCTAD 2011 World Investment Report for FDI and World Bank for GDP (giá trị danh nghĩa).

Với bối cảnh kinh tế của khu vực Đông Bắc và Đông Nam Á hiện nay, Việt Nam vẫn là điểm
đến hấp dẫn đối với FDI. Các hoạt động sản xuất công nghiệp chế biến – chế tạo thâm dụng
lao động đã bắt đầu chuyển dịch khỏi Trung Quốc khi tiền lương ở đây tăng lên. Tiền lương ở
Trung Quốc đã tăng 10% một năm trong giai đoạn 2000 đến 2005, 19% trong giai đoạn 2005
đến 2010, và dự kiến sẽ tiếp tục tăng nhanh, đạt 17% từ 2010 đến 2015. Các doanh nghiệp có
cơ sở sản xuất ở Trung Quốc hiện đang đa dạng hóa quy trình sản xuất bằng cách di chuyển
sang các nước có lao động rẻ hơn. Trong khi tiền lương sản xuất công nghiệp của Trung

33
Tổng cục Thống kê Việt Nam, Niên giám Thống kê Việt Nam các năm khác nhau.
0
10
20
30
40
50
60
70
Việt Nam
Thái Lan
In-đô-nê-xi-a
Trung Quốc
Ấn Độ
2000
2010
Khơi thông những nút thắt thể chế để phục hồi tăng trưởng
Trang 19/46
Quốc ước khoảng 2 đô-la/giờ, thì ở Việt Nam, Indonesia và Campuchia, tiền lương chỉ lần

lượt là 0,49, 0,38 và 0,35 đô-la/giờ (xem Hình 2).
34


Hình 2. Tiền lương lao động ở các nhà máy hoạt động hết công suất tại một số quốc gia

Ngun: Boston Consulting Group (2011).

Chiến lược đa dạng hóa từ các nhà đầu tư nước ngoài được biết đến với tên gọi “Trung Quốc
cộng một”, và nhờ đó đã thiết lập các ngành công nghiệp chế biến – chế tạo trên khắp Đông
Nam Á. Theo Công ty tư vấn Boston Consulting Group (2011), “đã có một sự chuyển dịch
đáng kể việc làm trong các ngành may mặc, giày dép, hàng hóa thể thao và những sản phẩm
thâm dụng lao động khác sang Nam và Đông Nam Á”
35
. Trong bối cảnh này, thì năng lực
cạnh tranh tiềm năng của Việt Nam tỏ ra khá mạnh. Theo Báo cáo Năng lực Cạnh tranh Sản
xuất Công nghiệp Toàn cầu của Công ty Tư vấn Deloitte (2013), Việt Nam sẽ trở thành nền
kinh tế cạnh tranh đứng thứ 10 trên thế giới về sản xuất công nghiệp trong vòng 5 năm tới,
trên cả các nước láng giềng như Indonesia, Malaysia và Thái Lan (xem Bảng 4).

Bảng 4. Năng lực cạnh tranh sản xuất công nghiệp theo xếp hạng của Deloitte
Hiện tại
5 năm tới
Xếp hạng
Quốc gia
Xếp hạng
Quốc gia
1
Trung Quốc
1

Trung Quốc
5
Hàn Quốc
6
Hàn Quốc
6
Đài Loan
7
Đài Loan
9
Singapore
9
Singapore
11
Thái Lan
10
Việt Nam
13
Malaysia
11
Indonesia
17
Indonesia
14
Malaysia
18
Việt Nam
15
Thái Lan
Ngun: Deloitte (2013).



34
n xut ti M, mt ln na: Ti sao hong sn xut công nghip s quay tr li M, Boston Consulting Group,
tháng 8/2011.
35

Khơi thông những nút thắt thể chế để phục hồi tăng trưởng
Trang 20/46
Đóng góp nổi trội của các doanh nghiệp FDI là ở hoạt động xuất khẩu. Tỷ trọng xuất khẩu
của doanh nghiệp FDI trong tổng xuất khẩu gia đã tăng từ mức 30% năm 1996 lên 47% năm
2000, 57% năm 2005 và 63,1% năm 2012.
36
Bảng 5 cho thấy trong hai năm 2012 và 2013,
kết quả xuất khẩu của khu vực FDI và doanh nghiệp trong nước của Việt Nam có sự khác
biệt rõ rệt. Trong khi các doanh nghiệp trong nước hầu như không có tăng trưởng xuất khẩu
trong năm 2012 và 7 tháng đầu năm 2013 thì xuất khẩu của khu vực FDI vẫn tăng trưởng
mạnh, thậm chí còn cao hơn cả những năm đầu thập niên 2000.

Bảng 5. Tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu

Tổng kim ngạch
xuất khẩu
Kinh tế
trong nước
FDI kể cả
dầu thô
FDI không kể
dầu thô
2012

18,3%
1,3%
31,2%
33,5%
7 tháng 2013
14,3%
1,6%
22,0%
26,3%
Ngun: Tổng cục Thống kê Việt Nam.

Câu chuyện phân cực này được lặp lại khi chúng ta so sánh kết quả tạo việc làm giữa doanh
nghiệp nội địa và nước ngoài.
37
Trước khi có Luật Doanh nghiệp 2005, việc làm trong khối
doanh nghiệp nước ngoài đã tăng với tốc độ nhanh hơn so với doanh nghiệp nội địa. Sau khi
bộ luật được thông qua, khu vực tư nhân nội địa đã đẩy mạnh tuyển dụng lao động với tốc độ
nhanh hơn khối nước ngoài (đặc biệt là năm 2007 và 2008). Nhưng nhìn lại nền kinh tế sau
khi xảy ra bất cân đối vĩ mô trong nước, ta lại thấy khu vực nước ngoài đang có tốc độ tăng
trưởng việc làm nhanh hơn. Tăng trưởng việc làm trong các doanh nghiệp nội địa, ngược lại,
đang bị chững lại.

Hình 3. Việc làm trong khu vực doanh nghiệp


Ngun: Tổng cục Thống kê Việt Nam, Niên giám Thống kê Việt Nam các năm.

Tóm lại, đối diện với cùng một nền kinh tế toàn cầu vẫn còn yếu kém và nền kinh tế nội địa
bị trục trặc về cơ cấu, doanh nghiệp trong nước của Việt Nam gặp khó khăn còn doanh
nghiệp FDI vẫn tăng trưởng tốt. Xét về tác động của chính sách, bất ổn vĩ mô, lãi suất cao,


36
Tổng cục Thống kê Việt Nam, Niên giám Thống kê Việt Nam các năm khác nhau.
37
Số liệu về việc làm từ Hình e và Bảng 2 là khác nhau, vì Hình 3 chỉ bao hàm khối doanh nghiệp. Số liệu trong Bảng 2 lại
bao gồm hộ gia đình hoặc lao động làm việc cho các cơ quan nhà nước, hai nhóm này thì không thuộc khu vực doanh
nghiệp.
Khơi thông những nút thắt thể chế để phục hồi tăng trưởng
Trang 21/46
giới hạn khả năng tiếp cận nguồn lực đã ảnh hưởng trực tiếp một cách rất tiêu cực đến các
doanh nghiệp trong nước, trong khi các doanh nghiệp FDI đã phần nào tránh được những tác
động này. Nhưng xét về mặt thể chế, yếu tố quan trọng ở đây là các doanh nghiệp FDI, mặc
dù thành lập ở Việt Nam để khai thác các lợi thế về lao động, tài nguyên cùng một số ưu đãi
về chính sách, vẫn tiếp tục dựa chủ yếu vào thể chế ở bên ngoài để thực hiện hoạt động sản
xuất kinh doanh. Hệ thống luật pháp chi phối các quan hệ hợp đồng được sử dụng từ bên
ngoài. Bộ máy quản trị doanh nghiệp là của nước ngoài. Liên kết sản xuất là với các tổ chức
bên ngoài. Tín dụng cũng được cung cấp phần nhiều từ các định chế tài chính nước ngoài hay
định chế tài chính ở Việt Nam có vốn đầu tư nước ngoài. Các doanh nghiệp FDI đã “bỏ qua”
được phần lớn những thể chế của Việt Nam, vốn bị coi là đang cản trở hoạt động kinh doanh
của doanh nghiệp trong nước.

Như vậy, cùng với sự sự thiếu vắng hoạt động công nghiệp phụ trợ nội địa, việc khu vực FDI
sử dụng thể chế bên ngoài và bỏ qua các thể chế của Việt Nam giải thích lý do tại sao các
doanh nghiệp FDI ở Việt Nam không phát triển thành những mắt xích chắc chắn trong chuỗi
cung ứng toàn cầu. Nói cách khác, họ không thực sự có động lực phát triển những mối liên
kết với các nhà sản xuất trong nước. Chừng nào Việt Nam chưa xây dựng được hệ thống thể
chế mà các nhà đầu tư nước ngoài có thể thực sự lấy làm chỗ dựa cho hoạt động kinh doanh
của họ thì viễn cảnh sản xuất chế biến lắp ráp mà đầu vào lệ thuộc nặng nề vào nguồn nhập
khẩu như hiện nay sẽ còn tiếp diễn.




Khơi thông những nút thắt thể chế để phục hồi tăng trưởng
Trang 22/46
Phần VI. Khu vực ngân hàng thương mại

Một trong những vấn đề căng thẳng nhất của khu vực ngân hàng thương mại hiện nay là nợ
xấu và việc phân bổ nguồn lực cho những hoạt động sản xuất kinh doanh có hiệu quả trong
nền kinh tế đang gặp nhiều khó khăn. Một số giải pháp đã được đưa ra, nhưng chưa phát huy
hiệu quả. Nội dung phần này sẽ chỉ ra rằng, sở hữu chéo đã làm vô hiệu hóa các quy định về
đảm bảo an toàn, gây ra trục trặc cho các ngân hàng thương mại và nợ xấu tăng cao; và các
giải pháp tái cấu trúc lại khu vực ngân hàng thương mại và xử lý nợ dựa cả vào thị trường và
nhà nước hiện tại đều đang bất cập.
Sở hữu chéo làm vô hiệu hóa các quy định về đảm bảo an toàn trong hoạt động
ngân hàng

Nợ xấu mang tính hệ thống thường phát sinh sau các cơn bùng nổ tín dụng trong chu kỳ tăng
trưởng kinh tế nóng và các quy định về hoạt động an toàn bị thiếu vắng hay bị vô hiệu hóa.
Từ năm 2006 trở lại đây, Việt Nam mắc phải cả hai vấn đề này. Năm 2006 là năm bắt đầu
của đợt sóng thành lập ngân hàng lần thứ hai (sau đợt thành lập ngân hàng vào đầu thập niên
1990). Mười ngân hàng thương mại cổ phần nông thôn được chuyển đổi thành ngân hàng
thương mại cổ phần đô thị và bốn ngân hàng mới được thành lập. Quy mô tín dụng ngân
hàng so với GDP Việt Nam còn tăng ấn tượng hơn từ 20% vào cuối thập niên 1990 lên đến
136% vào cuối năm 2010, gần bằng với tỷ lệ ở Trung Quốc và Thái Lan và cao hơn hẳn các
nước khác trong khu vực. Sự mở rộng tín dụng này là hệ quả của chính sách tiền tệ nới lỏng
quá mức trong thời gian qua. Ngay cả sau lần “mạnh tay” thắt chặt tiền tệ vào năm 2008 để
chống lạm phát, tín dụng lại tăng mạnh vào năm 2009 và 2010. Kinh nghiệm quốc tế đã nhiều
lần chứng minh rằng chính sách tiền tệ dễ dãi cộng với quản trị ngân hàng yếu kém luôn dẫn
tới trục trặc ngân hàng.


Điểm đáng chú ý là 2006-2011 lại là thời kỳ khung pháp lý và giám sát hoạt động ngân hàng
không ngừng được hiện đại hóa. Quy định hiện hành của Việt Nam về bảo đảm an toàn hoạt
động của NHTM đã bao trùm hết các nội dung giám sát về vốn, giới hạn tín dụng, giới hạn
đầu tư góp vốn cổ phần, tỷ lệ khả năng chi trả, và phân loại chất lượng nợ, trích dự phòng rủi
ro. Tuy nhiên, các ngân hàng, mà thực chất là các nhà đầu tư, tổ chức kinh tế sở hữu ngân
hàng, có thể dễ dàng vô hiệu hóa tất cả các quy định đảm bảo an toàn, cho dù đó là các quy
định theo chuẩn mực quốc tế. Đáng chú ý là việc vô hiệu hóa các quy định này, trong nhiều
trường hợp, tuy được làm đúng luật nhưng lại sai với tinh thần của luật. Đó là nhờ các hình
thức sở hữu chéo, bao gồm DNNN sở hữu NHTMCP, ngân hàng sở hữu doanh nghiệp, ngân
hàng sở hữu ngân hàng, nhà đầu tư lớn sở hữu ngân hàng, doanh nghiệp phi tài chính, công ty
cổ phần đầu tư tài chính và công ty chứng khoán.
38
Sáu vấn đề dưới đây đều là hệ quả của
vấn đề sở hữu chéo.

Th nht, sở hữu chéo vô hiệu hóa quy định về vốn pháp định của các NHTM. Nghị định 141
yêu cầu các NHTM cổ phần phải có vốn pháp định 3.000 tỷ đồng vào cuối năm
2010. Nhiều ngân hàng đã đáp ứng được yêu cầu này trước thời hạn quy định nhưng vẫn còn
rất nhiều ngân hàng khác, đặc biệt là các NHTM cổ phần nông thôn, đã không thể đáp ứng đủ

38
Bài viết chính sách VELP năm 2012 đã mô tả chi tiết các cấu trúc sở hữu này.
Khơi thông những nút thắt thể chế để phục hồi tăng trưởng
Trang 23/46
vốn theo quy định. Cách thức đơn giản nhất để các ngân hàng này tăng đủ vốn là cho vay các
doanh nghiệp liên kết để những doanh nghiệp này mua cổ phần tại các ngân hàng có cùng sở
hữu với ngân hàng đã cho vay. Vô hình trung, con nợ đã trở thành chủ sở hữu ngân hàng.
Tình huống tiêu biểu cho việc lách quy định này chính là việc NHTMCP Sài Gòn (SCB) cho
Vạn Thịnh Phát và các doanh nghiệp có liên quan vay vốn, sau đó Vạn Thịnh Phát và các
doanh nghiệp này dùng tiền vay được để góp vốn vào NHTMCP Tín Nghĩa (TNB) và

NHTMCP Đệ Nhất (FCB). Về mặt quan hệ sở hữu, cả ba ngân hàng SCB, FCB, TNB, và cả
Vạn Thịnh Phát đều thuộc một chủ sở hữu, chính vì vậy nên các yêu cầu về định giá và giám
sát các giao dịch vay mượn và góp vốn ở đây thường không được tuân thủ.

Th hai, sở hữu chéo vô hiệu hóa quy định về tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu (CAR). Hầu như các
ngân hàng đều có hệ số CAR cao hơn mức tối thiểu 9% theo quy định của NHNN, ngoại trừ
Agribank trong giai đoạn 2009 – 2011. Cá biệt, một số ngân hàng có hệ số CAR lý tưởng đến
mức phi thực tế như Ngân hàng Gia Định là 54,92% năm 2010), Ngân hàng Phát triển Mê
Kông (MKB) là 37,3% năm 2010, hay ngay cả SCB trước khi hợp nhất năm 2009 cũng lên
đến 50,2%. Thực tế cho thấy đây đều là những ngân hàng yếu kém. Liên quan đến việc tuân
thủ hệ số an toàn vốn tối thiểu (CAR), tình trạng sở hữu chéo hiện nay cũng giúp cho ngân
hàng đánh giá không đúng tài sản “Có” rủi ro, từ đó cũng làm tăng hệ số CAR một cách
không thực chất. Quy định hiện nay xếp danh mục các khoản cho vay để đầu tư chứng khoán
và kinh doanh bất động sản vào nhóm có hệ số rủi ro lên đến 250%. Trong thực tế, nhiều
ngân hàng đã cho vay một phần vốn đáng kể để đầu tư chứng khoán và bất động sản, thông
qua các công ty con, công ty liên kết. Tuy nhiên, do tình trạng sở hữu chéo làm cho việc đánh
giá mục đích cuối cùng của các khoản cho vay không hề dễ dàng, làm cho khoản vay có thể
được xếp vào nhóm ít rủi ro hơn. Rủi ro bị đánh giá thấp hơn cũng đồng nghĩa với việc hệ số
CAR không thể phản ánh đúng thực chất cái gọi là an toàn vốn của ngân hàng – một tiêu
chuẩn mà thông lệ quản trị ngân hàng trên thế giới quy định rất nghiêm ngặt.

Th ba, sở hữu chéo vô hiệu hóa quy định về giới hạn tín dụng. Luật pháp hiện hành quy
định ngân hàng chỉ được phép cho vay tối đa đối với một khách hàng không được vượt quá
15% và đối với một nhóm khách hàng có liên quan không được vượt
quá 25% vốn tự có của
ngân hàng. Con số 25% này được cho là quá lớn so với vốn của một ngân hàng và không đảm
bảo được nguyên tắc phân tán rủi ro trong cho vay. Với quy định này, thay vì lập một doanh
nghiệp, một người có thể lập nhiều doanh nghiệp để vay vốn ngân hàng, qua đó nâng giới hạn
cho vay từ 15% lên 25% một cách h
ợp pháp. Thậm chí, do trước đây việc định nghĩa tín dụng

không bao gồm trái phiếu kinh doanh nên nhiều ngân hàng thay vì cho vay truyền thống lại
chuyển qua mua trái phiếu do các doanh nghiệp thuộc cùng sở hữu phát hành, từ đó đẩy tỷ lệ
cấp vốn tín dụng thực tế lên rất cao. Ví dụ, năm 2011, LienVietPostBank không chỉ tạm ứng
cho Công ty Cổ phần Him Lam 1.961 tỷ đồng mà còn mua thêm 250 tỷ đồng trái phiếu của
chính công ty này, làm cho tỷ lệ cấp tín dụng đối với một khách hàng lên đến 33,54% so với
vốn tự có của ngân hàng này, vượt xa so với quy định 15% của NHNN.

Th , sở hữu chéo v
ô hiệu hóa quy định tách bạch hoạt động ngân hàng đầu tư ra khỏi hoạt
động của ngân hàng thương mại. Kinh nghiệm từ khủng hoảng tài chính ở Hoa Kỳ những
năm 1929 – 1933 và đặc biệt là cuộc khủng hoảng tín dụng dưới chuẩn 2007-2008 gần đây
cho thấy tính chất nguy hiểm của việc đan xen nghiệp vụ của ngân hàng thương mại với ngân
hàng đầu tư như thế nào. Ở Việt Nam, mặc dù luật hiện hành quy định các NHTM không
Khơi thông những nút thắt thể chế để phục hồi tăng trưởng
Trang 24/46
được trực tiếp kinh doanh chứng khoán nhưng vẫn được lập công ty chứng khoán để qua đó
gián tiếp kinh doanh. Tuy nhiên, luật cũng quy định ngân hàng không được cấp tín dụng cho
công ty trực thuộc là doanh nghiệp hoạt động kinh doanh chứng khoán và cũng không được
cho vay không có bảo đảm để đầu tư, kinh doanh chứng khoán. Thế nhưng, luật lại không
cấm ngân hàng cho vay đầu tư chứng khoán đối với các đối tượng khác mà chỉ giới hạn tổng
dư nợ cho vay và chiết khấu chứng khoán không được vượt quá 20% vốn điều lệ của ngân
hàng, chưa kể các trường hợp ngoại lệ không áp dụng.
39
. Tình huống đơn cử cho việc lách
quy định này chính là việc ACB trong năm 2010, thông qua việc sở hữu lên đến 19,52% cổ
phần tại Ngân hàng Đại Á (DaiABank), đã đầu tư 1.000 tỷ đồng trái phiếu của DaiABank,
nhờ đó Công ty Chứng khoán ACBS (thuộc sở hữu 100% của ACB) đã được rót vốn trở lại
700 tỷ đồng thông qua trái phiếu phát hành cho DaiABank nắm giữ.

Th , sở hữu chéo vô hiệu hóa các giới hạn góp vốn, mua cổ phần. Mặc dù quy định hiện

nay không cho phép ngân hàng dùng vốn huy động mà chỉ được dùng vốn điều lệ và các quỹ
để góp vốn, mua cổ phần; hơn nữa tỷ lệ góp vốn, mua cổ phần cũng bị giới hạn không quá
11% vốn điều lệ của đối tượng được góp vốn. Ngoài ra, luật cũng quy định tổng mức góp
vốn, mua cổ phần tối đa của ngân hàng trong tất cả các công ty trực thuộc không quá 25%
vốn điều lệ và quỹ dự trữ của ngân hàng. Tuy nhiên, thông qua các khoản đầu tư trái phiếu và
các khoản ủy thác đầu tư một cách trực tiếp, hoặc gián tiếp thông qua các công ty liên kết,
ngân hàng vẫn có thể kiểm soát được các doanh nghiệp, các dự án, và kể cả các ngân hàng
khác. Ví dụ như Ngân hàng Hàng Hải (MaritimeBank) mặc dù chỉ nắm giữ 10,2% vốn tại
Ngân hàng Mê Kông (MDB) nhưng thông qua Quỹ Tín Phát – nắm giữa đến 18,5% cổ phần
tại MDB – MaritimeBank vẫn có thể chi phối được MDB một cách dễ dàng.

Th sáu, sở hữu chéo vô hiệu hóa quy định về báo cáo chất lượng tín dụng và trích dự phòng
rủi ro. Tính đúng nợ xấu và quan trọng hơn nữa là minh bạch hóa nợ xấu là một đòi hỏi cần
thiết nhằm nâng cao trách nhiệm giải trình của ban quản trị ngân hàng trước cơ quan quản lý
và nhà đầu tư, đặc biệt là cổ đông thiểu số. Tuy nhiên nhiều ngân hàng đã thành lập các công
ty xử lý nợ (AMC) nhưng vai trò rất hạn chế, chủ yếu giúp các ngân hàng “làm đẹp” bảng
cân đối tài sản của mình. Thông qua AMC, các ngân hàng có thể lách quy định bằng cách ủy
thác cho AMC thu hồi nợ. Thông qua hợp đồng đồng ủy thác thu nợ này đã giúp ngân hàng
che dấu được khoản nợ xấu trên bảng cân đối kế toán của mình và thay vào đó bằng một
khoản mục khác có vẻ không liên quan đến nợ xấu – khoản phải thu. Tình trạng sở hữu chéo
cũng giúp ngân hàng dễ dàng nới lỏng các quy định về tiêu chuẩn thẩm định và giám sát
khoản vay, từ đó làm cho việc đảo nợ trở nên dễ dàng hơn, và việc đánh giá chất lượng tín
dụng cũng trở nên không thực chất. Các ngân hàng có thể chuyển các khoản nợ xấu thành tài
sản có khác thông qua việc chuyển nợ xấu sang các công ty con, công ty liên kết. Do nợ xấu
không được phản ánh đúng nên dự phòng không được trích lập đầy đủ, giúp chủ sở hữu ngân
hàng tránh được việc suy giảm lợi nhuận và cổ tức, nhưng rủi ro khi đó có nguy cơ sẽ dồn lên
vai người gửi tiền.

Tóm tại, tình trạng sở hữu chéo trên thực tế đã giúp một nhóm nhỏ các nhà đầu tư hay chủ sở
hữu doanh nghiệp sở hữu một hay nhiều các ngân hàng nói riêng, các tổ chức tài chính nói

chung. Các chủ sở hữu này đã biến các tổ chức tài chính thành công cụ huy động vốn của họ

39
Xem Điều 10, Thông tư 13/2010/TT-NHNN, quy định về các tỷ lệ đảm bảo an toàn trong hoạt động của các TCTD.
Khơi thông những nút thắt thể chế để phục hồi tăng trưởng
Trang 25/46
để đầu cơ vào tài sản như phân tích ở phần trên hay tạo ra những vụ thâu tóm, kinh doanh
lũng đoạn thị trường.

Những bất cập trong các giải pháp tái cơ cấu khu vực ngân hàng thương mại

Nợ xấu trong khu vực ngân hàng, cho dù không đến mức dẫn tới một sự đỗ vỡ mang tính hệ
thống, nhưng là gánh nặng vừa buộc ngân hàng phải nuôi nợ, vừa buộc doanh nghiệp có gánh
nặng nợ cao phải cắt giảm mọi kế hoạch kinh doanh để dồn lực trả nợ, trong khi những doanh
nghiệp mới không tiếp cận được tín dụng. Như những phân tích về DNNN, doanh nghiệp tư
nhân trong nước và nông nghiệp đã chỉ ra, xét trong ngn hn thì yếu kém trong khu vực
ngân hàng là nguyên nhân chính yếu dẫn tới tăng trưởng chậm trong những khu vực này.

Đề án tái cơ cấu hệ thống ngân hàng Việt Nam được công bố bằng Quyết định 254 của Thủ
tướng Chính phủ đã đưa ra nhiều giải pháp để xử lý nợ xấu ngân hàng. Có thể nói mọi kinh
nghiệm quốc tế về xử lý nợ đều được bao hàm trong Quyết định này. Điều này tạo cơ sở để
Ngân hàng Nhà nước có thể thực hiện nhiều phương án xử lý khác nhau nhưng nó lại không
cho ta biết thứ tự ưu tiên rõ ràng. Nếu tổng hợp lại có thể thấy được hai hướng xử lý nợ xấu:
dựa vào thị trường và dựa vào Nhà nước. Tuy nhiên, cả hai hướng này đang gặp phải những
vấn đề rất bật cập.

Th nht, gii pháp da vào th  tái cu trúc các ngân hàng y
nghiêm trng và phc tp ca tình trng s hu chéo

Cho đến trước thời điểm thành lập công ty xử lý nợ xấu, nỗ lực tái cấu trúc hệ thống ngân

hàng tập trung vào việc xử lý các ngân hàng yếu kém theo cách làm sao để không phải dùng
tiền của nhà nước. Trước hết, các ngân hàng yếu kém phải tự tái cấu trúc nếu các cổ đông
hiện hữu có thể tăng vốn góp. Nếu không được, thì tái cấu trúc phải được thực hiện bằng sự
tham gia của nhà đầu tư bên ngoài thông qua mua bán, hợp nhất hay sáp nhập. Sau cùng, nếu
cả hai phương trên đều không khả thi thì Nhà nước sẽ chỉ định tổ chức bên ngoài tham gia tái
cấu trúc ngân hàng yếu kém.

Đúng theo nguyên tắc tuyệt đối không dùng tiền của nhà nước, để tái cấu trúc thành công đòi
hòi huy động được tiền thực của khu vực tư nhân (trong hay ngoài nước). Nếu tiền thực của
khu vực tư nhân không có, mà vẫn phải thực hiện mua bán, hợp nhất hay sáp nhập trên hình
thức, thì tiền ảo của khu vực tư nhân phải được sử dụng. Điều đó có nghĩa là tái cơ cấu các
ngân hàng yếu kém sẽ làm gia tăng tính nghiêm trọng và phức tạp của tình trạng sở hữu chéo
hiện nay, nếu không muốn nói là phi dùng s hu  tái cu trúc ngân hàng.

Từ năm 2012, NHNN đã xác định 9 ngân hàng được cho là yếu kém và cần phải tập trung xử
lý. Các biện pháp xử lý chủ yếu là mua bán hoặc sáp nhập, trong khi một số ngân hàng áp
dụng biện pháp tự tái cơ cấu. Trong số 9 ngân hàng này, đã có 8 ngân hàng đã được xử lý
hoặc đã được phê duyệt phương án tái cơ cấu, nhưng vẫn còn một ngân hàng vẫn chưa có
động thái tái cơ cấu nào. Điều này cho thấy việc tái cơ cấu chỉ tính trong nhóm các ngân hàng
yếu kém đang diễn ra rất chậm so với yêu cầu. Kết quả này không chỉ sẽ làm giảm tính hiệu
quả của việc tái cơ cấu bản thân các ngân hàng này mà còn cản trở tiến trình tái cơ cấu cả hệ
thống ngân hàng nói chung. Điều quan trọng hơn nữa chính là một số cách thức xử lý các

×