Tải bản đầy đủ (.pdf) (6 trang)

Tài liệu Báo cáo " Vấn đề đình chỉ điều tra và đình chỉ vụ án trong tố tụng hình sự" pptx

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (96.96 KB, 6 trang )



Xây dựng pháp luật
tạp chí luật học - 43

vấn đề đình chỉ điều tra và đình chỉ
vụ án trong Tố tụng hình sự

Vũ Gia Lâm *
ình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án là
những quyết định tố tụng mà các cơ
quan điều tra, viện kiểm sát, tòa án có thể
ra trong quá trình giải quyết vụ án hình
sự. Theo chúng tôi, để phân biệt giữa đình
chỉ điều tra và đình chỉ vụ án theo quy
định của pháp luật tố tụng hình sự hiện
hành có thể dựa trên ba phơng diện cơ
bản, đó là: Thời điểm ra quyết định; thẩm
quyền ra quyết định và căn cứ ra quyết
định. Nếu xét trên ba phơng diện này thì
vấn đề đặt ra là các quy định có liên quan
trong luật tố tụng hình sự của Nhà nớc ta
đ thật sự rõ ràng, đầy đủ, chặt chẽ và
đảm bảo tính thống nhất giữa các chế
định luật tố tụng hình sự, giữa luật tố tụng
hình sự với luật hình sự và đ đáp ứng
đợc với yêu cầu thực tiễn hay cha?
Nghiên cứu các quy định của Bộ luật tố
tụng hình sự (BLTTHS), Bộ luật hình sự
(BLHS) cũng nh tham khảo những tình
huống thực tế xuất hiện trong quá trình


điều tra, truy tố, xét xử, chúng tôi thấy
trong quy định của BLTTHS về các quyết
định đình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án vẫn
còn nổi lên một số vấn đề khúc mắc cần
nghiên cứu, xem xét, khắc phục để sớm
hoàn thiện, đảm bảo tính thống nhất của
pháp luật nói chung đồng thời tạo điều
kiện thuận lợi cho việc áp dụng pháp luật
đáp ứng yêu cầu của thực tiễn. Trong bài
viết này, chúng tôi đề cập quy định của
BLTTHS về các quyết định đình chỉ điều
tra và đình chỉ vụ án trong các giai đoạn
điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm vụ án
hình sự và đi sâu vào căn cứ ra các quyết
định đó.
1. Quyết định đình chỉ điều tra
Trong quá trình điều tra vụ án hình sự,
cơ quan điều tra có thể ra quyết định đình
chỉ điều tra để chấm dứt hoạt động điều
tra đối với vụ án hoặc đối với từng bị can.
Điều 139 BLTTHS quy định căn cứ để ra
quyết định đình chỉ điều tra nh sau:
1. Cơ quan điều tra ra quyết định
đình chỉ điều tra trong những trờng hợp
sau đây:
a) Có một trong những căn cứ quy
định tại Điều 89 Bộ luật này.
b) Đ hết thời hạn điều tra mà không
chứng minh đợc bị can đ thực hiện tội
phạm.

2
3. Trong trờng hợp đợc quy định tại
đoạn 1 khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự
thì cơ quan điều tra ra quyết định đình
chỉ điều tra vụ án và có thể chuyển giao
hồ sơ cho cơ quan Nhà nớc hoặc tổ
chức x hội xử lí.
Theo quy định trên thì cơ quan điều
tra có thể ra quyết định đình chỉ điều tra
khi có một trong ba căn cứ đ nêu. Tùy
từng trờng hợp cụ thể mà có thể ra quyết
định đình chỉ điều tra ở các thời điểm
khác nhau. Chẳng hạn, nếu đ hết thời
hạn điều tra mà không chứng minh đợc
bị can đ thực hiện tội phạm thì cơ quan
điều tra ra quyết định đình chỉ điều tra;
nếu xác định đợc các căn cứ còn lại thì
có thể ra quyết định đình chỉ điều tra vào
chính thời điểm đ phát hiện các căn cứ
đó mà không cần xem xét đến vấn đề thời
* Giảng viên Khoa t pháp

Trờng đại học luật Hà Nội
Đ
ĐĐ
Đ






Xây dựng pháp luật
44 - tạp chí luật học

hạn điều tra. Theo chúng tôi, quy định
trên là tơng đối rõ ràng. Nhng nếu đặt
các quy định trên trong mối tơng quan
với một số quy định khác tại BLHS và
BLTTHS lại thấy là các quy định đó cha
đầy đủ, cha đảm bảo sự thống nhất giữa
hai bộ luật này cũng nh cha có sự
thống nhất với các chế định khác của
BLTTHS. Điều này thể hiện cụ thể nh
sau:
Tại đoạn 2 khoản 1 Điều 48 BLHS có
quy định: "Nếu trớc khi hành vi phạm
tội bị phát giác, ngời phạm tội đ tự thú,
khai rõ sự việc, góp phần có hiệu quả vào
việc phát hiện và điều tra tội phạm, cố
gắng hạn chế đến mức thấp nhất hậu quả
của tội phạm thì cũng có thể đợc miễn
trách nhiệm hình sự".
Nh vậy, nếu vụ án đ đợc khởi tố
để điều tra thì sẽ xảy ra hai trờng hợp:
Thứ nhất, ngời đó có thể phải chịu trách
nhiệm hình sự; thứ hai, ngời đó có thể
đợc miễn trách nhiệm hình sự. Nhng
vấn đề đặt ra ở đây là có miễn trách
nhiệm hình sự cho họ hay không lại
không chỉ dựa vào lời tự thú của họ một

cách đơn thuần mà chủ yếu phụ thuộc vào
việc cơ quan điều tra có làm rõ đợc
những điều kiện mà pháp luật quy định
làm căn cứ để miễn trách nhiệm hình sự
hay không? Và muốn làm rõ đợc những
điều kiện đó thì rõ ràng phải bằng cách
tiến hành các hoạt động điều tra. Vậy khi
tiến hành điều tra đ xác định đợc các
điều kiện cần thiết để miễn trách nhiệm
hình sự và có cơ sở chắc chắn để khẳng
định họ là đối tợng cần đợc miễn trách
nhiệm hình sự, cơ quan điều tra có quyền
ra quyết định đình chỉ điều tra hay
không?
Trên thực tế còn tồn tại một số quan
điểm khác nhau về vấn đề này. Có ngời
cho rằng truy cứu trách nhiệm hình sự
hay không là quyền của viện kiểm sát chứ
không thuộc quyền của cơ quan điều tra.
Vì viện kiểm sát là cơ quan duy nhất thực
hiện quyền công tố nhà nớc và truy cứu
trách nhiệm hình sự là hình thức thực
hiện quyền công tố nói trên. Do vậy, chỉ
viện kiểm sát mới có quyền quyết định
miễn hay không miễn trách nhiệm hình
sự đối với ngời phạm tội. Quan điểm
khác cho rằng hình thức thực hiện quyền
công tố nhà nớc chính là quyết định truy
tố ngời phạm tội (bằng bản cáo trạng)
khi đ kết thúc điều tra. Nếu không khởi

tố, điều tra và xác định trớc những điều
kiện cần và đủ để khẳng định ngời thực
hiện hành vi nguy hiểm cho x hội phải
chịu trách nhiệm hình sự thì họ không thể
bị đề nghị truy tố và bị truy tố ra trớc tòa
án để xét xử đợc. Do đó, khi tiến hành
điều tra, cơ quan điều tra xác định họ
thuộc trờng hợp đợc miễn trách nhiệm
hình sự thì có đề nghị truy tố ngời đó
hay không? Theo chúng tôi sẽ vô lí và
không cần thiết nếu cơ quan điều tra lại
đề nghị truy tố trong trờng hợp này.
Việc một ngời có thể đợc miễn trách
nhiệm hình sự về hành vi phạm tội mà họ
đ thực hiện là do luật định, cơ quan tiến
hành tố tụng chỉ xác định trờng hợp cụ
thể đó mà thôi và nếu việc xác định ở thời
điểm hoạt động của cơ quan nào thì cơ
quan đó có quyền quyết định miễn hoặc
không miễn trách nhiệm hình sự.
Do vậy, nếu xét về khía cạnh phù hợp
hay không phù hợp giữa quy định của
BLHS với quy định của BLTTHS cũng
nh hớng dẫn trong Thông t liên ngành
số 05/TTLN ngày 2/6/1990 của Bộ nội vụ
(nay là Bộ công an), Viện kiểm sát nhân
dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao, Bộ
t pháp hớng dẫn thi hành chính sách
đối với ngời phạm tội tự thú, chúng tôi
nghiêng về ý kiến thứ hai hơn, tức là

trong trờng hợp đó cơ quan điều tra


Xây dựng pháp luật
tạp chí luật học - 45

cũng có quyền quyết định miễn trách
nhiệm hình sự cho ngời phạm tội và ra
quyết định đình chỉ điều tra. Vì thế, theo
chúng tôi nên sửa đổi khoản 3 Điều 139
BLTTHS bằng cách bỏ hai từ đoạn 1 và
nh vậy, điều luật này sẽ đợc quy định
nh sau:
3. Trong trờng hợp đợc quy định
tại khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự thì cơ
quan điều tra ra quyết định đình chỉ điều
tra vụ án và có thể chuyển giao hồ sơ cho
cơ quan nhà nớc hoặc tổ chức x hội xử
lí.
Việc vụ án đợc khởi tố theo yêu cầu
của ngời bị hại (Điều 88 BLTTHS)
nhng khi tiến hành điều tra, ngời này
lại rút đơn yêu cầu khởi tố đ gây lúng
túng cho cơ quan điều tra vì luật không
quy định đây là căn cứ để ra quyết định
đình chỉ điều tra. Trờng hợp lí do rút
đơn yêu cầu khởi tố của ngời bị hại là
chính đáng, hoàn toàn tự nguyện và vụ án
cũng không ở vào trờng hợp "cần thiết"
tiến hành tố tụng nh quy định tại khoản

2 Điều 88 BLTTHS thì việc vẫn tiếp tục
tiến hành điều tra sẽ không đảm bảo đợc
quyền lợi của ngời bị hại, làm mất ý
nghĩa của chế định "khởi tố theo yêu cầu"
nhng nếu ra quyết định đình chỉ điều tra
thì lại không có cơ sở pháp luật. Điều này
dẫn đến tình trạng bị động trong hoạt
động của cơ quan điều tra, làm chậm quá
trình giải quyết vụ án vì thờng thì cơ
quan điều tra phải báo việc rút đơn yêu
cầu của ngời bị hại cho viện kiểm sát để
viện kiểm sát quyết định. Theo chúng tôi,
nên giải quyết vấn đề này nh sau: Đối
với vụ án đợc khởi tố theo yêu cầu của
ngời bị hại mà ngời này rút yêu cầu
khởi tố trong giai đoạn điều tra và việc rút
yêu cầu là chính đáng, hoàn toàn tự
nguyện thì cơ quan điều tra có quyền ra
quyết định đình chỉ điều tra nếu việc ra
quyết định đó phù hợp với mục đích của
quy định về khởi tố vụ án theo yêu cầu
của ngời bị hại và không vi phạm quy
định tại khoản 2 Điều 88 BLTTHS. Muốn
vậy, Điều 88 BLTTHS phải đợc sửa đổi,
bổ sung cho thống nhất và xác lập quyền
hạn cụ thể cho cơ quan điều tra trong
trờng hợp này. Chúng tôi đề nghị bổ
sung khoản 2 Điều 88 BLTTHS với nội
dung nh sau:
1

2. Trong trờng hợp ngời bị hại rút
yêu cầu khởi tố trớc ngày mở phiên tòa
thì vụ án phải đợc đình chỉ.
Trong trờng hợp cần thiết, tuy ngời
bị hại rút yêu cầu khởi tố nhng cơ quan
điều tra, viện kiểm sát, tòa án vẫn có thể
tiếp tục tiến hành tố tụng đối với vụ án.
Và để phù hợp với Điều 88 đ đợc
bổ sung thì cần thêm vào Điều 139
BLTTHS một trờng hợp nữa làm căn cứ
để cơ quan điều tra ra quyết định đình chỉ
điều tra. Theo chúng tôi, nên quy định
thêm vào khoản 1 Điều 139 BLTTHS
trờng hợp ngời bị hại rút yêu cầu khởi
tố khi đang tiến hành điều tra vụ án.
Khoản 1 Điều 139 BLTTHS sẽ có nội
dung nh sau:
1. Cơ quan điều tra ra quyết định
đình chỉ điều tra trong những trờng hợp
sau đây:
a) Có một trong các căn cứ quy định
tại điều 89 Bộ luật này.
b) Đ hết thời hạn điều tra mà không
chứng minh đợc bị can đ thực hiện tội
phạm.
c) Ngời bị hại rút yêu cầu khởi tố
trong giai đoạn điều tra.
2. Quyết định đình chỉ vụ án của
viện kiểm sát
Theo quy định tại Điều 142 BLTTHS,

trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận
hồ sơ vụ án và bản kết luận điều tra đề
nghị truy tố bị can, viện kiểm sát phải ra
một trong các quyết định sau đây: Truy tố


Xây dựng pháp luật
46 - tạp chí luật học

bị can trớc tòa bằng bản cáo trạng; trả
lại hồ sơ để điều tra bổ sung; đình chỉ
hoặc tạm đình chỉ vụ án. Trong trờng
hợp cần thiết, viện trởng viện kiểm sát
có thể gia hạn thêm nhng không quá 30
ngày. Khoản 1 Điều 143b BLTTHS quy
định căn cứ để ra quyết định đình chỉ vụ
án nh sau:
1. Viện kiểm sát ra quyết định đình
chỉ vụ án khi có một trong các căn cứ quy
định tại Điều 89 của Bộ luật này hoặc
Điều 16, khoản 1 Điều 48 và khoản 3
Điều 59 Bộ luật hình sự.
Theo chúng tôi, quy định trên là cụ
thể, rõ ràng, xác định các căn cứ để viện
kiểm sát ra quyết định đình chỉ vụ án
nhng vẫn cha tập trung. Mặc dù khoản
2 Điều 88 đ quy định trờng hợp ngời
bị hại rút đơn yêu cầu khởi tố trớc khi
mở phiên tòa thì vụ án phải bị đình chỉ
nhng cũng cha xác định rõ cơ quan nào

ra quyết định đình chỉ. Nếu ngời này rút
yêu cầu khởi tố trong giai đoạn truy tố
của viện kiểm sát và không ở vào "trờng
hợp cần thiết" thì đơng nhiên viện kiểm
sát có quyền ra quyết định đình chỉ. Do
đó, theo chúng tôi, khoản 1 Điều 143b
cần đợc bổ sung thêm căn cứ đình chỉ vụ
án nh sau:
1. Viện kiểm sát ra quyết định đình
chỉ vụ án khi có một trong các căn cứ quy
định tại Điều 89 của Bộ luật này hoặc
Điều 16, khoản 1 Điều 48 và khoản 3
Điều 59 BLHS hay trờng hợp ngời bị
hại rút yêu cầu khởi tố trớc khi viện
kiểm sát truy tố.
3. Quyết định đình chỉ vụ án của
tòa án
Trong phần này, chúng tôi đề cập
quyết định đình chỉ vụ án trong giai đoạn
xét xử sơ thẩm vụ án hình sự. Giai đoạn
xét xử sơ thẩm bắt đầu từ thời điểm tòa
án nhận hồ sơ vụ án cùng bản cáo trạng
từ viện kiểm sát chuyển sang. Trong thời
hạn luật định, tòa án thực hiện hai công
việc quan trọng là chuẩn bị xét xử và tiến
hành mở phiên tòa để xét xử vụ án. Theo
quy định tại Điều 151 và Điều 173
BLTTHS về thời hạn chuẩn bị xét xử và
về việc ra bản án, quyết định của tòa án
thì quyết định đình chỉ vụ án có thể đợc

đa ra trong hai thời điểm: Trong giai
đoạn chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa.
Quyền hạn ra quyết định đình chỉ vụ án
đợc giao cho các chủ thể khác nhau có
thể là thẩm phán (trớc khi mở phiên
tòa), có thể là hội đồng xét xử (tại phiên
tòa). Theo chúng tôi, cơ sở khoa học cho
quy định của BLTTHS về quyền hạn của
các chủ thể có quyền quyết định đình chỉ
vụ án, thời điểm ra quyết định đình chỉ vụ
án còn cha đầy đủ, rõ ràng khiến cho
việc áp dụng còn gặp khó khăn.
a. Quyết định đình chỉ vụ án trong
giai đoạn chuẩn bị xét xử
Giai đoạn chuẩn bị xét xử đợc tính từ
sau khi nhận hồ sơ vụ án, bản cáo trạng
đến trớc ngày mở phiên tòa xét xử. Theo
quy định tại Điều 151 BLTTHS, thẩm
phán đợc phân công chủ tọa phiên tòa có
nhiệm vụ nghiên cứu hồ sơ, giải quyết
các khiếu nại, yêu cầu của ngời tham gia
tố tụng, tiến hành những hoạt động cần
thiết khác cho việc mở phiên tòa. Thời
hạn nghiên cứu hồ sơ và ra các quyết định
tố tụng cần thiết đợc quy định đối với
các trờng hợp phạm tội ít nghiêm trọng
hoặc phạm tội nghiêm trọng là khác
nhau. Trong thời hạn đó, thẩm phán phải
nghiên cứu hồ sơ và ra đợc quyết định
cần thiết (Điều 151 BLTTHS), trong đó

có thể là quyết định đình chỉ vụ án. Mặc
dù quy định về thẩm quyền nghiên cứu
hồ sơ nh trên là cha chặt chẽ, dễ dẫn
đến sự hiểu lầm là trong mọi trờng hợp
chỉ có thẩm phán đợc phân công chủ tọa
phiên tòa mới có quyền và nghĩa vụ
nghiên cứu hồ sơ vụ án trớc khi xét xử


Xây dựng pháp luật
tạp chí luật học - 47

còn những thẩm phán khác (trong trờng
hợp hội đồng xét xử sơ thẩm gồm nhiều
thẩm phán) không có trách nhiệm nghiên
cứu hồ sơ. Thực tế, nếu không nghiên cứu
hồ sơ trớc khi xét xử thì không thể xét
xử có hiệu quả đợc. Việc quy định cho
thẩm phán chủ tọa phiên tòa có quyền
quyết định đình chỉ vụ án là khẳng định
vị trí của ngời thẩm phán đó trong thành
phần hội đồng xét xử. Vấn đề là thẩm
phán ra quyết định đình chỉ vụ án dựa vào
những căn cứ nào? Theo chúng tôi, quy
định về căn cứ để thẩm phán ra quyết
định đình chỉ vụ án tại Điều 155 BLTTHS
hiện hành chỉ bao gồm các trờng hợp
quy định tại các điểm 3, 4, 5, 6, 7 Điều
89 BLTTHS là cha đầy đủ vì các lẽ sau:
Thứ nhất: Trong thời hạn nghiên cứu

hồ sơ, thẩm phán phải nghiên cứu, xem
xét tất cả các tài liệu có trong hồ sơ, cân
nhắc, xác định các điều kiện cần thiết để
ra các quyết định sao cho phù hợp. Thẩm
phán có thể phát hiện ra những trờng
hợp có đủ điều kiện để miễn trách nhiệm
hình sự theo quy định của luật hình sự mà
cơ quan điều tra, viện kiểm sát đ không
phát hiện ra hoặc không sử dụng làm căn
cứ đình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án trong
các giai đoạn tố tụng trớc đó. Ví dụ: Do
sự chuyển biến của tình hình mà ngời
phạm tội và hành vi phạm tội không còn
nguy hiểm cho x hội nữa (đoạn 1 khoản
1 Điều 48 BLHS); trớc khi tội phạm bị
phát giác, ngời phạm tội đ tự thú, khai
báo thành khẩn về hành vi phạm tội của
mình và đồng bọn (nếu có), đ cố gắng
hết sức để hạn chế những hậu quả xấu
cho hành vi phạm tội gây ra (đoạn 2
khoản 1 Điều 48 BLHS). Theo chúng tôi,
trong những trờng hợp nói trên, thẩm
phán có quyền ra quyết định đình chỉ vụ
án.
Thứ hai: Nếu vụ án đợc khởi tố theo
yêu cầu của ngời bị hại mà họ rút yêu
cầu khởi tố trớc khi mở phiên tòa thì vụ
án bị đình chỉ trừ trờng hợp cần thiết
phải khởi tố (khoản 2 Điều 88 BLTTHS).
Do vậy, nếu trong giai đoạn chuẩn bị xét

xử mà ngời bị hại rút yêu cầu thì đó là
căn cứ để thẩm phán ra quyết định đình
chỉ vụ án. Nhng thực tiễn lại đặt ra vấn
đề phức tạp là ngời bị hại có quyền rút
yêu cầu khởi tố bao nhiêu lần? Giả sử họ
đ rút yêu cầu khởi tố ở giai đoạn truy tố
(không đợc viện kiểm sát chấp nhận),
đến giai đoạn xét xử họ lại rút yêu cầu
cầu khởi tố và việc rút yêu cầu đó là
chính đáng và hoàn toàn tự nguyện thì tòa
án có chấp nhận để đình chỉ vụ án không?
Theo chúng tôi, quy định về khởi tố vụ án
theo yêu cầu của ngời bị hại chủ yếu
nhằm mục đích bảo vệ quyền lợi cho
ngời này, do vậy họ có thể rút yêu cầu
khởi tố bất cứ lúc nào (trong tất cả các
giai đoạn tố tụng nh khởi tố, điều tra,
truy tố, xét xử sơ thẩm). Họ rút yêu cầu ở
bất kì giai đoạn tố tụng nào thì cơ quan
tiến hành tố tụng cũng đều phải xem xét
để quyết định chấp nhận hay bác bỏ việc
rút yêu cầu, nếu việc rút yêu cầu của họ
không đợc chấp nhận trong giai đoạn
này họ có thể thực hiện quyền đó ở giai
đoạn tiếp sau miễn là việc rút yêu cầu đó
thực hiện trớc khi mở phiên tòa sơ thẩm.
Thứ ba: Điều 156 BLTTHS quy định
viện kiểm sát rút quyết định truy tố trớc
khi mở phiên tòa và đề nghị tòa án đình
chỉ vụ án khi thấy có căn cứ quy định tại

Điều 89 BLTTHS hoặc khi có căn cứ
miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
Nhng vấn đề đặt ra là ai sẽ là ngời ra
quyết định này thì lại không có quy định
cụ thể. Theo hớng dẫn tại phần III
Thông t liên ngành số 01/TTLN của
Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án
nhân dân tối cao về vấn đề xem xét việc
rút truy tố, tại mục 1 có ghi: "Trớc khi
mở phiên tòa, nếu viện kiểm sát rút toàn


Xây dựng pháp luật
48 - tạp chí luật học

bộ quyết định truy tố thì hội đồng xét xử
ra quyết định đình chỉ vụ án, nếu rút một
phần thì hội đồng xét xử chỉ xét xử phần
không bị rút truy tố ". Theo chúng tôi,
hớng dẫn nh trên là cha thực tế vì thời
điểm trớc khi mở phiên tòa là thời điểm
chuẩn bị xét xử, công việc chủ yếu do
thẩm phán thực hiện. Trong trờng hợp
cha có quyết định đa vụ án ra xét xử thì
không có cơ sở để triệu tập hội đồng xét
xử đợc. Giả sử đ có quyết định đa vụ
án ra xét xử thì việc triệu tập hội đồng xét
xử để chỉ giải quyết vấn đề đó là không
cần thiết. Hơn nữa, luật tố tụng hình sự
không cấm việc gặp gỡ và trao đổi giữa

thẩm phán nghiên cứu hồ sơ với kiểm sát
viên sẽ giữ quyền công tố tại phiên tòa.
Thiết nghĩ, nếu cần đình chỉ vụ án theo
quyết định rút truy tố của viện kiểm sát
thì chỉ cần có sự nhất trí giữa thẩm phán
và kiểm sát viên là đủ, do vậy nên quy
định thẩm phán có quyền ra quyết định
đình chỉ vụ án trong trờng hợp này.
Ngoài ra, có sự bất hợp lí trong quy
định tại Điều 155 BLTTHS. Sự bất hợp lí
này không rơi vào quy định về đình chỉ
vụ án mà ở trong quy định về căn cứ ra
quyết định tạm đình chỉ vụ án trong giai
đoạn chuẩn bị xét xử. Chúng tôi muốn đề
cập vấn đề này vì nội dung của Điều 155
lại quy định về hai quyết định đình chỉ và
tạm đình chỉ vụ án mà thẩm phán có thể
đa ra.
Về quyết định tạm đình chỉ vụ án,
Điều 155 BLTTHS quy định: "Thẩm phán
ra quyết định tạm đình chỉ vụ án khi có
căn cứ quy định tại Điều 135 ". Điều
135 BLTTHS quy định 3 căn cứ để cơ
quan điều tra ra quyết định tạm đình chỉ
điều tra, đó là:
a) Bị can mắc bệnh tâm thần hoặc
bệnh hiểm nghèo khác có chứng nhận của
hội đồng giám định pháp y;
b) Cha xác định đợc bị can;
c) Không biết rõ bị can đang ở đâu.

Nếu đa cả 3 trờng hợp nói trên làm
căn cứ ra quyết định tạm đình chỉ vụ án
trong giai đoạn chuẩn bị xét xử thì không
chính xác, trờng hợp b không thể có
trong giai đoạn xét xử đợc vì nếu cha
xác định đợc bị can thì sẽ không có vấn
đề truy tố đối với bị can đó. Theo chúng
tôi, chỉ có thể sử dụng căn cứ quy định tại
Điều 135 BLTTHS làm căn cứ ra quyết
định tạm đình chỉ vụ án ở hai trờng hợp
a và c mà thôi.
Vì những lẽ trên, chúng tôi đề nghị
sửa đổi, bổ sung Điều 155 BLTTHS nh
sau:
Điều 155: Quyết định đình chỉ và
tạm đình chỉ vụ án:
Thẩm phán ra quyết định tạm đình chỉ
vụ án khi có căn cứ:
- Bị can mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh
hiểm nghèo khác có chứng nhận của hội
đồng giám định pháp y;
- Không biết rõ bị can đang ở đâu.
Thẩm phán ra quyết định đình chỉ vụ
án khi có một trong những căn cứ quy
định tại các điểm 3, 4, 5, 6, 7 Điều 89 Bộ
luật này hoặc trờng hợp ngời bị hại rút
yêu cầu khởi tố; viện kiểm sát rút toàn bộ
quyết định truy tố trớc khi mở phiên tòa
hay xác định trờng hợp quy định tại
khoản 1 Điều 48 Bộ luật này.

b. Quyết định đình chỉ vụ án tại phiên tòa
Theo quy định tại Điều 173 BLTTHS về
việc ra bản án và quyết định của tòa án
thì hội đồng xét xử có quyền ra quyết
định đình chỉ vụ án thành văn bản sau khi
thảo luận và thông qua tại phòng nghị án
(Xem tiếp trang 54)

×