Tải bản đầy đủ (.pdf) (118 trang)

chuỗi giá trị sản phẩm cá ngừ sọc dưa tại nha trang

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (2.04 MB, 118 trang )


i

















BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG





PHAN LÊ DIỄM HẰNG









CHUỖI GIÁ TRỊ SẢN PHẨM
CÁ NGỪ SỌC DƯA TẠI NHA TRANG



LUẬN VĂN THẠC SĨ

















Nha Trang, tháng 07 năm 2012

ii

















BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG




PHAN LÊ DIỄM HẰNG






CHUỖI GIÁ TRỊ SẢN PHẨM

CÁ NGỪ SỌC DƯA TẠI NHA TRANG


Chuyên ngành: Quản trị kinh doanh
Mã số: 60 34 05


LUẬN VĂN THẠC SĨ


NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. NGUYỄN THỊ KIM ANH











Nha Trang, tháng 07 năm 2012

iii

LỜI CAM ĐOAN



Tôi tên Phan Lê Diễm Hằng, học viên lớp Cao học Quản trị kinh doanh Khóa
2009, Trường Đại học Nha Trang xin cam đoan:

Mọi tài liệu, số liệu dùng phân tích, tính toán và dẫn chứng trong luận văn thạc sĩ
là chính xác, trung thực, hợp lệ và không vi phạm pháp luật.

Tôi thực hiện nội dung luận văn này dưới sự hướng dẫn khoa học của Cô
PGS.TS. Nguyễn Thị Kim Anh.

Nha Trang, ngày 20 tháng 07 năm 2012




Phan Lê Diễm Hằng












iv

LỜI CẢM ƠN



Để có được kết quả nghiên cứu và hoàn thành luận văn này, trong thời gian thực
hiện đề tài tôi luôn nhận được rất nhiều sự giúp đỡ của các Thầy Cô, sự ủng hộ của gia
đình và sự hỗ trợ nhiệt tình của đồng nghiệp, bạn bè và cộng đồng những người sản
xuất và kinh doanh sản phẩm cá ngừ sọc dưa tại Nha Trang.
Trước hết, tôi xin chân thành gửi lời cảm ơn sâu sắc đến PGS.TS Nguyễn Thị
Kim Anh là người trực tiếp hướng dẫn đã tận tình giúp đỡ, động viên tôi trong suốt
quá trình thực hiện đề tài.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến các Thầy Cô khoa Kinh tế - Trường Đại học Nha
Trang đã tận tâm và nhiệt tình giảng dạy tôi trong suốt thời gian học cao học tại
trường; và xin gửi lời biết ơn đến gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã tạo điều kiện về
thời gian, động viên tinh thần và giúp đỡ để tôi hoàn thành đề tài tốt nghiệp của mình.
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến các chủ tàu, các ngư dân, các chủ nậu vựa, các
anh chị của các công ty chế biến, những người bán sỉ và lẻ ở các chợ trên địa bàn
thành phố Nha Trang đã nhiệt tình giúp đỡ, cung cấp thông tin trong quá trình tôi thu
thập số liệu và hình ảnh để hoàn thiện đề tài.
Một lần nữa tôi xin chân thành cảm ơn!

Phan Lê Diễm Hằng


v

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN iii
LỜI CẢM ƠN ix
MỤC LỤC v
DANH MỤC CÁC BẢNG viii

DANH MỤC CÁC HÌNH ix
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT x

PHẦN MỞ ĐẦU x
1. Tính cấp thiết của đề tài 1
2. Mục tiêu nghiên cứu 3
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
4. Phương pháp nghiên cứu 4
5. Kết cấu đề tài 4

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 5
1.1. Lý thuyết về lợi thế cạnh tranh 5
1.1.1. Khái niệm lợi thế cạnh tranh 5
1.1.2. Mô hình năm lực lượng cạnh tranh của Michael Porter 6
1.1.3. Mô hình lợi thế cạnh tranh quốc gia của Michael Porter 9
1.2. Lý thuyết về chuỗi giá trị 12
1.2.1. Khái niệm chuỗi giá trị 12
1.2.2. Chuỗi giá trị và chuỗi cung ứng 14
1.2.3. Tầm quan trọng của phân tích chuỗi giá trị 14
1.2.4. Chuỗi giá trị sản phẩm thủy sản toàn cầu 16
1.2.5. Phương pháp phân tích chuỗi giá trị sản phẩm thủy sản 20
1.2.6. Phương pháp phân tích chuỗi giá trị dựa vào ứng dụng mô hình SCP 22
1.3. Tổng hợp các nghiên cứu liên quan đến đề tài 25
1.3.1. Nghiên cứu nước ngoài 25
1.3.2. Nghiên cứu trong nước 27

Chương 2: PHƯƠNG PHÁP THU THẬP VÀ XỬ LÝ DỮ LIỆU 32
2.1. Phương pháp thu thập dữ liệu 32

vi


2.1.1. Quy trình thu thập dữ liệu sơ cấp 32
2.1.2. Thông tin dữ liệu 32
2.2. Phương pháp tính toán và xử lý dữ liệu 33

Chương 3: TỔNG QUAN VỀ SẢN XUẤT VÀ TIÊU THỤ SẢN PHẨM THỦY
SẢN VIỆT NAM VÀ KHÁNH HÒA 35
3.1. Tình hình cung và cầu thủy sản thế giới 35
3.1.1. Nguồn cung thủy sản thế giới 35
3.1.2. Nhu cầu tiêu dùng thế giới 36
3.2. Tổng quan về sản xuất và tiêu thụ sản phẩm thủy sản Việt Nam 37
3.2.1. Tình hình cung nguyên liệu 37
3.2.1.1. Hoạt động khai thác 37
3.2.1.2. Nuôi trồng thủy sản 38
3.2.2. Tình hình chế biến thủy sản 39
3.2.3 Tình hình tiêu thụ 41
3.3. Tổng quan về sản xuất và tiêu thụ sản phẩm thủy sản Khánh Hòa 42
3.3.1. Khai thác thủy sản 42
3.3.2. Nuôi trồng thủy sản 44
3.3.3. Tình hình chế biến thủy sản 45
3.3.4. Tình hình tiêu thụ 46
3.4. Giới thiệu cá ngừ sọc dưa 48
3.4.1. Cá ngừ 48
3.4.2. Cá ngừ sọc dưa 48

Chương 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CHUỖI GIÁ TRỊ CÁ NGỪ SỌC DƯA
TẠI NHA TRANG 51
4.1. Phân tích cấu trúc thị trường 51
4.1.1. Cấu trúc thị trường cá ngừ sọc dưa 51
4.1.2. Đặc điểm những tác nhân trong chuỗi giá trị cá ngừ sọc dưa tại Nha Trang 52

4.2. Tổ chức vận hành thị trường và tình hình cạnh tranh trong ngành 60
4.2.1. Phương thức giao dịch mua bán và thanh toán trên thị trường 60
4.2.2. Quy trình xác lập giá mua bán 61
4.2.3. Tiếp cận thông tin thị trường 63

vii

4.2.4. Hoạt động kiểm soát chất lượng sản phẩm và thực hiện truy xuất nguồn gốc 65
4.2.5. Tình hình cạnh tranh trong ngành 67
4.2.5.1. Rào cản ngành và mức độ cạnh tranh 67
4.2.5.2. Mức độ khác biệt của sản phẩm 70
4.2.6. Tác động của các qui định và chính sách đến các tác nhân trong chuỗi 70
4.3. Kết quả thực hiện thị trường 75
4.3.1. Phân tích chi phí và lợi nhuận biên cho mỗi tác nhân 75
4.3.2. Phân tích cơ cấu giá trị tăng thêm và tỷ suất lợi nhuận biên trong chuỗi giá trị cá
ngừ sọc dưa tại Nha Trang 79
4.3.2.1. Chuỗi cung ứng cho thị trường xuất khẩu 79
4.3.2.2. Chuỗi cung ứng cho thị trường nội địa 82

Chương 5: THẢO LUẬN KẾT QUẢ VÀ KHUYẾN NGHỊ 87
5.1. Thảo luận kết quả 87
5.2. Khuyến nghị 89
5.3. Kết luận 94

TÀI LIỆU THAM KHẢO 95
PHỤ LỤC 100
Phụ lục A: Bảng câu hỏi phỏng vấn công ty chế biến cá ngừ sọc dưa 100
Phụ lục B: Bảng câu hỏi phỏng vấn nậu vựa thu mua cá ngừ sọc dưa 101
Phụ lục C: Bảng câu hỏi phỏng vấn ngư dân khai thác nghề lưới rê (lưới cản) 103
Phụ lục D: Bảng câu hỏi phỏng vấn người bán sỉ cá ngừ sọc dưa 106

Phụ lục E: Bảng câu hỏi phỏng vấn người bán lẻ cá ngừ sọc dưa 107
Phụ lục F: Tính toán khác về lợi ích và chi phí của các tác nhân 108












viii


DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1. Các nhân tố của mô hình SCP 23
Bảng 1.2. Các nhân tố của SCP sử dụng trong nghiên cứu chuỗi giá trị cá ngừ sọc dưa
24
Bảng 2.1. Phương pháp tính toán tỷ lệ phân phối giá trị tăng thêm và tỷ suất lợi nhuận
biên trong chuỗi giá trị 34
Bảng 3.1. Tiêu dùng thủy sản thế giới từ 2004-2009 37
Bảng 3.2. Tình hình xuất khẩu thủy sản Khánh Hòa 46
Bảng 4.1. Đặc điểm của các tàu được điều tra 52
Bảng 4.2. Các công ty chế biến sản phẩm cá ngừ sọc dưa ở Khánh Hòa 56
Bảng 4.3. Khả năng tiếp cận thông tin thị trường của mỗi tác nhân 64
Bảng 4.4. Nguồn cung cấp thông tin thị trường cho các tác nhân 64

Bảng 4.5. Đánh giá cạnh tranh ngành chế biến và xuất khẩu cá ngừ sọc dưa ở Nha
Trang 69
Bảng 4.6. Chi phí và lợi nhuận biên của các tác nhân trong chuỗi 76
Bảng 4.7. Phân phối giá trị tăng thêm và tỷ suất lợi nhuận biên trong chuỗi giá trị từ
ngư dân đến công ty chế biến xuất khẩu 80
Bảng 4.8. Phân phối giá trị tăng thêm và tỷ suất lợi nhuận trong chuỗi từ ngư dân –
nậu vựa – nhà nhập khẩu 82
Bảng 4.9. Phân phối giá trị tăng thêm và tỷ suất lợi nhuận trong kênh nội địa giữa các
tác nhân ở kênh nội địa 84















ix

DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1.1. Mô hình năm lực lượng cạnh tranh 6
Hình 1.2. Mô hình lợi thế cạnh tranh quốc gia 9
Hình 1.3. Chuỗi giá trị sản phẩm thủy sản điển hình 16

Hình 1.4. Một số chuỗi giá trị sản phẩm thủy sản 17
Hình 1.5. Phân phối giá trị gia tăng trong chuỗi giá trị ở 4 quốc gia 18
Hình 1.6. Các dạng chuỗi giá trị sản phẩm thủy sản khai thác biển. 19
Hình 1.7. Chuỗi giá trị sản phẩm thủy sản khai thác biển tổng quát 20
Hình 1.8. Sự tương tác qua lại giữa ba yếu tố trong mô hình SCP 22
Hình 3.1. Sản lượng thủy hải sản thế giới 35
Hình 3.2. Sản lượng lớn nhất của 10 loài thủy sản khai thác biển năm 2008 36
Hình 3.3. Sản lượng sản xuất thủy sản Việt Nam từ 1995-2010. 37
Hình 3.4. Xuất khẩu thủy sản từ 1993 – 2011. 41
Hình 3.5. Cơ cấu thị trường xuất khẩu thủy sản Việt Nam theo giá trị năm 2010 42
Hình 3.6. Sản lượng thủy sản và số tàu thuyền của Khánh Hòa giai đoạn 2001-2009.43
Hình 3.7. Năng suất khai thác của đội tàu tỉnh Khánh Hòa 43
Hình 3.8. Cơ cấu thị trường xuất khẩu hàng thủy sản Khánh Hòa 47
Hình 3.9. Hình ảnh loài cá ngừ sọc dưa 49
Hình 3.10. Sản lượng khai thác cá ngừ sọc dưa của thế giới. 50
Hình 4.1. Chuỗi giá trị cá ngừ sọc dưa tại Nha Trang 51
Hình 4.2. Những hoạt động khai thác cá ngừ sọc dưa của nghề lưới rê 53
Hình 4.3. Các dạng sản phẩm cá ngừ sọc dưa 57
Hình 4.4. Hoạt động bán sỉ tại cảng cá 58
Hình 4.5. Người bán lẻ tại chợ Vĩnh Hải ở Nha Trang 59
Hình 4.6. Giá cá thu mua của các nậu vựa 62
Hình 4.7. Cơ cấu giá trị tạo ra của mỗi tác nhân trong chuỗi 78
Hình 4.9. Phân phối lợi nhuận biên và giá trị tăng thêm giữa các tác nhân trong chuỗi
giá trị xuất khẩu 81
Hình 4.10. Lợi nhuận biên trên tổng chi phí của các tác nhân trong kênh nội địa 84
Hình 4.11. Phân phối lợi nhuận biên và giá trị tăng thêm ở kênh nội địa 84
Hình 5.1. Mô hình hợp tác dọc trong chuỗi giá trị cá ngừ sọc dưa 90

x


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
ATPDEA: Andean Trade Promotion and Drug Eradication Act
Bộ NN&PTNNT: Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn
CL: chất lượng
Chi cục KT & BVNLTSKH: Chi cục Khai thác và Bảo vệ nguồn lợi thủy sản Khánh Hòa
CV: Đơn vị công suất máy tàu (mã lực)
EU: European Union
EC: European commission
FAO: Food and Agriculture Organization
GDP: Gross domestic product
GSO: General Statistical Ofiice
HACCP: Hazard Analysis and Critical Control Points
IO: Industrial Organization
IUU: Illegal, unreported and unregulated fishing
KHAFA: Hội nghề cá tỉnh Khánh Hòa
NAFIQAD: Cục quản lý chất lượng Nông lâm sản và thủy sản
NGTKKH: Niên giám thống kê Khánh Hòa
SCP: Structure – Conduct – Performance
Sở NN & PTNTKH: Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn Khánh Hòa
SPS: Hiệp định vệ sinh kiểm dịch động thực vật
TSCĐ: Tài sản cố định
TNHH: Trách nhiệm hữu hạn
TNHHMTV: Trách nhiệm hữu hạn một thành viên
UNIDO: United Nations Industrial Development Organization
VASEP: Vietnam Association of Seafood Exporters and Producers
VSATTP: Vệ sinh an toàn thực phẩm

1

PHẦN MỞ ĐẦU


1. Tính cấp thiết của đề tài
Ngành thủy sản Việt Nam phát triển nhờ vào lợi thế có bờ biển dài khoảng 3.260 km
và vùng biển rộng hơn 1 triệu km
2
chứa nhiều nguồn lợi thủy sản phong phú đa dạng
(FAO, 2005). Nguồn lợi chính là cá biển đã phát hiện hơn 2.000 loài khác nhau, trong
đó trên 100 loài có giá trị kinh tế cao với tổng trữ lượng hải sản khoảng 3,1 triệu tấn,
khả năng cho phép khai thác 1,4 triệu tấn/năm (FAO, 2004). Đánh bắt thủy sản được
xem là chỗ dựa sinh kế cho hàng chục triệu người dân, đặc biệt là đối với cộng đồng
cư dân ven biển Việt Nam. Từ năm 1993, sau khi thuỷ sản được coi là ngành kinh tế
mũi nhọn (NQ05-NQ/HNTW), nghề đánh bắt thuỷ sản đã có những bước phát triển
đáng kể. Trong giai đoạn 1995-2010, sản lượng thuỷ sản tăng bình quân khoảng
8%/năm, sản lượng khai thác tăng bình quân khoảng 5%/năm (GSO, 2005 và 2010).
Đánh bắt hải sản đã tạo việc làm cho hơn 5 vạn lao động đánh cá trực tiếp và hơn 10
vạn lao động dịch vụ nghề cá. Số lượng tàu thuyền cũng tăng đều đặn qua các năm,
theo thống kê trong khoảng 15 năm (1995 – 2010), tàu cá Việt Nam tăng khoảng 4,7 lần
về số lượng và 5,7 lần về công suất.
Từ khi định hướng ngành thủy sản trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, ngành chế
biến thủy sản đã nhận được sự chú trọng đặc biệt của các cấp, các ngành và các địa
phương. Chương trình chế biến và xuất khẩu thủy sản đến năm 2005 đã được Thủ
tướng Chính phủ phê duyệt và bắt đầu thực hiện từ năm 1998 là một chương trình tạo
bước ngoặt trong thế kỷ 21 cho ngành chế biến thủy sản nước ta. Có thể nói, chế biến
xuất khẩu thủy sản là động lực cho tăng trưởng và chuyển đổi cơ cấu trong khai thác
và nuôi trồng thủy sản. Đến nay, cả nước đã có tổng số hơn 470 cơ sở - doanh nghiệp
chế biến thủy sản, trong đó có 248 cơ sở - doanh nghiệp (chiếm gần 53%) đã đạt tiêu
chuẩn của thị trường EU - một thị trường khó tính vào bậc nhất thế giới (NQ09-
NQ/TW). Hàng thủy sản Việt Nam đã có mặt trên 140 nước và vùng lãnh thổ trên thế
giới, có chỗ đứng vững chắc ở các thị trường lớn như Nhật Bản, EU và Bắc Mỹ. Năm
2009, thủy sản Việt Nam đứng thứ 4 trên thế giới về giá trị kim ngạch xuất khẩu với

4,3 tỉ USD (FAO, 2011a) và đóng góp 4% GDP của cả nước - chiếm 19,8% trong cơ
cấu GDP nông nghiệp và giải quyết việc làm cho trên 1 triệu lao động - chiếm 4% lực
lượng lao động của cả nước (Nguyên Khải, 2011).

2

Khánh Hòa là một tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ có bờ biển dài hơn 200 km và
gần 200 hòn đảo. Dự án đánh giá nguồn lợi sinh vật biển Việt Nam (ALMRV, 2005)
đánh giá vùng biển Khánh Hòa có khoảng 600 loài cá, trong đó có khoảng 50 loài có
giá trị kinh tế cao. Loài cá nổi chiếm một tỷ trọng cao với khoảng 115.800 tấn và mức
sản lượng khai thác bền vững khoảng 38.000 tấn/năm (ALMRV, 2005). Đây là những
điều kiện rất tốt cho ngành thủy sản Khánh Hòa phát triển. Sản lượng thủy sản khai
thác biển tăng bình quân 1,3%/năm từ năm 2001 đến 2009 và chiếm khoảng 73% -
88% tổng sản lượng thủy sản của cả tỉnh (Sở NN&PTNTKH, 2009a). Năm 2009, sản
lượng khai thác của Khánh Hòa khoảng 72.301 tấn và tạo việc làm cho hơn 31.000 lao
động (Sở NN&PTNTKH, 2009b). Số lượng tàu cá của toàn tỉnh tăng từ 4.812 chiếc
lên 12.802 chiếc (15%/năm) trong giai đoạn 2001-2009 và công suất máy tăng khoảng
18%/năm (Chi cục KT&BVNLKH, 2009). Hiện nay, Khánh Hòa có khoảng 44 doanh
nghiệp xuất khẩu thủy sản và đứng thứ 4 cả nước với kim ngạch xuất khẩu hàng năm
đạt hơn 300 triệu USD.
Mặc dù có nhiều lợi thế và đạt được những thành quả to lớn, nhưng ngành thủy
sản Việt Nam nói chung và Khánh Hòa nói riêng đang phải đối mặt với nhiều thách
thức. Sự phát triển thiếu tính bền vững là nguy cơ lớn nhất đối với hoạt động sản xuất
và phân phối sản phẩm thủy sản khai thác ở nước ta trong thời gian qua. Nguyên nhân
thứ nhất là những bất cập và khó khăn liên quan đến chính sách quản lý, qui hoạch và
tổ chức thực hiện quản lý, kiểm soát nghề cá đã dẫn đến sự phát triển quá mức đội tàu
đánh bắt với cường lực khai thác lớn làm cho nguồn lợi biển ngày càng cạn kiệt và sản
lượng khai thác ngày càng giảm (Pomeroy, 2010). Thứ hai là các yêu cầu khắt khe từ
các nước nhập khẩu về vệ sinh an toàn thực phẩm và truy xuất nguồn gốc xuất xứ
(Duy và ctv, 2012a). Chính những đòi hỏi cao của người tiêu dùng nên nhiều rào cản

phi thuế quan liên quan đến các tiêu chuẩn kỹ thuật như quy định về chất lượng, nguồn
gốc xuất xứ đã được đặt ra đối với mặt hàng thủy sản xuất khẩu trên thế giới (Trâm
Anh và Thúy Vy, 2010). Thứ ba là giá cả không ổn định và thường phụ thuộc vào
những biến động trên thị trường thế giới. Cuối cùng là vấn đề bất cân bằng lợi ích giữa
các tác nhân và thiếu sự hợp tác chặt chẽ trong toàn chuỗi sản xuất và phân phối sản
phẩm thủy sản (Trâm Anh, 2009; Duy và ctv, 2012a).
Xuất phát từ vấn đề đặt ra ở trên, phân tích chuỗi giá trị sản phẩm thủy sản là vấn
đề được lựa chọn nghiên cứu của đề tài này. Do sự hạn chế về thời gian và tài chính,

3

nghiên cứu chỉ tập trung cho trường hợp mặt hàng cá ngừ sọc dưa
1
ở Nha Trang, tỉnh
Khánh Hòa khi phần lớn tàu đánh bắt xa bờ khai thác loài cá này chủ yếu tập trung ở
thành phố Nha Trang (Chi cục KT&BVNLKH, 2009). Đây là mặt hàng thủy sản có
giá trị kinh tế cao và có vị trí quan trọng trong cơ cấu sản xuất và tiêu dùng sản phẩm
thủy sản đánh bắt của thế giới. Theo thống kê của FAO (2011a), sản lượng đánh bắt
và tiêu dùng cá ngừ sọc dưa xếp ở vị trí thứ 2 trong danh mục sản lượng cá biển khai
thác được của thế giới với 2,6 triệu tấn trong năm 2009. Với sản lượng khai thác được
quanh năm phục vụ cho nhu cầu xuất khẩu, cá ngừ sọc dưa đem lại nguồn sinh kế chủ
yếu cho cộng đồng ngư dân khai thác nguồn lợi biển ở Nha Trang, Khánh Hòa, cũng
như nguồn thu nhập quan trọng cho những tác nhân khác tham gia vào quá trình sản
xuất và phân phối sản phẩm này. Tuy nhiên, chuỗi giá trị sản phẩm thủy sản ở các
nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam, đang tạo ra giá trị rất thấp và đang ở vị
thế cạnh tranh yếu so với các nước phát triển (UNIDO, 2009). Nhận định này cũng
không phải là trường hợp ngoại lệ cho chuỗi giá trị sản phẩm thủy sản mặt hàng cá
ngừ sọc dưa ở Nha Trang (Duy và ctv, 2012a). Thêm vào đó, những thách thức hiện
hữu đang làm suy yếu vị thế cạnh tranh chuỗi giá trị sản phẩm thủy sản này trên toàn
chuỗi giá trị sản phẩn toàn cầu. Vì vậy, làm thế nào để tạo lập và nâng cao vị thế cạnh

tranh lâu dài, có tính bền vững, cho chuỗi giá trị sản phẩm cá ngừ sọc dưa ở Nha Trang
cũng như để tối đa hóa giá trị và lợi ích cho các đối tượng liên quan là câu hỏi không
những cho các tác nhân trong chuỗi mà còn cho cả những nhà nghiên cứu và hoạch
định chính sách.
2. Mục tiêu nghiên cứu
- Hệ thống hóa lý luận và thực tiễn nghiên cứu về chuỗi giá trị và đề xuất phương
pháp nghiên cứu chuỗi giá trị sản phẩm thủy sản khai thác biển cho nghiên cứu này.
- Xác định cấu trúc chuỗi giá trị mặt hàng cá ngừ sọc dưa tại Nha Trang
- Đánh giá cách thức tổ chức, vận hành thị trường và tình hình cạnh tranh mặt
hàng cá ngừ sọc dưa tại Nha Trang.
- Phân tích phân phối lợi ích giữa các tác nhân trong chuỗi giá trị.
- Đề xuất giải pháp nâng cao vị thế cạnh tranh cho toàn chuỗi giá trị mặt hàng cá
ngừ sọc dưa tại Nha Trang.



1
Tên tiếng Anh là Skipjack tuna và tên khoa học là Katsuwonus pelamis

4

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: là các tác nhân trong chuỗi giá trị cá ngừ sọc dưa bao
gồm: ngư dân, chủ nậu vựa, công ty chế biến, người bán sỉ và người bán lẻ.
- Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu chuỗi giá trị sản phẩm thủy sản mặt hàng cá
ngừ sọc dưa được thực hiện trên địa bàn thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa. Các
câu hỏi nghiên cứu của đề tài chỉ giới hạn tập trung vào trả lời các mục tiêu nghiên cứu
trên.
4. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp luận nghiên cứu:

- Tiếp cận phân tích theo chuỗi giá trị trên cơ sở áp dụng mô hình SCP (Structure
– Conduct – Performance) để nghiên cứu trường hợp chuỗi giá trị cá ngừ sọc dưa tại
thị trường Nha Trang.
- Ngoài ra, nghiên cứu vận dụng các mô hình cạnh tranh của Michael Porter để
phân tích tình hình cạnh tranh trong ngành và đánh giá lợi thế cạnh tranh của ngành.
Phương pháp thu thập số liệu:
Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua việc phỏng vấn trực tiếp các tác nhân
trong chuỗi gồm công ty chế biến, chủ nậu vựa, người bán sỉ, người bán lẻ và ngư dân
bằng việc sử dụng bảng câu hỏi. Số liệu điều tra cho 3 năm: 2009, 2010 và 2011.
5. Kết cấu đề tài
Nội dung chính của đề tài nghiên cứu gồm 5 chương như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Chương 2: Phương pháp thu thập và xử lý dữ liệu
Chương 3: Tổng quan về sản xuất và tiêu thụ sản phẩm thủy sản Việt Nam và
Khánh Hòa
Chương 4: Kết quả nghiên cứu chuỗi giá trị cá ngừ sọc dưa tại Nha Trang
Chương 5: Thảo luận kết quả và khuyến nghị.






5

Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1.1. Lý thuyết về lợi thế cạnh tranh
1.1.1. Khái niệm lợi thế cạnh tranh

Porter (1980) cho rằng cạnh tranh là giành lấy thị phần trên thị trường và bản chất
của cạnh tranh là tìm kiếm lợi nhuận cao hơn mức trung bình mà doanh nghiệp đang
có. Nhưng để giành thắng lợi trên thị trường các chủ thể kinh doanh cần có lợi thế
cạnh tranh (Porter, 1985). Theo Porter (1985), lợi thế cạnh tranh là khả năng cung cấp
giá trị cao hơn cho khách hàng so với đối thủ cạnh tranh và tạo giá trị gia tăng cao cho
doanh nghiệp. Vì vậy, lợi thế cạnh tranh giúp cho nhiều doanh nghiệp có được “quyền
lực thị trường” để thành công trong kinh doanh và trong cạnh tranh.
Ở phạm vi không gian rộng hơn, trong lý thuyết lợi thế cạnh tranh quốc gia của
Porter (1990), lợi thế cạnh tranh được hiểu là những nguồn lực, là những lợi thế của
ngành, của quốc gia mà nhờ có chúng các doanh nghiệp kinh doanh trên thương
trường quốc tế tạo ra một số ưu thế vượt trội hơn, ưu việt hơn so với các đối thủ cạnh
tranh trực tiếp. Nhưng ngược lại, sức cạnh tranh của một quốc gia phụ thuộc vào sức
cạnh tranh của các ngành trong nền kinh tế và sức cạnh tranh của một ngành lại xuất
phát từ năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp trong ngành. Porter (1985) cũng cho
rằng lợi thế cạnh tranh của ngành hay doanh nghiệp không chỉ nằm ở mỗi hoạt động,
mà còn ở mối liên kết giữa các hoạt động với nhau. Vì vậy, xây dựng lợi thế cạnh
tranh cần dựa trên sự liên kết hợp tác dọc giữa các tác nhân trong chuỗi tạo giá trị cho
khách hàng.
Porter (1990) khẳng định rằng sự thành công của các quốc gia ở ngành kinh
doanh nào đó phụ thuộc vào 3 vấn đề cơ bản: lợi thế cạnh tranh quốc gia, năng suất lao
động bền vững và sự liên kết hợp tác có hiệu quả trong cụm ngành. Lý luận của Porter
(1990) về lợi thế cạnh tranh quốc gia giải thích các hiện tượng thương mại quốc tế trên
góc độ các doanh nghiệp trong ngành tham gia kinh doanh quốc tế và vai trò của nhà
nước trong việc hỗ trợ cho các ngành có điều kiện thuận lợi để giành lợi thế cạnh tranh
quốc gia chứ không phải cho một vài doanh nghiệp cụ thể. Do đó, lợi thế cạnh tranh
một ngành hàng trên thị trường quốc tế không chỉ cần có sự liên kết hợp tác giữa các

6

tác nhân trong chuỗi giá trị, mà còn cần sự hợp tác hỗ trợ của các bên có liên quan

cũng như từ chính phủ.
1.1.2. Mô hình năm lực lượng cạnh tranh của Michael Porter
2

Porter (1980) đã đề xuất mô hình năm lực lượng cạnh tranh để phân tích cạnh
tranh của một ngành. Mô hình này được phát triển dựa trên mô hình cạnh tranh trong
kinh tế học tổ chức (gọi tắt là IO – Industrial Organization). Tuy nhiên đơn vị phân
tích trong lý thuyết IO là ngành. Porter (1980) đã phát triển tiếp theo mô hình IO bằng
cách chuyển đơn vị phân tích vừa là doanh nghiệp vừa là ngành trong mô hình năm lực
lượng cạnh tranh, trong đó cơ cấu ngành là yếu tố quan trọng tạo nên lợi thế cạnh
tranh. Vì vậy, mô hình này được sử dụng rộng rãi trong phân tích cạnh tranh của
ngành cũng như của doanh nghiệp. Trong phạm vi nghiên cứu này, mô hình năm lực
lượng cạnh tranh được sử dụng để phân tình hình cạnh tranh mặt hàng cá ngừ sọc dưa
tại thị trường Nha Trang, qua đó thấy được những áp lực cạnh tranh của mỗi tác nhân
trong chuỗi giá trị.
Theo Porter (1980), một ngành kinh doanh chịu ảnh hưởng bởi năm lực lượng
cạnh tranh cơ bản, đó là (i) khách hàng, (ii) nhà cung cấp, (iii) các đối thủ cạnh tranh
hiện tại, (iv) các đối thủ tiềm ẩn và (v) các sản phẩm/dịch vụ thay thế (Hình 1.1)





















Hình 1.1. Mô hình năm lực lượng cạnh tranh


2
Nội dung phần này tham khảo tại Porter (1980)
Nguy cơ đe dọa từ
những đối thủ mới
Quyền lực
đàm phán

của người
mua
Nguy cơ đe dọa từ
sản phẩm/dịch vụ
thay thế
Quyền lực
đàm phán

của nhà
cung cấp
CÁC ĐỐI THỦ
TIỀM ẨN

KHÁCH
HÀNG
SẢN PHẨM/DỊCH VỤ
THAY THẾ
NHÀ
CUNG ỨNG
NHỮNG ĐỐI THỦ CẠNH
TRANH TRONG NGÀNH


Cuộc cạnh tranh giữa các
đối thủ hiện tại

7

Khách hàng:
Khách hàng là một áp lực cạnh tranh ảnh hưởng trực tiếp đến mỗi tác nhân trong
chuỗi giá trị. Khách hàng có thể bao gồm: người tiêu dùng cuối cùng, các nhà phân
phối (bán buôn, bán lẻ), các nậu vựa, các công ty chế biến thủy sản xuất khẩu, nhà
nhập khẩu.
Khách hàng thường tạo ra áp lực về giá cả hoặc những yêu cầu về chất lượng sản
phẩm hay dịch vụ. Khách hàng có thể điều khiển áp lực cạnh tranh trong ngành thông
qua quyết định mua hàng của họ. Sức ép mặc cả của khách hàng đối với mỗi tác nhân
trong ngành tùy thuộc vào (i) số lượng khách hàng, (ii) khối lượng sản phẩm mà khách
hàng mua, (iii) mức độ khác biệt hóa về sản phẩm, (iv) khả năng hội nhập dọc ngược
chiều của khách hàng và (v) khả năng nắm bắt thông tin thị trường về giá cả, tình hình
cung cầu và cạnh tranh trên thị trường
Nhà cung cấp:
Nhà cung cấp là những cá nhân hay tổ chức cung ứng các yếu tố đầu vào cho mỗi
tác nhân trong chuỗi. Đối với công ty chế biến thủy sản xuất khẩu, nhà cung ứng

nguyên liệu cá đầu vào có thể là ngư dân đánh bắt, các chủ nậu vựa, các nhà bán
buôn… Việc các nhà cung cấp đảm bảo đầy đủ các yếu tố đầu vào về số lượng, chất
lượng, chủng loại, giá cả, các điều kiện cung cấp sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho ngành,
hay doanh nghiệp thực hiện tốt hoạt động sản xuất kinh doanh và nâng cao hiệu quả.
Quyền lực của nhà cung cấp phụ thuộc vào: (i) mức độ tập trung của nhà cung
cấp thể hiện ở quy mô và số lượng các nhà cung cấp. Số lượng nhà cung cấp quyết
định đến áp lực cạnh tranh, quyền lực đàm phán của họ đối với ngành nói chung và
mỗi tác nhân nói riêng; (ii) số lượng sản phẩm mà họ cung ứng, (iii) mức độ khác biệt
về sản phẩm cung ứng, (iv) sự sẵn có của sản phẩm thay thế, (v) chi phí chuyển đổi
nhà cung cấp và (vi) khả năng hội nhập dọc thuận chiều của nhà cung cấp.
Đối thủ cạnh tranh hiện tại:
Xem xét đối thủ cạnh tranh hiện tại là cơ sở để đánh giá mức độ cạnh tranh trong
ngành. Cường độ cạnh tranh của các đối thủ hiện tại trong một ngành nói chung
thường phụ thuộc vào các yếu tố: (i) số lượng và quy mô của các đối thủ hoạt động
trong ngành; (ii) tốc độ tăng trưởng ngành; (iii) chi phí cố định và chi phí lưu kho; (iv)
chi phí chuyển đổi; (v) mức độ khác biệt hóa sản phẩm; (vi) các rào cản gia nhập và
rút lui khỏi ngành.

8

Khi các đối thủ cạnh tranh lớn chiếm giữ một vị trí quan trọng trên thị trường và
tính chất tập trung của ngành cao thì họ có khả năng thống lĩnh thị trường và có quyền
lực trong đàm phán với hệ thống cung cấp hay tạo hệ thống phân phối tập trung.
3
Khi
chỉ có một số ít đối thủ nhưng chiếm giữ một thị phần lớn thì thị trường trở nên ít cạnh
tranh, thị trường tiến gần đến tình trạng độc quyền. Trái lại, khi không có đối thủ nào
có được thị phần quan trọng, thị trường sẽ bị phân tán, nhưng mức độ cạnh tranh trong
ngành sẽ gay gắt hơn và các đối thủ thường cố gắng gia tăng phần thị phần của mình.
Vì vậy, thị trường ở các ngành này thường diễn ra các cuộc chiến cạnh tranh về giá cả.

Đối thủ tiềm ẩn:
Đối thủ tiểm ẩn là những cá nhân hoặc tổ chức chưa tham gia vào ngành nhưng
có khả năng cạnh tranh trong tương lai nếu họ quyết định gia nhập ngành và sẽ tác
động đến mức độ cạnh tranh trong ngành.
Đối thủ tiềm ẩn tạo ra áp lực cạnh tranh cho ngành mạnh hay yếu phụ thuộc vào
nhiều yếu tố trong đó có các yếu tố sau: (i) sức hấp dẫn của ngành, (ii) nguồn lực và
năng lực của họ và (iii) các rào cản gia nhập ngành như: lợi thế theo quy mô, sự khác
biệt của sản phẩm, các đòi hỏi về vốn, chi phí chuyển đổi, khả năng tiếp cận với kênh
phân phối và những bất lợi về chi phí không liên quan đến quy mô.
Sản phẩm thay thế:
Sản phẩm thay thế là sản phẩm khác có thể thỏa mãn cùng nhu cầu của khách
hàng. Đối với sản phẩm thủy sản, khách hàng có khả năng lựa chọn thay thế giữa các
loài thủy sản khác nhau hoặc các sản phẩm thực phẩm thay thế khác.
Áp lực cạnh tranh của các sản phẩm thay thế phụ thuộc vào nhiều yếu tố trong đó
bao gồm chi phí chuyển đổi trong việc sử dụng sản phẩm, xu hướng sử dụng sản phẩm
thay thế của khách hàng, tương quan giữa giá cả và chất lượng của sản phẩm thay thế.
Khi khoa học kỹ thuật ngày càng phát triển, các sản phẩm thực phẩm mới với giá cả
hợp lý và chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm cao ngày càng đáp ứng tốt hơn nhu
cầu của khách hàng thì các sản phẩm thay thế sẽ tạo nên sức ép cạnh tranh ngày càng
mạnh mẽ đối với các doanh nghiệp trong ngành.
Tóm lại, trong môi trường cạnh tranh gay gắt của ngành xuất khẩu thủy sản như
hiện nay, để nâng cao vị thế cạnh tranh của mình trên thị trường thế giới đòi hỏi các


3
Nội dung thảo luận trong đoạn này tham khảo trong Gideon (1955)


9


công ty chế biến thủy sản xuất khẩu cần tìm ra một lợi thế cạnh tranh đặc biệt, mang
lại hiệu quả bền vững mà khó có đối thủ nào có thể thực hiện được. Xây dựng một
chuỗi giá trị gắn kết bền vững giữa các tác nhân (các nhà cung ứng và khách hàng)
được xem là giải pháp lâu dài cho ngành thủy sản Việt Nam nói chung và Nha Trang,
Khánh Hòa nói riêng.
1.1.3. Mô hình lợi thế cạnh tranh quốc gia của Michael Porter
4

Porter (1990) cho rằng khả năng cạnh tranh của một quốc gia phụ thuộc vào năng
lực của các ngành trong việc đổi mới và nâng cấp của quốc gia đó. Các công ty tạo ra
được lợi thế so với các đối thủ cạnh tranh giỏi nhất trên thế giới là do áp lực và thách
thức mà môi trường quốc gia đó tạo ra. Các công ty trong một ngành tạo lập được lợi
thế cạnh tranh nhờ vào môi trường trong quốc gia đó tạo ra được áp lực cạnh tranh
giữa những đối thủ cạnh tranh mạnh ở trong nước, các nhà cung ứng nội địa năng động
và những khách hàng trong nước có nhu cầu và đòi hỏi cao.












Hình 1.2. Mô hình lợi thế cạnh tranh quốc gia
Lý thuyết “lợi thế cạnh tranh quốc gia” của Porter (1990) giải thích tại sao một số
công ty nhất định tại một số quốc gia cụ thể lại có khả năng cạnh tranh cao hơn các

công ty của quốc gia khác khi tham gia kinh doanh quốc tế? Hay tại sao một ngành của
quốc gia này có lợi thế cạnh tranh hơn quốc gia khác trên thị trường quốc tế? Porter
(1990) cho rằng mỗi quốc gia tạo lập được lợi thế cạnh tranh cho ngành bằng cách
thiết lập được bốn thuộc tính quan trọng để tạo ra hình thoi bền vững của lợi thế cạnh
tranh quốc gia hay xây dựng được “sân chơi” gắn kết cho các doanh nghiệp trong một
“cụm” ngành hoạt động. Bốn thuộc tính này là điều kiện các nhân tố sản xuất, điều


4
Nội dung này tham khảo tại Porter (1990)
Điều kiện các
nhân tố sản xuất
Điều kiện cầu
nội địa
Chiến lược, cấu trúc và
cạnh tranh
Các ngành hỗ trợ và
liên quan
Chính phủ
Cơ hội

10

kiện cầu nội địa, các ngành hỗ trợ và liên quan, và chiến lược công ty, cơ cấu và sự
cạnh tranh trong ngành (Hình 1.2).
Điều kiện các nhân tố sản xuất:
Porter (1990) cho rằng các nhân tố sản xuất không bao giờ giống nhau giữa các
quốc gia nên sự sẵn có của các nhân tố sản xuất đầu vào đóng vai trò quan trọng trong
lợi thế cạnh tranh của một quốc gia. Porter (1990) phân các nhân tố đầu vào thành hai
nhóm: các nhân tố sản xuất cơ bản và các nhân tố sản xuất tiên tiến. Các nhân tố sản

xuất cơ bản bao gồm nguồn tài nguyên thiên nhiên, đất đai, lao động, vốn và các điều
kiện về khí hậu, vị trí địa lý và cơ sở hạ tầng. Một số quốc gia xuất khẩu sẽ sử dụng
nhiều các yếu tố đầu vào cơ bản mà họ có sẵn và tạo lập được lợi thế cạnh tranh ban
đầu. Các nhân tố sản xuất tiên tiến là những yếu tố do mỗi quốc gia tạo ra trong quá
trình phát triển kinh tế như nguồn lao động có kỹ năng cao hoặc các yếu tố chuyên
môn hóa hóa. Các nhân tố tiên tiến có khả năng tạo ra lợi thế cạnh tranh bền vững hơn
so với các yếu tố cơ bản (Porter, 1990).
Điều kiện về nhu cầu nội địa:
Porter (1990) cho rằng tình trạng hoàn hảo của khách hàng và các kênh phân
phối nội địa có một tác động tích cực đến việc tạo lợi thế cạnh tranh cho một ngành
công nghiệp tại một quốc gia. Khi nhu cầu của khách hàng càng phức tạp, càng đặc thù
và đòi khỏi khắt khe về sản phẩm hoặc dịch vụ thì càng thúc đẩy các công ty phải gia
tăng cải tiến và đổi mới. Nếu khách hàng càng có những phản ảnh về sản phẩm, hệ
thống phân phối thì các công ty trong ngành càng có điều kiện nhận dạng những điểm
yếu của mình để khắc phục, đồng thời hiểu biết yêu cầu của khách hàng nhiều hơn và
có thể xác định được nhu cầu mới trong tương lai tại thị trường nội địa cũng như nước
ngoài. Bởi vì áp lực yêu cầu khắt khe của nhu cầu nội địa, thông qua cạnh tranh các
doanh nghiệp trong ngành có khả năng xây dựng được năng lực cạnh tranh của mình
trước khi tham gia kinh doanh quốc tế.
Các ngành công nghiệp hỗ trợ và có liên quan:
Năng lực cạnh tranh của các công ty trong nước được gia tăng nhờ vào tình trạng
hoàn hảo của các nhà cung cấp nội địa (Porter, 1990). Một công ty có quan hệ cùng
phối hợp hoạt động với những nhà cung cấp hàng đầu tại địa phương thì càng có điều
kiện và cơ hội thực hiện các cải tiến của mình. Ví dụ một công ty chế biến thủy sản
xuất khẩu có thể nâng cao được chất lượng sản phẩm của mình bởi vì nó có mối quan

11

hệ phối hợp chặt chẽ với các đơn vị cung cấp đầu vào tại địa phương có thể cung ứng
nguyên liệu chất lượng tốt, giá rẻ và giao hàng nhanh chóng. Bên cạnh những nhà

cung cấp (hay các ngành công nghiệp hỗ trợ), sự phát triển của các ngành có liên quan
cũng tạo động lực cho việc thực hiện các cải tiến liên tục nhằm nâng cao lợi thế cạnh
tranh của công ty (Porter, 1990). Sự phát triển mạnh các cơ sở nghiên cứu công nghệ
chế biến thủy sản, thiết bị và công nghệ bảo quản, các trung tâm kiểm định chất lượng
thủy sản, các dạng dịch vụ hậu cần nghề cá địa phương… là ví dụ cho những ngành có
liên quan hỗ trợ các công ty chế biến thủy sản xuất khẩu. Tuy nhiên, Porter (1990)
nhấn mạnh đến khả năng đổi mới và nâng cấp năng lực của các ngành hỗ trợ và có liên
quan tại địa phương để có khả năng cạnh tranh quốc tế và sự liên kết chặt chẽ và gần
gũi giữa chúng với các công ty là cơ sở quan trọng để xây dựng một ngành có lợi thế
cạnh tranh.
Chiến lược công ty, cấu trúc ngành và cạnh tranh trong ngành:
Porter (1990) cho rằng lợi thế cạnh tranh quốc gia còn phụ thuộc vào chiến lược
của các công ty, cấu trúc và bản chất cạnh tranh của ngành. Chiến lược và phương
thức quản lý công ty cũng như cấu trúc của ngành tạo ra những lợi thế và bất lợi khác
nhau trong cạnh tranh ở những ngành giữa các quốc gia khác nhau. Tuy nhiên, lợi thế
cạnh tranh quốc gia bắt nguồn từ sự phù hợp của các thuộc tính này với điều kiện của
mỗi quốc gia và nguồn gốc của lợi thế cạnh tranh trong mỗi ngành.
Tính chất và mức độ cạnh tranh trong ngành tại thị trường nội địa cũng là một
động lực thúc đẩy các công ty cải tiến và đổi mới không ngừng. Nếu các công ty phải
đối phó với áp lực cạnh tranh dài hạn và khốc liệt trong ngành thì đòi hỏi họ phải thực
hiện mọi nỗ lực tốt nhất để thực hiện các cải tiến. Điều này sẽ tạo dựng hàng rào bảo
vệ trước sự xâm nhập của các công ty nước ngoài, đồng thời tạo lập được lợi thế cạnh
tranh trên thương trường quốc tế.
Vai trò của Chính phủ và các cơ hội:
Vai trò của Chính phủ là thông qua các chính sách vĩ mô tác động vào cả bốn
“mặt” của “viên kim cương” sao cho chúng cùng phát triển tương xứng, đồng bộ và hỗ
trợ lẫn nhau tạo thuận lợi cho các doanh nghiệp trong nước nâng cao năng lực cạnh
tranh trên thương trường quốc tế. Chính sách của Chính phủ có thể tăng cường lợi thế
cạnh tranh của quốc gia thông qua việc đầu tư nhằm tạo ra các yếu tố sản xuất có chất
lượng ngày càng cao hơn, tác động đến việc tạo ra cấu trúc ngành gắn kết hiệu quả, tác


12

động đến nhu cầu của người mua, đưa ra những chính sách khuyến khích cạnh tranh
hay trong việc định hướng phát triển những ngành công nghiệp có liên quan và hỗ trợ
cho ngành có lợi thế cạnh tranh.
Các cơ hội cũng có khả năng làm thay đổi các điều kiện của mô hình kim cương.
Những thay đổi có lợi về chi phí đầu vào, tỷ giá hối đoái, quyết định chính trị của các
chính phủ nước ngoài hay sự tăng mạnh của cầu trên thế giới có thể tạo ra những lợi
thế trong cạnh tranh và có tác dụng thúc đẩy những giai đoạn mới mạnh mẽ. Các cơ
hội rất quan trọng vì chúng có khả năng tạo ra sự thay đổi bất ngờ cho phép dịch
chuyển vị thế cạnh tranh một doanh nghiệp hoặc một ngành.
Tóm lại: Mô hình kim cương của Porter (1990) đã lý giải những lực lượng thúc
đẩy sự đổi mới và qua đó nâng cao khả năng cạnh tranh của ngành trên thị trường. Bốn
nhóm nhân tố quan trọng trong mô hình được phát triển trong mối quan hệ phụ thuộc
lẫn nhau và tác động quan trọng đến việc hình thành và duy trì năng lực cạnh tranh
quốc tế của các doanh nghiệp trong ngành. Sự “cộng hưởng” của chúng cùng với
những tác động của Chính phủ và khả năng khai thác cơ hội thúc đẩy doanh nghiệp
trong ngành hoạt động hiệu quả hơn và giành được lợi thế cạnh tranh trên thị trường
quốc tế.

1.2. Lý thuyết về chuỗi giá trị
1.2.1. Khái niệm chuỗi giá trị
Theo Porter (1985), chuỗi giá trị là chuỗi tất cả các hoạt động từ khâu đầu tiên
đến khâu cuối cùng trong doanh nghiệp mà chúng tạo ra giá trị cho sản phẩm hoặc
dịch vụ. Các hoạt động tạo giá trị bao gồm các hoạt động chính và các hoạt động hỗ
trợ. Mỗi hoạt động trong chuỗi sẽ tạo thêm một giá trị nhất định cho sản phẩm cung
ứng cho khách hàng và tạo ra giá trị cho doanh nghiệp. Các hoạt động chính là các
hoạt động liên quan đến việc chuyển đổi về mặt vật lý, quản lý sản phẩm cuối cùng để
cung cấp cho khách hàng, bao gồm: hậu cần đầu vào, sản xuất, hậu cần ra ngoài,

marketing và bán hàng, dịch vụ khách hàng. Các hoạt động hỗ trợ cho các hoạt động
chính bao gồm các hoạt động thu mua, phát triển công nghệ, quản trị nguồn nhân lực,
cơ sở hạ tầng của doanh nghiệp. Phân tích mô hình chuỗi giá trị của Porter (1985) giúp
nhận dạng những điểm yếu trong mỗi hoạt động cần cải tiến cũng như phát hiện các
nguồn lực tạo nên năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp. Porter (1985) lập luận rằng

13

nếu bản thân mỗi hoạt động có khả năng tạo ra giá trị và sự liên kết chặt chẽ giữa các
hoạt động được vận hành một cách hiệu quả sẽ tạo nên một nguồn lực mạnh của lợi
thế cạnh tranh.
Mô hình phân tích chuỗi giá trị của Porter (1985) bị giới hạn bởi những hoạt động
tạo giá trị trong phạm vi một doanh nghiệp tạo ra sản phẩm cho khách hàng. Với xu
hướng tự do hóa thương mại và kinh doanh, cách tiếp cận phân tích chuỗi giá trị được
mở rộng ở phạm vi ngành, địa phương và quốc gia, đặc biệt là cách tiếp cận chuỗi giá
trị sản phẩm toàn cầu. Kaplinsky (2000), Kaplinsky và Morris (2001), Gereffi (1994,
1999) and Gereffi and Korzeniewicz (1994) là những người tiên phong ứng dụng mô
hình phân tích chuỗi giá trị sản phẩm toàn cầu. Với cách tiếp cận toàn cầu, chuỗi giá
trị được định nghĩa là tập hợp tất cả các hoạt động để tạo ra giá trị của một sản
phẩm hoặc dịch vụ cho người tiêu dùng cuối cùng thông qua những giai đoạn khác
nhau của hoạt động sản xuất, làm tăng giá trị và phân phối (Kaplinsky, 2000;
Kaplinsky và Morris, 2001). Vì vậy, có thể nói rằng chuỗi giá trị là tập hợp những hoạt
động phức tạp tạo giá trị của toàn bộ các tác nhân trong chuỗi, xuất phát từ các tác
nhân đầu tiên sản xuất nguyên liệu đầu vào, rồi qua các tác nhân sản xuất tạo ra sản
phẩm và cuối cùng là những nhà phân phối sản phẩm. Trong chuỗi giá trị toàn cầu có
thể có sự tham gia của nhiều công ty, nhiều ngành giữa các quốc gia với nhau để thực
hiện những công đoạn tạo giá trị khác nhau trước khi chuyển giao sản phẩm hoàn
chỉnh đến người tiêu dùng cuối cùng. Nghiên cứu này sẽ sử dụng định nghĩa mở rộng
theo cách tiếp cận toàn cầu cho việc phân tích chuỗi giá trị sản phẩm thủy sản.
Một chuỗi giá trị hình thành và tồn tại khi tất cả các bên có liên quan trong chuỗi

vận hành theo mục tiêu tối đa hóa giá trị sinh ra trong chuỗi (Kaplinsky và Morris,
2001; Jacinto và Pomeroy, 2011). Trong bất kỳ chuỗi giá trị nào thì mỗi thành viên của
chuỗi là người mua hàng của người trước và là nhà cung cấp cho người sau, các thành
viên trong chuỗi có chung một mục đích và cùng nhau làm việc để đạt được mục đích
đó. Mỗi thành viên của chuỗi có thể độc lập với nhau, nhưng lại phụ thuộc lẫn nhau.
Mỗi thành viên góp thêm giá trị tại mắt xích cuối của chuỗi bằng cách đóng góp vào
sự thỏa mãn của khách hàng.


14

1.2.2. Chuỗi giá trị và chuỗi cung ứng
Chuỗi cung ứng là một quá trình chuyển đổi từ nguyên vật liệu thô cho tới sản
phẩm hoàn chỉnh thông qua quá trình chế biến và phân phối tới tay khách hàng cuối
cùng (Ganeshan và Harrison, 1995). Trong chuỗi cung ứng , sản phẩm đi qua tất cả
các hoạt động theo thứ tự và tại mỗi hoạt động sản phẩm luôn có sự thay đổi về giá cả
cũng như giá trị. Như vậy, dựa vào định nghĩa ta thấy rằng chuỗi giá trị và chuỗi cung
ứng không có sự khác nhau vì chúng đều là chuỗi của sự nối tiếp nhau các quá trình và
các hoạt động giữa các tác nhân liên quan nhằm tạo ra sản phẩm/dịch vụ hoàn chỉnh
cung cấp đến người tiêu dùng cuối cùng.
Tuy nhiên, sự khác biệt trong cách tiếp cận phân tích chuỗi giá trị đang được các
nhà khoa học quan tâm hơn so với chuỗi cung ứng (Feller và ctv, 2006). Mục tiêu
chính của phân tích chuỗi giá trị là tối đa hóa giá trị tạo ra cho khách hàng và tối đa
hóa lợi ích cho các bên có liên quan cũng như lợi ích trên toàn chuỗi giá trị, và phát
triển bền vững qua thời gian (Feller và ctv, 2006; De Silva, 2011). Trong khi đó, chuỗi
cung ứng trọng tâm vào chi phí và hiệu quả của các hoạt động hậu cần trên toàn chuỗi.
Hay nói cách khác, mục tiêu của quản trị chuỗi cung ứng là tối thiểu hóa chi phí và
nguồn lực cung cấp sản phẩm trên cơ sở cắt giảm tới mức có thể các trung gian và các
khoản chi phí trong hoạt động phân phối nhằm đáp ứng nhanh nhất, thuận tiện nhất và
hiệu quả nhất nhu cầu của người tiêu dùng (Feller và ctv, 2006; De Silva, 2011). Trong

chuỗi cung ứng, vấn đề được quan tâm là tính hiệu quả của dòng chảy cung ứng sản
phẩm, xuất phát từ hoạt động cung cấp các yếu tố đầu vào, hình thành sản phẩm và
phân phối cho người tiêu dùng một cách nhanh nhất, chính xác nhất và chi phí thấp
nhất (Feller và ctv, 2006). Đối với chuỗi giá trị sự tập trung bắt đầu từ yêu cầu tối đa
hóa giá trị cho người tiêu dùng cuối cùng và lần lượt là các tác nhân trung gian tham
gia cung cấp sản phẩm trong chuỗi giá trị (Kaplinsky và Morris, 2001). Tuy vây, De
Silva (2011) cho rằng một chuỗi cung ứng tốt là cần thiết để phát triển một chuỗi giá
trị bền vững.
1.2.3. Tầm quan trọng của phân tích chuỗi giá trị
- Một trong những vai trò lớn nhất của việc xây dựng chuỗi giá trị là nâng cao
khả năng cạnh tranh và tạo lập lợi thế cạnh tranh bền vững (Kaplinsky và Morris,
2001). Với xu hướng toàn cầu hóa trong cung ứng, sản xuất và phân phối cùng với
phân công lao động mạnh mẽ, xây dựng chuỗi giá trị toàn cầu gắn kết giữa các tác

15

nhân là mô hình cạnh tranh nổi bật của nhiều ngành công nghiệp và là chiến lược cạnh
tranh sáng tạo của các doanh nghiệp (Feller và ctv, 2006).
- Phân tích chuỗi giá trị xác định được những tác nhân kinh tế tham gia vào sản
xuất, phân phối, marketing và bán hàng cho một sản phẩm cụ thể. Việc hình thành sơ
đồ chuỗi giá trị cho phép dễ dàng đánh giá đặc điểm hoạt động của các tác nhân, qui
mô và dòng chảy của sản phẩm, cấu trúc chi phí và lợi nhuận, nhận diện xu hướng
biến đổi của từng công đoạn, xác định những điểm yếu và khiếm khuyết trong chuỗi.
- Phân tích chuỗi giá trị đóng một vai trò quan trọng trong việc xác định sự phân
phối lợi ích của các tác nhân kinh tế trong chuỗi. Điều này có thể nhận dạng được
những tác nhân nào cần sự thay đổi hay hỗ trợ cần thiết để nâng cao năng lực và tạo sự
cân bằng hợp lý lợi ích giữa các tác nhân. Điều này là đặc biệt quan trọng ở các nước
đang phát triển nói chung và trong lĩnh vực nông nghiệp nói riêng (Jacinto và
Pomeroy, 2011).
- Phân tích chuỗi giá trị được sử dụng để xem xét khả năng nâng cấp chuỗi, bao

gồm việc nâng cấp sản phẩm liên quan đến chất lượng, sự đa dạng hóa mẫu mã, chủng
loại, nhằm gia tăng vị thế cạnh tranh lâu dài cho chuỗi. Khả năng cải tiến chuỗi giá trị
dựa vào nhiều yếu tố như sự phân phối lợi ích trong chuỗi, phương cách giao dịch và
trao đổi thông tin, rào cản gia nhập ngành, cơ chế quản lý của Nhà nước, những rào
cản và tiêu chuẩn trong thương mại, các yếu tố liên quan đến văn hóa và tập quán kinh
doanh
- Phân tích chuỗi giá trị cho thấy vai trò đặc biệt quan trọng của việc thiết lập cấu
trúc mối quan hệ giữa các bên có liên quan, cơ chế phối hợp và vận hành trong chuỗi
giá trị. Điều này là quan trọng cho việc hình thành chính sách quản lý để nâng cao vị
thế cạnh tranh của chuỗi, khắc phục các điểm yếu và tạo nhiều giá trị gia tăng cho
ngành (Kaplinsky và Morris, 2001).
Với vai trò ưu việt trong cạnh tranh trên toàn cầu từ việc phân tích chuỗi giá trị,
nhiều nghiên cứu đã được thực hiện ở các quốc gia cho nhiều ngành như: ngành công
nghiệp xe hơi (Humphrey và Memedovic, 2003), ngành sản xuất xe đạp (Galvin và
Morkel, 2001), ngành công nghệ điện tử (Sturgeon, 2002), ngành trang sức (Gereffi và
Memodovic, 2003). Nhóm nghiên cứu VDCWG (Value Chain Dynamics Working
Group) ở Trường Đại học Cambridge đã thực hiện nhiều nghiên cứu cho một số ngành
ở Mỹ như: ngành công nghiệp truyền thông, ngành dịch vụ điện thoại di động, thiết bị

×