Tải bản đầy đủ (.pdf) (125 trang)

Tài liệu Luận văn " NHỮNG BIẾN ĐỘNG TRONG GIÁ DẦU THÔ TRÊN THỊ TRƯỜNG THẾ GIỚI THỜI GIAN VỪA QUA VÀ TÁC ĐỘNG CỦA NÓ ĐỀN NỀN KINH TẾ THẾ GIỚI " docx

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.2 MB, 125 trang )

Khoa Kinh Tế Ngoại Thương Hoàng Thị Hồng Hạnh - A3 - K38



TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA KINH TẾ NGOẠI THƯƠNG



KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP

ĐỀ TÀI:
NHỮNG BIẾN ĐỘNG TRONG GIÁ DẦU THÔ TRÊN THỊ
TRƯỜNG THẾ GIỚI THỜI GIAN VỪA QUA VÀ TÁC
ĐỘNG CỦA NÓ ĐỀN NỀN KINH TẾ THẾ GIỚI




Giáo viên hướng dẫn : ThS. Phạm Song Hạnh
Người thực hiện : Hoàng Thị Hồng Hạnh
Lớp : A3 - K38 - KTNT





HÀ NỘI - 2003




Khoa Kinh Tế Ngoại Thương Hoàng Thị Hồng Hạnh - A3 - K38



Trong quá trình thực hiện luận văn này, em
đã nhận được rất nhiều sự hướng dẫn và giúp đỡ
rất tận tình của các thầy cô giáo và các bạn. Em
xin bày tỏ lời cảm ơn chân thành nhất đến Cô
Phạm Song Hạnh cùng toàn thể các thầy cô giáo
trong khoa Kinh Tế Ngoại Thương - Trường Đại
học Ngoại Thương Hà Nội.
L
L


i
i


c
c


m
m


ơ
ơ
n

n





Khoa Kinh Tế Ngoại Thương Hoàng Thị Hồng Hạnh - A3 - K38

MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 6
CHƯƠNG I: TÌNH HÌNH THỊ TRƯỜNG DẦU MỎ THẾ GIỚI 1
I. Đặc điểm của sản phẩm dầu mỏ 1
1. Một số công dụng của dầu mỏ đối với sản xuất và đời sống con
người: 1
2. Quy luật cung cầu chi phối trên thị trường dầu mỏ: 4
3. Đặc tính chính trị xã hội và ảnh hưởng của dầu mỏ đến các mối quan
hệ kinh tế quốc tế 8
II.Thị trường dầu mỏ thế giới 12
1. Đặc điểm về nhu cầu dầu mỏ trên thế giới 12
1.1 Các yếu tố tác động đến mức tiêu thụ dầu mỏ trên thế giới: 12
1.2 Nhu cầu dầu mỏ thế giới 14
2.Đặc điểm về nguồn cung dầu mỏ trên thị trường thế giới 17
2.1 Các yếu tố ảnh hưởng đến nguồn cung dầu mỏ: 17
2.2 Tình hình cung cấp dầu của một số nước và tổ chức chính trên thị
trường thế giới và chính sách giá của OPEC: 17
2.3 Tình hình biến động của giá dầu mỏ trên thị trường 24
CHƯƠNG II: TÁC ĐỘNG CỦA GIÁ DẦU MỎ TĂNG TRÊN THỊ TRƯỜNG TRONG
GIAI ĐOẠN 2000 - 2003 ĐẾN NỀN KINH TẾ TOÀN CẦU 32
I. Tác động của giá dầu mỏ tăng đến tốc độ tăng trưởng kinh tế toàn cầu
32

II. Tác động của giá dầu mỏ tăng đến thị trường tài chính quốc tế 42
III. Tác động của giá dầu tăng đến một số nước và tổ chức 46
1. Tác động của giá dầu tăng đến kinh tế Mỹ 46
2.Tác động của giá dầu tăng đến khu vực EU: 53
3. Tác động của giá dầu tăng đến một số nước ở Châu Á 57
4.Tác động của giá dầu cao đến tổ chức các nước xuất khẩu dầu mỏ-
OPEC 65
Khoa Kinh Tế Ngoại Thương Hoàng Thị Hồng Hạnh - A3 - K38

5. Tác động của giá dầu tăng đến các nước xuất khẩu dầu mỏ ngoài
OPEC 71
6. Tác động của giá dầu mỏ tăng đến nền kinh tế Việt Nam 75
CHƯƠNG III: DỰ ĐOÁN GIÁ DẦU MỎ TRONG THỜI GIAN TỚI VÀ MỘT SỐ ĐỀ
XUẤT NHẰM KHẮC PHỤC NHỮNG TÁC ĐỘNG TIÊU CỰC ĐẾN NỀN KINH TẾ
THẾ GIỚI 79
I. Dự báo thị trường dầu mỏ trong thời gian tới 79
1.Dự đoán thị trường dầu mỏ trong năm 2004 79
2. Dự đoán tình hình thị trường dầu mỏ giai đoạn 2003 – 2020. 83
2.1 Dự đoán nhu cầu dầu mỏ của thế giới: 83
2.2 Nguồn cung cấp dầu trong giai đoạn tới. 88
II. Kinh nghiệm đối phó với giá dầu thô tăng của một số nước trên thế
giới, và một số đề xuất nhằm hạn chế và khắc phục những tác động
tiêu cực do biến động giá dầu gây ra đối với nền kinh tế thế giới 90
1. Kinh nghiệm và kế hoạch đối phó với tình trạng giá dầu thô tăng của
một số nước trên thế giới 90
2. Một số đề xuất nhằm hạn chế ảnh hưởng tiêu cực của giá dầu tăng đến
nền kinh tế thế giới: 95
III. Một số đề xuất nhằm hạn chế tác động tiêu cực và tận dụng những
lợi thế để thu lợi từ biến động tăng của giá dầu thô đối với nền kinh
tế Việt Nam 96

1.Một số đề xuất nhằm hạn chế tác động tiêu cực của giá dầu tăng đến
nền kinh tế Việt Nam 96
2. Một số đề xuất nhằm tận dụng lợi thế từ việc tăng giá dầu đối với Việt
Nam 99
KẾT LUẬN 101
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC

Khoa Kinh Tế Ngoại Thương Hoàng Thị Hồng Hạnh - A3 - K38


LỜI MỞ ĐẦU

Trong thời gian vừa qua, trên thị trường dầu mỏ thế giới liên tiếp xảy ra
những biến động về giá theo chiều hướng tăng lên. Giá dầu mỏ
1
đã nhảy vọt từ
13 USD/thùng vào năm 1999 lên đến mức 35- 36 USD/thùng vào đầu năm
2003. Các biến động này chủ yếu là do tình hình ở Trung Đông căng thẳng mà
điển hình và đặc trưng nhất là cuộc chiến tranh do Mỹ phát động nhằm lật đổ
chính quyền của Tổng thống Sadam Hussen. Do lo ngại những nguy cơ chiến
tranh làm ảnh hưởng đến nguồn cung dầu mỏ mà giá mặt hàng này đã leo thang
đến chóng mặt và gây ra nhiều tác động xấu đến tình hình kinh tế chính trị trên
thế giới.
Dầu mỏ là mặt hàng quan trọng, là nguyên liệu đầu vào cho nhiều ngành
để sản xuất ra các hàng hoá thiết yếu cho cuộc sống con người mà không loại
nguyên liệu nào thay thế được; do vậy những biến động của giá dầu, dù lớn hay
nhỏ, cũng đều gây tác động sâu sắc đến đời sống con người, không phân biệt
giàu nghèo, mầu da hay địa vị xã hội.
Chính vì có được vai trò trung tâm đối với nền kinh tế như vậy, nên giá cả

của dầu mỏ luôn luôn bị chi phối bởi các mưu tính kinh tế - chính trị của các thế
lực chủ chốt trên thị trường, sau đó mới đến sự chi phối của các quy luật cung -
cầu của thị trường. Xuất phát từ ý nghĩ cần phải xem xét những nguyên nhân
nào đã ảnh hưởng đến giá dầu mỏ, các quy luật kinh tế hay những mưu tính
chính trị đã chi phối thị trường này, giá dầu tăng cao có ảnh hưởng như nào đến
nền kinh tế thế giới, ai được lợi và ai bị tổn thương, cần những giải pháp gì để
hạn chế các tác động tiêu cực đó mà tôi đã chọn đề tài "Những biến động trong
giá dầu thô trên thị trường thế giới thời gian vừa qua và tác động của nó đến nền
kinh tế thế giới".

1
Trong bài khoá luận này giá dầu là giá trung bình của 3 thị trường: New York, Dubai, London. Tính giá
bằng đồng USD.
Khoa Kinh Tế Ngoại Thương Hoàng Thị Hồng Hạnh - A3 - K38

Mục đích của luận văn này là qua việc nghiên cứu lịch sử biến động của
giá dầu, đặc biệt là trong gian đoạn 2000- 2003, để hiểu được những vấn đề
mang tính nền tảng của thị trường này, rồi từ đó nêu ra những tác động của nó
đến nền kinh tế - thương mại toàn cầu và đề xuất một số giải pháp nhằm hạn chế
tác động tiêu cực tới nền kinh tế thế giới nói chung và nền kinh tế của các quốc
gia nói riêng trong đó có Việt Nam, đồng thời cũng nêu lên một số kiến nghị
nhằm giúp Việt Nam tận dụng được triệt để các lợi thế từ việc giá dầu tăng đó.
Để thực hiện mục đích này, luận văn được chia làm ba chương với nội
dung như sau:
Chương I: Khái quát thị trường dầu mỏ thế giới.
Chương II: Tác động của giá dầu mỏ biến động đến nền kinh tế thế giới.
Chương III: Dự đoán giá dầu mỏ trong thời gian tới và một số đề xuất
nhằm khắc phục những tác động tiêu cực đến nền kinh tế thế giới.
Thị trường dầu mỏ vốn là một thị trường đồ sộ và phức tạp trong khi
việc sưu tập tài liệu bằng tiếng Việt lại rất khó khăn, tài liệu chủ yếu là bằng

tiếng Anh, thêm vào đó là sự hạn chế về thời gian và trình độ hiểu biết của bản
thân tôi nên luận văn không thể tránh khỏi những sai xót, vì vậy tôi rất mong
nhận được sự góp ý của các thầy cô và các bạn.


Khoa kinh tế ngoại thương Hoàng Thị Hồng Hạnh-A3
K38A


1

CHƯƠNG I: TÌNH HÌNH THỊ TRƯỜNG DẦU MỎ THẾ GIỚI
I. ĐẶC ĐIỂM CỦA SẢN PHẨM DẦU MỎ
1. Một số công dụng của dầu mỏ đối với sản xuất và đời sống con
người:
Dầu thô là một mặt hàng nguyên liệu quan trọng đã và đang được buôn
bán sôi động trên thị trường thế giới hơn 100 năm qua. Do những tính chất lý -
hoá học đặc biệt và dưới tác động của khoa học kỹ thuật hiện đại từ dầu thô, con
người đã tạo ra rất nhiều sản phẩm hữu ích phục vụ đời sống sản xuất và sinh
hoạt của mình. Những ứng dụng hết sức phong phú, đa dạng của dầu mỏ đã biến
nó trở thành một nguyên liệu đầu vào thiết yếu cho hầu hết các ngành sản xuất.
Từ dầu thô qua quá trình tinh lọc và chế biến, người ta thu được các sản phẩm
chính sau
2
:
 Chất propan và chất butan (gọi là khí hoá lỏng )
 Chất naphtan (xăng thô), xăng chạy động cơ (xăng không chì, xăng cao
cấp, xăng thường )
 Chất kerosen (dầu phản lực), dầu hoả
 Chất gas- oil ( dầu diezen động cơ, diezel đốt lò), mazut nặng, FO ( dầu

cặn )
 Dầu nhờn, mỡ
 Chất dẻo
 Bitum ( nhựa đường), sáp cốc.
Những sản phẩm từ dầu thô này đã và đang hội nhập gần như vào từng
hoạt động hàng ngày của chúng ta, và đặc biệt là gắn liền với phần lớn các hoạt
động công nghiệp. Chúng tạo ra giá trị lớn của dầu thô, khiến cho dầu thô trở
thành một hàng hoá mang tầm chiến lược đối với nhiều quốc gia.
Mảng ứng dụng quan trọng cần được nhắc đến trước tiên của dầu mỏ là
ứng dụng về mặt năng lượng. Khó mà tưởng tượng nổi giao thông vận tải có
Khoa kinh tế ngoại thương Hoàng Thị Hồng Hạnh-A3
K38A


2

thể phát triển đến trình độ như ngày nay mà lại không có sự đóng góp của các
loại nhiên liệu như xăng, dầu diezel v.v , những sản phẩm gần như là lý tưởng
cho hoạt động của các loại động cơ, tiền đề cho sự ra đời các phương tiện giao
thông vận tải và máy móc công nghiệp hết sức đa dạng và phong phú như ngày
nay.
Ứng dụng về mặt năng lượng của dầu mỏ không chỉ ở chỗ dầu mỏ là
nhiên liệu cung cấp năng lượng cho các loại động cơ, mà nó còn là một nguồn
chất đốt. Những ứng dụng tạo nhiệt lượng của dầu mỏ đã bắt đầu từ thế kỷ 19
qua việc con người sử dụng dầu hoả trong nấu nướng, chất gas- oil dùng trong
sưởi ấm nhà cửa và dầu cặn (FO) để cung cấp nhiệt lượng cần thiết cho các lò
sinh hơi nước, các lò công nghiệp (lò nung gốm, sứ, xi măng, gạch ngói, nấu
thuỷ tinh, nấu luyện gang thép, lò hơi nhà máy điện, v.v ). Sở dĩ dầu mỏ nhanh
chóng được đưa vào ứng dụng trong mục tiêu đốt nóng là vì so với than/củi, tiêu
dùng dầu mỏ sạch sẽ, không có tro, xỉ, dễ dùng, dễ thao tác, dễ bảo quản và vận

chuyển, ngoài ra ít gây ô nhiễm môi trường hơn. Thêm vào đó, năng lượng sản
sinh ra từ việc đốt cháy dầu mỏ cao hơn nhiều lần các than đá.
Tuy 80- 90% sản lượng dầu khí thế giới khai thác được sử dụng cho mục
đích năng lượng – mảng ứng dụng quan trọng nhất của dầu mỏ nhưng ứng dụng
phi năng lượng của nó cũng không hề thua kém nếu xét về tính thiết yếu.
Chúng ta ai cũng biết rằng hễ có vận động là sẽ có ma sát, sẽ có mài mòn giữa
các bộ phận tiếp xúc với nhau. Để giảm thiểu vấn đề này, không có cách nào
hiệu quả hơn là sử dụng các loại dầu mỡ bôi trơn. Ngoài tác dụng bôi trơn để
giảm thiểu tối đa việc mài mòn do ma sát và làm các loại máy móc vận hành tốt,
dầu mỡ bôi trơn còn có tác dụng làm mát máy, làm kín và làm sạch bề mặt kim
loại tiếp xúc khi làm việc, giúp động cơ hoạt động ở hiệu quả tối ưu nhất. Chính
ứng dụng này đã mở cánh cửa thứ hai cho dầu mỏ vào ngành vận tải và cho
phép nó dần dần xâm nhập vào tất cả các ngành công nghiệp, gần như ở vào tất
cả các giai đoạn biến đổi của vật chất.

2
Theo "Dầu mỏ và ứng dụng cho đời sống con người" của PGS- TS Đinh thị Ngọ, 2000.
Khoa kinh tế ngoại thương Hoàng Thị Hồng Hạnh-A3
K38A


3

Bên cạnh những ứng dụng kinh điển nêu trên của dầu mỏ (nhiên liệu, chất
đốt, chất bôi trơn), chúng ta còn phải kể đến một ứng dụng nữa mà kể từ sau
Chiến tranh thế giới thứ hai, vị trí của nó đang ngày càng trở nên quan trọng, đó
là nguyên liệu của công nghiệp hoá chất.
Từ chất naphta của dầu thô, khi xử lý trong các bộ phận cracking- hơi
nước sẽ sinh ra các loại olefin (như etylen, propylen, butadien). Từ những phần
lỏng trong phản ứng này, người ta rút ra những chất thơm như benzen, toluen,

xylen. Olefin và các chất thơm là những chất trung gian lớn, về sau qua một loạt
các phản ứng sẽ sinh ra những sản phẩm mà từ nay sẽ là những chất cần thiết
cho công nghiệp hiện đại như chất dẻo, tơ lụa tổng hợp, cao su tổng hợp, các
chất tẩy rửa tổng hợp v.v
Chính những hỗn hợp dầu mỏ khác nhau cũng được dùng để sản xuất
amoniac, để từ đây người ta chế tạo ra các loại sản phẩm phân bón nitơ và các
loại phân bón khác cần thiết cho nông nghiệp hiện đại. Chỉ cần xét đến tính đa
dạng của các sản phẩm tổng hợp và những công dụng rất phong phú của nó
trong đời sống hàng ngày của chúng ta là có thể đánh giá được tầm quan trọng
của những khối lượng lớn dầu mỏ dùng trong hoá dầu (3 % số lượng tiêu thụ tại
Mỹ và 10 % tiêu thụ tại châu Âu).
Ngoài ra dầu mỏ còn hàng chục những ứng dụng thứ cấp khác có liên
quan đến hoá học. Dầu mỏ cung cấp một lượng lớn các chất dung môi, xăng
trắng hoặc xăng đặc biệt, dùng để chế tạo các loại sơn và vecni công nghiệp, để
lấy những chất béo, để hoà tan cao su, để tẩy vải vóc. Parafin có trong một số
dầu thô có hàm lượng đáng kể được dùng làm nến, giấy và bìa, diêm và ngay cả
chất nổ. Nhiều loại kem đánh bóng hoặc những chất bảo dưỡng, nhiều loại sản
phẩm chống nấm mốc, thuộc diệt trừ sâu bọ cũng là những sản phẩm có nguồn
gốc từ dầu mỏ. Nhờ có bitum lấy từ dầu mỏ mà gần 50 năm nay, kỹ thuật rải
đường đã bước vào những bước phát triển rất lớn, cho phép chúng ta có được hệ
thống xa lộ, giao thông đô thị hoặc các sân bay bến cảng hiện đại như ngày nay.
Bitum còn dùng để bảo vệ các mái nhà, để tẩm giấy bìa dùng làm bao bì hoặc để
Khoa kinh tế ngoại thương Hoàng Thị Hồng Hạnh-A3
K38A


4

bảo vệ. Và cuối cùng là cốc dầu mỏ, một sản phẩm phụ của quá trình lọc dầu
chủ yếu dùng để sản xuất các điện cực được tiêu thụ trong ngành điện, luyện

kim và công nghiệp nhôm.
2. Quy luật cung cầu chi phối trên thị trường dầu mỏ:
Cũng giống như các hàng hoá khác trên thị trường, dầu mỏ chịu sự chi phối
bởi quy luật cung- cầu. Tuy nhiên, khi nghiên cứu về dầu mỏ, người ta nhận ra
những đặc điểm đặc biệt sau đây đã ảnh hưởng rất nhiều đến giá cả mặt hàng này:
 Dầu mỏ là mặt hàng được giao dịch trên thị trường với khối lượng lớn
và ổn định, giá trị giao dịch cao.
 Dầu mỏ có tính thiết yếu đối với đời sống con người, khó có khả năng
thay thế trong ngắn hạn.
 Giá của dầu mỏ luôn bị chi phối bởi các mưu tính kinh tế- chính trị
của các thế lực chủ chốt trên thị trường, sau đó mới là sự điều tiết của
thị trường.
Do có những tính chất đặc biệt quan trọng đối với đời sống con người
nên quy luật cung cầu
3
chi phối nó cũng mang những nét đặc biệt riêng có của
nó.
Trước hết, xem xét mối quan hệ giữa nhu cầu và giá cả của dầu mỏ:
Đối với các hàng hoá thông thường, một trong những nguyên tắc cơ bản đầu tiên
của kinh tế học là "Tăng giá một hàng hoá thì khách hàng sẽ tiêu thụ hàng hoá
đó ít hơn và người tiêu dùng sẽ cố gắng hạn chế tiêu dùng một cách hiệu quả
nhất. Hay nói cách khác, nếu giá tăng thì lượng cầu sẽ giảm và nếu giá giảm thì
lượng cầu sẽ tăng lên.". Nhưng đối với mỗi loại hàng hoá lại bị quy luật này chi
phối một cách khác nhau. Đối với mặt hàng dầu mỏ, sự biến động về giá ảnh
hưởng rất ít đến độ biến động về lượng cầu trong ngắn hạn. Nói cách khác, trong
ngắn hạn, độ co giãn của cầu theo giá là rất ít, và người tiêu dùng sẽ phản ứng

3
"The Dynamic Effects of Aggregate Demand, Supply and Oil Price Shock" của H.C.Bjornland, Manchester
School, 11/2000.

Khoa kinh tế ngoại thương Hoàng Thị Hồng Hạnh-A3
K38A


5

rất chậm đối với những thay đổi của chi phí năng lượng. Ta có phương trình về
độ co giãn của lượng cầu so với giá (the price elasticity of demand) như sau:
1
%
%




P
Q
E
d
d

Để giải thích cho việc độ co giãn nhỏ (inelasticity) của cầu theo giá ta có
những luận điểm sau:
 Khi giá tăng người tiêu dùng có xu hướng hạn chế tiêu dùng làm cho lượng cầu
giảm xuống, tuy nhiên đối với dầu mỏ thì xu hướng hạn chế tiêu dùng này có
xảy ra nhưng trong ngắn hạn là không rõ ràng vì dầu mỏ là một hàng hoá thiết
yếu cho nhiều ngành công nghiệp, là nguồn cung cấp năng lượng chính cho đời
sống con người như đã trình bày ở mục 1. Đối với những ứng dụng mang tính
năng lượng khi giá nhiên liệu tăng người ta tìm cách sử dụng các nguồn năng
lượng khác thay thế như tăng cường việc sử dụng than đá, năng lượng mặt trời,

năng lượng gió, năng lượng nước, năng lượng hạt nhân v.v Tuy nhiên, việc tìm
ra các nguồn năng lượng thay thế là rất tốn kém và đòi hỏi sự đầu tư lâu dài .
Thêm vào đó, từ trước đến nay nguồn nhiên liệu cung cấp năng lượng chính vẫn
là từ dầu mỏ, tỷ trọng của dầu mỏ trong tổng mức năng lượng của thế giới là khá
cao và các nhà khoa học dự đoán tỷ trọng này vẫn tiếp tục duy trì ở tỷ lệ cao.
Theo thống kê của cơ quan năng lượng Hoa Kì, năm 2002 dầu mỏ chiếm tới
hơn 40% nhu cầu tiêu dùng của toàn thế giới. Năm 2003, tỷ lệ này vẫn được duy
trì ở mức ổn định là 41,5%. Trong hai thập kỉ tới dự tính nhu cầu dầu mỏ dùng
làm năng lượng sẽ duy trì như bảng 1 sau:
Bảng 1: Cơ cấu năng lượng tiêu dùng của thế giới
Đơn vị: %
1998 2000 2010 2020
Dầu mỏ 41,3 41,3 40,3 39,2
Khí gas tự nhiên (LPG) 22,2 22,4 24,1 26,6
Nhiên liệu dạng rắn 26,2 26,1 26,3 25,8
Năng lượng nguyên tử 10,4 10,3 10,3 8,5
Khoa kinh tế ngoại thương Hoàng Thị Hồng Hạnh-A3
K38A


6

Tổng số 100,0 100,0 100,0 100,0
Nguồn: Báo cáo của OWEM tháng 9/2002.
Việc sử dụng dầu mỏ làm nhiên liệu đặc biệt là để làm chất đốt và dùng để
sưởi ấm đã trở thành một thói quen từ hàng trăm năm nay nên việc thay đổi thói
quen này là rất khó không thể trong một thời gian ngắn được nên khi giá dầu mỏ
tăng thì người ta không dễ gì giảm được lượng cầu xuống nhanh bằng cách thay
đổi các thói quen tiêu dùng.
Việc giảm mức tiêu thụ năng lượng còn có thể thực hiện bằng cách thay

thế các thiết bị tiêu thụ năng lượng tốn kém bằng việc sử dụng các thiết bị tiết
kiệm năng lượng hoặc các vật dụng tiêu thụ ít năng lượng, tuy vậy giải pháp này
trong ngắn hạn cũng không khả thi lắm hoặc có thể thực hiện được thì tỷ lệ năng
lượng tiết kiệm được cũng không đáng kể mà việc thay đổi toàn bộ thiết bị đang
dùng bằng các thiết bị khác là rất tốn kém và không mang lại hiệu quả kinh tế
cao trong ngắn hạn.
Về mặt ứng dụng phi năng lượng và dùng làm nguyên liệu cho các ngành
công nghiệp hoá chất thì như đã trình bày trong mục 1 gần như không có gì thay
thế cho các sản phẩm chế xuất từ dầu mỏ được do cấu tạo lý hoá đặc biệt của các
chất có trong dầu mỏ. Tóm lại giá dầu tăng có thể làm lượng cầu giảm đi nhưng
không đáng kể.
 Khi giá dầu mỏ giảm thì lượng cầu cũng không tăng lên một cách đáng kể được vì
khi đó chính phủ các nước nhập khẩu chính sẽ tăng thuế nhập khẩu đánh vào mặt hàng
dầu mỏ và các sản phẩm có nguồn gốc từ nó nhằm phục vụ chính sách tiết kiệm năng
lượng và khuyến khích các dự án nghiên cứu phát hiện các nguồn năng lượng mới thay
thế. Khi giá dầu tăng, người tiêu dùng sẽ nhanh chóng hạn chế mức tiêu thụ nhưng khi
giá dầu giảm xuống người tiêu dùng không làm điều ngược lại. Giá dầu giảm xuống sẽ
dẫn tới việc sử dụng các nguồn năng lượng khác thay thế ít hơn chứ không loại bỏ
chúng hoàn toàn và không thể làm cho người tiêu dùng thay đổi ngay những thiết bị tiết
kiệm năng lượng hoặc bỏ thói quen sử dụng năng lượng một cách tiết kiệm. Mà khi giá
dầu thấp lại ảnh hưởng trực tiếp tới mức thu nhập từ dầu của các nước xuất khẩu vốn đã
Khoa kinh tế ngoại thương Hoàng Thị Hồng Hạnh-A3
K38A


7

bị thấp đi rất nhiều do lạm phát trong nước và do sự mất giá của đồng USD Mỹ. Như
vậy, giá dầu giảm có thể làm nhu cầu về dầu tăng nhưng tăng không đáng kể.
Tóm lại, trong ngắn hạn độ co giãn của cầu theo giá là rất nhỏ.

Xét về mối quan hệ giữa lượng cung và giá: Khi nhà sản xuất xem xét
một thị trường, nếu thấy giá hàng hoá đó có chiều hướng tăng lên thì người ta sẽ
cung cấp nhiều hàng hoá hơn ra thị trường, còn khi giá hàng hoá có xu hướng
giảm xuống nhà cung cấp sẽ có xu hướng cắt giảm lượng cung nhằm điều tiết
kéo giá lên về mức cân bằng. Khi xem xét về quan hệ giữa lượng cung và giá
của dầu mỏ thì thấy có hiện tượng:
 Khi giá dầu mỏ tăng cao, lượng cung không tăng đáng kể
 Khi giá dầu mỏ thấp, lượng cung không giảm đáng kể
Hay ta có phương trình sau:
1
%
%




P
Q
E
s
s

Có hiện tượng độ co giãn của cung theo giá (the price elasticity of supply) nhỏ
như vậy là do chỉ số này chịu ảnh hưởng của các nhân tố sau:
 Nguồn cung: Nguồn cung dầu mỏ của thế giới bị giới hạn bởi sự phân bố
nguồn tài nguyên này. Chỉ ở một số nước thuộc khối OPEC và một số nước khác
ngoài khối, mà OPEC lại chiếm ưu thế lớn về cả trữ lượng lẫn sản lượng nên
nguồn cung của thế giới bị phụ thuộc nhiều vào tổ chức này. Từ năm 1986, các
nước OPEC đã quyết định duy trì hạn ngạch (quota) song song với mức cầu trên thị
trường nhằm duy trì chính sách giá cao của mình. Từ đó đến nay, tổ chức này

thường xuyên có những đợt cắt giảm sản lượng để ổn định giá dầu ở mức cao. Xét
khi giá dầu lên cao, do quy luật cung cầu chi phối, lượng cung càng ít thì giá càng
leo thang, do vậy khi giá tăng thì sản lượng của OPEC tăng lên không đáng kể.
 Một nguyên nhân khách quan nữa mà ta cũng cần xem xét là khi giá
tăng lên cao thì mức cung của toàn thế giới nói chung và của OPEC
4
nói riêng

4
OPEC là tổ chức các nước xuất khẩu dầu mỏ, viết tắt của Organisation of Petroleum Exporting Countries, là
một cartel dầu mỏ thành lập năm 1960. Hiện nay có 11 nước thành viên gồm: Algieria, Indonesia, Iran, Iraq,
Libya, Nigieria, Qatar, Saudi Arabia, UEA, Venezuela.

Khoa kinh tế ngoại thương Hoàng Thị Hồng Hạnh-A3
K38A


8

cũng không tăng lên được nhiều do công suất khai thác của các nước xuất khẩu
đã gần như đạt mức tối đa và việc phát hiện ra các mỏ mới đòi hỏi mất nhiều
thời gian và tiền của. Điều này được thể hiện ở phụ lục 6 .
Theo dự tính của Cơ quan năng lượng quốc tế (IEA) thì chỉ có Nga và Arab
Saudi là có thể tăng sản lượng thêm đáng kể, nhưng Arab Saudi lại là thành viên
quan trọng nhất trong OPEC, họ không thể vị lợi ích trước mắt của riêng quốc gia
mình mà lờ đi lợi ích của cả một tổ chức đằng sau. Cho nên khi giá cao thì lượng
cung không tăng đáng kể. Xét khi giá giảm, lượng cung cũng không giảm đi được
vì khi đó doanh thu của các nước xuất khẩu sẽ bị tác động trực tiếp. Đây là một
vấn đề rất nhạy cảm với các nước này, nó sẽ làm cho ngân sách của họ thiếu hụt,
thu nhập từ dầu mỏ vốn đã thấp do lạm phát trong nước và do sự mất giá của đồng

Đôla Mỹ nay lại càng trầm trọng hơn, do đó dù thế nào đi nữa họ cũng không thể
thu hẹp sản xuất và giảm bớt lượng cung.
Tóm lại, do dầu mỏ là một hàng hoá đặc biệt, có độ co giãn cung cầu
của nó theo giá rất nhỏ, nên khi giá dầu tăng mạnh thì lượng cung và cầu
vẫn duy trì ở mức ổn định.
3. Đặc tính chính trị xã hội và ảnh hưởng của dầu mỏ đến các mối quan hệ
kinh tế quốc tế
5

Sản xuất dầu mỏ là một ngành có độ rủi ro cao nhưng lại mang lại lợi nhuận
lớn nếu khai thác thành công. Đó là nguồn "vàng đen" của quốc gia nào có nó. Với
chi phí sản xuất chỉ khoảng 2 –3 USD/thùng ở khu vực Trung Đông và chỉ khoảng
8- 9 USD/thùng ở khu vực Bắc Mỹ trong khi giá bán trên thị trường thế giới lại
thường xuyên ở mức cao trên 20 USD/thùng, từ năm 2000 trở lại đây giá thường
xuyên được duy trì ở mức 22 – 28 USD/thùng nên lợi nhuận thu được là khổng lồ và
là không tưởng đối với các ngành công nghiệp khác. Xuất phát từ nguồn lợi nhuận
khổng lồ đó mà các công ty tư bản tranh nhau các khu vực sản xuất trên thế giới, các
quốc gia kiên quyết đấu tranh giành lại quyền kiểm soát nguồn tài nguyên dầu khí

5
"The Political Economy of International Oil" của G. Phillip, 1995 và "The Political Economy of World Energy:
A twentieth century Perspective" của J.G. Clark,1991.
Khoa kinh tế ngoại thương Hoàng Thị Hồng Hạnh-A3
K38A


9

của mình, các nước lớn luôn luôn tìm cớ để can thiệp vào các khu vực có nguồn tài
nguyên này. Cũng từ đó nảy sinh ra các vấn đề mang tình chính trị ảnh hưởng đến thị

trường dầu mỏ như các vấn đề về chính sách duy trì giá cao của OPEC, các chính
sách cấm vận đối với Iraq, các cuộc đình công xảy ra ở Vênêzuêla, ở Nigiêria đầu
năm 2003 và đặc biệt nhất là cuộc chiến ở Iraq đã gây nên nhiều sóng gió trên thị
trường dầu mỏ thế giới. Có hai vấn đề chính trị rõ rệt ảnh hưởng đến thị trường dầu
mỏ cần đề cập ở đây là: Chính sách định giá mang tính chính trị của OPEC và cuộc
chiến tranh nhằm vào Iraq thời gian vừa qua do Mỹ phát động.
Thứ nhất, xem xét vấn đề định giá dầu mỏ của các nước xuất khẩu dầu mỏ
(Organisation of Petroleum Exporting Countries) gọi tắt là OPEC
6
. Đây là một
chính sách định giá mang đậm màu sắc chính trị, ẩn sau nó là các mưu tính kinh tế -
chính trị của các quốc gia này. Để trang trải cho các khoản chi tiêu của quốc gia mà
các nước OPEC luôn duy trì mức giá cao theo kiểu: Tổng chi phí thường xuyên
của Arab Saudi là: 46,9 triệu USD; tổng chi phí về vốn là 7,0 triệu USD nên tổng
chi phí là 53,9 triệu USD, tổng thu nhập từ xuất khẩu các sản phẩm không phải là
dầu mỏ là 11 triệu USD, doanh thu từ dầu mỏ ước tính theo giá thị trường hiện tại
là 30,9 triệu USD ở mức sản lượng 7,5 triệu thùng/ngày như vậy thì thâm hụt chi
tiêu lên tới 12 triệu USD, để tránh những thâm hụt đó nước này phải nâng giá lên ít
nhất ở mức 22 USD/thùng. Hoặc để trả nợ khoảng 2 triệu USD hàng năm thì giá
phải ở mức 26 USD/thùng. Đó là cách định giá của OPEC trong khi giá tính theo
chi phí (Bảng chi phi sản xuất và giá bán dưới đây) nếu điều kiện thị trường
cạnh tranh tự do chỉ là 5- 6 USD/thùng. Như vậy giá dầu không do quy luật cung
cầu chi phối mà lại do chính sách của các quốc gia có nó quy định theo hướng phi
thị trường.
Hình 1: Tổng chi phí cung cấp dầu mỏ của các nước Trung Đông

6
OPEC là một cartel dầu mỏ thành lập năm 1960. Hiện nay có 11 nước thành viên gồm: Algieria, Indonesia,
Iran, Iraq, Libya, Nigieria, Qatar, Saudi Arabia, UEA, Venezuela.
Khoa kinh tế ngoại thương Hoàng Thị Hồng Hạnh-A3

K38A


10

0 2 4 6 8 10 12 14 16
$/boe
Gas-To-Liquids
Gas-To-Liquids
outlook
International Majors
Canada
Unconventional Oil
Russia
Major Middle East
Producers
Major Middle East oil producers have a supply cost



Nguồn: World Energy Outlook, 2001, Insights.
Một ví dụ khác rất điển hình và đặc trưng đó là cuộc chiến tranh
7
do Mỹ
phát động nhằm vào Iraq trong thời gian cuối 2002 – đầu 2003. Giá dầu đã leo
thang khủng khiếp từ 22 USD/thùng lên 35 – 36 USD vì lo sợ nguy cơ nguồn
cung của thế giới gián đoạn do chiến tranh. Nhưng vấn đề cần nói ở đây là việc
Mỹ dùng chiêu bài chính trị để can thiệp vào khu vực vùng Vịnh nhằm kiểm
soát nguồn cung dầu của thế giới. Viện cớ Iraq tàng trữ và phát triển vũ khí giết
người hàng loạt mà Mỹ, Anh đã tấn công Bátđa. Thực chất là nhằm lật đổ chính

quyền của Tổng thống Sadam Hussein, xây dựng nên một chính quyền mới thân
Mỹ do Mỹ hậu thuẫn nhằm mở đường cho những tập đoàn dầu mỏ hàng đầu
8

của Mỹ gồm: ExxonMobil, Chevron-Texaco, Amoco-Phillips, Arco tiếp cận các

7
Mỹ đưa ra lời đe doạ tấn công Iraq vào tháng 10/2002. Tháng 11/2002, các thanh sát viên vũ khí của Liên
Hợp Quốc quay lại Iraq làm thị trường dầu mỏ leo thang chóng mặt.
8
Theo "The Oil Companies in the International System" của L.Tuner trên Bussiness Week, 23/9/2002.
Khoa kinh tế ngoại thương Hoàng Thị Hồng Hạnh-A3
K38A


11

hợp đồng dầu mỏ béo bở mà trước đây không dành cho Mỹ. Chính các công ty
này đã đứng đằng sau tài trợ cho chính quyền Bush tấn công Iraq và hiện nay
đang tìm cớ gây áp lực với Iran. Khi Mỹ tấn công vào Iraq, điều đầu tiên họ bảo
vệ không phải là những người dân vô tội mà là những giếng dầu. Âm mưu muốn
thôn tính và nắm quyền bá chủ nguồn cung dầu mỏ của thế giới của các công ty
dầu mỏ của Mỹ đã rất rõ ràng, chính họ đã là các thế lực để dựng nên tổng thống
Bush và chính họ cũng đã không tiếc tiền của để tài trợ cho cuộc chiến tranh phi
nghĩa này. Liệu các tỷ phú dầu mỏ còn đang âm mưu gì đối với Iran khi mà Iran
và Iraq đều bị xếp vào tam giác ma quỷ của Mỹ, lại một mưu tính kinh tế ẩn
dưới chiêu bài chính trị của các thế lực chủ chốt trên thị trường dầu mỏ chăng?
Dầu mỏ là nhân tố không nhỏ ảnh hưởng đến các mối quan hệ kinh tế
quốc tế.Trước hết, dầu mỏ là sợi dây nối các nước xuất khẩu dầu mỏ OPEC
thành một tổ chức kinh tế quốc tế hùng mạnh nhất và thành công nhất trên thế

giới từ trước đến nay. Mục đích của tổ chức này là phối hợp và thống nhất giữa
các thành viên để đảm bảo giá dầu công bằng và ổn định cung cấp dầu đầy đủ.
Do có chung lợi ích từ nguồn dầu mỏ mà 11 nước gồm Iran, Iraq, Arab Saudi,
Indonesia, Vênêzuêla, Kuwait, Nigiêria, Liby, Quata, Algieria, và Các tiểu
vương quốc Arab (UEA) đã liên kết nhau lại để đảm bảo lợi ích của tổ chức
được tối ưu nhất. Tuy nhiên, chính lợi ích từ dầu mỏ lại làm cho nhiều mối quan
hệ kinh tế quốc tế bị rạn nứt và đổ vỡ. Chẳng hạn các cuộc chiến tranh Iran -
Iraq những năm 1980, hay cuộc chiến tranh Iraq- Kuwait vào những năm
1990. Gần đây nhất là cuộc chiến tranh ở Iraq đã làm cho các mối quan hệ Nga -
Mỹ, Pháp - Mỹ có nhiều rạn nứt.
Tóm lại, dầu mỏ là một mặt hàng có tính chính trị sâu sắc, nó bị chi
phối mạnh mẽ bởi các chính sách đối nội cũng như đối ngoại của các quốc
gia, nó vừa là sợi dây liên kết các mối quan hệ kinh tế quốc tế bền vững lại
vừa là ngòi nổ cho các cuộc xung đột, các cuộc nhằm kiểm soát và lũng
đoạn thị trường này.
Khoa kinh tế ngoại thương Hoàng Thị Hồng Hạnh-A3
K38A


12

II.THỊ TRƯỜNG DẦU MỎ THẾ GIỚI
1. Đặc điểm về nhu cầu dầu mỏ trên thế giới
1.1 Các yếu tố tác động đến mức tiêu thụ dầu mỏ trên thế giới:
Dầu mỏ là nguyên liệu đầu vào cho ngành công nghiệp lọc dầu. Tuy
nhiên, ở quy mô thế giới, tổng nhu cầu tiêu thụ về dầu mỏ luôn biến động cùng
nhịp với tổng nhu cầu tiêu thụ các sản phẩm dầu. Chính vì vậy mà các yếu tố
ảnh hưởng đến tổng cầu về dầu mỏ chính là các yếu tố tác động đến mức tiêu
thụ các sản phẩm dầu. Các yếu tố đó gồm
9

:
 Tình hình tăng trưởng kinh tế: Là một yếu tố gần như mang tính quyết định tới
nhu cầu về dầu mỏ.Với các nước mới bước vào hoặc đang trong giai đoạn công
nghiệp hoá thì nhu cầu về dầu mỏ cho các ngành như giao thông vận tải, công
nghiệp, xây dựng, và cả sản xuất nông nghiệp tăng với tốc độ cao. Còn ở các nước
công nghiệp phát triển thì vấn đề tự động hoá cao trong các hoạt động sản xuất
cũng như trong sinh hoạt xã hội đòi hỏi phải tiêu thụ rất nhiều năng lượng. Mà như
phần trước chúng ta đã biết, dầu mỏ và các sản phẩm từ nó tham gia sâu rộng vào
đời sống và sản xuất của con người, do đó nhu cầu về năng lượng tăng thì tất yếu
nhu cầu về dầu mỏ tăng. Điều này giải thích tại sao có hiện tượng nhu cầu dầu mỏ
của các nước OECD lại cao như vậy, tại sao nó lại trở thành một thị trường tiêu thụ
truyền thống cũng như xu hướng thị trường tiêu thụ chính về dầu mỏ sang các
nước Châu Á - Thái Bình Dương như hiện nay. Điều đó được thể hiện ở tình hình
tiêu thụ dầu mỏ theo hai nhóm nước OCED và Non-OECD
10
dưới đây:
Bảng 2: Nhu cầu tiêu thụ của các nhóm nước
Đơn vị: triệu thùng/ngày
Nhu cầu 2001 2002 Q1/02 Q2/02 Q3/02 Q4/02
OECD
11
47,7 47,7 48,0 46,4 47,8 48,7
Non-OECD 28,3 29,3 28,7 29,4 29,3 29,9

9
Theo "Forecasting Crude Oil Spot Price, Demand and Using OECD Petroleum Inventory Levels" của Michael
YE, John Zyren, Joanne Shore, 11/2002.
10
Các nước không thuộc tổ chức hợp tác phát triển kinh tế.
11

OECD là các nước trong tổ chức hợp tác phát triển kinh tế, hiện nay bao gồm cả Hàn Quốc, Mexico, Balan
và cộng hoà Séc.
Khoa kinh tế ngoại thương Hoàng Thị Hồng Hạnh-A3
K38A


13

Tổng 76,0 76,4 76,3 75,1 76,4 77,7
Nguồn: EIA và CGES
 Dân số: Là yếu tố cơ bản thứ hai quyết định lượng cầu về các sản phẩm dầu
theo một nước. Một nước có thể tiêu thụ dầu tính theo đầu người nhỏ hơn rất
nhiều so với các nước khác nhưng tổng lượng tiêu thụ hàng năm của nó vẫn
có thể lớn hơn nếu nó có quy mô dân số lớn ví dụ như trường hợp của Trung
Quốc và Ấn Độ.
 Giá dầu cũng là yếu tố gây những ảnh hưởng nhất định đến việc tiêu thụ dầu
mỏ. Nhìn chung, khi giá dầu mỏ tăng và/hoặc giá các sản phẩm dầu tăng cao
sẽ dẫn tới xu hướng các quốc gia hạn chế mức tiêu dùng của mình bằng cách
đưa ra những chính sách tiết kiệm năng lượng và chuyển hướng sang tiêu thụ
các sản phẩm khác thay thế cho dầu mỏ như than đá, năng lượng gió, năng
lượng mặt trời, năng lượng từ nước, năng lượng nguyên tử. Điều này đã được
minh chứng trong lịch sử những năm 1973 – 1974 hay những năm 1979-
1980. Kết quả là lượng dầu tiêu thụ đã giảm hẳn, hay làm giá dầu hạ xuống
như năm 1986. Tuy vậy trong ngắn hạn thì giá dầu tăng hay giảm mạnh thì
nhu cầu vẫn tương đối ổn định vì dầu mỏ là mặt hàng thiết yếu và khó thay
thế.
 Mức tiêu thụ còn bị ảnh hưởng bởi chính sách năng lượng của các nước.
Chính sách này thường được cụ thể hoá qua chính sách thuế quan đánh vào
mặt hàng dầu mỏ và/hoặc các sản phẩm có nguồn gốc dầu mỏ hoặc qua việc
thực hiện các dự án phát triển các nguồn năng lượng khác, hay những phát

minh ra các thiết bị máy móc tiết kiệm năng lượng v.v.
 Ngoài ra cũng phải kể tới một yếu tố khách quan tác động đến mức tiêu thụ
dầu mỏ là tình hình thời tiết. Vào mùa đông, mức tiêu thụ dầu ở các nước
nói chung đều tăng để phục vụ nhu cầu sưởi ấm. Những đợt rét kéo dài và bất
thường trên thế giới luôn được xem là "đồng minh" của các nước xuất khẩu
dầu vì khi đó nhu cầu lên cao.
Khoa kinh tế ngoại thương Hoàng Thị Hồng Hạnh-A3
K38A


14

 Tình hình biến động trong mức dự trữ chiến lược của các nước lớn (xem
phụ lục 13) như Mỹ, Nhật Bản, Nga cũng ảnh hưởng đến nhu cầu về dầu
mỏ. Chẳng hạn như hiện nay các kho dự trữ chiến lược của Mỹ đang ở mức
thấp nhất trong lịch sử như vậy nhu cầu làm đầy các kho này là rất cao do đó
nhu cầu sắp tới cho dầu thô là rất lớn.
1.2 Nhu cầu dầu mỏ thế giới
Đối với đời sống con người, dầu mỏ là một trong 5 loại năng lượng thiết
yếu bên cạnh than đá, khí thiên nhiên, năng lượng nguyên tử và thuỷ điện. Nếu
như trong suốt thế kỷ 19, than đá chiếm vị trí độc tôn trong cán cân năng lượng
thế giới thì sang thế kỷ 20, vị trí này đã phải nhường cho dầu mỏ lên ngôi (Xem
bảng 1).
Tỉ trọng của dầu mỏ đã không ngừng gia tăng trong cán cân năng lượng
của từng quốc gia cũng như toàn thế giới. Từ chỗ chỉ chiếm chưa tới 5% tổng tiêu
thụ năng lượng thế giới vào năm 1900, thì đến thập kỷ 60 nó đã lên tới 65%, năm
1974 là 57,5%, năm 1988 là 56% và từ đó đến nay tỷ trọng này thường xuyên duy
trì ở mức 40%; trong khi đó tỷ trọng của than trong cán cân năng lượng giảm đi từ
90 - 95% xuống còn 32% rồi còn 28,5% trong cùng thời gian đó. Điều đó cũng
thể hiện mức tăng nhanh và đều đặn mức tiêu thụ dầu mỏ trên thế giới. Năm 1900

nhu cầu tiêu thụ của toàn thế giới chỉ khoảng 20 triệu tấn thì sau 70 năm con số
này đã lên tới 1851 triệu tấn gấp hơn 90 lần; năm 1983 là 2764,9 triệu tấn; năm
1993 là 3121,4 triệu tấn và năm 2003 dự tính mức tiêu thụ trên toàn thế giới sẽ đạt
tới 3827,1 triệu tấn. Theo tính toán của Ban thông tin của Cơ Quan Năng Lượng
Quốc Tế (Energy Information Administration/ International Energy Agency) thì
nhu cầu dầu mỏ của thế giới tăng hàng năm là 2,2%. Tính mức tiêu thụ theo thùng
(barrel) thì vào năm 1999 thế giới tiêu thụ 74,9 triệu thùng một ngày; vào năm
2000 mức này ở con số 76,03 triệu thùng, năm 2001 là 75,55 triệu thùng, năm
2003 dự tính con số này là 75,63 triệu thùng/ngày. Tình hình tiêu thụ của các
nước trên thế giới được thể hiện ở phụ lục 7.
Khoa kinh tế ngoại thương Hoàng Thị Hồng Hạnh-A3
K38A


15

Nhu cầu dầu mỏ tăng cao nhất là ở khu vực các nước đang phát triển ở
Châu Á, khoảng 3,7% hàng năm và chiếm tới 35% trong tổng mức tiêu thụ tăng
của thế giới. Các nước đang phát triển do nhu cầu dầu mỏ cho các ngành phục
vụ quá trình công nghiệp hoá nên nhu cầu tăng cao (Xem phụ lục 7). Nhu cầu
dầu mỏ thế giới tăng khá khiêm tốn trong năm 2001, chỉ tăng thêm khoảng
100.000 thùng/ ngày. Năm 2002 và 2003 lượng tăng này cũng khá nhiều khoảng
900.000 thùng/ ngày do giá dầu cao. Xét về khu vực tiêu thụ thì ngành giao
thông vận tải có nhu cầu dầu mỏ cao nhất, tiêu thụ khoảng 40% tổng nhu cầu
của cả thế giới và theo dự tính thì tỷ lệ này còn có xu hướng cao lên tới 55% vào
năm 2010. Xét theo nhu cầu của các khu vực trên thế giới thì tình hình như
sau:
12

 Khu vực Bắc Mỹ: Nhu cầu dầu mỏ của khu vực này tăng đều đặn hàng năm

khoảng 1,03 triệu thùng/ngày. Đây là khu vực có nhu cầu tăng lớn nhất trong
số các nước đang phát triển. Đối với Mỹ nước tiêu thụ dầu mỏ lớn nhất thế
giới thì nhu cầu hàng năm tăng là 1,5% trong những năm 1999 – 2003, và tỷ
trọng dầu mỏ trong cán cân năng lượng của Mỹ tăng từ 39,4 % năm 1999 lên
khoảng 39,7 vào năm 2004 theo dự đoán của Cơ quan Năng Lượng nguyên
tử quốc tế. Mức tiêu thụ dầu thô của Mỹ năm 2002 là 19,7 triệu thùng/ngày.
Lượng dầu thô và các sản phẩm từ dầu thô phải nhập khẩu vào năm 2002 là
11,4 triệu thùng/ngày tương đương 58% nhu cầu. Năm 2003 nhu cầu này sẽ
tăng thêm khoảng 500.000 thùng/ngày đạt con số 20,22 triệu thùng/ngày. Đối
với Canada nhu cầu dầu thô tăng 0,5 triệu thùng/ngày trong năm 1999 –2003,
và chủ yếu là phục vụ ngành giao thông vận tải. Còn ở Mêhicô, nhu cầu hàng
năm tăng 4.1%. Nhu cầu tiêu thụ của cước này hiện nay là 2,0- 2,6 triệu
thùng/ngày.
 Khu vực các nước Tây Âu: Dầu mỏ là nguồn năng lượng chủ yếu ở các
nước này, tuy nhiên tốc độ gia tăng của nhu cầu về mặt hàng này lại là thấp

12
Theo "World Energy Outlook, 2002" và theo số liệu trong báo cáo hàng năm của Cơ quan năng lượng quốc
tế ((EIA) tháng 1/2003.
Khoa kinh tế ngoại thương Hoàng Thị Hồng Hạnh-A3
K38A


16

nhất chỉ khoảng 0,6% năm. Năm 1999 nhu cầu dầu mỏ của các nước trong
khu vực này là 13,9 triệu thùng/ngày, năm 2001 con số này 14,8 triệu
thùng/ngày, năm 2002 là 15,01 triệu thùng/ngày, năm 2003 dự tính nhu cầu
là hơn 15 triệu thùng/ngày.
 Khu vực các nước công nghiệp Châu Á: Các nước công nghiệp ở Châu Á

gồm: Nhật Bản, New Zealand và Australia. Nhật Bản là nước có nhu cầu tiêu
thụ dầu mỏ lớn nhất khu vực chiếm tới 80% tổng nhu cầu trong vùng. Nhu
cầu của các nước này năm 1999 là 6,9 triệu thùng/ngày, năm 2000 là 7,2 triệu
thùng/ngày, năm 2002 con số này là 7,12 triệu thùng/ngày và dự tính vào
năm 2003 nhu cầu của khu vực sẽ là 7,52 triệu thùng (theo số liệu của IEA –
3/2003).
 Các nước đang phát triển ở Châu Á: Trung Quốc là nước tiêu thụ nhiều
nhất trong khu vực, vượt qua cả Nhật Bản trở thành nước tiêu thụ lớn thứ hai
thế giới chỉ sau Mỹ. Với nhu cầu cho ngành giao thông vận tải tăng nhanh
nhu cầu dầu mỏ nước này tăng hàng năm 4,3% tăng từ 4,3 triệu thùng năm
1999 lên 6,5 triệu thùng/ngày năm 2002 và nhu cầu này còn tăng lên khoảng
10,5 triệu thùng/ngày vào năm 2020. Sau Trung Quốc là đến Ấn Độ nước có
nhu cầu nhập khẩu khoảng 1,3 triệu thùng/ngày khoảng 1/3 nhu cầu tiêu
dùng trong nước.
 Khu vực các nước thuộc Liên Xô trước đây (the Former Soviet Union):
Sau khi Liên Bang Xô Viết sụp đổ vào năm 1991, nhu cầu dầu mỏ của khu
vực này giảm từ 8,3 triệu thùng/ngày còn 3,7 triệu thùng/ ngày vào năm
1999. Tuy nhiên từ sau khi phục hồi nền kinh tế sau năm 2000 nhu cầu về
dầu mỏ của các nước này đã tăng mạnh ở mức độ 3,7% hàng năm. Nhu cầu
hiện nay vào khoảng 6,5 triệu thùng/ngày.
Khoa kinh tế ngoại thương Hoàng Thị Hồng Hạnh-A3
K38A


17

2.ĐẶC ĐIỂM VỀ NGUỒN CUNG DẦU MỎ TRÊN THỊ TRƯỜNG THẾ
GIỚI
2.1 Các yếu tố ảnh hưởng đến nguồn cung dầu mỏ
13

:
Như chương I ta thấy, nguồn cung dầu mỏ có những nét đặc biệt riêng có
nên nó thường xuyên bị biến động. Nguồn cung chịu tác động của các nhân tố sau:
1. Nhân tố chính trị: Từ trước đến nay chính trị luôn luôn là nhân tố có
tác động cơ bản nhất và sâu sắc nhất tới mức cung dầu mỏ. Đó có thể là chính
sách tăng giảm hạn mức sản xuất của OPEC, chính sách định giá của OPEC,
chính sách hạn chế năng lượng của các nước nhập khẩu thông qua chính sách
thuế quan hay các chính sách cấm vận, tình trạng chiến tranh v.v.
2. Giá dầu: Giá dầu là động cơ cho các nhà sản xuất. Nếu giá dầu giảm
thì không khuyến khích các nhà sản xuất đầu tư vào thăm dò khai thác mới chứ
không làm giảm cung mạnh mẽ. Do đó giá dầu trên thị trường không tác động
nhiều đến mức cung trong ngắn hạn.
3. Kỹ thuật và chi phí: Trong sản xuất và khai thác dầu mỏ yếu tố kỹ
thuật là một yếu tố quan trọng. Việc phát hiện ra các kỹ thuật mới tiết kiệm chi
phí sẽ làm cho sản lượng khai thác tăng lên. Tuy nhiên do chi phí đầu tư cao nên
độ rủi ro trong khai thác sẽ tăng cao làm nhiều mỏ phải đóng cửa ngừng khai
thác gây ra tình trạng nguồn cung bị giảm xuống.
2.2 Tình hình cung cấp dầu của một số nước và tổ chức chính trên thị
trường thế giới và chính sách giá của OPEC14:
Dầu mỏ phân bố không đồng đều trên trái đất. Về điểm này thiên nhiên
đã ưu đãi một số vùng của lục địa châu Mỹ, phức hệ Nga – Sibia, vùng Trung
đông và một số vùng ở châu Phi, Tây - Bắc Âu và Đông Nam Á. Trong đó khu
vực Trung Đông là nơi có trữ lượng cao nhất, khoảng 75% sản lượng khai thác

13
Theo "The Political Economy of International Oil" của G Phillip, 1994, trích chương 10 " Oil Money and
Oil-Exporting countries"
14
"Managing the Oil Wealth: OPEC's windfalls and pitfalls" của J. Amuzegar, 1999 trích chương 4 "Windfall
Allocation and Adjustment Policies" trang 48-115.

Khoa kinh tế ngoại thương Hoàng Thị Hồng Hạnh-A3
K38A


18

của vùng được dành cho việc xuất khẩu, nhìn chung lượng dầu thô của vùng này
chiếm 40 - 45% tổng lượng dầu thô xuất khẩu thế giới. Tốc độ tăng sản lượng
của khu vực này cũng rất đáng quan tâm, đưa vùng này lên hàng thứ nhất thế
giới về mức sản lượng kể từ năm 1988. Về tình hình cung cấp dầu thô cho thế
giới tương ứng với lượng cầu theo các năm diễn biến xem phụ lục 1.
Nói chung là lượng cung tăng chậm và khá sát với lượng cầu. Sở dĩ có
hiện tượng như vậy là do sự có mặt của một số thế lực chủ chôt trên thị trường.
Tác nhân lớn nhất tác động đến lượng cung của thị trường dầu mỏ là sự ra đời
của tổ chức các nước xuất khẩu dầu mỏ – tên viết tắt là OPEC. Hoạt động của tổ
chức này gắn bó hết sức mật thiết với diễn biến của thị trường dầu thế giới.
Người ta thậm chí có thể nói rằng những động thái của thị trường dầu hầu như là
kết quả của việc áp dụng những chính sách về xác định giá, về quản lý sản xuất
(quota) của OPEC đối với các thành viên. Trong lịch sử OPEC đã đưa ra 3
chính sách giá cả – đó là: hệ thống định giá thống nhất, hệ thống
"netback", và hệ thống "basket". Thông qua các hệ thống giá này mà OPEC
đã duy trì tốt tổ chức của mình như một Các-ten hùng mạnh nhất và thành công
nhất trong lịch sử thế giới từ trước đến nay. Từ năm 1960, năm tổ chức OPEC ra
đời thị cục diện thị trường đã có nhiều thay đổi, Các-ten các công ty dầu mỏ
quốc tế không còn có thể tự ý đề ra những điều kiện sản xuất, tuỳ ý nâng giá hay
hạ giá. Mà giờ đây đã xuất hiện một Các-ten các nhà nước khổng lồ với mục tiêu
trước mắt là nâng giá dầu lên, lâu dài là giành lại về tay mình quyền kiểm soát
đối với nguồn dầu mỏ của họ. Sau đây chúng ta sẽ xem xét các chính sách giá
của OPEC
15

nhằm lũng đoạn thị trường dầu mỏ trong suốt những năm qua:
1. Trong thời gian 1970 – 1985 : Chính sách hệ thống giá chính thức
(Official Pricing System) được đưa ra dựa trên hệ thống giá niêm yết lưu hành
bởi các công ty dầu thế giới, nhưng có điều chỉnh và sửa đổi. Phương thức hoạt
động của hệ thống này là định giá dầu nhẹ A Rập sau đó lấy nó làm chuẩn để

15
"OPEC: Instrument of change" của I. Seymour,1999.
Khoa kinh tế ngoại thương Hoàng Thị Hồng Hạnh-A3
K38A


19

xác định giá của tất cả các loại dầu khác. Tuy nhiên khi đưa ra chính sách giá
này thì OPEC lại vấp phải một vấn đề là khó thống nhất mức chênh lệch giữa
giá của các loại dầu. Kể từ năm 70, OPEC đã nâng giá dầu lên cao để tận dụng
mức tiêu thụ cao, tạo điều kiện cho các nước thành viên thu được một nguồn lợi
lớn từ việc bán dầu. Tuy vậy, mức giá cao cũng mang lại cho OPEC một kết cục
không mong đợi đó là việc thị phần của tổ chức này thụt giảm nhanh chóng từ
56% năm 73 xuống còn 29% năm 85. Điều này làm cho doanh thu cũng giảm
xuống từ 131 tỷ USD còn 15,5 tỷ trong cùng thời gian. Vào năm 82, để đối phó
với tình hình này lần đầu tiên OPEC đã quyết định đưa ra hạn ngạch xuất khẩu
(quota) cho mỗi nước thành viên, đồng thời một lần nữa đẩy giá lên mức 34
USD/thùng.Các nhà lãnh đạo OPEC lập luận rằng: Độ co giãn của cầu đối với
giá là rất nhỏ, nên giá có lên cao một chút thì lượng cầu cũng không giảm đáng
kể; hơn nữa, bằng việc làm cho lượng cung trên thị trường thiếu hụt đi chút ít
thì thu nhập của các nước thành viên sẽ tăng tới mức tối đa, và ngoài ra sẽ vẫn
giữ nguyên được giá ở mức cao mà OPEC vừa đưa ra. Với quyết định này
OPEC đã tự ý cắt giảm sản lượng còn 18 triệu thùng/ngày trong khi vào năm 79

sản lượng là 30 triệu thùng ngày. Tuy nhiên việc đưa ra hạn ngạch đã không
đem lại kết quả như ý muốn, giá dầu đã giảm và thị phần của OPEC thị vẫn bị
sói mòn.
2. Giai đoạn 1985 – 1986: Nhằm nâng cao thị phần trên thế giới OPEC
đã áp dụng hệ thống giá "netback". Giá dầu thô được tính theo giá bán các sản
phẩm lọc dầu trừ đi các chi phí về vốn, vận chuyển, chi phí bảo hiểm, chi phí
điều hành v.v. và lợi nhuận biên của các công ty lọc dầu. OPEC đưa ra hệ thống
giá này với ý muốn khuyến khích các nhà máy lọc dầu mua nhiều dầu thô hơn
nữa vì với cách tính giá này thì các nhà sản xuất phải chịu mọi ảnh hưởng do giá
biến động. Cùng với chính sách này, OPEC nâng sản lượng khai thác lên từ mức
15,7 triệu thùng/ngày lên 18,45 triệu thùng/ngày và tính rằng bất cứ sự thâm hụt
nào về doanh thu của các nước thành viên do giá dầu hạ gây ra sẽ được bù đắp

×