Tải bản đầy đủ (.doc) (22 trang)

Tài liệu Đề tài: Quản lý chất thải nguy hại ngành sản xuất hoá chất bảo vệ thực vật doc

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (671.26 KB, 22 trang )

I: Mở đầu
Chất thải nguy hại hiện nay phát sinh ngày càng nhiều bởi q trình sản xuất
cơng nghiệp, cơng tác quản lý , xử lý hiện nay đang còn nhiều bất cập chưa đáp
ứng được yêu cầu về bảo vệ môi trường, việc quản lý và xử lý chất thải khơng an
tồn, đặc biệt là chất thải rắn cơng nghiệp nguy hại, để lại những hậu quả khôn
lường về môi trường, gây ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe của cộng đồng như các
điểm tồn lưu hóa chất, thuốc bảo vệ thực vật, các bãi rác không hợp vệsinh, các
bãi đổ chất thải của các nhà máy sản xuất…Vì vậy, quản lý và xử lý chất thải nguy
hại nhằm giảm thiểu nguy cơ ô nhiễm môi trường và hạn chếcác tác động tiêu cực
đến sức khỏe con người là một trong những vấn đềcấp bách trong công tác bảo
vệmôi trường trong giai đoạn hiện nay.
Trong các ngành sản xuất cơng nghiệp thì ngành cơng nghiệp sản xuất hóa
chất bảo vệ thực vật là một trong những ngành có lượng rác thải nguy hại có độc
tính cao nhất, dễ gây ô nhiễm môi trường nhất bởi tính chất đặc thù trong các sản
phẩm của ngành này có tác dụng trực tiếp đến sinh vật ( gây chết, ngừng sinh
trưởng, gây tê, liệt…)
Trong giai đoạn hiện nay khi q trình cơng nghiệp hóa, đo thị hóa tăng cao
làm cho diện tích đất canh tác dần bị thu hẹp, nhưng với áp lực về năng xuất nên
ngành nông nghiệp đã phải sử dụng một lượng lớn phân bón và hóa chất bảo vệ
thực vật nhằm tăng năng suất cây trồng, chính vì vậy đâp lại là áp áp lực đặt lên
ngành sản xuất hóa chất bảo vệ thực vật cần phải đáp ứng đủ nhu cầu của ngành
nông nghiệp. Theo thống kê của Bộ Nơng nghiệp thì hàng năm nước ta sử dụng
đến 50.000 tấn thuốc bảo vệ thực vật, đây là một lượng rất lớn đòi hỏi nguồn cung
từ các nhà máy, xí nghiệp sản xuất và cả các cơng ty nhập khẩu. Ngành cơng
nghiệp sản xuất hóa chất bảo vệ thực vật cùng với áp lực sản xuất đủ nhu cầu cho
ngành nơng nghiệp thì cùng vào đó là một lượng lớn chất thải từ quá trình sản xuất
như sản phẩm thừa, sản phẩm tồn kho, chất dung môi, tẩy rửa, nước thải…
Vậy nhóm chúng tơi chọn đề tài “Quản lý chất thải nguy hại ngành sản xuất
hoá chất bảo vệ thực vật” để tìm hiểu các mối nguy hại của chất thải nguy hại
ngành công nghiệp này, cùng với đó là những nhóm giải pháp được đưa ra để quản
lý tốt và hiệu quả lượng chất thải cần được sử lý.




II: Thực trạng ngành hóa chất bảo vệ thực vật.
II.1: Sơ lược về hóa chất bảo vệ thực vật
Thuốc bảo vệ thực vật là những hợp chất hố học (vơ cơ, hữu cơ), những
chế phẩm sinh học (chất kháng sinh, vi khuẩn, nấm, siêu vi trùng, tuyến
trùng…), những chất có nguồn gốc thực vật, động vật, được sử dụng để bảo vệ
cây trồng và nông sản, chống lại sự phá hại của những sinh vật gây hại (côn
trùng, nhện, tuyến trùng, chuột, chim, thú rừng, nấm, vi khuẩn, rong rêu, cỏ
dại…)
Thuốc BVTV có thể diệt dịch hại nhanh, triệt để, đồng loạt trên diện rộng
và chặn đứng những trận dịch trong thời gian ngắn mà các biện pháp khác
không thể thực hiện được. Là biện phỏp hoỏ học đem lại hiệu quả pḥ ng trừ rơ
rệt, bảo vệ được năng suất cây trồng, cải thiện chất lượng nông sản và mang lại
hiệu quả kinh tế; lại dễ dùng, có thể áp dụng ở nhiều vùng khác nhau, đem lại
hiệu quả ổn định và nhiều khi là biện pháp pḥ òng trừ duy nhất.
Ngay từ khi mới ra đời thuốc BVTV đă được đánh giá cao và được coi là
một trong những thành tựu lớn của khoa học kỹ thuật. Đến nay, thuốc BVTV
đă để lại những dấu ấn quan trọng trong hầu hết các lĩnh vực của nền nông
nghiệp hiện đại.Mặc dù ngày nay khoa học đă đạt được những thành tựu to lớn
về nhiều mặt như sinh thái học dịch hại, miễn dịch thực vật… nhiều biện pháp
pḥ ng trừ dịch hại được áp dụng có hiệu quả như lại tạo các giống chống chịu
sâu bệnh, tạo giống sạch bệnh bằng phương pháp nuôi cấy mụ, cỏc biện pháp
sinh học trong bảo vệ thực vật, quản lư dịch hại tổng hợp… nhưng thuốc bảo
vệ thực vật vẫn có vai tṛ to lớn trong việc kiểm soát dịch bệnh trong nông
nghiệp. Đặc biệt, đối với người nông dân, sử dụng thuốc BVTV được coi là
phương pháp đơn giản và được áp dụng thường xuyên.
Khi sử dụng thuốc BVTV, cần biết một số một số khái niệm liên quan để
mua đúng thuốc và hiểu rõ hướng dẫn sử dụng:



Hình : một số nhãn cảnh báo có trên thuốc BVTV

 Tên thuốc: Do nhà sản xuất đặt tên để phân biệt sản phẩm của hăng này
với hóng khỏc. Một loại thuốc có thể mang 3 tên khác nhau: tên hóa học,
tên chung, tên riêng.
 Hoạt chất: Là thành phần chính của thuốc, quyết định đặc tính và cơng
dụng của thuốc. Cùng một hoạt chất có thể có nhiều tên thương mại khác
nhau.
 Các chất phụ gia: Giúp thuốc phân bố đều khi pha chế, bỏm dớnh tốt và
loang trải đều trên bề mặt cây trồng khi phun. Cùng một hoạt chất nhưng
hiệu quả thuốc có thể khác nhau là do bí quyết về các chất phụ gia của
mỗi nhà sản xuất khác nhau.
 Tính độc: Biểu thị bằng LD 50 là liều lượng cần thiết gây chết 50% cá
thể thí nghiệm (chuột bạch, thỏ, chó, chim hoặc cỏ…) tớnh bằng đơn vị
mg/kg thể trọng. LD 50 càng nhỏ th́ ì độ độc càng cao.
Thuốc BVTV là những chất độc; nhưng muốn là thuốc BVTV phải đạt một
số yêu cầu sau:
- Có tính độc với sinh vật gây hại.


- Có khả năng tiêu diệt nhiều lồi dịch hại (tính độc vạn năng), nhưng chỉ tiêu
diệt các lồi sinh vật gây hại mà không gây hại cho đối tượng khơng phịng trừ
(tính chọn lọc).
- An tồn đối với người, môi sinh và môi trường.
- Dễ bảo quản, chuyên chở và sử dụng.
- Giá thành hợp lý
Khơng có một loại chất độc nào có thể thoả măn hồn tồn các u cầu nói
trên.Các u cầu này, thậm chí ngay trong một u cầu cũng có mâu thuẫn
khơng thể giải quyết được. Tuỳ theo giai đoạn phát triển của biện pháp hoá

học, mà các yêu cầu được đánh giá cao thấp khác nhau. Hiện nay, u cầu “an
tồn với người, mơi sinh và mơi trường” được tồn thế giới quan tâm nhiều
nhất.
II.2 : Thực trạng ngành sản xuất hóa chất bảo vệ thực vật ở Việt Nam
Hiện nay, có khá nhiều cơ sở sản xuất thuốc bảo vệ thực vật đang hoạt động
trên lãnh thổ Việt Nam, đa phần có cơng nghệ khác lạc hậu do các nhà máy này
được xây dựng từ những năm 70-80 của thế kỷ trước, và công cuộc đầu tư vào
ngành này cũng khá tốn kém, đã có nhiều nhà máy đầu tư cơng nghệ cao( hệ thống
các nhà máy thuốc tập đồn hóa chất Miền Nam) nhưng hiệu quả trong khâu sản
xuất vẫn chưa cao, hậu quả là môi trường bị ô nhiễm nặng nề, do hệ thống sử lý
chất thải của các cơ sở này đã cũ, lạc hậu, hoặc sơ sài , quá tải, công nghệ sử lý loại
chất thải này khá phức tạp, chính vì vậy các nhà máy, xí nghiệp đã bỏ qua khâu xử
lý, thậm chí nhiều nơi cịn bỏ qua khâu này mà đổ trực tiếp ra môi trường, ra các
bãi thải hoặc qua hệ thống nước thải đổ trực tiếp ra sông, hồ mà chưa qua sử lý,
dẫn đến tình trạng ơ nhiễm nghiêm trọng mơi trường ngiêm trọng. Đa phần các con
sông, rạch dẫn qua các nhà máy này đều có các chỉ số như chất hữu cơ, BOD 5,
COD, NH4, N,P cao hơn chuẩn cho phép nhiều lần, nguy cơ nước sinh hoạt và ô
nhiễm sản xuất ở các vùng có nhà máy sản xuất vì thế mà càng trở nên trầm trọng.
Như tại Thành phố Hồ Chí Minh là một trong những thành phố có nhiều cơ
sở sản xuất thuốc bảo vệ thực vật nhất, nhưng lại có số lượng vi phạm sả thải từ


các cơ sở này rất lớn, các dòng kênh đi qua các cơ sở này lâu nay đã trở thành các
dịng kênh nước đen hơi thối vì ơ nhiễm do các chất hữu cơ phân hủy, Vụ khoảng
20 tấn các chết tại Quận 7 –TP HCM là một trong những hệ lụy của việc không
quản lý được việc sả thải bừa bãi của các cơ sở này.
Nước biển ven bờ tại TP Hồ Chí Minh đã bắt đầu có dấu hiệu ô nhiễm
nghiêm trọng. Hàm lượng chất hữu cơ, chất dinh dưỡng, kim loại nặng, vi sinh,
hóa chất bảo vệ thực vật ở một số nơi vượt tiêu chuẩn từ 2-5 lần, đặc biệt qua khảo
sát của các nhà quản lý thì các khu vực này đều gần các nhà máy sản xuất hóa chất

bảo vệ thực vật, như nhà máy hóa chất quận Tân Bình, TP Hồ Chí Minh. Hàng
ngày người dân xung quanh khu vực này thường xuyên tiếp xúc với mùi hóa chất
khó chịu từ phía nhà máy này gây ra, đó là chưa kể tới những cơng nhân làm việc
trực tiếp trong các nhà máy này.

Hình : Lấy mẫu nước thải của nhà máy hóa chất Tân Bình

Tại miền bắc cũng có một số nhà máy hóa chất BVTV, điển hình là nhà máy
hóa chất BVTV Hịa Bình, đóng tại Thạch Thất – Hà Nội, từ khi nhà máy đi vào
hoạt động năm 2008 thì người dân thơn Bách Kim khơng có một ngày bình n.
Đặc biệt vào ngày gió đơng mùi thuốc sâu từ khu sản xuất của nhà máy bị đẩy
thẳng vào thôn khiến nhà nào cũng phải đóng cửa, ngồi ra mùi thuốc bốc lên từ
quá trình sang chiết, những chế phẩm phát sinh( bao gồm thùng nhựa chứa thuốc
trừ sâu, những bao bì đựng thuốc đã qua sử dụng…) khơng được sử lý như chất
thải nguy hại mà được nhà máy đưa ra đốt, tạo ra một mùi cực kỳ khó chịu, đã có


hàng trăm người dân kéo đến nhà máy để phản đối tình trạng này, ơ nhiễm nghiêm
trọng nhất phải kể đến ô nhiễm môi trường đất và nước, các ruộng lúa gần khu nhà
máy bị nhiễm độc đến nỗi không thể canh tác được, gần 30ha nuôi trồng thủy sản
bị nhiễm thuốc trừ sâu, tình trạng gà, vịt chết hàng loạt do nhiễm độc thuốc cũng
sảy ra phổ biến. Thậm chí theo báo cáo của ngành y tế thì tỉ lệ mắc bệnh ung thư
của người dân trong làng cao đột biến từ khi nhà máy hoạt động. hàng loạt các vụ
ngộ độc thực phẩm cũng đã sảy ra, đều có nguyên nhân xuất phát từ nhà máy sang
chiết thuốc trừ sâu Hịa Bình

Hình : Các thùng chứa hóa chất và ruộng lúa nhiễm thuốc BVTV từ nhà máy Hòa Bình


"Thực trạng đáng ngại là việc ngày càng lạm dụng thuốc BVTV, kinh doanh SX

bừa bãi sẽ là hệ lụy ảnh hưởng rất lớn tới môi trường, đe dọa sức khỏe, cộng đồng
và cả nòi giống của chúng ta nếu khơng có các giải pháp kịp thời". Thiếu tướng Cục trưởng Cục Cảnh sát PCTP về MT nhấn mạnh.
Vi phạm về bảo vệ môi trường ngày càng nhiều trong lĩnh vực SX-KD và sử
dụng thuốc BVTV nhưng đáng lo ngại là mọi việc dường như đang vượt khỏi tầm
kiểm soát của các nhà quản lý. Phổ biến là tình trạng doanh nghiệp sản xuất, chế
biến thuốc BVTV không báo cáo việc đánh giá tác động môi trường hay không
chịu cam kết báo cáo. Có hệ thống xử lý nước thải nhưng vì lợi nhuận mà xả thẳng
ra mơi trường, khơng qua xử lý; hay chôn hệ thống ngầm xả thải dưới đất để đối
phó cơ quan chức năng.
Thuốc bảo vệ thực vật tiềm ẩn nhiều nguy hại với môi trường.Thống kê, cả
nước hiện có 98 cơ sở sản xuất thuốc BVTV, tập trung chủ yếu tại các khu cơng
nghiệp phía Nam. Nhiều nhất là ở TP Hồ Chí Minh với 66 cơ sở. Nhưng hầu hết
các cơ sở sản xuất trong tình trạng gia cơng, sang chai, đóng gói ra thành phẩm
thuốc BVTV, khơng có cơ sở nào trực tiếp sản xuất nguyên liệu thuốc BVTV, đa
số nguyên liệu nhập khẩu và 90% là nhập từ Trung Quốc, rất khó kiểm sốt thành
phần.Khó hơn nữa là việc quản lý mạng lưới cửa hàng kinh doanh thuốc BVTV.
Hiện cả nước có 16.659 doanh nghiệp kinh doanh buôn bán thuốc BVTV, tức
trung bình mỗi tỉnh có 265 cơ sở. Song nhiều cơ sở tại các khu vực đơng dân cư
xen kẽ thì khơng thể kiểm sốt nổi.Qui trình hoạt động từ sản xuất như vận hành
máy móc, cho tới các khâu vệ sinh dụng cụ, trang thiết bị sản xuất thuốc BVTV
đều phát tán vào môi trường nhiều chất thải nguy hại nhưng giám sát cho thấy, từ
những khâu gia công, sang chiết, đóng gói thuốc BVTV ở các cơ sở đều thiếu ý
thức hoặc có ý thức nhưng cố tình khơng chịu đầu tư xây dựng hệ thống xử lý
nước thải, xả thẳng ra mơi trường. Bên cạnh đó, các loại bao bì, vỏ chai, lọ, thuốc
BVTV lại chưa được coi là chất thải nguy hại nên không được xử lý đúng qui
trình. Trong nghiên cứu của Viện Bảo vệ thực vật cho biết, lượng thuốc còn bám
lại trên vỏ bao bì trung bình chiếm tới 1,85 % tỉ trọng bao bì. Như vậy, dựa trên số
lượng thuốc BVTV sử dụng hàng năm thì mơi trường Việt Nam đã ngẫu nhiên
"đón nhận" khoảng 195 tấn thuốc BVTV. Lượng chất độc này nếu đem ra cân
đong đo đếm về tác hại tới sức khỏe con người là khơng thể tính được. Song cả



nước hiện có duy nhất 1 cơng ty đảm nhiệm việc xử lý chất thải từ hóa chất độc hại
này. Ngồi ra khi kiểm tra phát hiện khơng ít cơ sở sản xuất thuốc BVTV sử dụng
nguyên liệu nhập trôi nổi, ngoài danh mục cho phép.Và rất phổ biến việc sử dụng
công nghệ thiết bị lạc hậu, dây chuyền cũ kỹ, chắp vá và thiếu đồng bộ, phát triển
tự phát. Đáng lo ngại là việc lạm dụng trong sử dụng phân bón, thuốc trừ sâu trong
nơng dân vẫn tồn tại mà chưa thể khắc phục.Vẫn cịn có từ 30-60% mẫu rau cịn
tồn dư lượng hóa chất BVTV vượt ngưỡng cho phép.
Đã có 300 vụ việc có hành vi SX phân bón giả, thuốc BVTV giả đã bị lực
lượng QLTT xử lý năm 2011. Riêng lực lượng Cảnh sát PCTP về môi trường từ
năm 2008 tới nay đã phát hiện và xử lý 237 cơ sở vi phạm pháp luật về mơi trường
thuộc lĩnh vực sản xuất, kinh doanh phân bón, thuốc BVTV, xử phạt 2,59 tỷ đồng.
Nhưng số vụ vi phạm trên đây chỉ là rất khiêm tốn. Nhiều cơ sở sản xuất, hoạt
động trong lĩnh vực nhỏ, rải rác thì rất khó nắm bắt. Trong khi việc phối hợp với
địa phương cịn nhiều khó khăn, xử lý cơ sở sai phạm cịn chưa quyết liệt, thường
xun, mang nặng tính hình thức dẫn đến tình trạng "chây ì" vi phạm.
Kết quả thanh kiểm tra SX-KD thuốc BVTV 2011 cho thấy, số thuốc BVTV
cần tiêu hủy trong cả nước khoảng 70 triệu kg và trên 43 triệu lít thuốc BVTV; gần
70 triệu kg bao bì thuốc BVTV cần tiêu hủy… Tuy nhiên, cái khó là phải cần tới
63 tỉ đồng cho việc tiêu hủy các chất độc hại này.

III: Giải pháp quản lý CTNH ngành sản xuất hóa chất bvtv
Để nhằm từng bước cải thiện tình trạng chất thải nguy hại ngành sản xuất
hóa chất BVTV thì chúng ta phải có những bước đi đúng đắn để làm sao có thể đạt
được kết quả cao nhất, nhóm chúng tơi qua thảo luận đã đưa ra được các nhóm giải
pháp sau.
 Nhóm giải pháp đối với nhà sản xuất.
 Nhóm giải pháp đối với người sử dụng.
 Nhóm giải pháp đối với nhà quản lý.

Cùng với những nhóm giải pháp này mà có những mục tiêu hướng đến rõ
ràng hơn.


III. I. Đối với nhà sản xuất và phân phối sản phẩm.
Quản lý chất thải nguy hại bắt đầu ngay từ quá trình sinh ra chất thải đến quá
trình xử lý, và khâu cuối cùng là thải bỏ chất thải.Khi phát sinh chất thải, ta nghĩ
đến các biện pháp để giảm lượng phát thải chất nguy hại nhất. Tuy chất nguy hại
có được giảm thiểu, bản thân q trình sản xuất luôn tạo ra một lượng chất thải
nhất định, do đó người ta vẫn phải tìm cách xử lý lượng chất thải sinh ra để giảm
tác động của chất nguy hại cho con người và cho môi trường. Sau xử lý, lượng chất
thực sự phải thải bỏ cuối cùng cần được giải quyết để đảm bảo vệ sinh và an tồn.
Do vậy ở mỗi giai đoạn phải có biện pháp quản lý thích hợp để giảm thiểu tối đa
nguồn chất thải nguy hại
III..I.1. Quản lý nguồn phát sinh chất thải ( giảm thiểu chất thải tại
nguồn).
Giảm thiểu tại nguồn là giảm về số lượng hoặc độc tính của bất kỳ một chất
thải nguy hại nào đi vào dòng thải trước khi tái sinh, xử lý hoặc đưa vào môi
trường. Thông thường, có hai biện pháp chính để giảm thiểu chất thải tại nguồn:
thay đổi cách quản lý, vận hành sản xuất và thay đổi quá trình sản xuất.
Những cải tiến căn bản trong quản lý và vận hành sản xuất. Cải tiến cách
thức vận hành cần thực hiện trong tất cả các lĩnh vực: sản xuất, bảo trì thiết bị, sử
dụng và lưu trữ nguyên vật liệu thô, bảo quản sản phẩm; lưu trữ và quản lý chất
thải. Các nội dung cải tiến trong quản lý và vận hành sản xuất gồm:
Quản lý, lưu trữ nguyên vật liệu và sản phẩm.


Hình: cán bộ Quản lý thị trường kiểm tra sản phẩm

Những cải tiến về điều độ sản xuất.

Tăng cường các phương pháp để quản lý khí thải, chất thải rắn, nước thải
trong nhà máy, như các nhà máy phải xây dựng một hệ thống xử lý khí thải, các
khâu khuấy trronj chiết chai cần được thực hiện trong hệ thống kín. Tại nhà máy
cần có hệ thống phan loại chất thải rắn, còn đối với vấn đề xử lý nước thải thì tồn
bộ nước thải nhà máy bvtv chứa hầu như bao gồm các loại thuốc bvtv được sản
xuất tại xí nghiệp do vậy chứa rất nhiều clo hữu cơ. Photpho hữu cơ…nên cẩn có
biện pháp xử lý thích hợp.
 Ngăn ngừa thất thoát và chảy tràn.
 Tách riêng các dịng chất thải.
 Huấn luyện nhân sự.

Hình: Một lớp tập huấn về thuốc BVTV

III.1.2. Thay đổi quá trình sản xuất
Thay đổi về quá trình sản xuất bao gồm những thay đổi về nguyên vật liệu
đầu vào, công nghệ và thiết bị.Tất cả những thay đổi này nhằm giảm phát thải các
chất gây ơ nhiễm trong q trình sản xuất.Những thay đổi về q trình có thể được
thực hiện nhanh chóng hơn và ít tốn kém hơn là thay đổi về sản phẩm và kỹ thuật.


Thay đổi nguyên liệu đầu vào, bao gồm cả việc sử dụng nguyên liệu sạch
hoặc sử dụng nguyên liệu chất lượng cao cũng nhằm để hạn chế việc sinh ra chất
thải nguy hại.
Thay đổi về kỹ thuật và công nghệ
 Cải tiến quy trình sản xuất;
 Điều chỉnh các thơng số vận hành quá trình;
 Những cải tiến về máy móc thiết bị;
Hiện nay ở nước ta, lượng thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) quá hạn sử dụng
đang tồn đọng ở các địa phương rất nhiều mà chưa có cách xử lý phù hợp. Nhiều
địa phương đã đem chôn dưới đất, song cách làm này rất nguy hiểm, có thể coi như

những “quả bom nổ chậm”, sẵn sàng “bể” ra, ngấm vào nước ngầm và thâm nhập
cơ thể người. Trước tình hình trên, GS-TSKH Trần Mạnh Trí, Giám đốc Trung tâm
Cơng nghệ Hóa học và mơi trường (ECHEMTECH) - Liên hiệp các Hội khoa học
kỹ thuật VN, đã nghiên cứu một giải pháp mới, đó là tiêu hủy thuốc BVTV khơng
đốt, chi phí xử lý rẻ hơn cách dùng lị đốt đến 50% -60%.

Hình :Hệ thống xử lý thuốc bảo vệ thực vật của GS-TSKH Trần Mạnh Trí

III.1.3. Tận dụng chất thải


Tận dụng gồm tái sinh (recycle), tái sử dụng (reuse), tái chế (reclamation)
hoặc phục hồi (recovery).Tái chế là giải pháp tận dụng được ưu tiên sau giảm thiểu
chất thải tại nguồn.
Tái sử dụng. Tái sử dụng là sử dụng lại một loại sản phẩm nhiều lần nếu có
thể, nhằm giảm lượng chất thải và giảm các nguồn lực phải sử dụng để sản xuất
sản phẩm mới. Tái sử dụng bao hàm cả việc bán cho sử dụng hay sửa chữa sản
phẩm đã qua sử dụng để dùng tiếp, hoặc sử dụng một sản phẩm vào nhiều mục
đích.Có thể tái sử dụng bao bì tuy nhiên các bao bì được tái sử dụng cần phải đảm
bảo các yêu cầu về tính năng và các chi tiết kỹ thuật . Bao bì nào có biếu hiện giảm
độ bền thì khơng được sử dụng.
Tái sinh hoặc tái chế. Tái sinh, tái chế là quá trình chế biến chất thải tạo
thành sản phẩm mới được sử dụng như nguyên vật liệu của sản xuất hay sản phẩm
tiêu dùng nhằm tạo ra lợi nhuận và hiệu quả về kinh tế, xã hội, mơi trường…Đó là
q trình tái chế bao bì thành bao bì mới nhưng có nhiều ưu điểm vượt trội hơn
như khả năng chịu được rung đọng hoặc hạn chế các phản ứng xảy ra khi bị rò rỉ.
Phục hồi. Phục hồi là quá trình tạo lại các tính năng sử dụng của bao bì phân
bón, hoặc nắp chai thuốc bvtv như ban đầu.









Lợi ích
Tái sinh có phạm vi ứng dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực và nhiều
ngành công nghiệp do mang lại nhiều lợi ích như:
Bảo tồn nguồn lực sản xuất, tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên, giảm
nhu cầu sử dụng nguyên liệu thơ cho sản xuất, làm giảm chi phí sản
xuất.
Ngăn ngừa sự phát tán những chất thải độc hại vào mơi trường.
Cung cấp nguồn ngun vật liệu có giá trị cho cơng nghiệp.
Kích thích phát triển những quy trình cơng nghệ sản xuất sạch hơn.
Tránh phải thực hiện các quá trình mang tính bắt buộc như xử lý hoặc
chơn lấp chất thải.Khi giảm nhu cầu xử lý sẽ dẫn đến giảm chi phí xử
lý chất thải.

Thứ tự ưu tiên lựa chọn phương pháp tái chế: Lựa chọn phương pháp tái chế
theo thứ tự sắp xếp ưu tiên dựa trên mức rủi ro có thể xảy ra như sau:


1.
2.
3.
4.

Tái chế hay tái sử dụng trong nhà máy
Tái sinh bên ngồi nhà máy

Bán cho mục đích tái sử dụng
Tái sinh năng lượng

Các phương pháp phục hồi chất thải và phạm vi ứng dụng: Để phục hồi hố
chất có ích trong chất thải người ta ứng dụng các phương pháp hố lý có đặc điểm
là tách được hố chất ra khỏi chất thải và thu hồi được chúng sau khi tách. Mỗi
phương pháp có thể ứng dụng hiệu quả ở một phạm vi khác nhau dựa vào nguyên
lý của phương pháp và tính chất của chất thải.
III.1.2. Quản lý khâu đóng gói.

Hình:Một số nhãn đóng gói thuốc BVTV

Khi đóng gói thuốc bvtv cần đăm bảo các yêu cầu sau:
-Thuốc bvtv và phân bón phải được đóng gói bằng bao bì có chất lượng tốt,
bao bì phải được đóng kín và ngăn ngừa rò rỉ khi vận chuyển.
-Thân và phần quanh bao bì phải có khả năng chịu được rung động lớn, nắp
chia hay các bộ phận giảm ma sát phải được đóng chặt, an tồn và hiệu quả.
-Bao bì bên trong phải được bao goi hay giứ chặt không cho rò rỉ.


-Tất cả các ký hiệu trên thùng hàng chứa chất nguy hại phải được ghi rõ
ràng, khơng tẩy xóa.
-Có hệ thống văn bản rõ ràng về việc rửa bao bì thuốc bvtv trước khi tiêu
hủy hoặc khi cần.
-Có nơi lưu trữ an tồn cho bao bì thuốc bvtv đã qua sử dụng trước khi tiêu
hủy.

III.1.3. Quản lý khâu dán nhãn.
Tất cả các nhán trên thùng hàng chứa chất nguy hại phải có hình dạng, màu
sắc, ký hiệu và chữ đúng quy định, mọi nhãn phải được in và dán chắc chắn lên

bao bì để dễ nhận biết, nhãn phải rõ ràng và khơng bị che khuất bởi bất kì phần nào
trên bao bì hay bị che bởi phần khác, các nhãn không bị gấp nếp… dưới đây là một
số ghi nhận của nhóm chúng tơi trong việc quản lý khâu dán nhãn này.
- Tất cả các ghi chép chỉ rõ ngày, tháng, năm dùng thuốc bảo vệ thực vật.
- Ghi chép chỉ rõ nhãn hiệu và thành phần chính của thuốc cũng như thuốc
dùng cho loại côn trùng nào.
- Ghi rõ tên chủng của loại sâu, bệnh hay cỏ cần diệt.
- Ghi rõ thông tin về cán bộ kỹ thuật đề xuất sử dụng thuốc bảo vệ thực vật.
- Hồ sơ ghi rõ số lượng thuốc sử dụng hoặc lượng nước (hay các chất pha chế
khác), và liều lượng tính bằng g/l hay các đơn vị đo lường khác được quốc tế
công nhận.
- Ghi chép đầy đủ và chi tiết các loại máy móc sử dụng (nếu nhiều loại, cần
ghi riêng từng loại), và phương pháp sử dụng (đeo trên vai, lượng lớn,
U.L.V., qua hệ thống thuỷ lợi, rắc, phun sương, phun từ trực thăng hay
phương pháp khác.
- Ghi rõ ngày đầu của vụ thu hoạch. Ghi đầy đủ thời gian con người tiếp cận
lại vườn cây sau khi phun thuốc.


- Có các phương pháp để người dân nhận biết khi vào lại vườn sau khi phun
thuốc. Các loại thuốc BVTV và phân bón chỉ được lưu trữ tạm thời trong
những vị trí, khu vực đã được quy định.
- Các phương tiện bảo quản thuốc bảo vệ thực vật phải tuân thủ luật pháp và
quy tắc của nước sở tại và của địa phương.
- Kho bảo quản thuốc bảo vệ thực vật phải có cấu trúc tốt, có hệ thống khố
an tồn, đủ thống khí để tránh hơi độc tích tụ trong trường hợp con người
phải vào kho) và phải có dủ ánh sáng tự nhiên cũng như nhân tạo để bảo
đảm cán bộ phụ trách có thể dễ dàng đọc nhãn hiệu khi vẫn để nguyên sản
phẩm trên giá.
- Kho giữ thuốc bảo vệ thực vật phải được xây bằng nguyên liệu chống cháy

(yêu cầu tối thiểu là chống được trong vòng 30 phút.
- Kho lưu trữ thuốc bảo vệ thực vật cách xa các nguyên liệu khác.
- Kho thuốc bảo vệ thực vật được trang bị hệ thống giá để khơng thấm nước
để tránh tình trạng xuống cấp do ẩm như: kim loại hoặc nhựa cứng.
- Kho bảo quản thuốc bảo vệ thực vật có các thùng chứa chống rị rỉ hoặc
được ngăn (có hệ thống ngăn rị rỉ) phù hợp với lượng chất lỏng cần bảo
quản, có tường và sàn được sơn lớp chống hoá chất để đảm bảo khơng có bất
cứ sự rị rỉ, hay thấm nhiễm ra ngoài kho.
- Khu vực pha chế và cân đong huốc bảo vệ thực vật có các thiết bị tiêu chuẩn
để đảm bảo tỷ lệ thành phần chính xác trong hỗn hợp.

III.1.4. Quản lý khâu nhập kho.
- Các phương tiện bảo quản thuốc bảo vệ thực vật phải tuân thủ luật pháp và
quy tắc của nước sở tại và của địa phương.
- Kho bảo quản thuốc bảo vệ thực vật phải có cấu trúc tốt, có hệ thống khố
an tồn, đủthống khí để tránh hơi độc tích tụ trong trường hợp con người
phải vào kho) và phải có dủ ánh sáng tự nhiên cũng như nhân tạo để bảo
đảm cán bộ phụ trách có thể dễdàng đọc nhãn hiệu khi vẫn để nguyên sản
phẩm trên giá.
- Kho giữ thuốc bảo vệ thực vật phải được xây bằng nguyên liệu chống cháy
(yêu cầu tối thiểu là chống được trong vòng 30 phút.
- Kho lưu trữ thuốc bảo vệ thực vật cách xa các nguyên liệu khác.


- Kho thuốc bảo vệ thực vật được trang bị hệ thống giá để khơng thấm nước
để tránh tình trạng xuống cấp do ẩm như: kim loại hoặc nhựa cứng.
- Kho bảo quản thuốc bảo vệ thực vật có các thùng chứa chống rị rỉ hoặc
được ngăn (có hệ thống ngăn rò rỉ) phù hợp với lượng chất lỏng cần bảo
quản, có tường và sàn được sơn lớp chống hố chất để đảm bảo khơng có bất
cứ sự rị rỉ, hay thấm nhiễm ra ngoài kho.

- Khu vực pha chế và cân đong huốc bảo vệ thực vật có các thiết bị tiêu chuẩn
để đảm bảo tỷ lệ thành phần chính xác trong hỗn hợp.

III.1.5. Quản lý khâu vận chuyển.

Hình : Thùng chứa và xe chuyên dụng chở hóa chất

-

Đối với khâu vận chuyển cần phải thực hiện các vấn đề sau:
Các cơ sở sản xuất không được giao các loại thuốc bvtv và phân bón cho
đon vị vận chuyển và lưu trữ xử lý nếu khơng có giấy phép hợp lệ.
Trước khi vận chuyển hay giao nhận các loại thuốc bvtv và phân bón phải
được đóng gói và dán nhãn theo quy định.
Các cơ sở này cũng phải giao hàng đến đơn vị tiếp nhận tronh thời gian ngắn
nhất.
Đơn vị dùng xe của mình để vận chuyển các sản phẩm phải tn thủ nghiêm
túc những quy định chung( rị rỉ, đổ vỡ và xảy ra tai nạn.)
Đơn vị vận chuyển có nhiệm vụ làm sạch chat rơi vãi trên đường.
Đơi với các phương tiện vận chuyển phải có nguyên tắc đặc thù riêng.


-

-

III.1.6. Quản lý việc lưu trữ tại các đại lý.
Phải có khoảng cách an tồn từ khu lưu trữ đến khu nhà ở
Khơng được lưu hóa chất cùng với thực phẩm
Phải đảm bảo các tiêu chuẩn về phòng chống cháy nổ khi thiết kế kho lưu

trữ, vật liệu xây dựng kho phải có tính chịu lửa, có chỗ thốt hiểm, khoảng
cách an tồn ngăn cách cháy, có hệ thống báo cháy, phòng chữa cháy, đối
với vật liệu bằng thép phải được cách lửa.
Kết cấu kiến trúc của kho lưu trữ phải có hệ thống thơng gió tốt như các hệ
thống quạt, ống lùa, ống thơng gió trên trần, tường, sàn.
Sàn nhà khi lưu trữ phải có kết cấu chống thấm thích hợp, dễ lau chùi, hệ
thống thốt nước thích hợp.
Người quản lý kho phải thuộc bảng hướng dẫn về công tác an tồn, cơng tác
an tồn trong kho, phải thuộc quy tắc an tồn và ứng cứu khi có sự cố.
Có cơng tác bảo trì kho định kỳ, cơng việc này làm tăng tính an tồn tại kho
lưu trữ nhằm hạn chế các sự cố.
Bn bán thuốc phải có chứng chỉ hành nghề.

-

Hình : Kiểm tra kinh doanh thuốc BVTV

Ngiêm cấm
- Bn bán thuốc BVTV khơng có cửa hàng và kho chứa thuốc, hoặc có cửa
hàng nhưng khơng có kho chứa.
- Buôn bán thuốc chung với thức ăn chăn nuôi, lương thực, thực phẩm, hàng
giải khát, thuốc y tế, trừ phân bón.


III.2 . Đối với người sử dụng
III.2.1. Quản lý khâu sử dụng
- Chỉ mua thuốc ngun chai, ngun gói, khơng bị rị rỉ, có nhãn mác đầy đủ, cịn trong
hạn sử dụng.
- Không chở thuốc BVTV chung với lương thực, thực phẩm, không để đổ vỡ khi vận
chuyển.

- Trước khi sử dụng cần chuẩn bị đầy đủ các dụng cụ cần thiết: cân, đong pha chế, đồ bảo
hộ lao động, kiểm tra lại bình phun.
- Khi phun rải thuốc khơng dùng tay tiếp xúc với thuốc, khơng để thuốc dính vào da và
quần áo, khơng phun ngược chiều gió, khơng ăn uống và hút thuốc khi phun thuốc.
- Nếu thuốc dính vào da, mắt, cần rửa ngay bằng nước sạch.
- Sau khi phun thuốc cần thay áo quần, tắm rửa sạch sẽ. Khơng rửa bình phun và đổ
thuốc thừa xuống sông, kênh rạch, ao hồ. Không tận dụng các bao bì, chai vỏ thuốc vào
các mục đích khác.
- Giữ đúng thời gian cách ly từ khi phun thuốc lần cuối đến khi thu hoạch sản phẩm.
- Bảo quản thuốc nơi khơ ráo, thống mát, xa trẻ em và gia súc.

Hình

Hình
Hình : Hướng dẫn sử dụng thuốc BVTV ngoài đồng ruộng

III.2.2. Sau khi sử dụng.
- Thuốc trừ sâu dư thừa phải lưu trữ trong thùng kín và để nơi thong mát, xa
lửa sau đó mang đi xử lý.
- Xây dung những khu vực thu gom chế phẩm thuốc trừ sâu để xử lý.
- Thu gom những bao bì đã sử dụng tập hợp đến nơi xử lý.


Hình: nơi chứa rác thải thuốc BVTV

III.Đối với nhà quản lý.
Đối với nhà quản lý : Nhìn chung đa số đối tượng sử dụng thuốc là người
nơng dân, do đó họ khơng có sự hiểu biết đúng đắn về mức độ nguy hiểm của
thuốc BVTV đến con người và sinh vật là như thế nào. Do vậy, khi đứng trên
phương diện là nhà quản lý thì cần phải có những việc làm đúng đắn.

Giáo dục , tuyên truyền sâu rộng hơn nữa cho nông dân về các loại thuốc trừ
sâu cũng như nhược điểm của chúng. Tác hại của việc dùng khơng đúng thuốc, các
phương pháo an tồn khi sử dụng thuốc và phun thuốc
Khuyến khích dử dụng các phương pháp phòng trừ dịch hại IPM để hạn chế
việc sử dụng thuốc trừ sâu.
Việc buôn bán thuốc phải thông qua kiểm dịch và do những đơn vị hay cá
nhân có hiểu biết về thuốc để tránh việc sử dụng sai thuốc và nhiễm độc sang các
sản phẩm khác



•Các thuốc trừ sâu dư thừa phải được lưu trữ trong những thùng kín và bảo
quản ở những nơi thống mát, xa lửa, xa các nguồn hóa chất dễ gây cháy, nổ… sau
đó mang đến nơi sử lý.
Thường xuyên kiểm tra, giám sát việc sử dụng thuốc của nông dân, có kế
hoạch tuyên truyền, phổ biến cách thức sử dụng an toàn đối với các loại thuốc mà
họ sử dụng, nên có những khuyến cáo, hướng dẫn, chỉ dẫn sử dụng hợp lý, tránh
thất thốt lãng phí khi sử dụng. Có chế tài sử lý khi vi phạm, sử dụng bừa bãi, gây
ảnh hưởng đến môi trường.
Sử dụng một ngành nơng nghiệp sinh thái, ít lệ thuộc vào phân bón và hóa
chất BVTV, từ đó làm giảm thiểu áp lực lên ngành hóa chất sản xuất BVTV và sẽ
có kết quả là hạn chế hoặc khơng cịn sự ơ nhiễm do các nhà máy này gây ra nữa,
áp dụng các hình thức sản xuất xanh, sạch hơn, sử dụng các sản phẩm trừ sâu tuwf
thiên nhiên hay thân thiện hơn, có hàm lượng chất sám cao hơn, ví dụ như việc
chuyển đổi gen kháng sâu vào các giống cây trồng, sử dụng các loài thiên địch như
ong mắt đỏ, bọ rùa, bướm, chim để diệt sâu bọ, từ đó tạo dựng một nền nông
nghiệp hữu cơ bền vững, kể cả đối với môi trường và con người.


Tài liệu tham khảo:

-

-

Giáo trình Quản lý chất thải nguy hại : NXB Quốc gia TP HCM, Viện môi
trường và tài nguyên – IER: GS.TS. Lâm Minh Triết – TS. Lê Thanh Hậu
Giáo trình sử dụng thuốc BVTV - PGS.TS. Nguyễn Trần Oánh (Chủ
biên)NXB : Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội
Danh mục thuốc bảo vệ thực vật được phép sử dụng trên rau
NXB : Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nơng thơn
Ơ nhiễm đất NXB : Trường Đại học Cần Thơ, 2008
Ebook: IPM - Hiểu biết về thiên địch ( nguồn internet: chưa xác định)
Công nghệ sản xuất thuốc BVTV : Phan Phước Hiền Trường ĐH Nông lâm
TP HCM
Nguồn Internet.
/>
Một số website trong và ngoài nước



×