Tải bản đầy đủ (.pdf) (171 trang)

ứng dụng yếu tố con người vào trong tổ chức hci

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (5.75 MB, 171 trang )




i

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ






Lê Trung Hiếu









ỨNG DỤNG YẾU TỐ CON NGƯỜI VÀO TRONG TỔ CHỨC HCI










LUẬN VĂN THẠC SĨ















ii

MỤC LỤC
MỤC LỤC i
Danh mục kí hiệu và viết tắt iv
Danh mục hình và bảng vi
MỞ ĐẦU 1
Chương I. VAI TRÒ CỦA CON NGƯỜI TRONG HỆ THỐNG TƯƠNG TÁC 4
1. 1. Nhận thức của con người và sự đa dạng trong nhận thức 4
1. 1. 1. Nhận thức của con người 4
1. 1. 2. Sự đa dạng trong nhận thức của con người 10
1. 2. Vai trò của ngôn ngữ và hình ảnh trong quá trình hình thành nhận thức 12

1. 2. 1. Các yếu tố của hình ảnh tác động lên bộ não con người 12
1. 2. 2 Mối quan hệ giữa hình ảnh và ngôn ngữ 19
1. 2. 3. Đặc điểm của hình ảnh ba chiều 28
1. 3. Hoạt động của con người trong quá trình hình thành nhận thức 29
1. 4. Sự suy nghĩ của con người 31
1. 5. Tương tác người người 42
1. 6. Cách tiếp cận của HCI đối với các vấn đề của con người 50
1. 7. Kết luận 57
Chương II. TƯƠNG TÁC NGƯỜI MÁY 59
2. 1. Lựa chọn thực đơn, các mẫu điền, và các hội thoại 60
2. 1. 1. Giới thiệu 60
2. 1. 2. Các kiểu thực đơn 61
2. 1. 3. Trình diễn các thư mục theo chuỗi 69
2. 1. 4. Thời gian phản hồi và tốc độ hiển thị 71
2. 1. 5. Sự di chuyển nhanh trên thực đơn 71
2. 1. 6. Bố cục của thực đơn 73
2. 1. 7. Các mẫu điền có sẵn 76
2. 1. 8. Kết luận 81
2. 2. Sử dụng các câu lệnh 81
2. 2. 1. Giới thiệu 81
2. 2. 2. Chức năng hỗ trợ nhiệm vụ của người dùng 83
2. 2. 4. Lợi ích của cấu trúc 86
2. 2. 5. Tên và viết tắt 88
2. 2. 6. Thực đơn các câu lệnh 89
2. 2. 7. Ngôn ngữ tự nhiên trong máy tính 89
2. 2. 8. Kết luận 92
2. 3. Tương tác với các thiết bị 92
2. 3. 1. Giới thiệu 92
2. 3. 2. Bàn phím và các phím chức năng 93
2. 3. 3. Các thiết bị trỏ 97

2. 3. 4. Nhận dạng giọng nói và số hóa 102
2. 3. 5. Hình ảnh và hiển thị đoạn phim 107
2. 3. 6. Máy in 108
2. 3. 7. Kết luận 109
Chương III. CÁC LỖI TRONG HCI VÀ THIẾT KẾ MỘT TRANG WEB CỤ THỂ 111
3. 1. Các lỗi trong HCI 111



iii

3. 1. 1. Lỗi về các phím điều khiển 111
3. 1. 2. Lỗi các hộp thoại 123
3. 1. 3. Các lỗi khác 132
3. 2. Thiết kế một giao diện cụ thể 144
3. 2. 1. Cách thiết kế cho trang chủ 145
3. 2. 2. Cách thiết kế cho trang các địa chỉ khó khăn 147
3. 2. 3. Cách thiết kế cho trang đóng góp 151
3. 2. 4. Cách thiết kế cho trang những tấm lòng nhân ái 153
3. 2. 5. Cách thiết kế trang tìm kiếm 153
3. 2. 6 Cách thiết kế trang diễn đàn 154
3. 2. 7 Cách thiết kế trang liên hệ 157
3. 3. Kết luận 157
KẾT LUẬN 159
TÀI LIỆU THAM KHẢO 161



iv


Danh mục kí hiệu và viết tắt
Tên Tiếng Anh Tên Tiếng Việt
Algol Tên một ngôn ngữ lập trình.
Alzhemeir Bệnh đãng trí (thường xuất hiện khi tuổi cao).
Camera Thiết bị để ghi hình.
Colbol Tên một ngôn ngữ lập trình
Cone Là một bộ phận thu nhận của cơ quan thị giác trên võng mạc được
kích hoạt bởi ánh sáng mạnh và mầu sắc.
DNA Acid deoxyribonucleic (viết tắt DNA) là một phân tử acid nucleic
mang thông tin di truyền
Edit Chỉnh sửa hay thay thế
Font Phông nền
Fortran Ngôn ngữ lập trình FORMULA TRANSLATOR
Ftp Giao thức truyển tải dữ liệu
HCI Human Computer Interaction – Tương tác người máy.
Help Trợ giúp
Html Ngôn ngữ đánh dấu siêu văn bản.
Http Giao thức truyền siêu văn bản
Hypothalamus Vùng não điều khiển thân nhiệt, đói, khát
Icon Biểu tượng.
Logic Đảm bảo tính có hệ thống
NLI Giao diện ngôn ngữ tự nhiên
NLQ Ngôn ngữ truy vấn tự nhiên
Nơron Là một bộ phận trong hệ thống thần kinh
Rod Là một bộ phận thu nhận của cơ quan thị giác được kích hoạt bới
ánh sáng yếu
Scrollbar Cuộn ngang.
Scrolling Cuộn dọc




v

Video Thiết bị để ghi hình
View Hiển thị.
Web Là một hệ thống mạng phức tạp được đan xen vào với nhau
Window Cửa sổ
World Wide Web Mạng lưới toàn cầu.






vi

Danh mục hình và bảng
Hình 1. 1. 1 Liệu âm thanh và ngôn ngữ có giúp chúng ta trong quá trình nhận thức hơn so với
thị giác không 4
Hình 1. 1. 2 Cấu tạo mắt con người 5
Hình 1. 1. 3. Không có bộ não liệu thị giác có thể hiểu được hình ảnh 6
Hình 1. 1. 4 Nhiều giả thuyết có thể được nêu lên về bức hình trên 6
Hình 1. 1. 5 Hình ảnh có thể giúp cho loài vật tăng cường khả năng nhận thức 8
Hình 1. 1. 6 Hiểu và biết thông qua các trạng thái suy nghĩ khác nhau 9
Hình 1. 1. 7 Loài vật có cần biết các quy luật để sinh tồn. 10
Hình 1. 1. 8 Hình ảnh thu nhận phụ thuộc nhiều vào nhận thức của con người 12
Hình 1. 2. 1 Mắt người cần có các yếu tố đặc biệt để xử lý thông tin. 13
Hình 1. 2. 2 Những hình ảnh đầu tiên được thu về 14
Hình 1. 2. 3 Quá trình tổng hợp diễn ra tại những hình ảnh đơn sơ nhất 15
Hình 1. 2. 4 Tác dụng của mầu sắc 15

Hình 1. 2. 5 Bố cục và độ sâu giúp con người xử lý dễ dàng hơn 16
Hình 1. 2. 6 Hoạt động của bán cầu não phải 20
Hình 1. 2. 7 Hoạt động của bán cầu não trái. 20
Hình 1. 2. 8 Bộ não không thể xử lý hết thông tin trong thời gian ngắn 25
Hình 1. 2. 9 Tác dụng của chữ viết 26
Hinh 1. 3. 1 Hình âm dương qua các thời kỳ được hiểu theo nhiều cách khác nhau 31
Hình 1. 4. 1. Não bộ 32
Hình 1. 4. 2. Tế bào thần kinh 32
Hình 1. 4. 3. Tế bào đệm 33
Hình 1. 4. 4. Bán cầu não trái 33
Hình 1. 4. 5. Cấu tạo của bộ não 33
Hình 1. 4. 6 Tiểu não 34
Hình 1. 4. 7. Các loại bộ nhớ 35
Hình 1. 4. 8 Giới hạn của bộ não con người 36
Hình 1. 4. 9 Sự thuận tiện trong quá trình xử lý thông tin. 37
Hình 1. 4. 10 Cách thức tổ chức dữ liệu 38
Hình 1. 4. 11 Hoạt động trao đổi thông tin của bộ não 39
Hình 1. 4. 12 Dữ liệu bên ngoài chiếm ưu thế, nỗi sợ hãi có thể che lấn tất cả 40
Hình 1. 4. 13. Môi trường bên ngoài không ảnh hưởng tới con người. 40
Hình 1. 4. 14 Nhận thức của con người bị đảo lộn 41
Hình 1. 5. 1 Các yếu tố ảnh hưởng đến con người. 46
Hình 1. 6. 1 L. S. Vygotsky, nhà xã hội học Liên xô cũ 50
Hình 1. 6. 2. Immanuel Kant, nhà triết học Đức 50
Hình 1. 6. 3 C. Marx, nhà triết học, tư tưởng 51
Hình 1. 6. 4 Sơ đồ của lý thuyết hoạt động 52
Hình 1. 6. 5 Mối liên hệ giữa các ngành. 56
Hình 2. 1. 1 Giao diện Pulldown. 60
Hình 2. 1. 2 Mỗi thực đơn có nhiều lựa chọn cho người sử dụng 63
Hình 2. 1. 3 Nhiêu lựa chọn có thể cùng lựa chọn được một lúc 63
Hình 2. 1. 4 Thực đơn dạng pop up 64

Hình 2. 1. 5 Một dạng thực đơn hai chiều 65
Hình 2. 1. 6 Một dạng thực đơn tìm kiếm theo thứ tự 65



vii

Hình 2. 1. 7 Các đường dẫn (mầu xanh) được gắn trong các đoạn văn bản 66
Hình 2. 1. 8 Nhiều thực đơn có thể được đặt trong một giao diện 67
Hình 2. 1. 9 Một thực đơn bản đồ của World Wide Web 68
Hình 2. 1. 10 Một mẫu bảng điền 76
Hình 2. 1. 11 Một mẫu kết hợp giữa danh sách và hộp combo 78
Hình 2. 1. 12 Một dạng hộp hội thoại 79
Hình 2. 3. 1 Bàn phím của Microsoft với đầy đủ các tính năng 94
Hình 2. 3. 2 Máy vi tính bỏ túi với bàn phím được thu gọn 94
Hình 2. 3. 3. Bàn phím được thiết kế lõm 95
Hình 2. 3. 4. Bàn phím điều khiển con trỏ dạng chữ T ngược 97
Hình 2. 3. 5. Bàn phím điều khiển con trỏ theo dạng hình sao 97
Hình 2. 3. 6 Bút điện tử 99
Hình 2. 3. 7 Màn hình tiếp xúc 99
Hình 2. 3. 8 Chuột một nút bấm và chuột hai nút bấm. 100
Hình 2. 3. 9 Joystick giúp cho người sư dụng di chuyển chuột dễ dàng 101
Hình 3. 1. 1. Lỗi phím mũi tên 111
Hình 3. 1. 2. Lỗi trong chương trình sắp xếp 112
Hình 3. 1. 3. Lỗi trong chương trình Visual Studio 112
Hình 3. 1. 4. Sự giới hạn trong lựa chọn 112
Hình 1. 3. 5 Lỗi thông báo về thời gian tải cho người dùng 113
Hình 3. 1. 6 Dùng thanh công cụ để hiển thị thực đơn 113
Hình 3. 1. 7 Lỗi khi chọn giá trị 113
Hình 3. 1. 8 Lỗi trong quá trình tích các lựa chọn 114

Hình 3. 1. 9 Lỗi không hiển thị đường dẫn 114
Hình 3. 1. 10 Không có hướng dẫn về các kiểu của trường 115
Hình 3. 1. 11 Lỗi trong thực đơn 115
Hình 3. 1. 12 Lỗi thứ tự của các trường. 115
Hình 3. 1. 13 Lỗi không nhất quán trong phần mềm. 116
Hình 3. 1. 14 Các sự trợ giúp không cần thiết 116
Hình 3. 1. 15 Lỗi trong cách xác định đường dẫn 117
Hình 3. 1. 16 Lỗi khi sử dụng các thanh trượt ngang. 118
Hình 3. 1. 17 Lỗi trong khi hiển thị 118
Hình 3. 1. 18 Lỗi khi thể hiện danh sách 118
Hình 3. 1. 19. Lỗi khi xuất hiện quá nhiều nút 119
Hình 3. 1. 20 Xuất hiện hỗ trợ lâu 119
Hình 3. 1. 21 Tổ chức không theo cấu trúc 120
Hình 3. 1. 22 Lỗi khi nhập số lượng quá nhiều 120
Hình 3. 1. 23 Lỗi lãng phí bộ nhớ 120
Hình 3. 1. 24 Lỗi trong chương trình duyệt Web 121
Hình 3. 1. 25 Lỗi không xuất hiện phím điều khiển 121
Hình 3. 1. 26 Lỗi khi lựa chọn chỉ dựa vào chuột 122
Hình 3. 1. 27. Lỗi khi lựa chọn chỉ dựa vào chuột 122
Hình 3. 1. 28. Lỗi khi lựa chọn chỉ dựa vào chuột 122
Hình 3. 1. 29 Lỗi khi thao tác với thực đơn 123
Hình 3. 1. 30 Lỗi trong chương trình sắp lịch. 123
Hình 3. 1. 31 Thiết kế thiếu sự định hướng 123
Hình 3. 1. 32 Lỗi trong chương trình Microsoft Word 124
Hình 3. 1. 33 Lỗi khi thể hiện Font 124



viii


Hình 3. 1. 34 Lỗi không nhất quán và lỗi chọn lựa 125
Hình 3. 1. 35 Lỗi số lượng các thanh quá nhiều trên hộp thoại 125
Hình 3. 1. 36 Lỗi số lượng các thanh quá nhiều trên hộp thoại 125
Hình 3. 1. 37 Lỗi số lượng các thanh quá nhiều trên hộp thoại 126
Hình 3. 1. 38 Lỗi số lượng mầu sắc quá nhiều 126
Hình 3. 1. 39 Một giao diện được thiết kế tốt 126
Hình 3. 1. 40 Lỗi khi thiết kế các thanh ẩn trên hộp thoại 126
Hình 3. 1. 41 Lỗi khi không hiển thị đầy đủ các thông tin 127
Hình 3. 1. 42 Lỗi không rành mạch về chức năng 127
Hình 3. 1. 43 Lỗi không rành mạch về chức năng 128
Hình 3. 1. 44 Lỗi về chức năng 128
Hình 3. 1. 45 Lỗi sách địa chỉ của IBM 129
Hình 3. 1. 46 Lỗi trong hộp thoại Sounds Properties 129
Hình 3. 1. 47 Lỗi không hỗ trợ người dùng 130
Hình 3. 1. 48 Lỗi khi đặt tên hộp thoại 130
Hình 3. 1. 49 Lỗi khi đặt tên hộp thoại 130
Hình 3. 1. 50 Lỗi trong cách thiết kế chức năng 131
Hình 3. 1. 51 Lỗi ngăn cản người sử dụng 132
Hình 3. 1. 52 Lỗi gán nhãn 132
Hình 3. 1. 53 Lỗi của phím Start 132
Hình 3. 1. 54 Thông báo mang tính khó hiểu 133
Hình 3. 1. 55 Thông báo mang tính khó hiểu 133
Hình 3. 1. 56 Lỗi trong chương trình xử lý ảnh 134
Hình 3. 1. 57 Sự không nhất quán trong các chương trình phần mềm. 134
Hình 3. 1. 58 Chuột có 3 nút bấm 134
Hình 3. 1. 59 Nút điều khiển trên chuột 135
Hình 3. 1. 60 Che mất chức năng điều khiển 135
Hình 3. 1. 61. Lỗi khi thiết kế thanh trượt 136
Hình 3. 1. 62 Một số thanh trượt được thiết kế tốt 137
Hình 3. 1. 63 Bố trí mầu sắc không hợp lý 138

Hình 3. 1. 64 Lỗi mầu sắc của các đường dẫn 139
Hình 3. 1. 65 Lỗi trong cách bố trí chương 140
Hình 3. 1. 66 Lỗi được khắc phục 140
Hình 3. 1. 67 Lỗi trong thiết kế thực đơn 141
Hình 3. 1. 68 Lỗi được khắc phục 141
Hình 3. 1. 69 Sự không nhất quán trong bố cục 142
Hình 3. 1. 70 Thật khó để phân biệt các hình ảnh trên 144
Hình 3. 2. 1 Giao diện của trang chủ 146
Hình 3. 2. 2 Thanh công cụ tìm kiếm trên mạng 147
Hình 3. 2. 3 Giao diện của thực đơn các địa chỉ khó khăn 148
Hình 3. 2. 4 Giao diện của trang các địa chỉ khó khăn 148
Hình 3. 2. 5 Giao diện của hình ảnh khi được xem 149
Hình 3. 2. 6 Nội dung chữ của trang các địa chỉ khó khăn. 150
Hình 3. 2. 7 Giao diện trang đóng góp 151
Hình 3. 2. 8 Giao diện của trường chọn tỉnh, thành phố 152
Hình 3. 2. 9 Giao diện của trường quyên góp 153
Hình 3. 2. 10 Giao diện thực đơn của trang những tấm lòng nhân ái 153
Hình 3. 2. 11 Giao diện trường từ khóa trong trang tìm kiếm 153



ix

Hình 3. 2. 12 Giao diện thực đơn cho trang diễn đàn 154
Hình 3. 2. 13. Giao diện của trang đăng ký thành viên 155
Hình 3. 2. 14 Giao diện của trang thảo luận 156
Hình 3. 2. 15 Nội dung của trang thảo luận 156
Hình 3. 2. 16 Bình luận của người dùng 157
Hình 3. 2. 17 Giao diện của trang liên hệ 157






1

MỞ ĐẦU
Công nghệ thông tin vẫn đang là một lĩnh vực khá hấp dẫn đối với nhiều người trong quá
trình học tập và nghiên cứu nhằm phát hiện ra những điều thú vị mới trong lĩnh vực này. Tuy
nhiên sự hấp dẫn bao nhiêu thì lại càng có nhiều thách thức đang chờ đợi chúng ta bấy nhiêu.
Kiến thức của khoa học là vô tận và con người không bao giờ có thể nắm bắt được hết cả. Cứ qua
mỗi thời kỳ thì các kiến thức khoa học lại tăng theo cấp số nhân. Công nghệ thông tin cũng
không phải ngoại lệ. Dù chỉ mới phát triển trong những năm gần đây tuy nhiên do những yêu cầu
của thực tế gần đây luôn đòi hỏi các kiến thức của các ngành khác nhau cần phải được liên kết lại
để giải đáp các yêu cầu của con người. Công nghệ thông tin ngày nay cũng phải liên kết với các
ngành khoa học khác để có thể phát huy hết được vai trò của mình cho các ứng dụng trong thực
tiễn và cuộc sống với con người là trung tâm của sự phục vụ đó. Tương tác người máy là một
trong những môn như vậy đòi hỏi phải kết hợp với các ngành khác để có thể tự hoàn thiện mình,
trước hết là đối với các ngành tâm lý nhận thức và thần kinh để hiểu rõ hơn về hoạt động của con
ngươi, sau đó là các ngành về kĩ thuật để hiện thực hóa các ý tưởng đó, ngoài ra cần có một số
ngành khác như tôn giáo, triết học, tâm lý đám đông, văn hóa, kinh tế, chính trị, luật pháp để có
thể giải mã các hành động của con người theo cấp độ tập thể.
Khoa học công nghệ nói chung và công nghệ thông tin đang bước vào giai đoạn hết sức
nhanh chóng và mạnh mẽ. Sức mạnh của khoa học kỹ thuật là điều đã được cả thế giới thừa nhận,
và từ lâu trong mỗi tiềm thức con người đã hình thành nên suy nghĩ: kĩ thuật là sức mạnh của con
người. Bắt đầu từ thế kỷ 18 tại một số nước văn minh Châu Âu và sau đó lan sang các nước khác
trên thế giới, khoa học kĩ thuật đã có rất nhiều đóng góp to lớn vào sự phát triển và tồn tại của
loài người, từ chỗ phụ thuộc hoàn toàn vào tự nhiên đến chỗ con người, mặc dù chưa thể làm chủ
hoàn toàn nhưng con người có thể tự đáp ứng được những nhu cầu về tồn tại và phát triển của
mình. Những thành tựu mà khoa học kĩ thuật đem lại trong vòng 2 thế kỷ qua còn lớn hơn tất cả

những gì mà loài người trước đó làm được. Mặc dù trong thế kỷ qua dân số của loài người tăng
lên rất nhanh nhưng đại bộ phận loài người vẫn có một cuộc sống chất lượng cao hơn rất nhiều so
với trước đó, từ việc đảm bảo nhu cầu về thực phẩm, quần áo, điện và nước sinh hoạt tất cả đều
rất dồi dào và phong phú, đảm bảo cho loài người tiếp tục tồn tại và phát triển. Trong sự đóng
góp to lớn của khoa học kĩ thuật đó thì công nghệ thông tin đóng một vai trò hết sức quan trọng.
Mặc dù sinh sau đẻ muộn nhưng công nghệ thông tin đã có những đóng góp hết sức to lớn, làm
thay đổi rất lớn cuộc sống của loài người từ phương thức hoạt động sản xuất và tư duy cho đến
cấu trúc của những tổ chức xã hội theo hướng tích cực nhất. Thông qua công nghệ thông tin con
người có thể tăng năng suất lao động của mình nhờ rút ngắn thời gian hoàn thành công việc và
tăng tính hiệu quả của từng giờ làm việc. Loài người vẫn sẽ tiếp tục tồn tại và phát triển, mặc dù
không được mãi mãi, và khoa học kĩ thuật nói chung cũng như công nghệ thông tin nói riêng vẫn
sẽ là một công cụ vô cùng hữu hiệu để con người thực hiện được điều đó. Và chúng ta mong chờ
nhiều điều tốt đẹp mà khoa học kĩ thuật mang lại cho loài người.



2

Nhưng liệu một mình khoa học kĩ thuật có thể làm được điều đó hay không? Câu trả lời là
hoàn toàn không. Trong hơn 2 thế kỷ phát triển vừa qua, con người đã quá phóng đại vào sức
mạnh của khoa học kỹ thuât, coi đó như là chìa khóa vạn năng để giải quyết các mâu thuẫn của
xã hội và loài người. Họ coi như việc phát triển khoa học kỹ thuật thông qua đó để tăng năng suất
lao động để rồi tạo nên nhiều sản phẩm cho xã hội là một bước đi cần phải thực hiện để có thể
xoa dịu các mâu thuẫn trong xã hội. Và đây là quan điểm sai lầm mà các thế hệ sau đang phải
gánh chịu rất nhiều những hậu quả khôn lường. Có thể liệt kê những vấn đề nghiêm trọng nhất
mà con người đang phải đối mặt là: phổ biến vũ khí hạt nhân, sự nóng lên của Trái Đất và các
mâu thuẫn về ý thức hệ. Trong 2 vấn đề đầu tiên khoa học kĩ thuật là tác nhân trực tiếp và đóng
vai trò gián tiếp trong vấn đề còn lại. Và cùng với sự phát triển cùa khoa học kỹ thuật thì các vấn
đề đó cũng càng ngày trở nên gay gắt hơn, quyết liệt hơn đe doạ đến sự tồn tại của loài người.
Bắt đầu từ năm 1945, khi vũ khí hạt nhân được phát minh thì Trái Đất bước sang một giai đoạn

mới không còn có thể tồn tại bất tử như trước được nữa. Cũng từ đó đến nay vũ khí này đã được
phát triển nhanh chóng cả về quy mô và mức độ tàn phá. Sự nóng lên của Trái Đất được nhiều
nhà khoa học đưa ra vào đầu thập kỷ 80 của thế kỷ trước do hậu quả của sự phát triển các nền
công nghiệp trên thế giới. Vấn đề này tuy không phá huỷ Trái Đất một cách nhanh chóng nhưng
khi đã xảy ra thì cũng không thể đảo lộn được nữa và đe doạ trực tiếp đến loài người. Vấn đề cuối
cùng xuất hiện trong khoảng 20 năm trở lại đây khi thế giới không còn bị chi phối mạnh mẽ bởi
hai siêu cường nữa, các quốc gia trong quá trình xác định lại bản sắc của chính mình đã tạo nên
một bầu không khí hết sức nóng bỏng khi những mâu thuẫn dần dần được hình thành và ngày
càng phát triển. Sự mâu thuẫn liên quan đến các vấn đề truyền thống, lịch sử, tôn giáo, hệ thống
chính trị, hệ thống luật pháp và văn hóa. Trong khi con người đang nỗ lực tìm ra các tiêu chuẩn
giá trị đạo đức chung cho toàn bộ loài người để có thể chung sống một cách hoà bình thì các mâu
thuẫn đó ngày càng gay gắt.
Là một bộ môn trong công nghệ thông tin, HCI (Human Computer Interaction–Tương tác
người máy) có nhiệm vụ chính là nghiên cứu sự tương tác của người và máy thông qua các
nghiên cứu về tâm lý học, sinh lý học, thần kinh học và hoạt động của máy tính để giúp cho
chúng ta hiểu rõ hơn hoạt động của con người trong quá trình tương tác với máy tính. Tuy nhiên
HCI cũng có một vai trò quan trọng không kém đó là nghiên cứu tương tác người và người thông
qua máy vi tính, nghiên cứu sự khác biệt giữa con người với nhau để rồi thông qua máy tính
những sự khác biệt đó được giảm nhẹ hoặc triệt tiêu. Để giải quyết đựoc vấn đề này chúng ta cần
có sự giúp đỡ từ các nhà nghiên cứu về xã hội đặc biệt trong đó là tôn giáo, triết học và văn hóa
truyền thống. Đây là vấn đề hết sức khó khăn nhưng lại vô cùng quan trọng, bởi vì bất kỳ một sản
phẩm vật chất hay tinh thần nào thì nhiệm vụ cuối cùng phải là phục vu sự tồn tại và phát triển
của loài người và HCI cũng không phải là ngoại lệ. Nếu như HCI không làm được điều này và
cùng với sự phát triển của Internet thì sự khác biệt đó ngày càng lớn thì con người sẽ đối mặt với
nguy cơ tự tiêu diệt lẫn nhau.



3


Do vậy trong phần tiểu luận này, tôi xin tập trung vào hai phần là đó là vai trò của con
người trong hệ thống tương tác và tương tác người máy. Phần thứ nhất sẽ tập trung giải quyết các
vấn đề của con người theo cơ chế sinh học, giải mã các hành động và ý nghĩ của con người một
cách tự nhiên như những gì đã tồn tại trong con người. Phần thứ hai sẽ tập trung giải quyết các
vấn đề về kĩ thuật và quá trình tương tác với máy tính thông qua các giao diện và phần mềm cụ
thể. Trong bất kỳ các hoạt động nào thì con người đều bị chi phối bởi ba yếu tố: yếu tố xã hội
(văn hóa, tôn giáo, kinh tế, chính trị) và yếu tố con người (tâm lý học, sinh lý học, thần kinh
học ) và yếu tố môi trường xung quanh tức là hoàn cảnh trong môi trường hiện tại. Hai yếu tố
đầu kết hợp vào với nhau, hoà quyện lại với nhau để hình thành tư duy trong bộ não của con
người, mặc dù mức độ tác động là có khác nhau đối với từng người khác nhau. Cùng với yếu tố
cuối cùng sẽ quyết định và chi phối hành động của con người. Trong tương tác người máy thì yếu
tố môi trường hiện tại đó chính là thiết bị phần cứng và chức năng của phần mềm.
Cụ thể, ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn được tổ chức thành 3 chương như
sau:
1. Chương 1: Vai trò của con người trong hệ thống tương tác, trong đó nêu lên cách
thức xử lý thông tin trong bộ não của con người và sự đa dạng trong nhân thức
của con người.
2. Chương 2. Tương tác người máy, trong đó nêu lên các kiểu tương tác, cụ thể là
thực đơn, câu lệnh và thiết bị.
3. Chương 3. Các lỗi trong HCI và cách thiết kế một trang Web cụ thể, trong đó nêu
lên các lỗi và ứng dụng các kết quả đạt được vào cách thiết kế một trang Web cụ
thể.



4

Chương I. VAI TRÒ CỦA CON NGƯỜI TRONG HỆ THỐNG
TƯƠNG TÁC
1. 1. Nhận thức của con người và sự đa dạng trong nhận thức

1. 1. 1. Nhận thức của con người
Nhận thức là một quá trình quan trọng trong sự phát triển của loài người, sở dĩ con người
có thể tồn tại cho đến ngày nay chính là do quá trình nhận thức của con người liên tục được cải
thiện và phát huy. Quá trình nhận thức có được nhờ thông qua các giác quan sau đó diễn ra trong
bộ não của con người. Trong bộ não quá trình phân tích và tổng hợp thông tin diễn ra liên tục làm
cho con người ngày càng có khả năng nhận thức về môi trường xung quanh. Trong 6 giác quan
của con người thì giác quan về thị giác là quan trọng nhất. Trên thực tế hình ảnh, âm thanh và
ngôn ngữ đều có mối quan hệ khá gần gũi với nhau. Ba yếu tố trên có thể chuyển hóa qua lại với
nhau, tức là con người chỉ cần tối thiểu có một giác quan để phân biệt để phân biệt được một
trong ba yếu tố trên, mắt để cho hình ảnh, tai cho âm thanh, tay để phân biệt chữ nổi và ngôn ngữ
cho quá trình truyền tải ý tưởng. Con người cần tối thiểu một trong ba giác quan trên để có thể
phát triển nhận thức của mình. Nhưng trong quá trình tương tác với môi trường thì thị giác đóng
một vai trò quan trọng. Một hình ảnh có giá trị bằng hàng ngàn lời nói. Mắt của chúng ta thu
nhận hình ảnh đặc sắc hơn rất nhiều so với tổng các yếu tố của hình ảnh đó gộp lại.

Hình 1. 1. 1 Liệu âm thanh và ngôn ngữ có giúp chúng ta trong quá trình nhận thức hơn so với thị
giác không
Điều đó thúc đẩy quá trình nhận thức của con người nhanh hơn và như theo bản năng con
người sẽ sử dụng cơ quan này để nhanh chóng thích nghi với môi trường. Các giác quan khác vẫn
phát triển cho quá trình nhận thức của con người tuy nhiên do không được sử dụng thường xuyên
nên không thể phát triển như cơ quan thị giác.
Mắt con người là một thiết bị đặc biệt và có cấu tạo khá phức tạp. Mắt con người cho
phép chúng ta tiếp nhận các hình ảnh từ môi trường bên ngoài và tổ chức lại thành các mô hình



5

bên trong bộ não của con người. Mắt của chúng ta có thể đánh giá được mầu sắc và kích cỡ, hình
dáng và vị trí, chiều sâu và khoảng cách. Mắt của chúng ta liên tục nhận những hình ảnh và tín

hiệu từ bên ngoài cho dù chúng ta có muốn hay không. Nhưng liệu mắt của chúng ta có thực sự
thu nhận hình ảnh mà không liên quan đến bộ não của con người? Liệu chúng ta có thể xác định
được các đặc điểm tự nhiên của quá trình thu nhận hình ảnh thông qua cơ quan thị giác? Liệu các
hình ảnh mà thị giác thu nhận nằm trên võng mạc hay đó chính là hình ảnh nguyên bản mà bộ
não đã tái xây dựng lại? Các hình ảnh trong giấc mơ là kích thích của cơ quan thị giác hay đó
chính là hình ảnh được lưu trong bộ não của chúng ta?

Hình 1. 1. 2 Cấu tạo mắt con người.
Các nhà khoa học luôn cố gắng mô phỏng mối quan hệ giữa thị giác và bộ não nhưng cho
đến nay kết quả của công trình trên còn hết sức khiêm tốn, do sự khó khăn gặp phải khi nghiên
cứu các chuyên ngành khác như tâm lý học, ngữ nghĩa, tâm sinh lý Tuy nhiên, các nhà nghiên
cứu đã chỉ ra rằng quá trình tương tác với môi trường luôn gắn liền với thị giác và bộ não. Thị
giác và bộ não có mối quan hệ chặt chẽ với nhau trong quá trình nhận thức của con người. Sự liên
kết ở đây là liên kết về chức năng, cấu trúc, và sinh lý học. Trên thực tế mắt của chúng ta vẫn có
thể nhìn mà không cần có bộ não tham gia vào quá trình nhận thức.
Tuy nhiên điều đó cũng có nghĩa mắt của chúng ta cũng chỉ giống như một chiếc camera
mà không có người điều khiển. Mặt khác bộ não của chúng ta nếu như không cơ quan thị giác thì
chúng ta cũng giống như bị mù và do vậy không thể thu nhận bất cứ hình ảnh nào về môi trường
xung quanh. Tất nhiên đi cùng với nó là quá trình nhận thức sẽ bị suy giảm đi rất nhiều vì các
thông tin đầu vào bị hạn chế và bộ não phải tự hoạt động một mình để có thể thu nhận các thông
tin mới mà không có sự kiểm chứng rõ rệt. Điều đó cũng dẫn đến cho chúng ta hai trường hợp đó
là nhìn và xem. Đây là hai trạng thái cơ bản trong quá trình xử lý thông tin trong bộ não con
người. Tuy có sự khác nhau về cách thức xử lý nhưng hai cách thức này có mối liên hệ nhất định
với nhau để giúp tăng cường trong quá trình nhận thức của con người. Sau đây chúng ta sẽ xem
xét rõ hơn hai cách xử lý trên.



6



Hình 1. 1. 3. Không có bộ não liệu thị giác có thể hiểu được hình ảnh
Hai trạng thái này là hoàn toàn khác nhau. Một người có thể nhìn bất cứ đâu vào bất kỳ
khoảng thời gian nào. Quá trình này cũng đơn giản như chiếc camera được đặt một vị trí nào đó,
tức là chỉ có quá trình thu nhận mà không có xử lý. Nhưng xem lại là quá trình khác hoàn toàn so
với nhìn và không phải lúc nào cũng xảy ra. Xem đồng nghĩa với việc phải nhận ra được đối
tượng, phản ứng và phân tích được các thông tin rút ra từ vật thể thông qua thị giác. Đối với con
người thì quá trình này cũng tương tự như khi con người bàn về các đối tượng một cách đầy đủ
và hiểu biết. Tóm lai, xem cũng giống như việc có thể nắm bắt được thế giới xung quanh thông
qua cơ quan thị giác, xem và hiểu về cơ bản là giống nhau.

Hình 1. 1. 4 Nhiều giả thuyết có thể được nêu lên về bức hình trên
Môi trường xung quanh nhìn chung đều mang đến một thông tin giống nhau cho tất cả
chúng ta tuy nhiên trong một số trường hợp các hình ảnh giống nhau lại được nhìn hoàn toàn
khác nhau và ngược lại các hình ảnh khác nhau lại mang cùng đến một thông tin giống nhau.
Điều đó cũng lý giải tại sao trong nhiều trường hợp, con người nhớ về các sự kiện khác nhau mặc
dù tất cả đều trải qua giống nhau. Các hình ảnh bên trong bộ não mà con người thu nhận được
phụ thuộc rất nhiều vào cách thức mà con người đó nhìn bức tranh như nào, về sự hiểu biết về
môi trường xung quanh chứ không chỉ đơn thuần chỉ là các những gì hiện hình lên trong cơ quan
thị giác.



7

Con cóc chỉ có hai nhiệm vụ đó là lấy thức ăn và tránh kẻ thù. Do vậy thế giới quan thị
giác của chúng vô cùng nghèo nàn. Sự chuyển động của các vật thể trong thị giác của con cóc
cuối cùng chỉ nhằm đáp ứng cho hai mục đích trên. Các vật thể lớn chuyển động là các kẻ thù,
còn các vật nhỏ chuyển động là các con mồi. Tương tự như vậy thì các con vật như chó và mèo
đều không có phản ứng gì trước hình ảnh của gương điều đó phản ánh rằng trong nhận thức của

chúng hình ảnh trong gương là không tồn tại. Tuy nhiên cũng có những con vật lại có thể sẵn
sàng tấn công vào các hình ảnh của nó hiện lên trong mặt nước, tức là nhận thức của chúng về
hình ảnh trong mặt hồ là hoàn toàn sai lạc.
Hình ảnh trong bộ não con người thu được còn phong phú hơn rất nhiều so với hình ảnh
thực tế của môi trường xung quanh chúng ta. Chúng ta có thể nhận được hình ảnh ngay cả khi
chúng ta không sử dụng thị giác ví dụ như chúng ta có thể tưởng tượng về thế giới khi nhắm mắt,
tập hợp các hình ảnh trong quá khứ, giấc mơ, đọc sách, hay nhìn vào các bức tranh hay quá trình
tưởng tượng một cách logic. Có rất nhiều các yếu tố có thể ảnh hưởng đến thị giác của chúng ta
từ thái độ quan sát cho đến vấn đề trình độ, từ tuổi tác cho đến vấn đề quốc tịch, văn hóa. Và như
vậy trong cùng một trường hợp con người có thể nhìn thấy nhiều sự khác nhau trong cùng một
hình ảnh giống nhau. Khi mà người thiết kế kiến trúc đang vội làm việc thì họ chỉ chú ý vào công
việc vào ngôi nhà mà họ đang thiết kế mà không chú ý đến các ngôi nhà xung quanh. Cũng như
những người du lịch chỉ chú ý đến các cảnh vật xung quanh, hay con người trong giai đoạn
trưởng thành thường chú ý đến những người khác giới có hình thức bắt mắt trong một đám
đông Vậy thì một điều cơ bản chúng ta đặt ra đó chính là liệu có bao nhiêu cách nhin khác nhau
khác nhau về môi trường xung quanh như vậy? Liệu chúng ta có thể nhìn mà không cần hiểu biết
về thế giới đó, liệu chúng ta có thể tưởng tượng đầy đủ theo sự mô tả. Tất cả các vấn đề trên đều
không được trả lời một cách rõ ràng và rành mạch nhưng điều đó cũng là một trong những trọng
tâm của vấn đề thị giác.
Bây giờ chúng ta sẽ xem xét vấn đề về sự phát triển nhận thức của con người thông qua
thị giác như thế nào. Trước tiên chúng ta thấy được rằng để có thể hiểu được một khái niệm nào
đó tức là chúng ta phải có thể lặp lại hoặc sử dụng lại được khái niệm đó. Ta hãy xem xét một ví
dụ như sau chúng ta quăng miếng thịt lên cao trước mặt một con chó. Để có thể lấy được miếng
thịt thì con chó phải xác định được vị trí chính xác của miếng thịt trên mặt đất mà không cần
quan tâm nhiều đến định luật của Newton hay là các định luật về không gian. Đối với con người
chúng ta hoàn toàn có thể tính toán được quỹ đạo bay cũng như vị trí chính xác của miếng thịt rơi
xuống điều đó đòi hỏi phải có một loạt các tham số cho quá trình tính toán. Tuy nhiên trong quá
trình sinh sống của mình khi mà có một người quăng một đồ gì đó lên trước mắt chúng ta thì
chúng ta sẽ có sự tiên đoán hay ước lượng quỹ đạo bay của vật thể đó mà không cần một sự tính
toán nào cả. Trước hết định luật Newton không giúp gì nhiều cho chúng ta. Mặt khác việc chuyển

động của vật thể trên rõ ràng tuân theo quy luật của định luật Newton trên. Không sử dụng định
luật trên chúng ta không thể xác định một cách chính xác khi nào và ở đâu vật thể sẽ rơi xuống
đất. Tuy nhiên chúng ta không quan tâm nhiều đến các quy luật đó. Điều đó chỉ ra cho chúng ta



8

rằng khi mà tiên đoán về hoạt động bay của vật thể chúng ta không nhất thiết phải hiểu về các
định luật phức tạp đó nhưng chúng ta vẫn có thể chụp bắt một cách chính xác vật thể như là
chúng ta sử dụng và hiểu thành thạo định luật Newton ở trên.
Con người hay cả động vật đều có khả năng sử dụng các hệ thống hình ảnh bên trong để
có thể tiên đoán được tương lai. Mô hình này có thể phản ánh chính xác hệ thống và các quan hệ
với của môi trường xung quanh. Mô hình này dùng để ước lượng các hành động và sau đó sẽ có
các hành động để phản ứng lại với điều kiện của môi trường đó ví dụ như là bắt một vật thể đang
chuẩn bị rơi. Các mô hình bên trong là các bản sao chép của thế giới bên ngoài được thực hiện
thông qua nhận thức của chúng ta. Sự sao chép chính xác về thế giới bên ngoài phản ánh rõ sự
hiểu biết của chúng ta về môi trường đó, điều đó cũng đồng nghĩa với việc để hiểu tức là chúng ta
có thể gợi nhớ và xây dựng lại được và nắm được thế giới tức là chúng ta phải hiểu rõ được các
quy luật một cách khoa học và chính xác, mặc dù đôi khi cũng do cảm giác.
Nhưng thông thường việc hiểu về thế giới thường gắn liền với việc mô tả đầy đủ chứ
không phải là với việc lặp lại. Điều đó cũng gắn liền với hai suy nghĩ của con người: suy nghĩ
logic và suy nghĩ trực quan thông qua hình ảnh. Hai suy nghĩ này trên thực tế không thể tái tạo
hay tạo ra được các vật thể mà chúng chỉ thao tác trên các khái niệm trừu tượng thuộc về các vật
thể và thiết lập các mối quan hệ giữa nguyên nhân và kết quả của hành động có thể xảy ra. Tại
cấp độ về logic này thì hiểu tức là có thể giải thích và miêu tả thông qua từ ngữ, và biết tức là có
thể thể hiện cách thức mà hoạt động đã được thực hiện, xây dựng được quy tắc và các luật của
chúng.

Hình 1. 1. 5 Hình ảnh có thể giúp cho loài vật tăng cường khả năng nhận thức

Theo cấp độ của trực quan bằng hình ảnh theo một cách hiểu khác thì hiểu đó chính là sự
đặc tả thông qua sự bắt chước mà không cần có bất kỳ miêu tả bằng lời nào. Các hình ảnh của
môi trường xung quanh tự bản thân nó không phản ánh một cách rõ ràng quy luật nào cả. Bởi vậy
tại cấp độ hình ảnh thì hiểu tức là có thể bắt chước lại, tạo ra được còn biết là có thể làm ra được
một cái gì đó.
Vậy thì nhận thức tại cấp độ hình ảnh sẽ diễn ra như thế nào? Liệu tự nhiên được phản
ánh như thế nào trong cấp độ về hình ảnh. Để trả lời câu hỏi này chúng ta chúng ta sẽ khảo sát
theo một cách đặc biệt của mô hình trên. Như trên chúng ta đã đề cập, hiểu được các quy luật của



9

môi trường xung quanh phải diễn ra trong cấp độ cao nhất của con người, có kế thừa từ tổ tiên
truyền lại. Thị giác của chúng ta có thể cho phép chúng ta thu nhận được các hình ảnh ba chiều,
cấu trúc của chúng phản ánh các luật cấu trúc trong thị giác của chúng ta. Khi mà có một vật
chuyển động trong thị giác của chúng ta, mắt của chúng ta quan sát theo những đặc điểm nổi bật
theo một tốc độ không đổi. Điều đó cho phép chúng ta có thể kết luận rằng đặc điểm của giác
quan là phản ánh các quy luật mà tất cả sự chuyển động của vật thể đều cố định và trực tiếp cho
đến khi có sự xen ngang của một vật thể khác làm cho quỹ đạo của vật thể này phải thay đổi.
Suy nghĩ trực quan Suy nghĩ logic
Biết Có khả năng áp dụng Xác định các qui luật
Hiểu Tạo lập, lặp lại Mô tả, giải thích
Hình 1. 1. 6 Hiểu và biết thông qua các trạng thái suy nghĩ khác nhau.
Như trên chúng ta thấy rằng đối với một số các vấn đề thì con người và loài vật chỉ có thể
biết tức là không thể giải thích được. Có một số vấn đề khác con người không những biết được
mà còn hiểu được một cách đầy đủ và giải thích được một cách cặn kẽ.
Vấn đề đầu tiên thường xuất hiện trong các vấn đề xã hội, đặc biệt là vấn đề tướng số và
bói toán, con người biết được quy luật xã hội và làm theo nhưng không thể giải thích được các
quy luật đó. Vấn đề thứ hai có trong các ngành khoa học kĩ thuật. Một yếu tố khác tham gia vào

quá trình nhận thức của con con người đó chính là khả năng có thể kết nối với môi trường xung
quanh. Trước hết điều đó làm cho chúng ta có thể nhớ lại các nguyên nhân và kết quả của các
hành động đã được quan sát.
Chúng ta cung quay trở lại đối với ví dụ của con chó. Nếu như chúng ta không ném
miếng thịt trước mặt nó mà chỉ giả vờ thì con chó có lẽ vẫn tìm kiếm miếng thịt đó ở trên mặt đất.
Điều đó cũng có nghĩa là con chó đã có sự kết nối giữa hình ảnh của miếng thịt trong bầu trời với
hành động mà miếng thịt đó rơi xuống đất. Con chó đã không nhìn thấy miếng thịt rơi xuống đất
nhưng phỏng đoán rằng hành động đó vẫn diễn ra ví dụ như là miếng thịt chắc chắn sẽ rơi xuống
và nằm ở đâu đấy trong mặt đất. Tuy nhiên để có thể nhớ lại hành động của miếng thịt rơi xuống
đó thì cần có một sự tổng hợp về các quá trình được diễn ra. Mặt khác thì con chó không phản
ứng một cách tương tự đối với con vịt bị thương hay là đối với một chiếc gậy.
Bởi vậy động vật có thể thu nhận được các quy luật của tự nhiên không bởi chỉ nhớ lại
các hiện tượng đã quan sát mà còn bởi sự phân loại giữa các hiện tượng đó với nhau. Chúng có
thể phân biệt một cách hệ thống từ các thực nghiệm cụ thể. Điều đó đòi hỏi cần phải có trí thông
minh.
Bây giờ chúng ta sẽ xem xét quá trình quy nạp tại cấp độ hình ảnh thì chúng ta có thể kết
luận rằng sự tổng hợp của quá trình thị giác đòi hỏi phải có sự chuyển đổi về mô hình các hình
ảnh từ vật thể nay sang một vật thể khác. Một miếng thịt nhỏ rơi thì điều đó cũng đồng nghĩa với
việc một miếng thịt to cũng sẽ rơi. Một cái kẹo cũng có thể rơi và cuối cùng tất cả các loại thực
phẩm đều có thể rơi. Một thực thể trong mô hình này có thể thay thế bằng một thực thể khác hay
thậm chỉ cả một lớp thực thể.



10


Hình 1. 1. 7 Loài vật có cần biết các quy luật để sinh tồn.
Việc hình thành nên một hình ảnh thường dẫn đến việc xác lập một loạt các hình ảnh khác
xuất hiện trong quá trình hoạt động. Những vật thể đơn lẻ được quan sát khi mà đã rút ra được

một kết luận nào đó thì có thể rút ra rằng kết luận đó cũng đúng với một loạt các đối tượng thuộc
cùng một lớp. Các mô hình được xây dựng bên trong có tác dụng vuợt xa so với hành động mà
gây nên việc hình thành các mô hình đó. Tất nhiên các mô hình bên trong được xây dựng dựa
trên một loạt các hành động thực tế đã xảy ra trước đó. Tuy vậy việc phát triển các mô hình hình
ảnh bên trong bộ óc vẫn là một điều đáng kể. Điều đó chứng minh cho chúng ta thấy rằng việc
xây dựng thế giới hình ảnh là một vấn đề quan trọng của các hoạt động trong quá trình tương tác
với môi trường.
1. 1. 2. Sự đa dạng trong nhận thức của con người
Những người khác nhau có quá trình tiếp nhận thông tin hoàn toàn khác nhau. Thực tế
cho thấy rằng con người luôn có cách cảm nhận hoàn toàn khác nhau đối với những hiện tượng
giống nhau và cũng có thể hoàn toàn giống nhau trong các trường hợp khác nhau, đặc biệt là đối
với vấn đề xử lý thông tin bởi vì có rất nhiều yếu tố cùng nhau tham gia vào quá trình đó. Trong
phần này chúng ta sẽ phân loại ra các cách thức tiếp nhận và xử lý thông tin thành một số dạng
đặc biệt. Khoa học nhận thức thấy được sự cần thiết để nghiên cứu các dạng nhận thức khác nhau
mà con người sở hữu và thông qua các kết quả đó chúng ta có thể thu được một số kết quả giúp
ích cho chúng ta trong việc hỗ trợ cho người sử dụng đang trong quá trình tương tác. Cách thức
nhận thức chỉ ra người nào đó tiếp nhận, phản ứng và tương tác đối với một thông tin là như thế
nào, mỗi một người chỉ có một cách thức nhận thức nhất định và cách thức này chi phối bộ não
của người đó bắt đầu từ lúc lọt lòng cho đến khi nhắm mắt xuôi tay. Kolb đã nghiên cứu về cách
tiếp nhận và xử lý thông tin trong khi đó thì Myers lại sử dụng sự thuyết nhị nguyên phân đôi để
giải thích các hiện tượng như là hướng nội và hướng ngoại, suy nghĩ và cảm giác, giác quan và
trực giác. Trong phần sau chúng ta sẽ xem xét cách tiếp cận của Kolb đối với vấn đề này. Theo
như Kolb thì có 2 yếu tố tham gia vào quá trình nhận thức của con người đó là: thu nhận và xử lý.
Thu nhận, là quá trình mà con người cảm nhận và hấp thụ thông tin tại môi trường xung
quanh từ các vấn đề thực tế cho đến trừu tượng. Các vấn đề thực tế liên quan đến các mong muốn
của con người trong việc tiếp nhận một thông tin nào đó. Các vấn đề trừu tượng liên quan đến
vấn đề con người suy nghĩ và phản chiếu lại các thông tin đó.




11

Xử lý, là quá trình con người hiểu và xử lý thông tin đó sau quá trình tiếp nhận như thế
nào. Quá trình này có phạm vi hoạt động từ các nhận thức trừu tượng cho đến các thực nghiệm cụ
thể. Nhận thức trừu tượng thường liên quan đến nghiên cứu các mô hình và các khái niệm khác
nhau của các lĩnh vực khác nhau còn thực nghiệm cụ thể liên quan đến quá trình ứng dụng các lý
thuyết vào mô hình thực tế và thông qua đó có thể thu nhận được nhiều thông tin từ các mô hình
thực tế đó. Người nào có quá trình xử lý thông tin như nào thì sẽ thích thú hơn khi nghiên cứu các
lĩnh vực phù hợp với quá trình đó.
Do vậy quá trình nhận thức phụ thuộc rất nhiều vào quá trình xử lý thông tin của người
đó là như nào? Quá trình nhận thức cũng có thể coi như là một nhân cách của con người và có thể
ảnh hưởng đến thái độ, quan niệm và quá trình tương tác với xã hội. Ngoài ra ta có thể xem xét
đến 2 dạng của con người trong quá trình nhận thức đó là: độc lập và không độc lập.
Độc lập, dạng nhận thức này tiếp cận vấn đề theo dạng phân tích, ví dụ như họ có thể
phân biệt một hình cụ thể nằm trong một bối cảnh nào đó. Những người này thường thích tiếp
nhận thông tin theo dạng tự nghiên cứu và không bị ảnh hưởng bởi các vấn đề xã hội. Người có
nhận thức này thường ưa thích các vấn đề cụ thể, chính xác, thích những gì cầm được, cảm nhận
được và đo đếm được.
Không độc lập, nhận thức này tiếp cận vấn đề theo một cách tổng thể và ít đi vào chi tiết
hay phân loại. Người có nhận thức này thường có cảm nhận về xã hội tốt hơn so với dang nhận
thức độc lập và quan tâm tới các vấn đề mang tính quy luật chung. Tất nhiên các quy luật chung
như vậy không dễ nắm bắt, thường xuyên có sự sai lầm, mơ hồ và trừu tương. Nhưng xét chung
lại thì dạng nhận thức này có tính trí tuệ cao hơn nhiều so với dạng nhận thức đầu tiên. Sự không
thỏa mãn hay cả sai lầm ở cấp độ cao còn quý hơn nhiều so với sự thoải mái và chính xác ở cấp
độ thấp.
Nghiên cứu trên cũng cho ta thấy cách thức để có một giao diện tốt trong các vấn đề
tương tác giữa người và máy. Sau đây chúng ta sẽ xem xét những yếu tố để giúp quá trình đó
được thuận lợi. Thông tin nên được hiển thị để có thể phù hợp với các dạng nhận thức khác nhau,
những người thực tế luôn muốn tiếp nhận thông tin một cách cụ thể và rõ ràng do vậy tính chi tiết
là rất quan trọng, còn những người thích sự trừu tượng thường không quan tâm đến các thông tin

cụ thể mà quan tâm tới các thông tin liên quan các ngành khác nhau do vậy các thông tin mang
tính tổng hợp có giá trị nhiều hơn như vậy để giúp cho việc chuyển thông tin lên bộ nhớ dài hạn
được dễ dàng.



12


Hình 1. 1. 8 Hình ảnh thu nhận phụ thuộc nhiều vào nhận thức của con người
Với những người thích sự trừu tượng thì mong muốn nhận được nhiều thông tin nhất có
thể và trích được các quy luật chung nhất của các thông tin đó. Nếu như có thể thì chữ viết, hình
ảnh và âm thanh cùng được hiển thị trong quá trình tương tác để tăng tính tương tác. Người thích
sự chi tiết mong muốn tiếp nhận thông tin cụ thể và thu được một cái gì đó. Theo như lý thuyết
mã hóa của Paivio thì thông tin được thể hiện cùng với nhiều chế độ thì sẽ được xử lý tốt hơn nếu
như chỉ có một chế độ ví dụ như chỉ có thể hiện theo kiểu ký tự. Bởi vì bộ não được phân ra làm
nhiều khu vực xử lý các chức năng riêng biêt, nếu như để cho tất cả các chế độ khác nhau của
thông tin này được xử lý trên các vùng khác nhau của bộ não thì quá trình xử lý đó được nhanh
hơn và hiệu quả hơn nhiều lần.
Do con người có nhận thức khác nhau nên cũng cần có sự hỗ trợ khác nhau trong quá
trình tương tác (Ally và Fahy, 2002). Ví dụ như có nhiều người thích có nhiều sự hỗ trợ được
hiển thị trong khi nhiều người khác lại chỉ thích có một số ít sự hỗ trợ.
1. 2. Vai trò của ngôn ngữ và hình ảnh trong quá trình hình thành nhận thức
1. 2. 1. Các yếu tố của hình ảnh tác động lên bộ não con người
Cần phải đảm bảo rằng các cần chọn biểu tượng phải được thiết kế sao cho có thể dễ nhìn
thấy khi bị bao quanh bởi một loạt các biểu tượng không cần thiết khác. Để làm được điều này ta
cần nghiên cứu hai vấn đề liên quan đó là quá trình thu nhận hình ảnh tại những bước đầu tiên và
mức độ thu hút thị giác của một biểu tượng nằm trong rất nhiều các biểu tượng khác. Quá trình
thu nhận hình ảnh tại những bước đầu tiên: Các nhà sinh lý học cho rằng có khoảng 130 triệu
phần tử cảm nhận ánh sáng, rod và cone nằm trên võng mạc để tiếp nhận hình ảnh. Các cone

dùng để phân biệt mầu sắc và chi tiết của vật thể, cone hoạt động tốt chỉ khi có ánh sáng. Rod
không phân biệt được mầu sắc cũng như chi tiết của vật thể. Do vậy thị giác của chúng ta giảm
đáng kể nếu ở trong bóng tối.



13


Hình 1. 2. 1 Mắt người cần có các yếu tố đặc biệt để xử lý thông tin.
Tuy nhiên thị giác của chúng ta có thể vẫn hoạt động trong bóng tối hay tại nơi có ánh
sáng yếu. Một hình ảnh khi xuất hiện trên võng mạc sẽ được sắp xếp để đến bộ não thông qua các
thần kinh thị giác chứa đựng khoảng 1 triệu sợi, ít hơn khoảng 100 lần so với tổng của rod và
cone. Các dây thần kinh không truyền các tín hiệu của hình ảnh nhưng đã xử lý thông tin thành
các khu cảm nhận hình ảnh được gọi là các khu tiếp nhận. Nếu phân biệt theo cấu trúc hình học
thì khu vực nhận thức này bao gồm có hai phần: khu vực trung tâm và vòng tròn ngoại vi, hai
phần này hoạt động theo những cách hoàn toàn khác nhau. Cách tổ chức này có thể cho phép thị
giác của chúng ta có thể thích ứng trong nhiều điều kiện ánh sáng khác nhau, truyền được thông
tin lên bộ não khi mà có quá trình xử lý ảnh (phát hiện biên) được thực hiện. Khu vực trung tâm
thì có kích cỡ nhỏ dùng để phân biệt các chi tiết nhỏ. Khu vực ngoại vi có kích cỡ lớn để phát
hiện các vật thể mới nhanh hơn, để xác định một cảnh trong môi trường xung quanh ta và để xác
định vị trí tương đối của người quan sát trong không gian. Hình ảnh được thu nhận tại khu vực
trung tâm sẽ được xử lý nhiều nhất tại bộ não.
Bây giờ chúng ta sẽ xem xét quá trình thu nhận thông tin đến bộ não: hình ảnh được
chuyển từ võng mạc đến bộ não thông qua dây thần kinh thị giác, hình ảnh này phải trải qua một
số sự thay đổi quan trọng. Quá trình này có thể hiểu như là việc giải nén hình ảnh ban đầu thành
nhiều các hình khác nhau, do vậy thông tin thu được từ hình ảnh ban đầu cũng được thu nhận đầy
đủ từ các hình khác nhau này. Hình ảnh đầu tiên được thu nhận bởi bộ não là bản thô sơ nhất nằm
trên võng mạc
Hình ảnh này cũng tương tự như hình ảnh thu được khi quay camera không đúng tiêu cự.

Các hình ảnh tiếp theo dần dần được thêm các chi tiết chính xác khác từ vị trị của người quan sát.
Chúng cung cấp dần dần các chi tiết và các khoảng không gian cho bức ảnh. Theo như các nhà
sinh học thì có một vài hình ảnh đi vào bộ não con người trong quá trình xử lý trên. Quá trình
trên sẽ luôn luôn được lặp lại mỗi khi mắt chúng ta nhìn sang một khung cảnh khác. Khi đó lại có
một hình ảnh khác nằm trên võng mạc và khác với bức ảnh trước đó. Có 2 giả thuyết tồn tại để
giải quyết tình huống trên:
1. Giả thiết 1: Bộ phận thu nhận sẽ kết nạp nhanh chóng toàn bộ hình ảnh vào bộ não sau cái
nhìn đầu tiên, sau đó sẽ dần dần làm rõ hình ảnh trên.
2. Giả thiết 2: Tồn tại một số các bộ phận cảm nhận ánh sáng trên võng mạc có chức năng hoạt
động khác nhau. Một số chỉ là thu nhận hình ảnh thô, còn một số khác lại thu nhận hình ảnh



14

rõ nét. Hình ảnh ban đầu thu nhận được thông qua cái quét đầu tiên, một tập các yếu tố của
hình ảnh được thu nhận như mầu sắc, vị trí của vật thể trong ảnh Tiếp theo việc phục chế
các ảnh đó sẽ xuất hiện thông qua hoạt động của khu vực nằm trên vỏ não có chức năng thị
giác, có thể là tổng hợp của một số các yếu tố của ảnh trên.
Quá trình trên cũng giống như khi chúng ta quay phim, bắt đầu bằng những hình ảnh mờ,
sau đó quá trình khuyếch tán các chấm và cuối cùng thì hình ảnh thu nhận rõ nét thông qua độ
phân giải ngày càng tăng. Nếu như khoảng thời gian tập trung nhìn của chúng ta quá ngắn thì bộ
não của chúng ta chỉ có thể thu nhận được một hình ảnh rất thô của cảnh tượng mà chúng ta cần
quan sát. Điều đó có thể cho phép chúng ta vị trí tương đối nói chung chứ không thể đi sâu vào
chi tiết. Điều này cũng tương tự giống với khi chúng ta nhìn chăm chú vào một cảnh tượng nào
đó nhưng trong điều kiện không đủ ánh sáng. Trong trường hợp này thì độ sắc nét của thị giác là
rất yếu, chính vì điều đó mà các nhà điều tra thường không tin tưởng lắm vào nhận xét nhân
chứng vì trong một khoảng thời gian rất ngắn con người không thể mô tả chính xác những gì đã
diễn ra. Hình ảnh được chuyển từ cơ quan thị giác lên bộ não với quá trình làm mịn dần dần là
một ví dụ tuyệt vời cho ta thấy phương pháp trong việc tích hợp thông tin một cách thành công

của con người.

Hình 1. 2. 2 Những hình ảnh đầu tiên được thu về.
Những dữ liệu nhận ban đầu nhận được này thì ít hơn rất nhiều so với những gì mà cảnh
tượng thực có được. Xử lý những hình ảnh thô như vậy đòi hỏi mất ít thời gian hơn rất nhiều so
với xử lý toàn bộ hình ảnh nếu đi vào chi tiết. Về cơ bản những dữ liệu trên chỉ có thông tin quan
trọng trong việc xác định những đặc điểm chung nhất của cảnh tượng. Tốc độ của việc thu nhận
hình ảnh này đã có từ rất nhiều đời trước khi mà tổ tiên của chúng ta phải có nó để phán đoán
tình huống trong quá trình săn bắn và sinh sống. Các điểm nhấn và chi tiết của bức ảnh là những
đặc điểm quan trọng tiếp theo được xử lý sau khi bức ảnh thô đã được thu nhận. Mỗi chi tiết của
bức ảnh mà chúng ta nhìn và quan sát sẽ được phân tích theo từng bước một. Do vậy, bộ não sẽ
thu nhận được hình ảnh thô trước và hình ảnh này được làm mịn dần dần. Thông tin được phân
tích dựa trên quy tắc làm mịn dần dần thông qua việc một hình ảnh xấp xỉ ban đầu được dần dần
làm rõ. Trong trường hợp này có sự liên lạc giữa võng mạc và bộ nhớ một cách hiệu quả và khắc



15

phục được những thiếu sót của hình ảnh trên võng mạc, bởi vì chúng có khả năng loại bỏ sự hỗn
hợp và đa dạng của môi trường xung quanh mà hình ảnh đó đang thuộc về.
Như trên chúng ta đã trình bày về cách thức mà bộ não thu nhận hình ảnh thông qua từ
bước ban đầu cho tới khi lên bộ não. Quá trình này không phải do ý muốn chủ quan của con
người mà là một trong những đặc điểm của con người trong quá trình tương tác với môi trường
bên ngoài. Như vậy trong những cái nhìn đầu tiên con người chắc chắn chỉ thu được một số nét
cơ bản nào đấy của hình ảnh và các đặc điểm tiếp theo dần dần đườc bổ sung.

Hình 1. 2. 3 Quá trình tổng hợp diễn ra tại những hình ảnh đơn sơ nhất.
Nhưng điều quan trọng là các yếu tố nào sẽ có ảnh hưởng mạnh mẽ lên thi giác con
người trong cái nhìn đầu tiên hay là con người khi nhìn thì bị yếu tố nào chi phối. Các quá trình

sau thì bị yếu tố nào chi phối. Sau đây chúng ta sẽ đi tìm câu trả lời cho vấn đề trên. Trước hết
chúng ta rút ra được những kết luận sau.
Con người sở hữu khả năng tập hợp các thông tin thị giác các yếu tố như chiều sâu, kết
cấu và mầu sắc là những yếu tố ảnh hưởng mạnh mẽ nhất trong cái nhìn đầu tiên của con người
hay nói cách khác con người sẽ bị thu hút vào những yếu tố trên. Các yếu tố như bố cục không
gian và phát hiện các vật thể riêng biệt là những yếu tố ảnh hưởng đến quá trình dần dần làm mịn
bức ảnh ban đầu đó. Sau đây chúng ta sẽ dần dần làm sáng tỏ những điều mà chúng ta đã nói ở
trên. Chúng ta tiến hành một thí nghiệm nhỏ như sau: đưa một bức tranh trước mặt một người
trong khoảng thời gian là 2 ms thì mắt người chỉ có thể nhìn và đưa ra nhận xét “có một cái gì
đó” và không thể xác định chính xác hình ảnh của bức tranh. Tăng khoảng thời gian xuất hiện
trước mắt người thì dần dần con người sẽ xác định được rõ hơn bức tranh xuất hiện trước mắt
mình.

Hình 1. 2. 4 Tác dụng của mầu sắc



16

Theo các nhà sinh lý học thì quá trình này bắt nguồn từ việc phân tích thông tin sau đó
được vận chuyên lên vỏ não thị giác. Đây là cơ chế mang tính di truyền và vùng vỏ não thị giác
này nằm ở phần sau của bán cầu não. Đây là nơi mà hình ảnh đến từ cơ quan thị giác sẽ được
nhận như trong ví dụ trên. Các nơron của vỏ não thị giác thực hiện rất nhiều các hoạt động phức
tạp khác nhau. Các tế bào của võng mạc có các phần tiếp nhận để có thể phản xạ lại tín hiệu ánh
sáng. Các tế bào này có khoảng 100 cơ quan tiếp nhận ánh sáng trong khi đó thì vỏ não có
khoảng vài nghìn cơ quan tiếp nhận ánh sáng. Các tín hiệu thu nhận được thông qua các sợi dây
thần kinh thị giác. Vậy thì chức năng của các tế bào thị giác này là gì? Trên thực tế vỏ não thị
giác của chúng ta phân ra làm rất nhiều các nhánh thần kinh khác nhau, gọi là các nơron. Mỗi
một nơron này đảm nhận một vai trò riêng biệt và các nơron này nằm trong cơ quan tiếp nhận ánh
sáng. Các nơron bị kích thích bởi các yếu tố khác nhau ví dụ như bởi mầu sắc, đường thẳng,

đường cong, chiều dài, hướng, độ lớn Do vậy các đôi mắt khác nhau có cách cảm nhận khác
nhau. Điều làm chúng ta băn khoăn là liệu có bao nhiêu các yếu tố có thể kích thích lên các nơron
này?

Hình 1. 2. 5 Bố cục và độ sâu giúp con người xử lý dễ dàng hơn
Các nhà sinh lý học đã đưa ra rất nhiều các phương pháp để giải thích về độ phức tạp và
cấu trúc của bộ não. Tuy nhiên các kết quả đó còn rất hạn chế do kiến thức đó vẫn còn sơ sài và
chúng cũng không đủ để giải thích cho chúng ta về chức năng cũng như sư liên kết trong vỏ não.
Điều đó cũng dẫn đến chúng ta chưa có được một lý thuyết căn bản hay là một lý thuyết cơ sở để
có thể tiếp cận được vấn đề trên.
Có rất nhiều các giả thuyết được đưa ra để giải thích quá trình xử lý thông tin trong bộ
não của chúng ta. Bộ não của chúng ta hoạt động gồm nhiều chế độ khác nhau, một trong những
chế độ đó là vô thức, đó là khi não của chúng ta không được kiểm soát nhưng hình ảnh vẫn đi vào
bộ não của chúng ta như là các kênh độc lập khác nhau. Mỗi kênh này thể hiện một đặc điểm của
bức tranh như là mầu sắc, độ tương phản, kích cỡ, chiều sâu, độ cong, độ nghiêng Do vậy khi
mà tập hợp các yếu tố này chúng ta sẽ thu được một tập các thuộc tính của bức tranh từ mờ ảo
cho đến chi tiết. Điều này cũng giống như khi máy tính của chúng ta sử dụng cửa số quét để xác
định các đường biên trong ảnh, chỉ những đường biên mờ mờ có thể hiện lên, do ở đó xuất hiện
các thuộc tính về độ tương phản.

×