Tải bản đầy đủ (.doc) (72 trang)

giải pháp và bài học kinh nghiệm cho tổng công ty thép việt nam trong quá trình chuyển đổi

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (535.05 KB, 72 trang )

Lời nói đầu
1. Tính cấp thiết của Đề tài
Sắp xếp, đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả của DNNN là một
trong những yêu cầu bc thiết của Đảng và Nhà nớc ta hiện nay. Thực tiễn hoạt
động của DNNN ở Việt Nam hàng chục năm qua cho thấy mặc dù DNNN đợc
giao phó vai trò chủ đạo, song hoạt động của DNNN có nhiều điểm bất cập.
DNNN chiếm phần vốn đầu t chủ yếu từ Ngân sách Nhà nớc. Đội ngũ cán bộ
có đào tạo, cán bộ quản lý có năng lực cũng tập trung chủ yếu ở trong các
DNNN. Các DNNN chiếm lĩnh hầu hết các lĩnh vực then chốt của nền kinh tế
nh: bảo hiểm, ngân hàng, tài chính, dầu khí, vận tải, bu chính,điện m Song
DNNN vẫn cha thực sự phát huy tốt vai trò nòng cốt của chúng trong việc làm
cho nền kinh tế Nhà nớc thực sự đóng vai trò chủ đạo. Đa số các DNNN làm
ăn thua lỗ, gậy thất thoát tài sản của Nhà nớc một cách nghiêm trọng. Những
vụ tham nhũng điển hình đều trực tiếp hoặc gián tiếp liên quan đến DNNN,
chính vì vậy từ trớc đến nay, vấn đề sắp xếp, đổi mới DNNN để loại hình
doanh nghiệp này trở thành động lực chủ yếu của nền kinh tế luôn luôn đợc
Đảng và Nhà nớc ta chú trọng sắp xếp, đổi mới DNNN càng trở nên cấp bách
khi nớc ta chuyển sang nền kinh tế thị trờng định hớng xã hội chủ nghĩa và sự
chủ động hội nhập vào nền kinh tế khu vực và Thế giới.
Giải pháp đổi mới DNNN có nhiều nhng trong điều kiện nền kinh tế nớc
ta hiện nay thì CPH là một trong những giải pháp đợc lựa chọn, là một trong
những giải pháp mang tính đột phá khi Việt Nam đứng trớc những yêu cầu
mới về phát triển kinh tế.
Trớc sức mạnh lớn lao của phong trào đổi mới cơ cấu doanh nghiệp cho
phù hợp với chủ trơng và đờng lối của Đảng và Nhà nớc thì Tổng công ty thép
Việt Nam cũng thực hiện công việc này. Vì mặc dù làm ăn cũng đã có nhiều
biến đổi trong những năm gần đây, nhng Tổng công ty Thép Việt Nam cũng
không tránh khỏi những căn bệnh cố hữu của các DNNN đó là hoạt động cha
thực sự hiệu quả, mà một trong những nguyên nhân của nó cũng là do cơ cấu
sở hữu cha hợp lý. Đó cũng là vấn đề bức bách nhất hiện nay của Tổng công
ty Thép Việt Nam.


CPH mặc dù đã xuất hiện rất lâu, nhng mọi ngời cũng chỉ mới nghe nói
tới CPH chứ cha thực sự hiểu hết về CPH. Hiểu về CPH đã là một vấn đề khó
nhng để áp dụng đợc CPH nh thế nào cho đúng còn khó hơn. Trong quá trình
thực hiện CPH Tổng công ty Thép Việt Nam còn gặp nhiều khó khăn, vớng
mắc. Quá trình thực hiện cha đợc hoàn thiện. Vì vậy, việc chỉ ra những khó
khăn và các biện pháp để giải quyết là một vấn đề hết sức quan trọng. Đó là lý
do vì sao em chọn đề tài . Mong muốn của em khi chọn đề tài này là tìm
hiểu và góp phần đa ra một số giải pháp mang tính kiến nghị đối với Tổng
công ty Thép Việt Nam về việc đẩy nhanh quá trình CPH của Tổng công ty.
Hoàng Thị Hằng - QLKT 43B 1
Đây là những vấn đề mang tính bức thiết cả về lý luận và thực tiễn, là nhiệm
vụ quan trọng của Tổng công ty trong quá trình sắp xếp, đổi mới các đơn vị
thành viên sao cho phù hợp với chủ trơng, đờng lối của Đảng và Nhà nớc ta.
Đây là một đề tài thực sự rất đáng quan tâm nhng đây cũng là một vấn đề khó.
Do thời gian và trình độ hiểu biết về CPH còn hạn chế. Ngoài ra trong quá
trình tìm hiểu về Tổng công ty thép Việt Nam em còn cha thực sự hiểu rõ các
chính sách của Tổng công ty nên đề tài của em không thể tránh khỏi những
thiếu sót. Em rất mong nhận đợc sự góp ý của các thầy, các cô và của các bạn
để bài viết của em đợc hoàn thiện hơn. Em cũng xin chân thành cảm ơn thầy
giáo, PGS. TS Phan Kim Chiến, các cô, các chú và các bác trong phòng Tổ
chức Lao động- Tổng công ty Thép Việt Nam đã tận tình giúp đỡ, chỉ bảo em
trong quá trình tìm hiểu vấn đề.
2. Mục tiêu của đề tài
- Nhằm đa ra lý luận chung về giải pháp chuyển đổi cơ cấu sở hữu
DNNN trong Tổng công ty thép Việt Nam trong quá trình sắp xếp, đổi mới
DNNN. Những lý thuyết cơ bản về CPH, những nhân tố tác động đến quá
trình CPH.
- Phân tích đợc kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Tổng công ty
Thép Việt Nam trớc và sau khi tiến hành CPH. Trên cơ sở đó phân tích những
điều kiện thuận lợi và khó khăn, những nguyên nhân cản trở tiến trình CPH để

có những giải pháp hợp lý khi thực hiện.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm tháo gỡ những vớng mắc, tồn tại của
vấn đề CPH của Tổng công ty Thép Việt Nam.
3. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu là những vấn đề lý luận và thực tiễn về CPH của
DNNN nói chung, của Tổng công ty Thép Việt Nam nói riêng. Phân tích,
đánh giá để đề ra các giải pháp phù hợp nhằm đẩy nhanh tiến trình CPH trong
Tổng công ty Thép Việt Nam.
4. Phơng pháp nghiên cứu.
Trong quá trình nghiên cứu đề tài này em có sử dụng một số phơng pháp
nghiên cu sau: Phơng pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, phơng pháp
Phân tích Tổng hợp, phơng pháp thống kê- so sánh, phơng pháp điều tra.
5. Kết cấu của đề tài
Ngoài phần Lời nói đầu và phần kết luận ra, chuyên đề này em trình
bày theo 3 chơng.
Ch ơng I: Những vấn đề chung về cơ cấu sở hữu trong DNNN. Vì sao
phải chuyển đổi và chuyển đổi nh thế nào?
Ch ơng II: Thực trạng việc chuyển đổi cơ cấu sở hữu trong Tổng công ty
thép Việt Nam.
Hoàng Thị Hằng - QLKT 43B 2
Ch ơng III: Giải pháp và bài học kinh nghiệm cho Tổng công ty Thép
Việt Nam trong quá trình chuyển đổi.
Chơng I: Những vấn đề chung về cơ cấu sở hữu
trong các doanh nghiệp nhà nớc. Vì sao phải
chuyển đổi và chuyển đổi nh thế nào?
1. Cơ cấu sở hữu
Để hiểu đợc cơ cấu sở hữu trong doanh nghiệp nhà nớc, trớc hết chúng ta
phải hiểu DNNN là gì?
Có rất nhiều quan điểm khác nhau về doanh nghiệp nhà nớc, theo các
điều luật khác nhau, ví dụ nh:

- Theo điều 1- Luật Doanh nghiệp Nhà nớc ngày 20 tháng 4 năm 1995
xác định: Doanh nghiệp Nhà nớc là tổ chức kinh tế do Nhà nớc đầu t vốn,
thành lập và tổ chức quản lý, hoạt động kinh doanh hoặc hoạt động công ích,
nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế xã hội do Nhà nớc giao.
- Theo Luật Doanh nghiệp Nhà nớc năm 1995 đã đem lại nhiều kết quả
đáng khích lệ, tuy nhiên nếu áp dụng luật này kết quả hoạt động kinh doanh
của các doanh nghiệp Nhà nớc vẫn còn hạn chế, hiệu quả của Doanh nghiệp
Nhà nớc giảm sút, các DNNN thiếu tính năng động, tự chủ, tự chịu trách
nhiệm trong kinh doanh. Ngoài những nguyên nhân kinh tế xã hội và sự
biến động của môi trờng kinh tế vĩ mô, tình trạng trên còn do những nguyên
nhânlà sự hạn chế của khung pháp luật về DNNN do mô hình tổ chức quản lý,
cơ chế chính sách cha thực sự phù hợp với điều kiện của nền kinh tế thị trờng,
cha tạo động lực mạnh mẽ thúc đẩy cán bộ và ngời lao động trong doanh
nghiệp.
- Đến năm 2003 để thể chế hoá những chủ trơng, chính sách của Đảng về
sắp xếp, đổi mới DNNN, nhằm khắc phục những nhợc điểm của Luật DNNN
năm 1995 thì tại Điều 1 Luật DNNN ngày 26 thàng 11 năm 2003: DNNN
Hoàng Thị Hằng - QLKT 43B 3
là tổ chức kinh tế do Nhà nớc sở hữu toàn bộ vốn điều lệ hoặc có cổ phần, vốn
góp chi phối đợc tổ chức dới hình thức Công ty Nhà nớc, công ty cổ phần,
công ty trách nhiệm hữu hạn( TNHH).
- Trên cơ sở Luật DNNN ngày 26 tháng 3 năm 2003 ta thấy DNNN có
những đặc điểm sau:
+ DNNN là một tổ chức kinh tế do Nhà nớc sở hữu toàn bộ số vốn điều lệ
hoặc là có cổ phần, vốn góp chi phối. Mục đích hoạt động của DNNN là thực
hiện hành vi kinh doanh để tìm kiếm lợi nhuận.
+ DNNN là một chủ thể kinh doanh độc lập tự chịu trách nhiệm về hoạt
động của Doanh nghiệp trong phạm vi số vốn điều lệ của doanh nghiệp. Đó là
doanh nghiệp chịu trách nhiệm hữu hạn.
+ Doanh nghiệp có t cách pháp nhân.

+ DNNN đợc tổ chức dới hình thức công ty Nhà nớc, công ty cổ phần,
công ty TNHH.
+ DNNN mặc dù có sự đầu t vốn của Nhà nớc vào trong doanh nghiệp,
tuy vậy có sự tách biệt rõ ràng giữa chức năng quản lý Nhà nớc với chức năng
hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Cơ cấu tổ chức của doanh nghiệp.
Cơ cấu tổ chức( chính thức) là tổng hợp các bộ phận ( đơn vị và cá nhân)
có mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau, đợc chuyên môn hoá, có những nhiệm vụ,
quyền hạn và trách nhiệm nhất định, đợc bổ trí theo những cấp, những khâu
khác nhau nhằm thực hiện các hoạt động của tổ chức và tiến tới những mục
tiêu xác định.
Cơ cấu sở hữu của doanh nghiệp.
Cơ cấu sở hữu là một loại hình cơ cấu doanh nghiệp mà nó xác định trách
nhiệm và phơng thức điều hành trách nhiệm.
2. Vai trò của cơ cấu sở hữu.
Cơ cấu sở hữu thực chất là việc gắn trách nhiệm, quyền hạn và nghĩa vụ
của ngời có vốn sở hữu. Nếu nh ngời đó bỏ vốn ra, tổ chức hoạt động sản xuất
kinh doanh trong phạm vi số vốn điều lệ của mình thì họ sẽ có trách nhiệm
hơn đối với số vốn mình bỏ ra. Nh vậy vai trò của cơ cấu sở hữu là: xác định
rõ vai trò nhiệm vụ, trách nhiệm giữa ngời sở hữu vốn so vốn điều lệ nhằm
giúp cho doanh nghiệp Nhà nớc hoạt động và sử dụng vốn có hiệu quả hơn.
3. Các loại hình cơ cấu sở hữu trong doanh nghiệp Nhà nớc hiện nay.
Thứ nhất: DNNN là có 100% vốn điều lệ thuộc sở hữu Nhà nớc. Đây là
loại hình DNNN trong đó Nhà nớc, sở hữu, quản lý và chịu trách nhiệm toàn
bộ trong phạm vi số vốn điều lệ của doanh nghiệp. Loại này bao gồm:
+ Công ty Nhà nớc hay Tổng công ty Nhà nớc,
+ Công ty TNHH Nhà nớc một thành viên do Nhà nớc sở hữu toàn bộ
vốn điều lệ.
Hoàng Thị Hằng - QLKT 43B 4
+ Công ty TNHH Nhà nớc có từ hai thành viên trở lên, do các thành viên

là Công ty Nhà nớc hoặc các tổ chức đợc Nhà nớc uỷ quyền, góp vốn.
Thứ hai: DNNN không có 100% vốn điều lệ thuộc sở hữu Nhà nớc.
Trong các DNNN loại này tuy có vốn của Nhà nớc nhng lợng vốn đó không
chiếm toàn bộ vốn điều lệ. Loại này bao gồm: công ty cổ phần, công ty TNHH
có từ hai thành viên trở lên, doanh nghiệp liên doanh có vốn của Nhà nớc
chiếm trên 50% vốn điều lệ của doanh nghiệp.
4. Thực trạng hoạt động của doanh nghiệp Nhà nớc. Nguyên nhân phải
chuyển đổi.
Để phân tích đợc nguyên nhân phải chuyển đổi cơ cấu sở hữu trong các
doanh nghiệp Nhà nớc thì trớc hết chúng ta phải thấy đợc thực trạng hoạt động
của các DNNN.
DNNN trong nền kinh tế thị trờng định hớng xã hội chủ nghĩa ở Việt
Nam là vấn đề hết sức nhạy cảm về chính trị và cũng là vấn đề bức xúc về mặt
quản lý kinh tế. Nền kinh tế Nhà nớc mà đặc biệt là các DNNN giữ một vị trí
đặc biệt quan trọng và chủ đạo trong nền kinh tế nói chung. DNNN đã đóng
vai trò quan trọng trong việc củng cố nền tảng kinh tế, xã hội của nớc ta, góp
phần xứng đáng vào sự nghiệp đấu tranh thống nhất nớc nhà, xây dựng cở sở
vật chất cho Chủ Nghĩa Xã Hội( CNXH).
DNNN có một vai trò hết sức quan trọng, thể hiện trên một số mặt chủ
yếu sau:
Thứ nhất: DNNN phải chi phối đợc sự phát triển trong các lĩnh vực kinh
tế có ý nghĩa đối với sự phát triển ổn định của đất nớc;
Thứ hai: DNNN phải là động lực cho sự phát triển của các doanh nghiệp
khác thông qua hiệu quả hoạt động cao trên nền tảng của công nghệ sản xuất
hiện đại và hệ thống quản lý tiên tiến;
Thứ ba: DNNN là nguồn lực vật chất chủ yếu của Nhà nớc. DNNN phải
tạo ra đợc sự đóng góp quyết định cho Ngân sách Nhà nớc. Dựa vào những
đóng góp chủ yếu của DNNN và thông qua việc sở hữu các doanh nghiệp,
Nhà nớc XHCN có trong tay tiềm lực kinh tế vững mạnh để thực hiện những
nhiệm vụ của mình;

Thứ t ; DNNN là mẫu mực trong việc giải quyết các chính sách xã hội
nh việc làm, trợ cấp xã hội. Trong thực tiễn của nớc ta trớc đây, DNNN đóng
vai trò quan trọng trong việc giải quyết các vấn đề xã hội. Nhiều chính sách xã
hội đợc thực hiện tốt thông qua các DNNN. Đây là vai trò cần phát huy của
DNNN trong điều kiện hiện nay.
Trên cơ sở vai trò của DNNN với sự phát triển của nền kinh tế, ta lại thấy
một thực trạng về hoạt động của doanh nghiệp Nhà nớc nh sau:
Những mặt tích cực.
- DNNN vẫn chi phối đợc những ngành, lĩnh vực then chốt của nền kinh
tế, góp phần để kinh tế Nhà nớc giữ vai trò chủ đạo, giữ tỷ trọng lớn trong
Hoàng Thị Hằng - QLKT 43B 5
xuất khẩu, thu nộp ngân sách, hợp tác đầu t với nớc ngoài, đảm bảo đợc các
dịch vụ công ích, phục vụ tốt cho an ninh và quốc phòng của đất nớc. Năm
2003 DNNN đã đóng góp 38% tổng sản phẩm trong nớc, 60% tổng thu trong
nớc của Ngân sách Nhà nớc, 50% kim ngạch xuất khẩu của cả nớc.
- Số lợng doanh nghiệp 100% vốn Nhà nớc giảm từ 5655( năm 2000)
xuống còn 4492 , nhng năng lực sản xuất xét trên tổng thể vẫn tăng. Năm
2003, doanh thu của DNNN đạt 470000 tỷ đồng, tăng 10,5% so với năm 2002
và 11% so với năm 2001, nộp Ngân sách Nhà nớc 87000 tỷ đồng, tăng 10% so
với năm 2002 và 69% so với năm 2001.Lợi nhuận đạt 21000 tỷ đồng, tăng
10,5% so với năm 2002 và 32,2% so vơi năm 2001.
- DNNN đang dần dần thích ứng với nền kinh tế thị trờng định hớng
XHCN, quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm đợc nâng cao, vốn đợc bảo toàn và
phát triển. Tổng số vốn Nhà nớc tại các doanh nghiệp tăng 17000 tỷ đồng so
với năm 2002.
- Nhiều DNNN đã tăng đợc khả năng cạnh tranh và khả năng hội nhập
quốc tế.
Tuy nhiên xét một cách toàn diện thì những thành tựu trên của DNNN
vẫn cha thể khắc phục đợc những tồn tại của chúng trong hoạt động sản xuất
kinh doanh. Số lợng DNNN tính đến tháng 12 năm 2003 còn lại là 4492. Đây

là sự giảm đáng kể về số lợng DNNN, nhng con số này còn quá lớn so với
tổng số vốn mà hiện nay DNNN đang nắm giữ, so với nền kinh tế có tổng thu
nhập quốc dân khoảng 40 tỷ USD. Sự phát triển không bình thờng về lợng
cộng với những bất cập trong cơ chế quản lý đã dẫn DNNN tới một số hạn chế
sau đây:
Hạn chế của doanh nghiệp Nhà nớc ( tham khảo theo " CPH DNNN ,
những vấn đề lý luận và thực tiễn"- PGS.TS Lê Hồng Hạnh- NXB Chính trị
Quốc gia- 3/2004).
Thứ nhất; Hiệu quả sản xuất kinh doanh cha cao, cha tơng xứng với vị
trí và sự đầu t của Chính phủ và của Ngân sách Nhà nớc. Theo số liệu thống
kê của Bảng Báo cáo của Ban cán sự Đảng của Chính phủ năm 2003, tính đến
hết năm 2003 cả nớc có 4492 doanh nghiệp Nhà nớc với tổng số vốn là
189000 tỷ đồng. Trong số các DNNN hiện có77,2% là doanh nghiệp kinh
doanh có lãi song đó chỉ co 40% doanh nghiệp có mức lãi bằng hoặc cao hơn
lãi suất ngân hàng. NếuG tính đủ các chi phí, nợ thì tỷ lệ DNNN có lãi sẽ thấp
hơn. Năm 2003, tỷ suất lợi nhuận trên đồng vốn của DNNN chỉ đạt 7,34%, tốc
độ tăng bình quân trong 3 năm gần đây là 10% trong lúc đó khu vực doanh
nghiệp là 18%.
Thứ hai; doanh nghiệp Nhà nớc có qui mô nhỏ. Trong số 4492 DNNN
hiện có, số doanh nghiệp Nhà nớc có vốn dới 5 tỷ đồng chiếm 47% trong khi
đó chỉ có rất ít các doanh nghiệp có số vốn trên 100 tỷ đồng. Qui mô nhỏ bé
của doanh nghiệp Nhà nớc thể hiện ở cả trong tiêu chí về sử dụng lao động. Số
doanh nghiệp Nhà nớc có lao động dới 500 ngời chiếm trên 89%. Do qui mô
Hoàng Thị Hằng - QLKT 43B 6
DNNN rất nhỏ nên khả năng đầu t mở rộng sản xuất, đổi mới công nghệ rất
hạn chế. Mực độ tự động hoá và tin học hoá trong sản xuất kinh doanh của
DNNN còn rất thấp. Nhìn chung, DNNN cha đủ sức tự mình đầu t để vơn tới
những công nghệ và kỹ thuật tiên tiến. Những hạn chế này dẫn đến tình trạng
hàng hoá của DNNN giá cao hơn hàng cùng loại, cùng chất lợng của các
doanh nghiệp khác, của hàng nhập khẩu tới 20-30%.

Thứ ba; DNNN lạc hậu về công nghệ sản xuất, về trình độ quản lý. Hơn
50% tài sản cố định của các DNNN đã sử dụng trên 20 năm, số mua sau năm
1990 chỉ chiếm 10%, trong đó chỉ có 3% số dây chuyền sản xuất đợc tự động
hoá, còn lại là ở trình độ thủ công và có trình độ cơ khí. Hiện tại có 38% tài
sản cố định chờ thanh lý.
Th t ; cơ cấu phân bổ cha hợp lý. Còn khá nhiều DNNN hoạt động trong
các lĩnh vực mà ở đó chúng khó có thể cạnh tranh đợc nh những dịch vụ thông
thờng. Bên cạnh đó có thể nhận thấy DNNN đợc phân bổ không hợp lý theo
ngành, theo địa phơng. Có những địa phơng, ngành nh TP. Hồ Chí Minh, Ha
Nội, Hải Phòng, ngành công nghiệp, thơng mại DNNN tập trung với số lợng
lớn trong lúc đó nhiều địa phơng, nhất là cấp huyện thành lập rất nhiều
DNNN không phù hợp với tình hình kinh tế xã hội và bất chấp nhu cầu
thực tế của địa phơng. Ví dụ, nhiều huyện thành lập công ty chế biến thuỷ sản
song ở đó không có tiềm năng nuôi trồng thủy, hải sản.
Thứ năm, cơ chế quản lý nhà nớc đối với DNNN cũng nh cơ chế quản lý
trogn bản thân doanh nghiệp cồng kềnh và thiếu hiệu quả.Quản lý vĩ mô đối
với DNNN cha hiệu quả, cha theo kịp với yêu cầu phát triển của nền kinh tế,
của việc nâng cao hiệu quả của DNNN, chế độ chủ quản đối với DNNN, chế
độ quản lý chức năng đối với doanh nghiệp Nhà nớc rất nhiều tầng cấp khiến
chúng bị ràng buộc bởi quá nhiều yêu cầu và đòi hỏi khác. Trong lúc đó, lợi
ích của ngời lao động trong DNNN cha trở thành động lực thúc đẩy họ lao
động tốt hơn, gắn với DNNN một cách chặt chẽ hơn.
Thứ sáu, Nh là hệ quả của những điểm yếu trên, DNNN ít có khả năng
cạnh tranh trên thị trờng. Trong bối cảnh đất nớc ta đang chủ động hội nhập
kinh tế quốc tế, tham gia nhiều hơn vào các khu vực mậu dịch tự do hoặc các
hiệp định thơng mại song phơng, đa phơng, tính cạnh tranh thấp của DNNN sẽ
là một thách thức sống còn đối với nền kinh tế nớc ta.
Trên đây là thực trạng hoạt động của các DNNN nói chung. Vậy còn các
Tổng công ty Nhà nớc( TCTy Nhà nớc) thì sao? Một câu hỏi đặt ra là liệu
TCTy Nhà nớc có hoạt động hiệu quả không?

Tổng công ty nhà nớc có hai dạng là Tổng công ty Nhà nớc 90, và Tổng
công ty Nhà nớc 91.
- TCTy Nhà nớc 90 là TCTy Nhà nớc đợc thành lập theo Quyết định
90/TTg ngày 7 tháng 3 năm 1994 của Chính phủ.
- Tổng công ty Nhà nớc 91 là Tổng công ty Nhà nớc đợc thành lập theo
Quyết định số 91/TTg ngày 7 tháng 3 năm 1994 của Chính phủ.
Hoàng Thị Hằng - QLKT 43B 7
Hai loại hình TCTy này thành lập theo các quyết định nêu trên nhng khác
nhau về mức vốn pháp định và số lợng thành viên.
Thực trạng hoạt động của TCTy Nhà n ớc ( Tham khảo sách " CPH
DNNN một số vấn đề lý luận và thực tiễn"- PGS. TS. Lê Hồng Hạnh- NXB
Chính trị quốc gia. Tháng 3/2004).
Các TCTy 91-90 đã hoạt động trong nền kinh tế nớc ta đợc 10 năm. Với
tròn một thập kỷ tồn tại mô hình TCTy Nhà nớc khắc phục đợc nhiều hạn chế
của liên kết kinh tế dới hình thức liên hợp xí nghiệp trong thời kỳ trớc năm
1994 và thu đợc một số thành tựu nhất định. Việc phân tích những thành công
và hạn chế của mô hình TCTy Nhà nớc có ý nghĩa rất quan trọng đối với tiến
trình cải cách DNNN mà Cổ phần hoá(CPH) là một trong những giải pháp chủ
yếu và thích hợp nhất đối với nền kinh tế nớc ta hiện tại.
- Một số thành tựu đạt đợc và u thế của mô hình TCTy Nhà nớc.
+ Các TCTy hầu hết thành lập trong các lĩnh vực kinh tế và đào tạo ra đợc
những DNNN mạnh, có khả năng phát triển tốt hơn. Tính đến thời điểm hiện
nay, với 17 TCTy 91 và 79 TCTy 90, trong nền kinh tế nớc ta đã có những
Doanh nghiệp tầm cỡ. Tổng mức vốn của các TCTy 91 năm 1999 do Nhà nớc
đầu t là 51.208.600 triệu đồng, tổng mức vốn các TCTy bổ sung là 14.914.290
triệu đồng,tổng các nguồn khác là 19.411.819 triệu đồng. Bình quân mỗi
TCTy 91 có mức vốn 8.031.453 triệu đồng. Với mức vốn này các TCTy 91 có
thể tự mình đảm nhiệm việc đầu t các công trình lớn một cách chủ động mà
không chờ tới vốn đầu t từ ngân sách Nhà nớc. Nh vậy, ở hầu hết các ngành
chủ yếu của nền kinh tế Quốc dân đều có những DNNN có tầm cỡ trấn giữ.

+ Các TCTy Nhà nớc đã đảm bảo đợc cho nền kinh tế quốc dân(KTQD)
những sản phẩm chủ yếu, đảm bảo sự ổn định của chúng. Những đóng góp
của các TCTy điện lực, TCTy xi măng, TCTy hàng không, TCTy thép trong
lĩnh vực cân đối các sản phẩm này là không thể phủ nhận.
+ Đóng góp lớn cho Ngân sách là thành công đáng kể của các TCTy.
Năm 2003, bấp chấp những khó khăn kinh tế do dùng phát dịch SARS gây ra,
các TCTy 91 vẫn đạt doanh thu ở mức 202.652 tỷ đồng, nộp ngân sách đạt
36.916.5 tỷ đồng.
+ Các TCTy kinh doanh có hiệu quả và tiếp tục giữ vững vai trò chi phối
ở các ngành then chốt của nền KTQD. Sản xuất kinh doanh ở nhiều công ty
tăng khă ổn định trong những năm 1998- 2000. Ví dụ, TCTy điện năm 1999
có mức tăng sản xuất là 10,5% so với năm 1998, còn năm 2000 thì mức tăng
14% so với năm 1999. Trong năm 2003, tỷ suất lợi nhuận trớc thuế trên vốn
đầu t của các TCTy 91 đạt 14,21%, cao hơn 3,45% so với toàn bộ khu vực
doanh nghiệp Nhà nớc. Tính đến thời điểm 2003, có 16/8 TCTy 91 và 48/68
TCTy 90 là có khả năng hội nhập kinh tế.
+ Những liên kết về sản xuất, công nghệ và tiêu thụ sản phẩm đã cho
phép các TCTy tạo ra đợc sức mạnh tổng hợp để phát triển và hiện đại hoá cở
sở vật chất của mỗi thành viên, hỗ trợ lẫn nhau cùng phát triển.
Hoàng Thị Hằng - QLKT 43B 8
+ Hoạt độg của TCTy đã cho thấy tác động to lớn của liên kết kinh tế
trong điều kiện kinh tế thị trờng(KTTT). Đây là cơ sở thựu tiễn quan trọng để
tiến hành việc sắp xếp, đổi mới DNNN theo hớng tiếp cận tốt hơn cơ chế
KTTT.
Bên cạnh những thành tựu và u điểm ra các TCTy Nhà nớc cũng có
những mặt hạn chế nh:
+ Tuy đã đợc liên kết lại song các TCTy, đặc biệt là TCTy 90 vẫn còn là
những Doanh nghiệp có quy mô còn khá khiêm tốn so với quy mô của tập
đoàn kinh tế ở các nớc trong khu vực Đông Nam A, cha nói đễn những tập
đoàn của Mỹ, Nhật Bản, EU và Hàn Quốc. Các TCTy 90 có vốn trên 500 tỷ

đồng chỉ chiếm 13%; các TCTy có mức vốn dới 100 tỷ chiếm tỷ lệ khá 35%
trong số đó có nhiều công ty có mức vốn dới 50 tỷ. Các TCTy 91 có tình trạng
khá hơn song nhìn chung vẫn còn thấp . Nhiều TCTy 91 có mức vốn xấp xỉ
mức vốn pháp định 1000 tỷ đồng áp dụng đối với loại hình TCTy này.
+ Hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của các TCTy có cao hơn so
với toàn bộ khu vực DNNN song cha xứng đáng với mức đầu t và những u đãi
mà Nhà nớc dành cho. Đặc biệt nhiều TCTy đợc kinh doanh với vị thế độc
quyền và vị thế sản phẩm, dịch vụ mà các TCTy này đa ra không phù hợp với
quy luật của thị trờng. Ngời tiêu thụ buộc phải chấp nhận chúng vì không thể
tìm đâu ra đợc những sản phẩm này ở các nhà cung cấp khác. Chính vì lý do
này,sự tồn tại của một số công ty không tạo đợc môi trờng cạnh tranh lành
mạnh cho nền kinh tế.
+Nhiều công ty chờ vào sự hỗ trợ của Nhà nớc, cha chủ động tháo gỡ
khó khăn, vợt lên để sản xuất, kinh doanh có hiệu quả, tăng năng lực cạnh
tranh. Chính vì vậy, hiệu quả sản xuất kinh doanh của các TCTy này còn rất
hạn chế. Điều này thể hiện ở khả năng cạnh tranh trên thị trờng Quốc tế qua
kim ngạch xuất khẩu của các TCTy 91. Năm 2000, kim ngạch xuất khẩu của
các TCTy 91 là 345 tỷ đô la Mỹ, còn 322 tỷ đô la Mỹ thuộc về TCTy dầu khí.
+ Việc thành lập các TCTy Nhà nớc ngoài mục đích hình thành các tập
đoàn kinh tế mạnh còn theo đuổi mục đích cải cách hệ thống bộ máy quản lý
Nhà nớc về kinh tế, xoá bỏ chế độ chủ quản. Thế nhng, trong thực tế chế độ
chủ quản vẫn tồn tại, vẫn can thiệp sâu vào hoạt động sản xuất, kinh doanh
của DNNN và bản thân các TCTy. Thêm vào đó, do bản thân cơ chế quản lý
trong nội bộ của TCTy, mối quan hệ giữa TCTy với các đơn vị thành viên và
với cơ quan chủ quản, chủ yếu mang nặng tính hành chính, cha dựa vào yếu tô
sở hữu vốn, cơ chế quản lý TC cha rõ ràng gây trở ngại cho các doanh nghiệp
thành viên thực hiện quyền tự chủ kinh doanh với t cách là pháp nhân kinh tế
độc lập. Thực tế này đã biến nhiều tổng công ty thành khâu quản lý trung gian
hơn là một liên kết kinh tế .
Trên cơ sở phân tích trực trạng hoạt động của doanh nghiệp nói chung và

của tổng công ty nhà nớc nói riêng chúng ta có thể thấy một số nguyên nhân
chủ yếu sau :
Hoàng Thị Hằng - QLKT 43B 9
Thứ nhất: Cơ cấu tổng công ty không hiệu quả: Vì Giám đốc DNNN
không đợc toàn quyền quyết định. Kết quả là họ mất quá nhiều thời gian trong
việc xin phép các cơ quan hành chính cấp trên đối với những vấn đề có tính
chất thờng nhật.
Thứ hai: ít chú trọng đến công tác tiếp thị ( marketing).
- Hoạt động bán hàng và tiếp thị cần đợc u tiên cao hơn trong môi trờng
kinh tế thị trờng cạnh tranh.
- Nhiều phòng tiếp thị thiếu cơ chế khuyến khích, động lực cần thiết,
thiếu tính năng động và cán bộ có trình độ.
Thứ ba: Kỹ năng quản lý còn yếu kém
Thứ t : Hệ thống thông tin quản lý cha phát triển và cha đáp ứng đợc yêu
cầu, công nghệ thông tin còn ở giai đoạn đầu, công nghệ lạc hậu, lao động thì
dôi d, không phát huy đợc lợi thế kinh tế theo quy mô.
Thứ năm: Tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu ( ROE) trung bình của
các DNNN đợc kiểm toán chuẩn đoán là 8,6% năm 2001.
- ROE của các công ty niêm yết trên thị trờng chứng khoán Trung Quốc
là 12%.
- ROE của các công ty niêm yết trên thị trờng chứng khoán ấn Độ là
24%.
ở đây muốn nói là các DNNN có tiềm năng đạt đợc mức lợi nhuận cao
hơn, nhng không thể vì do nhiều nguyên nhân từ mặt thể chế. nhng một
nguyên nhân chính là thiếu sự khuyến khích, động viên công bằng trong lao
động, phù hợp với mục tiêu kinh doanh thực tế.
Thứ sáu: là cơ cấu tổng Công ty không hiệu quả
- Vai trò và trách nhiệm của chủ sở hữu và ngời quản lý không đợc rõ
ràng.
- Không có một cơ quan nào chịu trách nhiệm về hoạt động cuối cùng

trách nhiệm của Doanh nghiệp.
- Những mục tiêu xung đột tiềm ẩn nảy sinh do TCTy và các doanh
nghiệp thành viên không thể hoạt động độc lập mà không chịu sự can thiệp về
chính trị.
- Nhà nớc có thể giao những mục tiêu phi thơng mại cho các DNNN;
điều này có thể làm giảm hiệu quả hoạt động của DNNN( Suy giảm tỷ suất lợi
nhuận nh ROE & ROA) tạo cho lãnh đạo DNNN lý do hợp lý để biện hộ cho
hoạt động kém hiệu quả của mình.
Trên đây là một số thực trạng và một số nguyên nhân của việc hoạt động
kém hiệu quả của DNNN. Hoạt động kém hiệu quả của DNNN có nhiều nhng
một trong những nguyên nhân nổi bật đó là cơ cấu doanh nghiệp Nhà nớc cha
thực sự hiệu quả và hợp lý. Trớc tình hình đó ban chỉ đạo sắp xếp đổi mới
DNNN có những giải pháp cải cách cơ chế hành chính Nhà nớc, cải cách cơ
cấu của doanh nghiệp và đợc gọi là sự chuyển đổi sở hữu trong DNNN. Vậy
phơng thức chuyển đổi nh thế nào?
Hoàng Thị Hằng - QLKT 43B 10
5. Phơng thức chuyển đổi (Tham khảo theo bài:" DNNN Những vấn đề lý
luận cần đợc nhận thức đúng"- PGS.TS Lê Hồng Hạnh- Tạp chí luật học
số 1/2003)
Cải cách DNNN từ lâu là môi quan tâm của Đảng và Nhà nớc ta. Đã có
nhiều giải pháp cải cách đợc thực hiện. Trong thời gian từ năm 1960 đến năm
1990 tức là đến thời điểm CPH, Đảng và Nhà nớc ta đã triển khai nhiều biện
pháp nhằm cải tiến quản lý xí nghiệp quốc doanh( DNNN theo tên gọi lúc đó).
Những giải pháp cải cách tơng đối có giá trị đội phá đợc quy định trong Quyết
định số 217/HĐBT ngày 14 tháng 11 năm 1987 của Hội đồng Bộ trởng. Nếu
tính về số lợng các văn bản đợc ban hành, vấn đề đổi mới DNNN chiếm vị trí
hàng đầu trong hệ thống chính sách và pháp luật ở nớc ta. Nghị quyết của tất
cả các Đại hội Đảng toàn quốc kể từ năm 1986 trở lại đây đều đa ra các phơng
hớng và giải pháp sắp xếp, đổi mới và nâng cao hiệu quả của DNNN đặc biệt
là Nghị quyết Hội nghị TW hai( khoá VII), Hội nghị TW6( khoá VIII), Nghị

quyết hội nghị TW9( khoá IX) về CPH DNNN. Các văn bản pháp luật về
DNNN. Các văn bản pháp luật về DNNN cũng đợc ban hành với số lợng lớn
nhằm giải quyết kịp thời các vấn đề pháp lý nảy sinh trong quá trình sắp xếp,
đổi mới DNNN, nhất là trong quá trình CPH. Đặc biệt cần phải kể đến các
Quyết định số 143- HĐBT ngày 10 tháng 5 năm 1990; chỉ thị số 84/TTg ngày
4 tháng 3 năm 1993; Nghị định số 28/CP ngày 7 tháng 5 năm 196; Nghị định
số 44/1998/NĐ- CP, Nghị định số 64/2002/NĐ- CP.
Tuy nhiên, thực tế cho thấy các giải pháp cải cách DNNN đợc thực hiện
trong thời gian trớc năm 1990 ít mang lại hiệu quả. Vai trò, hiệu quả của
DNNN hầu nh không đợc cải thiện. Tình trạng kém hiệu quả, thua lỗ, tình
trạng lãng phí tài sản vẫn là những căn bệnh cố hữu của DNNN ở nớc ta.
Nhiều DNNN đã trở thành bình phong cho những hoạt động kinh tế phi pháp,
trốn thuế, lậu thuế, buôn lậu. Có khá nhiều ý kiến khác nhau về những kết quả
hạn chế của các biện pháp cải cách DNNN đã thực hiện trớc đây. Tuy nhiên,
điều có thể nhận thấy dễ dàng và đợc thừa nhận khá rộng rãi là DNNN trong
thực tế không có chủ nhân thực sự. Nhà nớc cũng là thực thể trừu tợng, Bộ chủ
quản, Uỷ ban nhân dân chủ quản cũng vậy. Cho dù đợc giao quản lý các
DNNN, lợi ích của những cơ quan này không gắn liền với DNNN. Các cơ
quan này vẫn tồn tại, cán bộ, viên chức trong đó vẫn hởng lơng ngay khi các
DNNN thua lỗ. Tơng tự, cán bộ, công nhân viên trong DNNN cũng ít quan
tâm đến hiệu quả sản xuất kinh doanh của DNNN nơi mình đang làm việc.
Lý do đơn giản là họ vẫn có lơng ngay khi DNNN đang bên bờ phá sản. Rõ
ràng, vấn đề lợi ích, đặc biệt là lợi ích sở hữu trong DNNN chính là cội nguồn
của những căn bệnh mà chúng gặp phải.
Cải cách DNNN có thể tiến hành bằng nhiều cách khác nhau. Có những
cách mà nếu thực hiện sẽ dẫn đến sự xoá sổ DNNN nh giải pháp bán DNNN
hay nói cách khác là giải pháp t nhân hoá. Có giải pháp chỉ động chạm đến cơ
Hoàng Thị Hằng - QLKT 43B 11
chế quản lý DNNN, tức là tăng cờng hay giảm bớt quyền chủ động sản xuất
kinh doanh của chúng trong từng lĩnh vực cụ thể. Có thể mô phỏng các giải

pháp cải cách DNNN theo sơ đồ sau:
Sơ đồ 1:
Trong đó:
- Bán doanh nghiệp là hành vi của chủ doanh nghiệp chuyển nhợng toàn
bộ doanh nghiệp của mình sang sở hữu của cá nhân hay tổ chức khac. Khi
chuyển nhợng đợc tổ chức xong thì chủ doanh nghiệp cũ không còn nghĩa vụ
và trách nhiệm gì đối với hoạt động của doanh nghiệp. Vì lý do đó,việc bán
doanh nghiệp không đợc coi là hình thức của CPH. Bán doanh nghiệp và sáp
nhập doanh nghiệp( Acquisition and merger) là những giao dịch khá phổ biến
ở các nớc có nền KTTT. Việc bán doanh nghiệp khác với CPH là nó dẫn tới sự
xuất hiện các chủ sở hữu mới đối với doanh nghiệp đợc bán. Bản thân doanh
nghiệp bị bán vẫn có thể tồn tại dới hình thức cũ sau khi đợc bán. Ngợc lại,
CPH lại làm thay đổi hình thức pháp lý của doanh nghiệp. Vì vậy, những hình
Hoàng Thị Hằng - QLKT 43B 12
Cải cách
DNNN
Bán DNNN
Cho thuê DNNN
CPH DNNN
Cải cách cơ chế
QLDN
Bán toàn bộ
Bán một phần
Cho thuê toàn bộ
Cho thuê một phần
thức bán doanh nghiệp quy định ở điều 7, Nghị định số 44/CP nếu không làm
rõ nội dung sẽ dẫn tới sự hiểu sai về bản chất của CPH.
- Thuê doanh nghiệp: Là việc chủ doanh nghiệp cho cá nhân hay tổ chức
khác sử dụng t cách pháp lý và tài sản của doanh nghiệp để kinh doanh. Toàn
bộ giao dịch của ngời thuộc sở hữu của chủ doanh nghiệp cho thuê. Sự tham

gia của ngời thuê trong hoạt động của doanh nghiệp đợc cho thuê không hề
tạo ra quyền sở hữu của ngời thuê đối với bất cứ tài sản nào của doanh nghiệp
này. Việc cho thuê doanh nghiệp không thể đợc coi là hình thức của CPH.
- Cải cách cơ chế quản lý DNNN: Có thể hiểu là việc chuyển TCTy Nhà
nớc thành công ty trách nhiệm hữu hạn Nhà nớc một thành viên hoặc TCTy
Trách nhiệm hữu hạn Nhà nớc có từ hai thành viên trở lên; chuyển TCTy do
Nhà nớc quyết định đầu t và thành lập TCTy do các công ty tự đầu t và thành
lập.
Tóm lại,có rất nhiều biện pháp để cải cách DNNN. Tuy nhiên trên thực tế
tình hình phát triển kinh tế xã hội của nớc ta trong những thập kỷ vừa qua
cho thấy CPH là giải pháp phù hợp với nền kinh tế nớc ta trong giai đoạn phát
triển hiện nay. Vậy CPH DNNN là gì?
5.1. CPH là gì?
CPH TCTy Nhà nớc là việc chuyển công ty Nhà nớc thành công ty cổ
phần nhằm nâng cao hiệu quả, sức cạnh tranh của doanh nghiệp; tạo ra loại
hình doanh nghiệp có nhiều chủ sở hữu, trong đó có cổ đông là đông đảo ngời
lao động; tạo động lực mạnh mẽ và cơ chế quản lý năng động cho doanh
nghiệp dể sử dụng có hiệu quả vốn, tài sản của Nhà nớc và của doanh nghiệp;
Huy động nguồn vốn của toàn xã hội, bao gồm: cá nhân, các tổ chức kinh tế,
tổ chức xã hội trong nớc và ngoài nớc để đầu t đổi mới công nghệ, phát triển
doanh nghiệp, phát huy vai trò làm chủ thực sự của ngời lao động, các cổ
đông; Tăng cờng giám sát của nhà đầu t đối với doanh nghiệp; Đảm bảo hài
hoà lợi ích của Nhà nớc, doanh nghiệp, nhà đầu t, ngời lao động.
Để hiểu rõ hơn về CPH, cần phải nhận thức đợc bản chất chính trị và bản
chất pháp lý của CPH. Tác động to lớn của nó đối với sự phát triển kinh tế
xã hội của đất nớc ta, làm rõ nội dung các phạm trù có liên quan đến các giải
pháp cải cách DNNN đợc mô phỏng ở sơ đồ 1.
Xét ở khía cạnh chính trị: CPH DNNN không nhằm mục tiêu t nhân hoá
nền kinh tế mặc dù trong CPH có chứa đựng yếu tố t nhân hoá. CPH là giải
pháp nhằm làm cho sở hữu trong DNNN từ ảo đến thực, chuyển từ sự kiểm

soát bằng chế độ quan liêu sang tự kiểm soát thông qua lợi ích của các chủ
sở hữu thực. Khác với làn sóng t nhân hoá ở các nền kinh tế chuyển đổi ở
Đông Âu đang chuyển các DNNN từ chỗ sở hữu chung của xã hội sang sở hữu
cá nhân, CPH DNNN ở Việt Nam nhằm thu hút sự tham giàm làm chủ thực sự
chủ ngời lao động vào DNNN thông qua việc để họ sở hữu một phần vốn
trong DNNN, biến họ từ ngời lao động thuần tuý thành ngời lao động có
Hoàng Thị Hằng - QLKT 43B 13
sở hữu vốn của doanh nghiệp. Giải pháp này đã làm cho doanh nghiệp thêm
những chủ nhân thực sự bên cạnh chủ nhân trừu tợng là Nhà nớc. Rõ ràng yếu
tố đa sở hữu trong các DNNN đã làm cho cải cách DNNN trở nên triệt để hơn
so với các cuộc cải cách trớc đó.
Xét về mặt pháp lý, CPH là việc biến Doanh nghiệp một chủ thành
Doanh nghiệp nhiều chủ, tức là chuyển từ hình thức sở hữu đơn nhất sang sở
hữu chung thông qua việc chuyển dần một phần tài sản của Doanh nghiệp cho
những ngời khác. Những ngời này trở thành sở hữu chủ của Doanh nghiệp
theo tỷ lệ tài sản mà họ sở hữu trong doanh nghiệp CPH. Xét ở góc độ này thì
CPH dẫn tới sự xuất hiện không chỉ công ty Cổ phần trên nền tảng của Doanh
nghiệp đợc CPH. Bản chất của CPH nêu trên đây không phải lúc nào cũng đợc
hiểu đúng trong thực tiễn xây dựng và thực hiện pháp luật về CPH. Có quan
điểm đồng nhất CPH với t nhân hoá hay có quan điểm cho rằng CPH chỉ liên
quan đến DNNN.Với t cách là sự kiện pháp lý của việc chuyển đổi hình thức
sở hữu của Doanh nghiệp. CPH có thể áp dụng với bất cứ loại hình doanh
nghiệp nào thuộc sở hữu của một chủ duy nhất. Vì vậy, doanh nghiệp t
nhân(DNTN), Doanh nghiệp 100% vốn của một nhà đầu t nớc ngoài đều có
thể trở thành đối tợng của CPH. Hai loại hình Doanh nghiệp này đều có thể trở
thành đối tợng của CPH.
5.2. Vai trò của CPH.
CPH có vai trò to lớn trong việc cải cách DNNN nhất là ở những nền
kinh tế chuyển đổi từ cơ chế kế hoạch hoá tập trung sang nền KTTT. Tác dụng
của CPH thể hiện ở một số khía cạnh sau:

- CPH đã tạo ra loại hình doanh nghiệp có nhiều chủ sở hữu, bao gồm
Nhà nớc, ngời lao động trong Doanh nghiệp, cổ đông ngoài Doanh nghiệp,
trong đó ngời lao động trong Doanh nghiệp trở thành ngời chủ thực sự phần
vốn góp của mình trong Công ty Cổ phần. Chính điều này đã nói lên đợc rằng
CPH là một giải pháp giải quyết khá triệt để vấn đề sở hữu trong DNNN.
- CPH đã trở thành giải pháp cơ bản và quan trọng nhất trong cơ cấu lại
DNNN có cơ cấu thích hợp, quy mô lớn, tập trung vào những ngành, lĩnh vực
then chốt của nền kinh tế.
Trớc đây khi cha CPH thì vẫn tồn tại một số DNNN làm ăn cha thực sự
hiệu quả, quy mô còn nhỏ lẻ, khi tiến hành CPH, nhờ vào điều kiện của
DNNN đợc chấp nhận là Công ty Cổ phần nên đã loại trừ một số Doanh
nghiệp không đủ điều kiện, và trớc đây cơ cấu DNNN cha thực sự hiệu quả,
cha thực sự hợp lý thì nay nhờ CPH mà cơ cấu này đã khắc phục đợc những
mặt hạn chế. Từ chỗ DNNN rất phân tán, dàn trải trong tất cả các ngành, lĩnh
vực nay đã tập trung vào 39 ngành, lĩnh vực then chốt của nền kinh tế. Sỏ dĩ
đạt đợc một cơ cấu hợp lý vì:
+ CPH đã làm quy mô vốn của DNNN tăng lên đáng kể.
Hoàng Thị Hằng - QLKT 43B 14
+ Tài chính của Doanh nghiệp đã đợc lành mạnh hoá hơn một bớc thông
qua việc cơ cấu lại các khoản nợ; xử lý tài sản là vật t, hàng hoá ứ đọng, tồn
kho lâu ngày, kém, mất phẩm chất, máy móc thiết bị không dùng hạch toán
vào chi phí Hoạt động kinh doanh, giảm vốn Nhà nớc hoặc bán cho Công ty
mua bán nợ và tài sản tồn đọng của Doanh nghiệp.
+ Lao động của DNNN đợc cơ cấu lại, giải quyết lao động dôi d tốt hơn.
- CPH đã huy động thêm vốn của Xã hội đầu t vào phát triển sản xuất
kinh doanh.
Trong quá trình CPH DNNN, một mặt vốn Nhà nớc tại Doanh nghiệp đ-
ợc đánh giá lại khách quan hơn, tiếp cận hơn với phơng thức thị trờng, mặt
khác huy động đợc vốn của cá nhận, tổ chức xã hội vào Doanh nghiệp để kinh
doanh, đầu t phát triển sản xuất. Đồng thời Nhà nớc cũng thu lại đợc phần

vốn do xác định lại vốn sở hữu của Nhà nớc trong Công ty Cổ phầnm và dùng
phần vốn đó để lại đầu t vào các mục đích khác khuyến khích DNNN phát
triển.
Trong quá trình hoạt động theo Luật Doanh nghiệp, Công ty Cổ phần đợc
phát hành trái phiếu, cổ phiếu ra công chúng để huy động vốn. Và khi Cổ
phiếu, trái phiếu đợc phát hành trên thị trờng thì nguồn vốn xã hội đợc linh
động trên thị trờng. Cũng chính nhờ TTCK mà nhiều Doanh nghiệp đã phải
đầu t thêm máy móc, kỹ thuật hiện đại, đổi mới công nghệ, mở rộng sản xuất,
kinh doanh nâng cao sức cạnh tranh của DNNN trong thị trờng trong nớc và n-
ớc ngoài.
- CPH mang lại cho Doanh nghiệp cơ chế quản lý năng động có hiệu quả,
thích nghi với thị trờng.
Khi chuyển sang công ty Cổ phần, thì Doanh nghiệp hoạt động hoàn toàn
theo cơ chế thị trờng, tự chủ, tự chịu trách nhiệm toàn diện về hoạt động của
Công ty theo pháp luật hiện hành và chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động
sản xuất kinh doanh của Công ty trớc cổ đông.
Theo Luật Doanh nghiệp, tổ chức quản lý trong nội bộ Công ty Cổ phần
bao gồm: Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát và Ban
giám đốc công ty. Theo mô hình này thì tổ chức quản lý phải thể hiện sự phân
định rõ ràng về quyền hạn và trách nhiệm vủa ngời chủ sở hữu và ngời sử
dụng tài sản của công ty để Kinh doanh. Chính điều này đã tạo thêm động lực
và tính năng động trong sản xuất kinh doanh vì Doanh nghiệp đợc quyền tự
chịu trách nhiệm, đặc biệt là trong lĩnh vực đầu t phát triển, phân phối lợi
nhuận, sắp xếp tổ chức sản xuất và bổ nhiệm cán bộ.
- CPH đã tạo điều kiện pháp lý và vật chất để ngời lao động nâng cao vai
trò làm chủ trong Doanh nghiệp.
CPH đã làm cho ngời lao động trở thành cổ đông trong Công ty Cổ phần.
Ngời lao động đã thực sự làm chủ Doanh nghiệp trong phần vốn góp của
mình, có quyền tham gia quản lý Doanh nghiệp một cách có hiệu quả bằng
Hoàng Thị Hằng - QLKT 43B 15

việc dự đại hội cổ đông, để thông qua điều lệ của Công ty, bầu các thành viên
Hội đồng quản trị và Ban kiểm soát.
- CPH nâng cao Hiệu quả sản xuất kinh doanh của Doanh nghiệp
Chính sự tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các cổ đông trong Công ty cổ
phần đã khiến họ tự ý thức đợc rằng họ phải làm việc sao cho số vốn của họ
thực sự có hiệu quả, thực sự có ý nghĩa, nên họ cố gắng làm hết khả năng của
mình. Điều đó sẽ dẫn đến năng suất lao động sẽ cao hơn.
Những tác động to lớn mang tính phổ biến trên của CPH đơng nhiên
đúng với giải pháp CPH DNNN mà đất nơc ta đang tiến hành. Trong bối cảnh
của Việt Nam, những tác động này của CPH còn phat huy tác dụng to lớn hơn
vì thực trạng của DNNN ở Việt Nam đang đòi hỏi phải cải cách triệt để, trong
lúc đó nhiệm vụ đặt ra là không đợc làm mất đi vai trò chủ đạo của chúng.
Ngoài ra, CPH DNNN ở Việt Nam còn có tác dụng sau:
- Thúc đẩy sự phát triển của thị trờng chứng khoán đang rất gặp
nhữngkhó khăn trong giai đoạn phát triển hiện nay của đất nớc. Sự phát triển
của thị trờng chứng khoán phụ thuộc chủ yếu vào việc trên thị trờng có chứng
khoán hay không để giao dịch hay không? Các công ty cổ phần thờng la loại
doanh nghiệp cung cấp chứng khoán với tỷ lệ lớn hơn so với các loại Doanh
nghiệp khác. Tuy nhiên. số lợng công ty cổ phần ở nớc ta không lớn và nhất là
những công ty t nhân. Các Doanh nghiệp, công ty lớn và TCTy Nhà nớc cha đ-
ợc CPH và cũng cha phát hành trái phiếu rộng rãi. CPH DNNN ở nớc ta sẽ tạo
ra những chủ thể phát hành chứng khoán có tiềm lực.
- CPH DNNN ở nớc ta có tác dụng to lớn trong việc đẩy lùi tình trạng
lãng phí tham nhũng đang khá phổ biến trong các DNNN và những cơ quan
quản lý chung. Sự bao cấp của Nhà nớc đối với nhiều Doanh nghiệp, cơ chế
xin cho là mảnh đất tốt lành cho những hoạt động lãng phí, tham nhũng. CPH
tạo ra sự giám sát chặt chẽ của chủ sở hữu ( cổ đông) đối với giám đốc và cán
bộ quản lý DNNN CPH. Điều này có nghĩa là giám đốc các nhân viên quản lý
không dễ dàng thực hiện hành vi vụ lợi nh khi DNNN đang hoàn toàn thuộc sở
hữu của Nhà nớc.

Tóm lại, trong điều kiện nền kinh tế nớc ta hiện nay thì CPH là một giải
pháp khả thi nhất đợc lựa chọn để cải cách DNNN. CPH có một tác dụng vô
cùng quan trọng. Việc nhận thức đúng vai trò của CPH đã là vấn đề đáng quan
tâm nhng để CPH thực sự có hiệu quả thì chúng ta phải tiến hành nh thế nào
cho phù hợp cũng là một vấn đề hết sức quan trọng. Bởi có làm đúng thì mới
có hiệu quả. Dựa trên thực tế nền kinh tế của đất nớc Đảng và Chính phủ đã h-
ớng dẫn thực hiện CPH DNNN theo qui trính sau:
5.3. Quy trình CPH ( theo thông t 126/2004/TT - BTC ngày 24/12/2004 -
của Bộ Tài Chính).
Bớc1: Xây dựng phơng án CPH.
1. Thành lập ban chỉ đạo CPH và tổ giúp việc.
Hoàng Thị Hằng - QLKT 43B 16
1.1Cơ quan quyết định CPH ra quyết định thành lập Ban Chỉ đạo CPH
đồng thời với Quyết định CPH Doanh nghiệp.
1.2. Trởng ban chỉ đạo lựa chọn và ra quyết định thành lập Ban chỉ đạo
CPH trong thời gian 5 ngày làm việc, kể từ ngày có quyết định thành lập.
2. Chuẩn bị hồ sơ tài liệu:
Trong thời gian tối đa 10 ngày làm việc kể từ ngày có quyết định thành
lập Tổ giúp việc CPH, Ban chỉ đạo có trách nhiệm chỉ đạo Tổ giúp việc cùng
với Doanh nghiệp tiến hành:
2.1 Lựa chọn phơng pháp, hình thức xác định giá trị doanh nghiệp, lựa
chọn thời điểm xác định giá trị doanh nghiệp cho phù hợp với điều kiện của
doanh nghiệp và các văn bản hớng dẫn có liên quan đến CPH.
2.2 Chuẩn bị đầy đủ các tài liệu sau:
- Các hồ sơ pháp lý về thành lập doanh nghiệp.
- Các hồ sơ pháp lý về tài sản của doanh nghiệp( bao gồm cả diện tích đất
đợc giao hoặc thuê).
- Hồ sơ về tài sản không cần dùng, vật t, hàng hoá ứ đọng, kém, mất
phẩm chất( nếu có),tài sản hình thành từ nguồn quỹ khen thởng phúc lợi.
- Hồ sơ về các công trình đầu t xây dựng cơ bản dở dang( kể cả các công

trình đãcó quyết định đình hoãn).
- Hồ sơ về các khoản vốn đầu t dài hạn vào doanh nghiệp khác nh: góp
vốn liên doanh, góp vốn cổ phần, góp vốn thành lập công ty TNHH và các
hình thức đầu t dài hạn khác.
- Báo cáo tài chính, báo cáo quyết toán thuế của công ty đến thời điểm
xác định giá trị doanh nghiệp.
- Lập danh sách lao động thờng xuyên làm việc tại công ty đến thời điểm
quyết định CPH; phân loại lao động theo các đối tợng: hợp đồng không xác
định thời hạn, hợp đồng có thời hạn từ 1-3 năm, danh sách lao động dôi d
- Lập dự toán chí phí CPH theo chế độ quy định.
3. Kiểm kê, xử lý những vấn đề về tài chính và tổ chức xác định giá trị
doanh nghiệp:
Tổ giúp việc, doanh nghiệp phối hợp với tổ t vấn( nếu có) tiến hành:
3.1. Kiểm kê, phân loại tài sản và quyết toán tài chính, quyết toán thuế,
phối hợp với cơ quan có liên quan xử lý những vấn đề về tài chính đến thời
điểm xác định giá trị doanh nghiệp.
3.2. Xác định giá trị doanh nghiệp:
Ban chỉ đạo CPH lựa chọn tổ chức định giá để giao cho doanh nghiệp ký
kết hợp đồng định giá hoặc giao cho Tổ giúp việc, doanh nghiệp tự xác định
giá trị doanh nghiệp.
Trờng hợp Tổ chức t vấn có chức năng định giá thì có thể thuê trọn gói:
lập phơng án CPH, xác định giá trị doanh nghiệp, tổ chức bán cổ phần.
Hoàng Thị Hằng - QLKT 43B 17
3.3. Ban chỉ đạo thâm tra kết quả kiểm kê, phân loại tài sản và kết quả
xác định giá trị doanh nghiệp, báo cáo cơ quan quyết định giá trị doanh
nghiệp và Bộ Tài chính.
Thời gian để hoàn tất các công việc này không quá 50 ngày làm việc kể
từ ngày chuẩn bị xong hồ sơ tài liệu.
3.4. Quyết định và công bố giá trị doanh nghiệp:
Trong thời gian không quá 5 ngày làm việc kể từ ngày nhận báo cáo của

Ban chỉ đạo CPH, cơ quan quyết định giá trị doanh nghiệp phải ra quyết định
công bố giá trị doanh nghiệp CPH.
Bớc 2: Hoàn tất Phơng án CPH:
1. Lập phơng án CPH:
Căn cứ quy định hiện hành và tình hình thực tế của doanh nghiệp, Ban
chỉ đạo xem xét quyết định thuê tổ chức t vấn hoặc giao cho Tổ giúp việc và
doanh nghiệp lập Phơng án CPH với nội dung chính sau:
a. Giới thiệu về công ty,trong đó mô tả khái quát về quá trình thành lập
công ty và quy mô tổ chức của công ty; tình hình và kết quả hoạt động sản
xuất kinh doanh của công ty trong 3-5 năm liền kề trớc khi CPH.
b. Đánh giá thực trạng của công ty ở thời điểm xác định giá trị doanh
nghiệp, bao gồm:
- Thực trạng về tài sản( bao gồm cả diện tích đất đợc giao hoặc thuê).
- Thực trạng về tài chính, công nợ.
- Thực trạng về lao động.
- Những vấn đề cần tiếp tục xử lý.
c. Phơng án sắp xếp lao động:
- Số lao động có tên trong danh sách thờng xuyên ở thời điểm có quyết
địnhCPH.
- Số lao động tiếp tục tuyển dụng.
- Số lao động dôi d và phơng án giải quyết theo từng đối tợng ( bao gồm
cả phơng án đào tạo lại lao động dôi d để bố trí việc làm mới trong công ty cổ
phần).
d.Phơng án hoạt động sản xuất kinh doanh trong 3-5 năm tiếp theo,
trong đó nêu rõ:
- phơng án cơ cấu doanh nghiệp khi chuyển thành công ty cổ phần; sắp
xếp lại các bộ phận trong doanh nghiệp, đổi mới ngành nghề kinh doanh; đầu
t đổi mới công nghệ, nâng cao năng lực sản xuất kinh doanh.
- Kế hoạch sản xuất kinh doanh của các năm tiếp theo về sản phẩm, sản
lợng, thị trờng, lợi nhuận các giải pháp về vốn, nguyên liệu, tổ chức sản

xuất, lao động tiền lơng,
đ. Phơng án CPH:
- Hình thức CPH và vốn điều lệ theo yêu cầu hoạt động sản xuất kinh
doanh của công ty cổ phần.
Hoàng Thị Hằng - QLKT 43B 18
- Dự kiến cơ cấu vốn điều lệ: số cổ phần nhà nớc nắm giữ, số cổ phần bán
u đãi cho các nhà đầu t chiến lợc ( kèm theo danh sách), số cổ phần u bán đãi
cho ngời lao động( kèm theo danh sách đăng ký mua cổ phần của ngời lao
động) và số cổ phần dự kiến bán cho các nhà đầu t khác.
- Phơng thức phát hành cổ phiếu theo quy định( đấu giá trực tiếp tại công
ty, hoặc đấu giá tại các tổ chức tài chính trung gian, hoặc đấu giá tại trung tâm
giao dịch chứng khoán).
d. Dự thảo Điều lệ tổ chức và hoạt động của công ty cổ phần theo các
quy định của Luật doanh nghiệp và các văn bản pháp luật hiện hành.
2. Hoàn thiện phơng án cổ phần hoá.
a/ Căn cứ quyết định công bố giá trị doanh nghiệp cổ phần hoá, Tổ chức
cùng với doanh nghiệp phối hợp với tổ t vấn( nếu có) hoàn thiện phơng án
CPH gửi tới từng bộ phận trong công ty để nghiên cứu trớc khi tới hội nghị
công nhân viên chức( bất thờng).
b/ Tổ chức hội nghị công nhân viên chức( bất thờng) để lấy ý kiến hoàn
thiện phơng án CPH.
c/ Sau Hội nghị công nhân viên chức, Tổ giúp việc, doanh nghiệp phối
hợp với tổ t vấn ( nếu có) hoàn thiện Phơng án CPH để trình cơ quan có thẩm
quyền phê duyệt.
d/ Ban Chỉ đạo thẩm định Phơng án CPH báo cáo cơ quan quyết định
CPH phê duyệt.
Thời gian để hoàn tất các nội dung quy định tại điểm 2.1 bớc 2 này
không quá 20 ngày làm việc kể từ ngày có quyết định công bố giá trị doanh
nghiệp CPH.
3. Phê duyệt phơng án cổ phần hoá.

Cơ quan quyết định CPH xem xét ra quyết định phê duyệt phơng án CPH
trong thời gian không quá 5 ngày kể từ ngày nhận đợc báo cáo của Ban chỉ
đạo.
Bớc 2: Tổ chức bán cổ phần:
1. Ban chỉ đạo CPH lựa chọn phơng thức bán cổ phần theo quy định.
2. Tổ chức bán cổ phần:
a/ Đối với trờng hợp bán đấu giá trực tiếp tại doanh nghiệp:
Hoàng Thị Hằng - QLKT 43B 19
Ban chỉ đạo CPH và doanh nghiệp tổ chức bán đấu giá cổ phần cho nhà
đầu t đồng thời xác định giá đấu thành công bình quân để bán cổ phần cho ng-
ời lao động và nhà đầu t chiến lợc.
b/ Đối với trờng hợp bán cổ phần tại tổ chức tài chính trung gian:
- Ban chỉ đạo lựa chọn tổ chức tài chính trung gian giao cho doanh
nghiệp ký hợp đồng.
- Ban chỉ đạo và doanh nghiệp phối hợp với tổ chức tài chính trung gian
thực hiện việc bán cổ phần theo quy định.
- Ban chỉ đạo CPH chỉ đạo doanh nghiệp bán cổ phần cho ngời lao động
và nhà đầu t chiến lợc.
c. đối với trờng hợp bán cổ phần tại Trung tâm giao dịch chứng khoán.
Ban chỉ đạo CPH đợc quyền đăng ký trực tiếp hoặc thuê tổ chức trung
gian đăng ký và phối hợp với trung tâm giao dịch chứng khoán để bán cổ
phần.
Trờng hợp đăng ký trực tiếp với Trung tâm giao dịch chứng khoán, Ban
chỉ đạo doanh nghiệp:
- Nộp đơn đăng ký tài liệu cho Trung tâm giao dịch chứng khoán.
- Phối hợp với Trung tâm giao dịch chứng khoán tổ chức phát hành cổ
phiếu.
- Bán cổ phần cho ngời lao động và nhà đầu t chiến lợc.
3. Tổng hợp kết quả bán cổ phần báo cáo cơ quan quyết định CPH.
4. Báo cáo cơ quan quyết định CPH ra quyết định điều chỉnh quy mô, cơ

cấu CPH của doanh nghiệp CPH đối với trờng hợp không bán cổ phần cho các
đối tợng theo đúng phơng án CPH đợc duyệt.
Bớc 3. Hoàn tất việc chuyển DNNN thành công ty CP.
1. Đại hội đồng cổ đông lần thứ nhất.
Ban chỉ đạo CPH chỉ đạo Tổ giúp việc và doanh nghiệp tổ chức Đại Hội
đồng cổ đông lần thứ nhất để thông qua Điều lệ tổ chức và hoạt động, phơng
án sản xuất kinh doanh bầu Hội đồng quản trị, ban Kiểm soát và bộ máy điều
hành công ty cổ phần.
Hoàng Thị Hằng - QLKT 43B 20
2. Căn cứ vào kết quả Đại Hội đồng cổ đông lần thứ nhất, Hội đồng quản
trị công ty cổ phần thực hiện đăng ký kinh doanh, nộp con dấu của doanh
nghiệp cũ và xin khắc dấu của công ty cổ phần.
3. Lập báo cáo tài chính tại thời điểm công ty cổ phần đợc cấp giấy
chứng nhận đăng ký kinh doanh lần đầu, thực hiện quyết toán thuế, quyết toán
chi phí CPH, báo cáo cơ quan quyết định CPH.
Nộp tiền thu từ CPH về công ty, Tổng công ty hoặc Quỹ hỗ trợ sắp xếp
doanh nghiệp tại Bộ tài chính.
4. Công ty cổ phần mua hoặc in tờ cổ phiếu cấp cho các cổ đông theo
quy định hiện hành.
5. Tổ chức ra mắt công ty cổ phần và thực hiện bố cáo trên phơng tiện
thông tin đại chúng theo quy định.
Trờng hợp doanh nghiệp xác định sẽ thực hiện niêm yết ngay trên thị tr-
ờng chứng khoán thì lập hồ sơ xin cấp phép niêm yết gửi Bộ Tài chính( Uỷ
ban chứng khoán Nhà nớc) theo quy định hiện hành.
6. Tổ chức bàn giao giữa doanh nghiệp và Công ty cổ phần.
Trong quá trình thực hiện, cơ quan quyết định CPH, Ban chỉ đạo CPH, Tổ
giúp việc và doanh nghiệp có thể tiến hành đồng thời nhiều bớc một lúc để
đẩy nhanh tiến độ cổ phần hoá Công ty Nhà nớc.
Hoàng Thị Hằng - QLKT 43B 21
Chơng II: Thực trạng việc chuyển đổi cơ cấu

sở hữu trong Tổng Công ty Thép Việt Nam.
1. Giới thiệu về Tổng công ty Thép Việt Nam.
1.1. Lịch sử hình thành và phát triển của TCTy Thép Việt Nam.
Tổng công ty Thép Việt Nam đợc thành lập theo Quyết định 128/CNNg-
TC ngày 30 tháng 05 năm 1990 của Bộ trởng Bộ Công nghiệp nặng trên cơ
sở các đơn vị khai thác, tuyển luyện các loại khoáng sản kim loại đen và các
đơn vị nghiên cứu, đào tạo, dịch vụ về lĩnh vực luyện kim đen do Bộ Công
nghiệp nặng quản lý.
Ngày 04 tháng 07 năm 1994, Thủ tớng Chính phủ ra Quyết định
344/TTg hợp nhất TCTy Thép và TCTy Kim khí thành TCTy Thép Việt Nam,
Đồng chí Ngô Huy Phan đợc bổ nhiệm làm Tổng giám đốc. Quyết định của
Thủ tớng nêu rõ: Sau khi hợp nhất, Bộ Công nghiệp nặng cần tiến hành các
thủ tục thành lập lại TCTy Thép Việt Nam theo đúng Nghị định số 388 của
Hội đồng Bộ trởng
Ngày 07 tháng 03 năm 1994, Chính phủ có Quyết định số 91/TTg về
việc thí điểm thành lập tập đoàn kinh doanh ở một số Bộ quản lý ngành kinh
tế- kỹ thuật nhằm tạo điều kiện thúcđẩy tích tụ và tập trung, nâng cao khả
năng cạnh tranh đồng thời thực hiện chủ trơng xoá bỏ dần chế độ bộ chủ quản,
cấp hành chính chủ quản và sự phân biệt doanh nghiệp Trung ơng, doanh
nghiệp địa phơng và tăng cờng vai trò quản lý Nhà nớc đối với các doanh
nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế nâng cao hiệu quả nền kinh tế.
Trên cơ sở Quyết định 91/TTg, ngày 29 tháng 04 năm 1995, Chính phủ
ra Quyết định 255/TTg thành lập Tổng công ty Thép Việt Nam trên cơ sở tổ
chức, sắp xếp lại Tổng công ty Thép Việt Nam và các đơn vị liên quan thuộc
Bộ Công nghiệp nặng, Đồng chí Ngô Huy Phan làm Tổng giám đốc. Đến
tháng 10 năm 1995 Đồng chí Hồ Nghĩa Dũng đựơc bổ nhiệm làm Tổng giám
đốc thay cho đồng chí Ngô Huy Phan.
Quyết định nêu rõ Tổng công ty Thép Việt Nam là một Tổng công ty
Nhà nớc hoạt động sản xuất kinh doanh( sau này nhiều ngời vẫn gọi là Tổng
công ty 91).

Tên giao dịch quốc tế là: Vietnam Steel Corporation
Tên viết tắt : VSC
Trụ sở chính công ty đắt ra tại Hà nội: Số 91 Láng Hạ - Đống Đa
Hà Nội.
Điện thoại: : 8561767
Fax : 84 4- 8561815
Hiện nay Tổng Công ty do Đồng chí Đậu Văn Hùng làm Tổng giám đốc
và đồng chí Nguyễn Kim Sơn là chủ tịch hội đồng quản trị.
Hoàng Thị Hằng - QLKT 43B 22
Tổng công ty thép Việt Nam là một pháp nhân kinh doanh, hoạt động
theo Luật doanh nghiệp Nhà nớc. Điều lệ tổ chức và điều hành đợc chính phủ
phê chuẩn tại Nghị định số 03/CP, ngày 25 tháng 01 năm 1996 và giấy phép
đăng ký kinh doanh số 109621 ngày 5 tháng 2 năm 1996 do Bộ kế hoạch và
đầu t cấp. Tổng công ty do vốn Nhà nớc cấp, có bộ máy quản lý, điều hành và
các đơn vị thành viên, có con dấu theo mẫu quy định của Nhà nớc, tự chịu
trách nhiệm tài sản hữu hạn trong phạm vi số vốn Nhà nớc giao cho quản lý và
sử dụng, đợc mở tài khoản bằng đồng Việt Nam và đồng ngoại tệ tại các Ngân
hàng trong và ngoài nớc theo quy định của pháp luật.
Tổng công ty thép Việt Nam chịu sự quản lý Nhà nớc của Chính phủ,
trực tiếp là các Bộ: Bộ công nghiệp, Bộ tài chính, Bộ kế hoạch và đầu t, Bộ lao
động thơng binh và xã hội và các Bộ ngành cơ quan thuộc chính phủ, phân
cấp quản lý theo Luật doanh nghiệp Nhà nớc. Các cơ quản lý ở địa phơng
( Tỉnh, thành phố trực thuộc trung ơng) với t cách là cơ quản lý Nhà nớc trên
địa bàn lãnh thổ đợc Chính phủ quy định và phân cấp quản lý, một số mặt hoạt
động theo quy định của pháp luật hiện hành.
1.2. Cơ cấu ngành nghề và phạm vi hoạt động của TCTy thép Việt Nam
Tổng công ty thép Việt Nam là một Tổng công ty Nhà nớc đợc Chính
phủ thành lập và hoạt động theo mô hình tổng Công ty 91- Mô hình tập đoàn
công nghiệp lớn của Nhà nớc. Tổng Công ty thép Việt Nam hầu hết hoạt động
trên các thị trờng trọng điểm trên lãnh thổ Việt Nam nh: Hà nội, TP HCM,

Thái Nguyên, Quảng Ninh, Hải Phòng, Đà Nẵng, Vũng Tàu và một số Tỉnh
khác, bao trùm hầu hết các công đoạn từ khai thác nguyên liệu, vật liệu, sản
xuất thép và các sản phẩm thép cho đến khâu phân phối và tiêu thụ sản phẩm.
Các lĩnh vực hoạt động kinh doanh của Tổng Công ty:
1. Khai thác quặng sắt, than, mỡ, nguyên liệu trợ dung liên quan đến
công nghệ sản xuất thép.
2. Sản xuất gang, thép và các kim loại sản phẩm thép.
3. Kinh doanh xuất, nhập khẩu thép, vật t thiết bị và các dịch vụ liên
quan đến trang thiết bị luyện kim, chuyển giao công nghệ và hỗ trợ kỹ thuật.
4. Thiết kế, chế tạo, thi công xây lắp trang thiết bị công trình luyện kim
và các ngành liên quan khác.
5. Kinh doanh khách sạn, nhà hàng ăn uống, xăng, dầu, mỡ, gas, dịch vụ
và vật t tổng hợp khác.
6. Đào tạo, nghiên cứu khoa học công nghệ phục vụ ngành công nghiệp
luyện kim và lĩnh vực sản xuất kim loại, vật liệu xây dựng.
7. Đầu t, liên doanh, liên kết kinh tế với các đối tác trong và ngoài nớc.
8. Xuất khẩu lao động.
Tại thời điểm hiện nay Tổng công ty Thép Việt Nam có các đơn vị thành
viến sau:
I. Các đơn vị Nhà nớc hạch toán độc lập:
Hoàng Thị Hằng - QLKT 43B 23
- Công ty Gang thép Thái Nguyên,
- Công ty Thép Miền Nam,
- Nhà máy thép Đà Nẵng,
- Công ty KK Bắc Thái,
- Công ty KK Hà Nội,
- Công ty KK Đông Anh,
- Công ty KK Quảng Ninh,
- Công ty KK Hải Phòng,
- Công ty KK TP. Hồ Chí Minh,

- Công ty KK và vật t tổng hợp Miền Trung,
- Công ty vật t thiết bị công nghiệp,
- Công ty vật t thứ liệu Hà Nội,
- Công ty xây lắp,
- Công ty tài chính ngành thép( dự kiến nhng cha đợc thành lập).
II. Các đơn vị hạch toán phụ thuộc:
- Xí nghiệp dịch vụ vật t,
III. Các đơn vị sự nghiệp:
- Viện luyện kim đen,
- Trờng công nhân kỹ thuật luyện kim,
IV. Các đơn vị liên doanh có góp vốn của Tổng công ty.
- Tổng công ty Thép VSC- Posco(VPS),
- Công ty ống thép Việt Nam (Vinapipe),
- Công ty thép Vinakyoei,
- Công ty liên doanh thơng mại quốc tế(IBC),
V. Các đơn vị có vốn góp của các đơn vị thành viên Tổng công ty
thép Việt Nam:
- Công ty tông Phơng Nam,
- Công ty liên doanh Trung tâm chế biến tôn mạ màu( Nipo Vina),
- Công ty TNHH cán thép( Natsteel vina NSV),
- Công ty liên doanh sản xuất cán phẩm mạ công nghiệp Vingal,
- Công ty chế biến phẩm dây thép Hoà Bình,
- Công ty cán thép Tây Đô,
Nh vậy, ở thời điểm phê duyệt điều lệ Tổng công ty có 17 đơn vị thành
viên và 4 liên doanh có vốn góp của Tổng công ty.
Đến tháng 9 năm 1998 Đồng chí Hồ Nghĩa Dũng thay đồng chí Trần
Lum( nghỉ chế độ) làm chủ tịch Hội đồng quản trị, đồng chí Nguyễn Kim Sơn
làm tổng giám đốc và đợc bổ sung vào Hội đồng quản trị cùng đồng chí
Nguyễn Kim Đề. Cũng trong năm 2003 các đồng chí Huỳnh Trung Quang,
Nguyễn Trọng Khôi và Mai Văn Tinh đợc đề bạt làm phó Tổng giám đốc

Tổng Công ty( vào tháng 01, tháng 07 và tháng 09 năm 2003)
Hoàng Thị Hằng - QLKT 43B 24
Tháng 11 năm2004 Đồng chí Nguyễn Kim Sơn làm chủ tịch Hội đồng
quản trị thay đồng chí Hồ Nghĩa Dũng chuyển công ty khác. đồng chí Đậu
Văn Hùng đợc bổ nhiệm làm Tổng giám đốc Tổng công ty.
Và đến thời điểm 31 tháng 12 năm 2004, Tổng công ty có 20 đơn vị
thành viên ( kể cả các công ty cổ phần mà Tổng công ty nắm giữ cổ phần chi
phối và liên doanh có vốn góp của Tổng công ty). Trong đó:
I/ Các đơn vị sản xuất:
- Công ty Gang thép Thái Nguyên,
- Công ty Thép Miền Nam,
- Công ty Thép Đà Nẵng,
- Công ty thép tấm lá Phú Mỹ,
- Công ty vật liệu chịu lửa Trúc Thôn,
- Công ty cơ điện luyện kim,
II/ Các đơn vị thơng mại:
- Công ty KK Hà Nội,
- Công ty KK TP. Hồ Chí Minh
- Công ty KK Miền Trung
- Công ty KK Bắc Thái
III/ Các đơn vị sự nghiệp:
- Viện luyện kim đen,
- Trờng đào tạo nghề cơ điện- Luyện kim Thái Nguyên,
IV/ Các đơn vị liên doanh có vốn góp của Tổng công ty:
- Công ty thép VinaKyoei,
- Công ty Thép VSC- Posco,
- Công ty sản xuất thép Vinausteel,
- Công ty TNHH cán thép Natsteevina,
- Công ty liên doanh ống thép Việt Nam Vinapipe,
- Công ty liên doanh trung tâm Thơng mại quốc tế (IBC),

- Công ty liên doanh Vinanic,
- Công ty liên doanh Cảng Thị Vải,
Với một số lợng thành viên nh vậy sản phẩm mà Tổng công ty thép Việt
Nam cũng là một số lợng sản phẩm phong phú đa dạng, đáp ứng nhu cầu của
ngời tiêu dùng trong nớc cũng nh khu vực và trên Thế giới.Bao gồm các loại
sau:
Thép thanh vằn(Deformed Bars), Thép Hình( Section Bars), Đinh đóng
thuyền( Boat nails), Lới thépB40, B20, B27 và B17( chain- link wire netting),
dây thép gai(Barbed wire), thép tròn trơn( plain Bars), Thép cán nguội( cold-
Rolled coils), Thép ống(steel pipes), tôn mạ kẽm(GI),Lới thép lỗ 6 cạnh
(hexagonal wire netting), thép không rỉ( Stainless steel), thép cuộn( wire
rods), Trục cán( Rolls), tôn mạ màu( Coloured sheets), Các sản phẩm cơ
khí( mechanical products).
Hoàng Thị Hằng - QLKT 43B 25

×