Tải bản đầy đủ (.doc) (11 trang)

các công cụ và chính sách vĩ mô để nâng cao vai trò quản lý của nhà nước

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (86.2 KB, 11 trang )

Phần mở đầu
I.Tính cấp thiết của đề tài
Hiện nay, trên sách báo ngời ta thờng nói đến nền kinh tế thị trờng
theo định hớng xã hội chủ nghĩa, nhng nội dung định hớng XHCN của nền
kinh tế đó cụ thể nh thế nào thì cha đợc làm rõ. Có nhiều ngời cho rằng kinh
tế thị trờng không phải là cái riêng của CNTB, nó đã tồn tại, đang tồn tại và
sẽ tồn tại mãi mãi sau nàyĐây là sự nhộ nhận đáng tiếc, dẫn đến đồng nhất
kinh tế thị trờng TBCN với kinh tế thị trờng theo định hớng XHCN.
Thực chất, sự khác nhau giữa hai nền kinh tế thị trờng nói trên là xuất
phát từ hai hệ thống lý luận kinh tế: kinh tế chính trị và kinh tế học.
Kinh tế chính trị nghiên cứu các vấn đề thuần tuý về sản xuất, về của
cải, về làm giàu, tách rời kinh tế với chính trị, lẩn tránh những mâu thuẫn
trong xã hội. Các nhà kinh tế học t sản hiện đại chỉ quan tâm nghiên cứu sản
xuất cái gì mang lại lợi nhuận cao, làm giàu nhanh chóng chứ không quan
tâm nghiên cứu sản xuất mối quan hệ giữa sản xuất với việc chăm lo phát
triển toàn diện con ngời, với việc bảo vệ môi trờng thiên nhiên. Họ khuyến
khích con ngời chỉ biết làm giàu, trở nên ích kỷ với đồng loại, không hề quan
tâm gì đến những vấn đề xã hội của thế giới hiện đại: bóc lột, đói nghèo, bạo
lực, suy đồi đạo đức, ô nhiễm môi trờng
Đối với chúng ta điều quan tâm trớc hết không phải chỉ là kinh tế học
đơn thuần mà là kinh tế chính trị. Do đó, chúng ta không chỉ chăm lo phát
triển sản xuất mà còn chăm lo phát triển các vấn đề xã hội, vấn đề con ngời
và vấn đề bảo vệ môi trờng, tạo điều kiện cần thiết cho việc thực hiẹn bằng đ-
ợc các nhiệm vụ đề ra. Mặc dù hiện nay cha có đủ các điều kiện cần thiết để
thực hiện các nhiệm vụ đó, nhng mọi hoạt động của chúng ta đều phải hớng
theo đó, đó chính là định hớng xã hội chủ nghĩa.
II.ý nghĩa của đề tài
Thực hiện định hớng xã hội chủ nghĩa là cả một quá trình hình thành
từng bớc tiền đề vật chất và tinh thần, những điều kiện về khách quan và chủ
quan để quá độ lên chủ nghĩa xã hội. ở những nớc Cách Mạng do giai cấp
công nhân lãnh đạo, sau khi giành đợc chính quyền, muốn giữ thành quả


Cách mạng và bảo về lợi ích cho ngời lao động thì không thể đi con đờng nào
1
khác ngoài con đờng Xã hội chủ nghĩa. Đó chính là ký do tại sao chúng ta
phải thực hiện định hớng Xã hội chủ nghĩa, đi theo con đờng mà Bác Hồ đã
chọn.
Nội dung
I.Sự cần thiết đổi mới cơ chế kinh tế ở nớc ta.
1. Thực trạng, hậu quả của cơ chế cũ
ở nớc ta cơ chế tập trung quan liêu bao cấp đã từng tồn tại trong thời gian
khá dài. Khi đó, đất nớc cần tập trung giải quyết những nhiệm vụ chiến tranh
hết sức nặng nề, nhu cầu đời sống dân c còn thấp, đơn giản và tơng đối giống
nhau. Trình độ phát triển nên kinh tế hàng hoá còn thấp, xu hớng phát triển
kinh tế theo chiều rộng còn phù hợp, động thời chống chiến tranh phá hoại
của các thế lực thù địch bên ngoài. Bởi vậy, cơ chế tập trung quan liêu bao
cấp còn phát huy tác dụng. Khi điều kiện thay đổi, cơ chế kinh tế cũ đã tỏ ra
lỗi thời và trở thành một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng trì trệ,
giảm động lực phát triển kinh tế. Thực trạng, hậu quả của cơ chế cũ đẻ lại:
2
Hàng hoá sản xuất ra không có nhiều thị trờng tiêu thụ, năng suất thấp, chất
lợng kém, cha hội nhập tiến bộ kỹ thuật của thế giới, thiếu tính cạnh tranh,
thiếu tính sáng tạo xuất hiện nhiều tệ nạn : tham ô, hối lộ trong nội bộ lãnh
đạo, làm giảm lòng tin vào nhân dân
Cho nên, chủ trơng đổi mới do Đảng ta khởi xớng và lãnh đạo đã thực sự
đi vào cuộc sống vàđem lại những thành tựu to lớn trong nền kinh tế nớc ta.
Đại hội VII của Đảng đã khẳng định để phát huy tiềm năng to lớn của nên
kinh tế nhiều thành phần, phải tiếp tục xoá bỏ cơ chế tập trung quan liêu bao
cấp, chuyển sang cơ chế thị trờng có sự quản lý của Nhà nớc bằng pháp luật,
kế hoạch, chính sách và các công cụ khác.
2. Nh vậy, khi cơ chế kinh tế của nền kinh tế hàng hoá trong thời kỳ quá
độ lên chủ nghĩa ở nớc ta đợc xác lập sẽ gồm hai yếu tố sau:

- Cơ chế thị trờng: đây là nhóm yếu tố chịu sự chi phối một cách khách
quan bởi các yếu tố quan hệ, môi trờng, động lực và các quy luật kinh tế
khách quan của thị trờng còn gọi là nhóm yếu tố gắn với cơ chế tự điều
chỉnh của nên kinh tế (nhóm yếu tố chịu sự chi phối của bàn tay vô hình).
- Sự quản lý của Nhà nớc: Đây là nhóm yếu tố gắn với sự hoạt động
chủ quan của con ngời, của Nhà nớc. Toàn bộ sự tác động của Nhà nớc lên
nèn kinh tế làm cho nó vận động, phát triển theo những mục tiêu xác định.
đó là sự thể hiện vai trò, chức năng kinh tế của Nhà nớc (nhóm yếu tố chịu
sự chi phối của bàn tay hữu hình).
a.Ưu điểm chủ yếu của cơ chế thị trờng.
So với cơ chế tập trung chỉ huy, cơ chế thị trờng có những u điểm
chủ yếu sau:
- Cơ chế thị trờng tạo điều kiện phát huy mọi tiềm năng, thúc đẩy tính
chủ động sáng tạo, phản ứng nhanh nhạy, kịp thời nắm bắt nhu cầu của thị tr-
ờng, thờng xuyên cải tiến phát triển tổ chức quản lý, áp dụng tiến bộ khoa
học- kỹ thuật v.v làm cho nền kinh tế phát triển năng đông và có hiệu quả
hơn.
- Cơ chế thị trờng có khả năn tự điều chỉnh, sửa chữa sai lầm kịp thời
hơn. Bởi vậy, hạn chế đợc phạm vi và mức độ tác hại của những sai lầm trong
hoạt động kinh tế.
3
- Do dựa vào giá cả làm tín hiệu phản hồi khách quan của thị trờng,
cho nên các hoạt động kinh tế sát với thực tế hơn, các yếu tố chủ quan, duy ý
chí, giảm hơn so với cơ chế tập trung chỉ huy.
b. Nhợc điểm chủ yếu của cơ chế thị trờng.
Tuy có nhiều u điểm, song cơ chế thị trờng có những nhợ điểm không
thể tự khắc phục đợc, đó là:
- Cơ chế thị trờng cũng có những yếu tố làm giảm tốc độ phát triển
kinh tế do nảy sinh độc quyền từ cạnh tranh tự do và việc bí mật ví quyết
kinh doanh của từng đơn vị.

- Thờng xuyên tạo ra sự mất cân đối, bất hợp lý ở tầm vĩ mô, làm giảm
hiệu quả trên quy mô nên kinh tế quốc dân.
- Trong hoạt động thực tiễn của cơ chế thị trờng, do chạy theo lợi
nhuận đơn thuần nên không thể tránh khỏi các hiện tợng buôn gian, bán lận,
đầu cơ, làm hàng giả.v.v và nhiều bệnh trạng xã hội khác nh phân hoá giàu
nghèo, thất nghiệp, lạm phát, phá sản dẫn đến sự phá hoại lực lợng sản xuất,
vi phạm đạo đức, lối sống, ô nhiễm môi trờng, phá hoại thiên nhiên.v.v
Trên phạm vi quốc tế, cơ chế thị trờng dễ dẫn đến mâu thuẫn giữa các
nớc, các trung tâm kinh tế đặc biệt dễ tạo ra trật tự kinh tế bất công giữa các
nớc giàu và nghèo.
Do những nhợc điểm trên đây, nên cần có sự điều tiết của Nhà nớc để
hạn chế những khuyết tật của có chế thị trờng. Vì thế xuất hiện phạm trù cơ
chế thị trờng có sự quản lý của Nhà nớc.
II. Sự quản lý của Nhà nớc.
1.Tại sao phải có sự quản lý của Nhà nớc.
ở Việt Nam, vai trò kinh tế của Nhà nớc đợc thể hiện qua nhiệm vụ tổ
chức quản lý toàn bộ nên kinh tế quốc dân ở tầm kinh tế vĩ mô và vi mô,
trong đó quản lý kinh tế vĩ mô là chủ yếu.
Sở dĩ, Nhà nớc ta có vai trò kinh tế nói trên là vì:
4
Một là: Nhà nớc ta của dân, do dân, vì dân; là ngời đại diện cho tàon
dân, cho toàn xã hội, có nhiệm vụ quản lý đất nớc về mặt hành chính kinh
tế .
Hai là: Nhà nớc là ngời đại diện cho sở hữu toàn dân về t liệu sản xuất,
có nhiệm vụ quản lý các doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế Nhà nớc.
Ba là: Trong nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận động theo cơ
chế thị trờng, cùng với những mặt tích cực của nó, không thể tránh khỏi các
khuyết tật vốn có. Bởi vậy, sự quản lý của Nhà nớc sẽ góp phần khắc phục
các khuyết tật, phát huy mặt tích cực của cơ chế thị trờng và là một tất yếu
khách quan.

Nhà nớc thực hiện vai trò kinh tế của mình nhằm các mụctiêu sau:
- Đảm bảo cho nên kinh tế phát triển ổn định, bền vững, tránh những
đột biến xấu.
- Đảm bảo hiệu quả kinh tế- xã hội cao, thực hiện mục tiêu phát triển
kinh tế kết hợp với công bằng và tiến bộ xã hội.
- Thực hiện nhiệm vụ quán triệt, tổ chức thực đờng lối của Đảng, đa
nền kinh tế phát triển theo định hớng xã hội chủ nghĩa.
2. Vai trò của Nhà nớc trong kinh tế thị trờng bao gồm.
- Vai trò điều chỉnh, bằng cách cung cầu cân đối trong toàn xã hội để
chỉ đạo các doanh nghiệp không làm lệch cung cầu, cái mà từng doanh
nghiệp không nắm đợc. Trong vai trò này, phải phát hiện kịp thời những mất
cân đối, những nguy cơ tiềm ẩn để do ngăn ngừa trớc hay đối phó kịp thời
khi nó xảy ra. Việc sử dụng các công cụ nh tài chính tiền tệ, để điều chỉnh
tốc độ phát triển sao cho hài hoà, đòi hỏi phải thờng xuyên kiểm tra lại các lý
thuyết kinh tế về các công cụ đó xem mức độ đúng sai ra sao. Vì cơ sở lý
luận mà không khoa học sẽ dẫn tới những sai lầm rất lớn. Ví dụ học thuyết tự
do đang dẫn CNTB trở lại thời kỳ vô chính phủ, các thế kỷ trớc và ba thập
niên đầu của thế kỷ XX. Ví dụ quan niệm lạm phát giá cả đã làm lý thuyết
tiền tệ tụt lùi đến mức công nhận có cả làm phát vàng vào thế kỷ XVI và
làm cho IMF mất phơng hớng trong nhiệm vụ ổn định tiền tệ quốc tế và
không dự đoán mối khủng hoảng tiền tệ.
5
- Vai trò điều tiết giữa các lĩnh vực, các vùng kinh tế để tạo ra sự phát
triển hài hoà. Điều tiết khó hơn điều chỉnh vì nó không phải chỉ là cân bằng
mà nó đòi hỏi phải tính ra đợc một tỷ lệ phát triển tối u cả về không gian và
thời gian. Nó cũng đòi hỏi tầm nhìn xa xem thị trờng hiện nay nh thế này nh-
ng tơng lai nó sẽ biến động ra sao doanh thuế điều tiết từ nơi này sang nơi
thiếu, lúc thừa sang lúc thiếu. Ví dụ về tỷ giá mua ngoại tệ vào lúc cung> cầu
để lúc cung< cầu có lực lợng cân đối giữ ổn định tỷ giá.
- Vai trò tạo sân chơi công bằng để các doanh nghiệp tự do cạnh tranh.

Đó cũng là tạo công bằng xã hội. Luật pháp đợc soạn thảo đúng với quy luật
thị trờng sẽ giúp thực hiện tốt vai trò này.
- Vai trò bảo hộ cho sản xuất trong nớc. Về vai trò này, đang có những
ý kiến khác nhau. ý kiến cho rằng ta buộc phải tham gia AFTA thì vai trò
bảo hộ sẽ mất dần đi. Tôi cho rằng nó không mất đi mà phải làm bằng những
phơng thức khác kết hợp giữa hội nhập quốc tế và bảo hộ sản xuất trong nớc.
Ví dụ với ngân hàng thơng mại phải giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc để tăng sức
mạnh cạnh tranh cho doanh nghiệp trong nớc. Ta cúng phải đói thoại với các
tổ chức quốc tế nh WTO, IMF để không tự do hoá hoàn toàn đến mức bỏ mọi
sự kiểm soát của Nhà nớc.
3. Vai trò của Nhà nớc trong nền kinh tế thị trờng theo định hớng
XHCN.
Học thuyết Ken- dơ đã nói đến hai khuyết tật của chủ nghĩa t bản là
khủng hoảng kinh tế chu kỳ và thất nghiệp đã giúp chủ nghĩa t bản tự điều
chỉnh bằng tiền tệ để xoá bỏ đợc khủng hoảng kinh tế chu kỳ từ năm 19.
Bây giờ khủng hoảng tiền tệ đã giúp chúng ta thấy ra khuyết tật thứ ba của
chủ nghĩa t bản là dung túng cho đầu cơ thị trờng chứng khoán phát triển đến
mức cực kỳ nguy hiểm từ thập niên 70 với sự lợi dụng những công cụ tài
chính và biến chúng thành những công cụ bán khống. Trớc mắt là phải tiến
tới sự hạn chế đầu cơ ở thị trờng tài chính, cái đang dẫn chủ nghĩa t bản quay
trở về thời kỳ vô chính phủ. Nh vậy kết quả xoá bỏ khủng hoảng kinh tế chu
kỳ. Còn xoá bỏ thất nghiệp là việc làm lâu dài cho đến khi của cải vật chất
dồi dào, hoàn thành công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
Vai trò của Nhà nớc trong kinh tế thị trờng theo định hớng xã hội chủ
nghĩa đòi hỏi phát triển ra những khuyết tật của kinh tế thị trờng t bản chủ
6
nghĩa để tìm ra những định chế có khả năng xoá bỏ những khuyết tật đó và
tạo ra dần dần một kinh tế thị trờng xã hội chủ nghĩa.
Vai trò này cũng đòi hỏi phải thay thế dần phơng thức phân phối theo
t bản bằng phơng thức phân phối theo kết quả hoạt động và hiệu quả kinh tế

là chủ yếu, động thời phân phối dựa trên mức đóng góp các nguồn lực khác
vào kết quả sản xuất kinh doanh và phân phối thông qua phúc lợi xã hội; nói
rộng ra là sáng tạo ra những cách quản lý mới để biến đổi dần thị trờng
TBCN thành thị trờng XHCN.
III. Các công cụ và chính sách vĩ mô để nâng cao vai trò quản
lý của Nhà nớc.
1. Hệ thống pháp luật.
Đặc biệt là luật kinh tế phải đầy đủ, đồng bộ, thống nhất, không ngừng đ-
ợc hoàn chỉnh và có đủ hiệu lực để thực hiện nó. Thông qua công cụ này,
Nhà nớc tạo ra hành lang đủ để lập và duy trì kỷ cơng trật tự, hớng dẫn các
doanh nghiệp hoạt động theo pháp luật, chống mọi hiện tợng làm ăn phi
pháp.
2. Kế hoạch hoá nên kinh tế quốc dân.
Kế hoạch hoá nền kinh tế quốc dân là công cụ quan trọng của Nhà nớc
để hoạch định các chơng trình, định hớng mục tiêu trong từng thời kỳ. Đó là
loại hoạt động tự giác có ý thức của Nhà nớc để quản lý toàn bộ nền kinh tế
theo một mục tiêu thống nhất đã định trớc trên cơ sở đã nhận thức và vận
dụng các quy luật kinh tế khách quan nhằm xác định tốc độ, quan hệ tỷ lệ cơ
cấu kinh tế hợp lý để không ngừng mở rộng sản xuất với hiệu quả kinh tế xã
hội ngày càng cao. Bởi vậy có thể nói rằng quá trình kế hoạch hoá nền kinh
tế quốc dân chính là quá trình cụ thể hoá đờng lối, chủ trơng, chính sách của
Đảng và Nhà nớc thành chỉ tiêu, số liệu cụ thể trên cơ sở đó mà thực hiện để
biến đờng lối, chính sách, chủ trơng,thành hiện thực. Do đó, kế hoạch hoá
kinh tế quốc dân là công cụ Nhà nớc để quản lý nên kinh tế, thực hiện đờng
lối của Đảng cầm quyền, là sự lợng hoá chủ trơng, chính sách của Đảng và
Nhà nớc.
3.Hệ thống chính sách kinh tế xã hội.
7
Hệ thống chính sách kinh tế- xã hội bao gồm các chính sách về tài
chính- tiền tệ, tín dụng, ngân hàng, chính sách đầu t, chính sách thuế, chính

sách kinh tế đối ngoại, chính sách kinh tế nhiều thành phần, chính sách thu
nhập, chính sách đối với các dân tộc vùng it ngời, nông thôn, miền núi,
Đây là công cụ góp phần tạo ra môi trờng kinh tế- xã hội , ổn định có lợi cho
sự nghiệp tăng trởng và phát triển kinh tế- xã hội, thực hiện mục tiêu kết hợp
tăng trởng kinh tế với công bằng và tiến bộ xã hội.
4. Các loại công cụ khác:
Nhà nớc sử dụng lực lợng kinh tế Nhà nớc, lực lợng dự trữ quốc gia,
thông tin, dự báo, để tác động vào nền kinh tế thị trờng, nhằm đảm bảo cân
đối vĩ mô, điều tiết thị trờng, ngăn ngừa những đột biến xấu của thị trờng
theo định hớng có lợi cho sự phát triển kinh tế xã hội.
Thông qua việc sử dụng có hiệu quả các hệ thống công cụ nói trên,
Nhà nớc thực hiện đợc vai trò chức năng kinh tế của mình nhằm mục đích
cuối cùng là quản lý, phân bố, sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực của đất n-
ớc, tạo mọi điều kiện cần thiết để thực hiện mục tiêu tăng trởng kinh tế kết
hợp với công bằng và tiến bộ xã hội, đa nền kinh tế phát triển theo định hớng
XHCN.
8
Kết luận
Thực hiện định hớng xã hội chủ nghĩa là một quá trình hình thành từng
bớc những tiền đề vật chất tinh thần, những điều kiện khách quan và chủ
quan để quá độ lên chủ nghĩa xã hội, ở những nớc mà phong trào giải phóng
dân tộc do giai cấp công nhân lãnh đạo, sau khi giành đợc chính quyền muốn
giữ vững thành quả cách mạng và bảo vệ lợi ích ngời lao động thì không thể
đi con đờng nào khác ngoài con đờng xã hội chủ nghĩa. Đó chính là lý do vì
sao chúng ta phải thực hiện định hớng xã hội chủ nghĩa đi theo con đờng mà
Bác Hồ đã chọn.
-Mục tiêu của CNXH là nâng cao mức sống, xoá bỏ bóc lột, không để
phân hoá giàu nghèo, bảo đảm cuộc sống ấm lo hạnh phúc cho mọi ngời trên
cơ sở phát triển mạnh mẽ lực lợng sản xuất. Về mặt xã hội tạo lập một chuẩn
mực giá trị xã hội và một chuẩn mực xã hội trên cơ sở phát huy bản sắc dân

tộc, tạo điều kiện cho con ngời phát triển một cách toàn diện, xây dựng nền
văn minh đại chúng, một xã hội vừa phồn vinh về kinh tế, vừa ổn định về
chính trị xã hội.
Nền kinh tế thị trờng theo đinh hớng XHCN là nền kinh tế pháp trị.
Hiện nay hệ thống pháp luật nớc ta còn cha đồng bộ và hoàn thiện, khiến cho
những kẻ tham nhũng có thể dựa vào những kẽ hở để tránh bị chừng phạt. Do
đó, không chỉ cần xây dựng pháp luật, mà còn phải tăng cờng đấu tranh bảo
đảm việc chấp hành luật pháp.
Pháp luật phải bảo đảm cho mọi công nhân đều có cuộc sống có giá trị
nhân bản, vì thế cần có sự hạn chế nhất định đối với sở hữu và quyền lc khi
sở hữu và quyền lực cản trở sự phát triển nhân cách.
Nhà nớc phải kiểm soát tăng trởng kinh tế và thực hiện công bằng xã
hội. Điều đó đòi hỏi phải có sự giải quyết hài hoà giữa tằng trởng kinh tế với
giải quyết các vấn đề xã hội. Mặt khác sự công bằng trong kinh tế, chính trị
xã hội đợc thể hiện trong sự phân phối thu nhập. Vì thế Nhà nớc có sự giám
sát đối với việc phân phối nguồn lợi kinh tế, xem nó có lợi cho tầng lớp nào
để trên cơ sở đó điều chỉnh, thực hiện công bằng xã hội, khắc phục phân hoá
giàu nghèo quá lớn.
9
Thực hiện chức năng xã hội, Nhà nớc phải có một chính sách xã hội,
xây dựng một chuẩn mực giá trị đạo đức xã hội và trật tự xã hội. Trớc hết,
Nhà nớc thực hiện bảo hiểm xã hội, phân phối hợp lý t liệu sản xuất, giao
ruộng đất, giao bán cổ phần cho vay vốn, đào tạo nghề có thể tự lo cuộc sống
lâu dài. Nhà nớc xây dựng một chuẩn mực giá trị đạo đức xã hội làm cơ sở
cho chính sách xã hội và trật tự xã hội, bảo đảm tổ chức, duy trì trật tự kỷ c-
ơng xã hội và nếp sống văn minh, hớng mọi hoạt động kinh tế vào mục tiêu
vì con ngời, xây dựng một xã hội phát triển hài hoà giữa vật chất tinh thần và
tri thức, đặt nền móng cho một quốc gia thật sự vững mạnh.
Trật tự xã hội là tiền đề không thể thiếu để một chế độ xã hội có thể
tồn tại và phát triển lâu dài. Trật tự đó phải đợc xây dựng trên một chuẩn mực

giá trị xã hội theo tinh thần nhân đạo XHCN đợc quán triệt trên mọi lĩnh vực:
phát triển sản xuất, tổ chức cuộc sống, tổ chức gia đình, đạo đức, thẩm mỹ, ý
thức pháp chế, sức khoẻ môi trờng trong tổ chức xã hội, gia đình có ý nghĩa
nền tảng.
10
Mục lục
Trang
Phầnmở đầu
1
I
Tính cấp thiết của đề tài
1
II
ý nghĩa của đề tài
2
Nội dung
3
I
Sự cần thiết đổi mới cơ chế kinh tế ở nớc ta
3
1 Thực trạng, hậu quả của cơ chế cũ 3
2 Nh vậy, khi cơ chế kinh tế của nền kinh tế hàng hoá trong thời kỳ
quá độ lên chủ nghĩa ở nớc ta đợc xác lập sẽ gồm hai yếu tố sau
3
II
Sự quản lý của Nhà nớc
5
1 Tại sao phải có sự quản lý của Nhà nớc 5
2 Vai trò của Nhà nớc trong kinh tế thị trờng bao gồm 6
III

Các công cụ và chính sách vĩ mô để nâng cao vai trò quản lý
của Nhà nớc
11
1 Hệ thống luật phsản phẩm 11
2 Kế hoạch hoá nền kinh tế quốc dân 11
3 Hệ thống chính sách kinh tế xã hội 11
4 Các loại công cụ khác 12
Kết luận
11

×