Tải bản đầy đủ (.doc) (61 trang)

Nâng cao khả năng quản lý rủi ro tín dụng tại ngân hàng ngoài quốc doanh

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (350.66 KB, 61 trang )

Chuyên đề thực tập
LỜI MỞ ĐẦU
Nền kinh tế Việt Nam phát triển khá nhanh kể từ sau khi thực hiện chính
sách mở cửa 1986. Và trong những năm gần đây tốc độ tăng trưởng của tất cả
các lĩnh vực đều cao. Do sự tất yếu của quá trình Quốc tế hóa, toàn cầu hóa
nên nước ta không ngừng mở của hội nhập kinh tế Thế giới. Đặc biệt, năm
2006 Việt Nam gia nhập WTO, vào một sân chơi rộng lớn như vậy đó vừa là
cơ hội, cũng là thách thức lớn đối với nước ta. Một trong những khó khăn
quan trọng là sự cạnh tranh khốc liệt của các quốc gia từ bên ngoài vào trong
tất cả các lĩnh vực. Trong đó phải kể đến lĩnh vực tài chính - ngân hàng, hiện
nay hệ thống Ngân hàng ở Việt Nam phát triển khá rộng cả bề dài lẫn bề sâu.
Trong những năm vừa qua, lợi nhuận của hệ thống NHTM Việt Nam liên tục
gia tăng, tuy nhiên song hành cùng với những khoản lợi nhuận đó luôn tiềm
tàng những rủi ro rất lớn. Một trong những rủi ro mang tính truyền thống và
đặc trưng của nghành ngân hàng đó là rủi ro tín dụng. Rủi ro tín dụng xảy ra
kéo theo rất nhiều hậu quả nghiêm trọng. Rủi ro tín dụng là không thể tránh
khỏi nhưng làm thế nào để quản lý được nó, hạn chế được nó luôn là câu hỏi
lớn luôn được các nhà làm ngân hàng quan tâm. Vì thế, em đã chọn đề tài:
“Nâng cao khả năng quản lý rủi ro tín dụng tại ngân hàng ngoài quốc
doanh (VPBank)” với mong muốn có thêm những hiểu biết về lĩnh vực
này cũng như đóng góp một phần nhỏ vào công tác quản lý rủi ro tín dụng
của ngân hàng ngoài quốc doanh. Thúc đẩy hệ thống ngân hàng nói riêng,
nền kinh tế của đất nước nói chung trong quá trình hội nhập kinh tế thế
giới.
Nguyễn Thị Hải Yến Lớp: TMQT 46
1
Chuyên đề thực tập
PHẦN I: NHỮNG VẪN ĐỀ CƠ BẢN VỀ QUẢN LÝ
RỦI RO TÍN DỤNG TRONG NHTM.
1. Khái niệm ngân hàng thương mại
Ngân hàng là một trong những tổ chức tài chính quan trọng nhất trong


nền kinh tế của một quốc gia. Ngân hàng bao gồm nhiều loại khác nhau tùy
thuộc vào tình hình phát triển của hệ thống tài chính cũng như nền kinh tế của
nước đó. Song nhìn chung NHTM thường là ngân hàng chiếm tỷ trọng lớn
nhất về quy mô, thị phần. . . trong hệ thống ngân hàng của một quốc gia.
Ngân hàng là tổ chức thu hút tiết kiệm lớn nhất trong hầu hết mọi nền kinh
tế. Từ khi hình thành đến nay ngân hàng luôn khuyến khích mọi thành phần
trong xã hội gửi tiền tiết kiệm với lãi suất hợp lý. Thực tế cho thấy, có hàng
triệu cá nhân, doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế - xã hội gửi tiền tại ngân
hàng. Ngân hàng đóng vai trò là người thủ quỹ, người cất giữ tiền bạc cho
toàn xã hội , mặt khác ngân hàng cũng chính là tổ chức cho vay đối với tất cả
các thành phần trong xã hội. Ngân hàng thực hiện cùng lúc hai chức năng vừa
nhận gửi tiền, vừa cho vay đối với mọi thành phần. Tùy từng mục đích khác
nhau mà các đối tượng đi gửi, đi vay khác nhau. Ví như: cá nhân và các hộ gia
đình thường là đối tượng gửi tiền tiết kiệm cho ngân hàng nhiều nhất. Các
doanh nghiệp thì ngược lại, là đối tượng gửi tiền vào ngân hàng ít hơn về số
lượng nhưng lại là đối tượng vay ngân hàng với khoản vay lớn và thường
xuyên hơn nhiều. Điều này cũng dễ hiểu, cá nhân chủ yếu nhờ ngân hàng giữ
hộ tiền còn doanh nghiệp luôn cần vốn để mở rộng hoạt động kinh doanh.
Ngân hàng thường là tổ chức cung cấp tín dụng để phục vụ cho việc mua bán
hàng hóa dự trữ hoặc xây dựng nhà máy, mua sắm trang thiết bị. . .ngân hàng
có thể cung cấp những khoản tín dụng với các hình thức khác nhau nhằm đáp
Nguyễn Thị Hải Yến Lớp: TMQT 46
2
Chuyên đề thực tập
ứng cho mọi thành phần. Ngân hàng còn thiết lập ra các phương tiện thanh
toán như sec, thẻ tín dụng,tài khoản điện tử. . . mà thông qua nó khách hàng
thực hiện nhanh chóng và hiệu quả cao hơn.
Ngân hàng cón có thể tư vấn giúp khách hàng về việc lập kế hoạch tài
chính, kinh doanh, các thông tin tài chính. Ngân hàng cho Chính phủ vay các
khoản tín dụng (thông qua mua chứng khoán Chính phủ) là nguồn tài chính

quan trọng để đầu tư phát triển. Ngân hàng là một trong những tổ chức trung
gian tài chính vừa là kênh quan trọng trong chính sách kinh tế của Chính phủ
nhằm ổn định kinh tế.
Ngân hàng có vị trí rất quan trọng trong nền kinh tế quốc dân và nó đựơc
định nghĩa tùy theo những góc độ khác nhau thông quan các chức năng,
nhiệm vụ, dịch vụ và vai trò mà chúng thực hiện trong từng lĩnh vực.
Một khái niệm chung nhất : Ngân hàng là một doanh nghiệp hoạt động kinh
doanh trên lĩnh vực tiền tệ. Song khái niệm này chưa thể hiện được ngân hàng
và tổ chức tài chính phi ngân hàng.
Một trong những cách tiếp cận và xem xét ngân hàng trên phương diện những
loại hình dịch vụ mà chúng cung cấp: Ngân hàng là tổ chức tài chính cung cấp
một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất – đặc biệt là tín dụng, tiết
kiệm, dịch vụ thanh toán và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với
bất kỳ tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế.
2. Chức năng cơ bản của ngân hàng thương mại
a) Trung gian tài chính
Ngân hàng là một tổ chức trung gian tài chính với hoạt động chủ yếu là
chuyển tiết kiệm thành đầu tư, đòi hỏi sự tiếp xúc với hai đối tượng cá nhân
và tổ chức trong nền kinh tế: (1) các cá nhân và tổ chức tạm thời thâm hụt chi
tiêu, tức là chi tiêu cho tiêu dùng và đầu tư vượt quá thu nhập nên họ là những
người cần bổ sung vốn; và (2) các cá nhân và tổ chức thặng dư trong chi tiêu,
Nguyễn Thị Hải Yến Lớp: TMQT 46
3
Chuyên đề thực tập
tức là thu nhập hiện tại của họ lớn hơn các khoản chi tiêu cho hàng hóa, dịch
vụ và do vậy họ có tiền để tiết kiệm. Sự tồn tại hai loại cá nhân và tổ chức trên
hoàn toàn độc lập với ngân hàng. Điều tất yếu là tiền sẽ chuyển từ nhóm thứ
(2) sang nhóm thứ (1) nếu cả hai cùng có lợi. Do đó thu nhập gia tăng là động
lực tạo ra mối quan hệ tài chính giứa hai nhóm. Nếu dòng tiền di chuyển với
điều kiện phải quay trở lại với một lượng lớn hơn trong một khoảng thời gian

nhất định thì đó là quan hệ tín dụng. Nếu không thì đó là quan hệ cấp phát hùn
vốn.
Trung gian tài chính đã làm tăng thu nhập cho người tiết kiệm, từ đó mà
khuyến kích tiết kiệm; đồng thời giảm phí tổn tín dụng cho người đầu tư (tăng
thu nhập cho người đầu tư) dẫn đến khuyến khích đầu tư. Cơ chế hoạt động
của trung gian sẽ có hiệu quả khi nó gắn chịu rủi ro và sử dụng Các kỹ thuật
nghiệp vụ để hạn chế, phân tán rủi ro và giảm chi phí giao dịch.
Một đóng góp khác của ngân hàng là họ sẵn sàng chấp nhận các khoản cho
vay nhiều rủi ro trong khi lại phát hành các chứng khoán ít rỉu ro hơn cho
ngưới gửi tiền.Thực tế các ngân hàng tham gia kinh doanh rủi ro.Ngân hàng
cũng thỏa mãn nhu cầu thanh khoản của nhiều khách hàng.
Thêm một lý do nữa làm cho ngân hàng phát triển và thịnh vượng là khả
năng thẩm định thông tin. Sự phân bổ không đều thông tin và năng lực phân
tích thông tin được gọi là tình trạng “thông tin không cân xứng” làm giảm tính
hiệu quả của thị trường nhưng tạo ra một khả năng sinh lợi cho ngân hàng,
nơi có chuyên môn và kinh nghiệm đấnh giá các cộng cụ tài chính và có khả
năng lựa chọn những công cụ với các yếu tố rủi ro – lợi nhuận hấp dẫn nhất.
b) Tạo phương tiện thanh toán
Tiền – vàng có một chức năng quan trọng là làm phương tiện thanh toán.
Ngân hàng đã không tạo được tiền kim loại. Các ngân hàng thợ vàng tạo
phương tiện thanh toán khi phát hành giấy nợ với khách hàng. Giấy nợ do
Nguyễn Thị Hải Yến Lớp: TMQT 46
4
Chuyên đề thực tập
ngân hàng phát hành với ưu điểm nhất định đã trở thành phương tiện thanh
toán rộng rãi được nhiều người chấp nhận.Các ngân hàng đã tạo ra phương
tiện thanh toán thay cho tiền kim loại dựa trên số lượng tiền kim loại đang
nắm gữi. Giấy nợ của ngân hàng đã thay thế tiền kim loại làm phương tiện lưu
thông và phương tiện cất trữ, nó trở thành tiền giấy. Tiền giấy đã trở thành
phương tiện thanh toán phổ biến.

Bằng việc cho vay hay tạo tín dụng các Ngân hàng đã tạo ra phương tiện
thanh toán phục vụ nhu cầu cho mọi đối tượng khách hàng.
Toàn bộ hệ thống Ngân hàng cũng tạo phương tiện thanh toán khi các khoản
tiền gửi được mở rộng từ Ngân hàng này đến Ngân hàng khác trên cơ sở cho
vay.
c) Trung gian thanh toán
Ngân hàng trở thành trung gian thanh toán lớn nhất hiện nay ở hầu hết các
quốc gia. Ngân hàng thực hiện thanh toán giá trị hàng hóa và dịch vụ. Để việc
thanh toán nhanh chóng, thuận tiện và tiết kiệm chi phí, ngân hàng đưa ra cho
khách hàng nhiều hình thức thanh toán như thanh toán bằng séc nhờ thu các
loại thẻ. . . cung cấp mạng lưới thanh toán điện tử, kết nối các quỹ và cung
cấp tiền giấy khi khách hàng cần. Các ngân hàng còn thực hiện thanh toán bù
trừ với nhau thông qua ngân hàng Trung ương hoặc thông qua các trung tâm
thanh toán. Công nghệ thanh toán qua ngân hàng càng đạt hiệu quả khi quy
mô sử dụng công nghệ đó càng được mở rộng. Vì vậy, công nghệ thanh toán
hiện đại qua ngân hàng thường được các nhà quản lí tìm cách áp dụng rộng
rãi. Nhiều hình thức thanh toán được chuẩn hóa góp phần tạo tính thống nhất
trong thanh toán không chỉ giữa các ngân hàng trong một quốc gia mà còn
giữa các ngân hàng trên toàn thế giới. Các trung tâm thanh toán được thiết lập
đã làm tăng hiệu quả của thanh toán qua ngân hàng, biến ngân hàng trở thành
Nguyễn Thị Hải Yến Lớp: TMQT 46
5
Chuyên đề thực tập
trung tâm thanh toán quan trọng và có hiệu quả, phục vụ đắc lực cho nền kinh
tế toàn cầu.
3. Hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại
3.1. Khái niệm về hoạt động tín dụng
Tín dụng có nghĩa là tin tưởng, tín nhiệm và trong thực tế, tín dụng
được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau nhưng nghĩa phổ biến nhất là quan hệ
vay mượn giữa bên cho và bên đi vay. Trong đó, bên cho vay chuyển giao tài

sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận và
bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện vốn gốc cộng lãi cho bên vay
khi đến hạn. Song khi gắn tín dụng với một chủ thể nhất định (tín dụng ngân
hàng) thì tín dụng chỉ bao hàm nghĩa là ngân hàng cho vay. Vì vậy khi nói đến
tín dụng ngân hàng ta hiểu đó là quan hệ vay mượn giữa ngân hàng với các cá
nhân, doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế xã hội và các tổ chức tín dụng khác
theo nguyên tắc có hoàn trả gốc lãi.
Hoạt động tín dụng là việc tổ chức tín dụng sử dụng vốn tự có, nguồn vốn huy
động để cấp tín dụng. Tín dụng ngân hàng là quan hệ chuyển nhượng quyền
sử dụng vốn từ ngân hàng cho khách hàng trong một thời hạn nhất định với
một khoản chi phí nhất định.
3.2. Các hình thức tín dụng của ngân hàng thương mại
Ngân hàng thương mại được cấp tín dụng cho tổ chức, cá nhân dưới các
hình thức cho vay, chiết khấu thương phiếu và các giấy tờ có giá khác, bảo
lãnh, cho thuê tài chính và các hình thức khác theo quy định của Ngân Hàng
Nhà Nước. Ngân hàng cung cấp nhiều hình thức tín dụng khác nhau cho
khách hàng nhằm mục đích thỏa mãn tối ưu nhu cầu khách hàng.
Tùy theo mục tiêu cũng như yêu cầu của khách hàng mà có các hình thức tín
dụng như sau:
• Phân loại theo mục đích của tín dụng
Nguyễn Thị Hải Yến Lớp: TMQT 46
6
Chuyên đề thực tập
- Cho vay phục vụ sản xuất kinh doanh công thương nghiệp
- Cho vay tiêu dung cá nhân
- Cho vay bất động sản
- Cho vay nông nghiệp
- Cho vay kinh doanh xuất nhập khẩu
• Phân theo thời hạn tín dụng: phân theo góc độ này có ý nghĩa rất lớn
đối với ngân hàng vì thời gian liên quan đến mật thiết đến tính an

toàn và sinh lợi của tín dụng cũng như khả năng hoàn trả của khách
hàng.
- Tín dụng ngắn hạn: Là loại cho vay có thời hạn dưới một năm. Mục
đích của loại cho vay này là tài trợ cho tài sản lưu động hoặc nhu cầu sử
dụng vốn ngắn hạn của nhà nước, doanh nghiệp, cá nhân. Ngân hàng có
thể áp dụng cho vay trực tiếp hoặc gián tiếp, cho vay theo món hoặc
cho vay theo mức hạn, có hoặc không cần đảm bảo, dưới hình thức
chiết khấu, thấu chi hoặc luân chuyển.
- Tín dụng trung hạn: Là loại cho vay có thời hạn từ 1 năm đến 5 năm.
Mục đích của loại cho vay này là tài trợ cho các tài sản cố định như
phương tiện vận tải, một số cây trồng vật nuôi, trang thiết bị…
- Tín dụng dài hạn: Là loại cho vay thời hạn trên 5 năm nhằm tài trợ cho
công trình xây dựng như nhà, sân bay… các dự án có giá trị lớn có thời
hạn sử dụng lâu.
• Phân loại theo hình thức tài trợ tín dụng:
- Chiết khấu thương phiếu
- Cho vay
- Cho thuê
- Bảo lãnh
• Phân loại dựa vào mức độ tín nhiệm của khách hàng
Nguyễn Thị Hải Yến Lớp: TMQT 46
7
Chuyên đề thực tập
- Cho vay không đảm bảo:
Là loại cho vay không có tài sản thế chấp, cầm cố hoặc bảo lãnh cho người
khác mà chỉ dựa vào uy tín của bản thân khách hàng vay vốn để quyết định
cho vay.
- Cho vay có đảm bảo:
Là loại cho vay dựa trên cơ sỏ các đảm bảo cho tiền vay như thế chấp, cầm cố
hoặc bảo lãnh của bên thứ ba nào khác.

• Phân loại theo dòng tiền cho vay
- Cho vay bằng nội tệ
- Cho vay bằng ngoại tệ
• Dựa vào phương thức hoàn trả nợ vay
- Cho vau chỉ có một kỳ hạn trả nợ hay còn gọi là cho vay trả nợ một lần
khi đáo hạn.
- Cho vay có nhiều kỳ hạn trả nợ hay còn gọi là cho vay trả góp.
- Cho vay trả nợ nhiều lần nhưng không có kỳ hạn nợ cụ thể mà tùy khả
năng tài chính của mình người đi vay có thể trả nợ bất cứ lúc nào.
3.3. Vai trò của tín dụng ngân hàng
3.3.1 Đối với nền kinh tế
Vốn luôn là một yếu tố rất quan trọng và nó quyết định việc thực hiện
mục tiêu của cá nhân, doanh nghiệp. Để giải quyết khó khăn này phải cần đến
sự hỗ trợ của ngân hàng.Với hình thức cho vay ngân hàng không những thu
được lợi nhuận mà còn góp phần thúc đẩy nền kinh tế phát triển.
Ngoài ra, với việc vay vốn phải đảm bảo hoàn trả đủ gốc và lãi theo đúng thời
hạn đòi hỏi các doanh nghiệp phải nỗ lực tìm tòi các giải pháp kinh doanh
nhằm tăng nhanh chóng vòng quay của vốn. Do vậy mà hoạt động kinh tế trở
nên nhộn nhịp hơn, cạnh tranh hơn.
Nguyễn Thị Hải Yến Lớp: TMQT 46
8
Chuyên đề thực tập
Trong nền kinh tế thị trường luôn tồn tại một nhóm người hay một tổ
chức có tiền nhàn rỗi, còn một nhóm tổ chức hay cá nhân khác lại thiếu vốn
để phát triển, mở rộng sản xuất kinh doanh, vì vậy tín dụng ngân hàng đóng
vai trò trung gian để giải quyết việc ứ đọng vốn ở nơi này, bù đắp thiếu hụt ở
nơi khác. Từ nguồn lợi nhuận thu được thông qua hoạt động tìn dụng đã thúc
đẩy ngân hàng đẩymạnh hơn nữa công tác huy động vốn và do đó góp phần
giảm hệ số tiền nhàn rỗi trong dân cư và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn. Có
thể nói tín dụng ngân hàng là sự liên kết giữa tiết kiệm và đầu tư.

Doanh nghiệp thường chủ động lựa chọn cho mình những lĩnh vực đầu
tư mang lại hiệu quả nhất tuy nhiên xét trên phạm vi toàn bộ nền kinh tế thì
cần có sự cân đối trong cơ cấu giữa vùng lãnh thổ, giữa các ngành trong nội
bộ nền kinh tế, đặc biệt là giữa các ngành kinh tế mũi nhọn và các ngành kinh
tế còn kém phát triển nhưng cần thiết cho nền kinh tế. Cũng với mục tiêu này,
tín dụng ngân hàng thông qua chính sách tín dụng, lãi suất sẽ là đòn bẩy kích
thích đầu tư phát triển góp phần điều chỉnh cơ cấu kinh tế.
Tín dụng ngân hàng là đòn bẩy kinh tế quan trọng thúc đẩy quá trình
mở rộng mối quan hệ giao lưu quốc tế. Thông qua việc tài trợ xuất nhập khẩu
của NHTM, các doanh nghiệp có điều kiện tiếp nhận, thay đổi những công
nghệ tiên tiến, máy móc thiết bị hiện đại giúp tăng năng suất lao động, tăng
tính cạnh tranh, tăng uy tín của doanh nghiệp trên trường quốc tế. Bên cạnh
đó, sự phát triển của doanh nghiệp xuất khẩu cũng sẽ tác động đến sự phát
triển của ngoại thương, các dịch vụ thanh toán quốc tế sẽ phát triển mạnh mẽ
và sự hợp tác quốc tế được mở rộng.
3.3.2 Đối với ngân hàng cấp tín dụng
Tín dụng là mạng hoạt động quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển
của ngân hàng. Trước hết, hoạt động tín dụng là hoạt động tiền tệ cho sự ra
đời của các NHTM, là hoạt động mang lại phần lớn thu nhập cho ngân hàng,
Nguyễn Thị Hải Yến Lớp: TMQT 46
9
Chuyên đề thực tập
khoảng 70% thu nhập của ngân hàng là do hoạt động tín dụng mang lại. Cụ
thể, trong bảng tài sản của ngân hàng có đến 2/3 “tái sản có” là các khoản cho
vay, vì vậy việc duy trì và mở rộng hoạt động tín dụng mang ý nghĩa sống còn
đối với các NHTM. Thực hiện tốt chức năng tập trung huy động vốn nhàn rỗi
trong dân cư là rất quan trọng song nếu ngân hàng không thực hiện được duy
trì và mở rộng tín dụng thì nguồn vốn ngân hàng sẽ ứ đọng lại, sẽ ảnh hưởng
đến thu nhập của ngân hàng. Hơn nữa, việc ngân hàng phát triển thêm các
hoạt động khác như dịch vụ thanh toán, chuyển tiền, tư vấn…và kết quả là

ngân hàng vừa tăng được nguồn vốn, vừa phát triển các dịch vụ, tăng thu nhập
và phân tán rủi ro trong hoạt động kinh doanh.
4. Rủi ro trong hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại
4.1. Khái niệm, đặc điểm của rủi ro tín dụng
4.1.1.Khái niệm rủi ro tín dụng
Rủi ro tín dụng là khả năng xảy ra những tổn thất cho ngân hàng do
khách hàng vay không trả đúng hạn, không trả đầy đủ vốn và lãi. Rủi ro tín
dụng gắn với hoạt động quan trọng nhất của ngân hàng, có quy mô lớn nhất
của ngân hàng thương mại đó là hoạt động tín dụng.
4.1.2.Đặc điểm của rủi ro tín dụng
a) Rủi ro tín dụng là tất yếu trong hoạt động ngân hàng
Trong bất kỳ họat động kinh doanh nào ở mọi lĩnh vực đều có khả năng
xảy ra rủi ro.Vì vậy, rủi ro tín dụng cũng là điều không thể tránh khỏi trong
ngân hàng.Khi thực hiện một tài trợ nào ngân hàng đều phân tích xem độ an
toàn đối với khoản tín dụng đó có cao hay không để từ đó đưa ra quyết định
có nên cung cấp khoản tín dụng đó hay không.Và nhìn chung ngân hàng chỉ
cho vay khi thấy an toàn. Song không một ngân hàng tài ba nào có thể dự
đoán chính xác cái gì sẽ xảy ra trong tương lai. Chính vì thế mà khả năng xảy
Nguyễn Thị Hải Yến Lớp: TMQT 46
10
Chuyên đề thực tập
ra rủi ro cao cũng là điều hết sức bình thường trong thực tế. Điều đáng quan
tâm là hạn chế, phòng ngừa cái rủi ro tín dụng đó có thể xảy ra.
b) Rủi ro tín dụng có mối quan hệ chặt chẽ với các loại rủi ro khác của ngân
hàng
Tín dụng cũng là một phần hoạt động của hệ thống ngân hàng. Vì thế khi
rủi ro tín dụng xảy ra nó ảnh hưởng tới tất cả các hoạt động khác của ngân
hàng.Từ đó kéo theo các rủi ro khác nhau như rủi ro trong thanh khoản. . .của
ngân hàng.
4.2. Phân loại rủi ro tín dụng

• Phân loại rủi ro theo phương diện quản lý:
- Rủi ro có thế kiểm soát được
Là rủi ro tín dụng mà ngân hàng có thể phần nào dự đoán được chủ thể gay
ra nó, ước tình được mức độ ảnh hưởng của nó, dự kiến đượ thời gian sinh ra
nó, từ đó có những biện pháp hợp lí để phòng ngừa, hạn chế những tổn thất
mà nó có thể gay ra xuống tới mức tối thiểu có thể được. Những rủi ro tín
dụng loại này thường di chủ quan con người gây ra, hay cụ thể hơn là do
khách hàng hoặc do chính bản than ngân hàng tự gây ra cho mình. Tuy nhiên
khách hàng thường là người chủ yếu gây ra loại rủi ro này.
- Rủi ro không thể kiểm soát được
Là loại rủi ro tín dụng mà các ngân hàng không thể dự đoán trước được,
không thể biết chúng sẽ xảy ra vào thời điểm nào, cũng không thể tính toán
được một cách cụ thể, chính xác những ảnh hưởng mà chúng gây ra. Những
rủi ro thuộc loại này thường không gây ra mà chủ yếu do những bất lợi thuộc
về các yếu tố thiên nhiên gây ra như hạn hán, mất mùa, lũ lụt…
Các ngân hàng thương mại thường phải tập trung vào để ngăn chặn, hạn chế
những rủi ro có thể kiểm soát được, còn rủi ro không thể kiểm soát được thì
chỉ có cách chống đỡ khi chúng xảy ra.
Nguyễn Thị Hải Yến Lớp: TMQT 46
11
Chuyên đề thực tập
• Phân loại theo tính chất rủi ro:
- Rủi ro sai hẹn
Là loại rủi ro xảy ra khi người vay vốn không hoàn trả gốc và lãi tiền vay
đúng hẹn như trong hợp đồng.
- Rủi ro mất vốn
Là loại rủi ro xảy ra khi người vay vốn không hoàn trả gốc tiền vay một cách
đầy đủ như trong hợp đồng.
Dù phân chia theo cách nào đi chăng nữa thì rủi ro tín dụng cũng là một điều
không mong muốn, luôn mang lại những tổn thất đối với tất cả các ngân hàng.

4.3. Nguyên nhân của rủi ro tín dụng
4.3.1.Từ các nhân tố vĩ mô
- Môi trường pháp lý
Đây là nhân tố quan trọng có khả năng gây ra rủi ro cao đối với tín dụng.
Hệ thống pháp luật ban hành không đồng bộ, chưa đáp ứng kịp thới trong kinh
doanh. Bên cạnh đó ý thức tuân thủ pháp ly của các đối tượng tham gia kinh
doanh chưa cao. Dẫn đến không đảm bảo một môi trườn kinh doanh không
lành mạnh. Vì thế sẽ tạo ra nhỉều lỗ hổng để kẻ xấu lợi dụng.
- Môi trường kinh tế
Ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động kinh doanh của tất cả đối tượng tham gia.
Một khi môi trường kinh tế ổn định sẽ thúc đẩy hoạt động kinh doanh hiệu
quả. Dẫn đến khả năng trả nợ vay của các đối tượng cao hơn, giảm thiểu rủi ro
tín dụng trong ngân hàng.
- Môi trường xã hội
Là một nhân tố lớn ảnh hưởng tới rủi ro tín dụng. Tín dụng là sự vay
mượn dựa trên cơ sở lòng tin, đạo đức xã hội. Chính vì thế khả năng rủi ro tín
dụng là hoàn toàn có thể xảy ra.
- Những nguyên nhân bất khả kháng
Nguyễn Thị Hải Yến Lớp: TMQT 46
12
Chuyên đề thực tập
Những nguyên nhân bất khả kháng tác động tới người vay, làm họ mất
khả năng thanh toán cho ngân hàng. Ví dụ: Thiên tai, chiến tranh, những thay
đổi ở tầng vĩ mô như thay đổi chính phủ, thay đổi trong chính sách kinh tế,
hàng rào thuế quan…vuợt quá tầm kiểm soát của người vay lẫn người cho
vay.
Những thay đổi này thường xuyên xày ra tác động liên tục với người
vay, tạo thuận lợi hoặc khó khăn cho người vay. Nhiều người vay với bản lĩnh
của mình có khả năng dự báo, thích ứng, hoặc khác phục những khó khăn.
4.3.2.Nguyên nhân từ phía khách hàng

Người vay có thể không có trình độ, hoặc trình độ yếu kém trong quản
lý, chủ định lùa đảo cán bộ ngân hàng, chây ì trong việc trả nợ là nguyên nhân
dẫn đến rủ ro tín dụng. Nhiều người vay đã không tính toán kỹ lưỡng hoặc
không có khả năng tính toán kỹ lưỡng những bất trắc có thể xảy ra, không có
khả thi thích ứng và khắc phục khó khăn trong kinh doanh. Để đặt được mục
đích của mình nhiều khách hàng không tuân theo các quy định, cố tình lừa
đảo để chiếm dụng vốn của ngân hàng. Vì thế họ đưa ra các thủ đoạn khác
nhau và đã gây ra nhiều rủi ro tín dụng cao đối với các ngân hàng.
4.3.2.Nguyên nhân từ phía ngân hàng
Tùy vào chiến lược kinh doanh của mình mà mỗi ngân hàng đưa ra mức độ
chấp nhận rủi ro khác nhau.
- Áp lực cạnh tranh trong hoạt động tín dụng : hiện nay hầu hết
các NHTM hoạt động tín là hoạt động mang lại nguông thu chủ yếu cho ngân
hàng, do vậy để tăng trưởng tín dụng nhiều ngân hàng đã áp dụng các biện
pháp cạnh tranh bằng cách lới long các điều kiện tín dụng. Điều này làm tăng
rủi ro tín dụng
- Hệ thống thông tin khách hàng chưa đủ tính cập nhật và chính xác:
Thông tin về khách hàng là một trong những yếu tố gây ra rủi ro trong hoạt
Nguyễn Thị Hải Yến Lớp: TMQT 46
13
Chuyên đề thực tập
động tín dụng. Vì vậy cần phải xác định chính xác thông tin từ phía khách
hàng.
- Chất lượng cán bộ tín dụng: Do sự yếu kém về trình độ nghiệp vụ
cũng như tư cách đạo đức của cán bộ tín dụng trong ngân hàng . Cán bộ tín
dụng không đủ trình độ đánh giá khách hàng hoặc đánh giá không tốt, cố tình
làm sai…là một trong những nguyên nhân của rủi ro tín dụng. Họ cần phải
được đào tạo kỹ lưỡng, liên tục toàn diện. Bên cạnh đó có một bộ phận cán bộ
ngân hàng yếu kém về tư cách đạo đức đã lợi dụng chức quyền của mình để
tham ô, hối lộ, làm sai nguyên tắc.

- Cơ chế, chính sách của các ngân hàng cũng là một trong những
nguyên nhân gây ra rủi ro cao trong tín dụng.
4.3.4. Nguyên nhân khác.
Những nguyên nhân khác có thể dẫn tới rủi ro tín dụng như: Sự biến
động lớn của lãi suất. Tỷ giá hối đoái, tỷ lệ lạm phát quá cao, khủng hoảng
kinh tế, môi trường pháp lý chưa đầy đủ và chặt chẽ, do các hoạt động rủi ro
chua phát triển.
4.4. Dấu hiệu của rủi ro tín dụng
Rủi ro tín dụng là rất nghiêm trọng, nó gây ra nhiều hậu quả đối với rất
nhiều đồi tượng.Vì thế ngân hàng phải có biện pháp hạn chế chúng có thể dựa
trên những dấu hiệu của rủi ro tín dụng để thực hiện tốt hơn.
- Nợ quá hạn và tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng dư nợ
- Nợ khó đòi và tỷ lệ nợ khó đòi trên tổnh dư nợ
- Nợ có vấn đề
- Tính đa dạng của tài sản
- Tình hình tài chinh và phương án, xếp hạng tín dụng của ngân hàng
- Quan hệ tín dụng giữa khách hàng và ngân hàng
- Đảm bảo tiền vay
Nguyễn Thị Hải Yến Lớp: TMQT 46
14
Chuyên đề thực tập
- Môi trường họat động của người vay
4.5. Hậu quả của rủi ro tín dụng
4.5.1.Đối với ngân hàng thương mại
- Rủi ro tín dụng làm tăng chi phí, giảm thu nhập của ngân hàng
Khi rủi ro tín dụng xảy ra, ngân hàng một mặt không thu được tiền lãi
cho vay (giảm thu nhập), mặt khác theo quy định của các NHTM còn phải
tiến hành trích lập dự phòng tín dụng, việc trích lập này làm tăng chi phí của
ngân hàng.
- Rủi ro tín dụng kéo theo rủi ro thanh khoản, có thể làm ngân hàng mất

khả năng thanh toán, dẫn đến phá sản.
Rủi ro tín dụng đặt ngân hàng trước nguy cơ mất vốn. Đặc biệt trong
trường hợp tài sản đảm bảo của người vay mất giá trên thị trường, khi đó việc
thanh lí tài sản đảm bảo sẽ không đủ để ngân hàng thu hồi vốn. Nhiều khoản
tín dụng như vậy sẽ khiến ngân hàng mất vốn và không thể thanh toán được
các khoản tiền gửi khi đến hạn, điều này đặt ngân hàng đứng trước nguy cơ
mất khả năng thanh toán (gặp rủi ro thanh toán) và đứng bên bờ vực phá sản.
- Rủi ro tín dụng làm suy giảm uy tín của ngân hàng
Đây là hệ quả của việc ngân hàng mất khả năng thanh toán. Không ai
muốn gửi tiền vào một ngân hàng mà khi cần lại không thể rủi tiền ra. Một
NHTM phải mất rất nhiều thời gian để xây dựng được cho mình uy tín và
thương hiệu, nhưng khi mất khả năng thanh toán (mà nguyên nhân sâu xa là
do rủi ro tín dụng) NHTM đó sẽ mất hết uy tín với khách hàng.
- Rủi ro tín dụng làm xấu đi mối quan hệ của ngân hàng với người vay
Điều này rất dễ hiểu, khi một khách hàng trong lịch sử quan hệ với ngân
hàng đã từng để xảy ra tình trạng nợ quá hạn hoặc không trả được nợ, sẽ
không một ngân hàng nào muốn cho khách hàng đó vay tiền.
Nguyễn Thị Hải Yến Lớp: TMQT 46
15
Chuyên đề thực tập
4.5.2. Đối với nền kinh tế
Một khi rủi ro tín dụng xảy sẽ ảnh hưởng lớn hoạt động kinh doanh của
ngân hàng . Từ đó gây ra sự khó khăn trong tài chính đối nền kinh tế. Nền
kinh tế sẽ mất đi động lực vươn lên.
5. Quản lý rủi ro tín dụng của ngân hàng thương mại
5.1. Khái niệm, các loại tín dụng và định lượng, định tính của quản lý
rủi ro tín dụng
5.1.1.Khái niệm quản lý rủi ro tín dụng
Ngân hàng đóng vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế quốc dân.
Ngân hàng là một trung gian tài chính thể hiện thông qua việc là đầu mối liên

kết các chủ thể của nền kinh tế với nhau. Khi thực hiện vai trò của mình ngân
hàng của thể phải gánh chịu rủi ro từ nhiều phía khác nhau và đặc biệt là rủi
ro tín dụng. Vì thế quản lý rủi ro tín dụng trong ngân hàng là điều tất yếu.
Như vậy có thể hiểu: Quản lý rủi ro tín dụng là việc sử dụng các biện
pháp nghiệp vụ để kiểm soát chất lượng tín dụng, hạn chế hậu quả xấu trong
hoạt động tín dụng, giảm thiểu sự tổn thất không để hoạt động ngân hàng rơi
vào tình trạng đổ vỡ.
5.2. Sự cần thiết quản lý rủi ro tín dụng
Rủi ro tín dụng là rủi ro phức tạp nhất trong hoạt động ngân hàng. Nó có
thể xảy ra ở bất cứ đâu và bất cứ khi nào.
- Đối với nền kinh tế
Hoạt động tín dụng ngân hàng là một vấn đề rất nhạy cảm và chứa đựng
rất nhiều rủi ro. Hoạt động của ngân hàng mang tính xã hội hóa cao, nó liên
quan chặt chẽ tới hầu hết các chủ thể trong nền kinh tế từ cá nhân cho tới
doanh nghiệp, từ các tổ chức xã hội cho tới Nhà nước. Chính mối quan hệ có
tính liên kết này mà chỉ ảnh hưởng nhỏ trong hoạt động ngân hàng cũng có
thể gây nên những tác động lớn tới cả nền kinh tế.
Nguyễn Thị Hải Yến Lớp: TMQT 46
16
Chuyên đề thực tập
Hoạt động tín dụng dựa trên cơ sở ngân hàng huy động vốn nhàn rỗi
trong nền kinh tế và dung nguồn vốn huy động được này để thực hiện cho
vay. Rủi ro tín dụng xảy ra se làm ảnh hưởng tới khả năng thanh khoản của
ngân hàng. Nếu tình trạng này bị kéo dài đến một giai đoạn nào đó sẽ khiến
cho dân chúng hoang mang, mất lòng tin vào hệ thống ngân hàng, những tin
đốn thất thiệt sẽ lan truyền tạo nên một làn song rút tiền ồ ạt. Điều này sẽ
khiến cho hàng loạt ngân hàng rơi vào tình trang khó khăn, xấu hơn nữa là sự
đổ vỡ hàng loạt của ngân hàng, các tổ chức tín dụng. Hậu quả tất yếu sẽ diễn
ra chính là sự khúng hoảng xã hội, kinh tê, chính trị nặng nề. Dù sau đó khi hệ
thống ngân hàng có được phục hồi thì chắc chắn cũng sẽ gặp nhiều khó khăn

khi huy động vốn cho phát triển kinh tế. Kết quả là sản xuất bị đình đốn, nền
kinh tế không thể phát triển, xã hội bị rối loạn.
- Đối với ngân hàng cấp tín dụng
Hoạt động tín dụng là hoạt động mang lại nguồn thu nhập chủ yếu cho
ngân hàng và nó quyết định sự tồn tại cũng như phát triển của ngân hàng.
Khi rủi ro tín dụng xảy ra, trước tiên nó sẽ gây ra những khoản nợ khó thu hồi,
vốn của ngân hàng sẽ không thể quay vòng, lãi không thể thu. Mặt khác, khi
có quá nhiều các khoản nợ khó đòi sẽ phát sinh ra các khoản chi phí giám sát,
thu nợ… Bên cạnh đó, ngân hàng vẫn phải trả lãi cho các khoản tiền huy
động. Kết quả là lợi nhuận của ngân hàng sẽ bị giảm sút.
Ngân hàng bao giờ cũng lên kế hoạch cân đối giữa dòng tiền ra và dòng
tiền vào tại các thời điểm được xác định sẵn trong tương lai. Khi các khoản
vay không thu lại được như kế hoạch sẽ dẫn tới sự mất cân đối này sẽ gây ra
sự suy yếu và hạn chế cho ngân hàng khi đến hạn thanh toán cho các khoản
tiền ra. Khả năng thanh toán xẽ bị giảm sút nếu ngân hàng không kịp thời đi
vay hoặc bán tài sản của mình để chi trả.
Nguyễn Thị Hải Yến Lớp: TMQT 46
17
Chuyên đề thực tập
Nếu tình trạng mất khả năng chi trả của ngân hàng tái diễn qua nhiều
lần, hay những thông tin về rủi ro tín dụng của nội bộ ngân hàng bị rò rỉ ra
bên ngoài thì uy tín của ngân hàng trên thị trường tài chính sẽ giảm sút. Điều
tất yếu theo đó là khả năng cạnh tranh của ngân hàng cũng sẽ yếu đi, do đó
việc huy động tiền gửi sẽ gặp nhiều khó khăn, việc thiết lập các giao dịch với
các doanh nghiệp và các ngân hàng khác cũng chắc chắn sẽ không được thuận
lợi. Uy tín đối với khách hàng là một tài sản vô hình hết sức quý giá của ngân
hàng, một khi đã mất đi thì khó có thể lấy lại hoặc nếu có thì cũng sẽ phải tốn
nhiều tiền của cũng như thời gian.
Nếu mức độ rủi ro mà ngân hàng có thể chịu đựng được thì ngân hàng
có thể bù đắp bằng các quỹ dự phòng rủi ro hoặc vốn tự có, còn nếu rủi ro xảy

ra ở mức độ nghiêm trọng thì sự bù đắp của các quỹ dự phòng cũng không thể
thay đổi được tình hình. Thu nhập không thể bù đắp được chi phí, các dòng
tiền vào không thể cân xứng với các dòng tiền ra, ngân hàng nhanh chóng mất
khả năng thanh toán, điều này sẽ dẫn đến sự sụp đổ của ngân hàng nếu không
có sự can thiệp kịp thời của NHTW.
Như vậy, rủi ro tín dụng dù xảy ra ở mức độ nào cũng gây ảnh hưởng
tới sự phát triển của ngân hàng nói riêng và sự tăng trưởng của nền kinh tế nói
chung. Vì vậy quản lý tín dụng không chỉ là trách nhiệm của riêng ngân hàng
mà là toàn nền kinh tế. Thực hiện các biện pháp quản lý rủi ro tín dụng sẽ làm
giảm tổn thất cho ngân hàng cũng như nền kinh tế, lành mạnh hóa hệ thống tài
chính ngân hàng, tăng cường sức cạnh tranh, tạo điều kiện cho nền kinh tế
tăng trưởng.
5.3. Nội dung quản lý rủi ro tín dụng
a. Nhận biết rủi ro tín dụng
Đây là công việc rất quan trọng vì nó ảnh hưởng đến các bước tiếo theo
của quá trình quản lý rủi ro.Việc nhận biết rủi ro tín dụng phải được tiến hành,
Nguyễn Thị Hải Yến Lớp: TMQT 46
18
Chuyên đề thực tập
xem xét một cách tổng thể đối với mọi khoản vay nói chung và trên mọi giai
đọan dựa trên mọi dấu hiệu có liên quan đối với mọi khoản vay nói chung.
b. Đo lường rủi ro tín dụng đối với một ngân hàng
Đây là các chỉ tiêu phản ánh rủi ro tín dụng của ngân hàng, nó cho phép
các nhà quản trị phản ánh được tình hình rủi ro tín dụng ở ngân hàng của mình
và từ đó để có các biện pháp điều chỉnh cho phù hợp. Bao gồm:
- Tỷ lệ nợ quá hạn
- Nợ xấu và tỷ lệ nợ xấu
- Tỷ lệ nợ khoản, xóa nợ
- Tỷ lệ miễm giảm lãi
- Tỷ trọng nợ khó đòi

c.Các biện pháp hạn chế tổn thất khi có rủi ro xảy ra
- Trích lập quỹ dự phòng rủi ro
- Mua bảo hiểm tín dụng
- Phân tán rủi ro
d.Công cụ quản lý rủi ro của tín dụng ngân hàng thương mại
5.3.4.1.Quy trình tín dụng
Quy trình tín dụng là các bước mà cán bộ tín dụng, các phòng ban có lien
quan trong ngân hàng phải thực hiện khi tiến hàng tài trợ cho khách hàng. Một
quy trình tín dụng hợp lý, thống nhất sẽ giúp cán bộ tín dụng quản lý khoản
vay một cách chặt chẽ, tránh sự chủ quan, tùy tiện, duy ý chí. Về cơ bản, một
quy trình tín dụng được chia làm 3 giai đoạn: trước, trong và sau khi cho vay.
- Giai đoạn trước khi cho vay
Công việc cần làm trong giai đoạn này là phân tích tín dụng trước khi cho
vay. Đây là bước quan trọng nhất, quyết định chất lượng của phân tích tín
dụng. Nội dung chủ yếu là thu thập thông tin liên quan đến khách hàng bao
Nguyễn Thị Hải Yến Lớp: TMQT 46
19
Chuyên đề thực tập
gồm năng lực sử dụng vốn, uy tín, khả năng tạo ra lợi nhuận, nguồn ngân quỹ,
quyền sở hữu các tài sản và các điều kiện kinh tế khác có liên quan đến người
vay. Việc xem xét hồ sơ khách hàng càng được tiến hành cẩn thận bao nhiêu
càng giúp cho ngân hàng tránh được những rủi ro đáng tiếc bấy nhiêu. Nội
dung phân tích bao gồm:
+ Đánh giá tổng thể về khách hàng và phương án trả nợ
+ Khả năng trả nợ tiền vay và biện pháp quản lý
+ Kiểm soát của ngân hàng về nguồn tiền trả nợ của khách hàng
+ Khả năng đảm bảo tiền vay và biện pháp quản lý, kiểm soát của ngân hàng
về tài sản đảm bảo tiền vay
- Giai đoạn trong khi cho vay
Sau khi hợp đồng tín dụng được kí kết, vốn vay đã được giải ngân, ngân

hàng sẽ tiến hành kiểm soát khách hàng theo các nội dung sau:
+ Sử dụng tiền vay có đúng mục đích, tiến độ không
+ Quá trình sản xuất kinh doanh có những thay đổi bất lợi gì, có dấu hiệu lừa
đảo hoặc làm ăn thua lỗ không.
+ Các khoản tiền lãi có được trả đúng hạn không

Công việc này cho phép ngân hàng thu thập thêm thông tin về khách để
quản lý chặt chẽ hơn món vay của mình. Nếu các thông tin phản hồi có chiều
hướng tốt điều đó sẽ cho thấy chất lượng tín dụng đang được đảm bảo. Ngược
lại, khi nhận thấy khoản vay đang đứng trước nguy cơ rủi ro cao, ngân hàng
có các biện pháp xử lý kịp thời.
- Giai đoạn sau khi cho vay
Nội dung cần làm trong giai đoạn này là thu nợ hoặc đưa ra các phán quyết
tín dụng mới.
Nguyễn Thị Hải Yến Lớp: TMQT 46
20
Chuyên đề thực tập
Quan hệ tín dụng kết thúc khi ngân hàng thu hồi hết gốc lãi. Các khoản tín
dụng đảm bảo hoàn trả đầy đủ và đúng hạn là các khoản tín dụng an toàn. Một
số trường hợp, các khoản tín dụng đã không hoàn trả hoặc không hoàn trả đủ,
đúng hạn. Việc thanh toán nợ không đúng hạn cho ngân hàng thấy những trục
trặc trong hoạt động của khách hàng. Việc xem xét, tìm hiểu nguyên nhân là
rất quan trọng để giúp ngân hàng kịp thời đưa ra các quyết định mới liên quan
đến tính an toàn của khoản tín dụng.
5.3.4.2.Chính sách tín dụng
Bao gồm các quy định về cho vay của ngân hàng:
- Chính sách khách hàng
- Chính sách quy mô và giới hạn tín dụng
- Lãi suất và phí suất tín dụng
- Thời hạn tín dụng và kỳ hạn nợ

- Các khoản đảm bảo
- Điều kiện giải ngân và điều kiện thanh toán
- Chính sách đối với các tài sản có vấn đề
Kết luận: Rủi ro nói chung là một sự không chắc chắn hay một tình trạng bất
ổn. Rủi ro tín dụng trong ngân hàng là một loại rủi ro phát sinh do khách hàng
mất khả năng trả nợ một khoản vay nào đó. Khi ngân hàng thực hiện nghiệp
vụ cho vay thì đó mới chỉ là thực hiện giao dịch chưa hoàn thành. Giao dịch
tín dụng chỉ được xem là hoàn thành khi nào ngân hàng thu hồi về được khoản
cho vay cả gốc lẫn lãi. Do đó, rủi ro tín dụng xảy là điều không thể tránh khỏi
và đem lại nhiều tổn thất cho ngân hàng. Vì vậy, ngân hàng phải có các biện
pháp phòng ngừa rủi ro tín dụng xảy ra. Đó chính là quản lý rủi ro tín dụng
trong các ngân hàng. Hoạt động này rất phức tập, muốn thành công phải kết
hợp nhiều yếu tố với nhau.
Nguyễn Thị Hải Yến Lớp: TMQT 46
21
Chuyên đề thực tập
PHẦN II: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ
RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG NGOÀI QUỐC
DOANH (PVBANK).
1. Tổng quan về VPBank
1.1. Sự hình thành và phát triển của VPBank
Ngân hàng Thương mại Cổ phần các Doanh nghiệp Ngoài quốc doanh
VIệt Nam (VPBANK) được thành lập theo Giấy phép hoạt động 0042/ NH-
GP của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước VIệt Nam cấp ngày 12 tháng 8 năm
1993 với thời gian họat động 99 năm. Ngân hàng bắt đầu họat động từ ngày
40/09/1993 theo Giấy phép thành lập số 1535/QĐ-UB ngày 04 tháng 09 năm
1993.
Khi mới thành lập thì vốn điều lệ ban đầu là 20 tỷ VNĐ. Sau đó, do nhu
cầu phát triển, theo thời gian VPBANK đã tăng vốn điều lệ nhiều lần. Đến
tháng 8 năm 2006 vốn điều lệ của VPBANK đạt 500 tỷ đồng. Tháng 9 năm

2006, VPBANK nhận được chấp thuận của Ngân hàng Nhà nước cho phép
bán 10% vốn cổ phần cho cổ đông chiến lược nước ngoài là Ngân hàng
OCBC- một Ngân hàng lớn nhất Singapore, theo đó vốn điều lệ được nâng lên
trên 750 tỷ đồng. Tiếp theo, đến cuối năm 2006, vốn điều lệ của VPBank tăng
trên 1.000 tỷ đồng. Vốn điều lệ của VPBank đã tăng lên 1.500 tỷ đồng vào
tháng 7 năm 2007. Hiện nay vốn điều lệ của VPBank đã là 2.000 tỷ đồng.
Trong suốt quá trình hình thành và phát triển, VPBank luôn chú ý đến
việc mở rộng quy mô, tăng cường mạng lưới hoạt động tại các thành phố lớn.
Cuối năm 1993, Thống đốc NHNN chấp thuận cho VPBank mở Chi nhánh tại
thành phố Hồ Chí Minh. Tháng 11/1994, VPBank được phép mở thêm Chi
nhánh Hải Phòng và tháng 7/1995, mở thêm Chi nhánh Đà Nẵng. Trong năm
Nguyễn Thị Hải Yến Lớp: TMQT 46
22
Chuyên đề thực tập
2004, VPBank mở thêm 3 Chi nhánh mới đó là Chi nhánh Hà Nội trên cơ sở
tách bộ phận trực tiếp kinh doanh trên địa bàn Hà Nội ra khỏi Hội sở; Chi
nhánh Huế; Chi nhánh Sài Gòn. Trong năm 2005, VPBank mở thêm một số
Chi nhánh nữa đó là Chi nhánh Cần Thơ. . . Cũng trong năm 2005, VPBank
đã nâng cấp một số phòng giao dịch thành chi nhánh đó là Phòng Giao dịch
Cát Linh, Phòng giao dịch Trần Hưng Đạo . . .Năm 2006, VPBank tiếp tục
được NHNN cho mở thêm Phòng Giao dịch Hồ Gươm (đặt tại Hội sở chính
của Ngân hàng) và Phòng Giao dịch Vĩ Dạ, phòng giao dịch Đông Ba (trực
thuộc Chi nhánh Huế . . . Bên cạnh việc mở rộng mạng lưới giao dịch trên
đây, trong năm 2006, VPBank cũng đã mở thêm hai Công ty trực thuộc đó là
Công ty Quản lý nợ và khai thác tài sản; Công ty Chứng Khoán.
Tính đến tháng 8 năm 2006, Hệ thống VPBank có tổng cộng 37 điểm
giao dịch gồm có: Hội sở chính tại Hà Nội, 21 Chi nhánh và 16 phòng giao
dịch tại các Tỉnh, Thành phố lớn của đất nước là Hà Nội, Thành phố Hồ Chí
Minh, Hải Phòng, Thừa Thiên Huế, Đà Nẵng, Cần Thơ, Quảng Ninh, Vĩnh
Phúc; Bắc Giang và 2 Công ty trực thuộc. Năm 2006, VPBank mở thêm các

Chi nhánh mới tại Vinh (Nghệ An); Thanh Hóa, Nam Định, Nha Trang, Bình
Dương; Đồng Nai, Kiên Giang và các phòng giao dịch, nâng tổng số điểm
giao dịch trên toàn Hệ thống của VPBank lên 50 chi nhánh và phòng giao
dịch. Hiện tại VPBank đã có 90 Chi nhánh và Phòng giao dịch hoạt động tại
34 tỉnh, thành trên cả nước.
Số lượng nhân viên của VPBank trên toàn hệ thống tính đến nay có trên
2.600 người, trong đó phần lớn là các cán bộ, nhân viên có trình độ đại học và
trên đại học (chiếm 87%). Nhận thức được chất lượng đội ngũ nhân viên
chính là sức mạnh của ngân hàng, giúp VPBank sẵn sàng đương đầu được với
cạnh tranh, nhất là trong giai đoạn đầy thử thách sắp tới khi Việt Nam bước
Nguyễn Thị Hải Yến Lớp: TMQT 46
23
Chuyên đề thực tập
vào hội nhập kinh tế quốc tế. Chính vì vậy, những năm vừa qua VPBank luôn
quan tâm nâng cao chất lượng công tác quản trị nhân sự.
Kể từ khi thành lập đến nay VPBank không ngừng mở rộng và còn tiếp
tục phát triển các chi nhánh cả nước. VPBank ngày càng khẳng định vị trí của
mình là một trong những Ngân hàng bán lẻ hàng đầu
1.2. Chức năng, nhiệm vụ, đặc điểm của VPBank
1.2.1. Chức năng
- Huy động vốn ngắn hạn, dài hạn và trung hạn từ các tổ chức kinh tế
và dân cư.
- Cho vay vốn ngắn hạn, dài hạn và trung hạn đối với các tổ chức kinh
tế và dân cư từ khả năng nguồn vốn của Ngân hàng.
- Kinh doanh ngoại hối
- Dịch vụ thanh toán quốc tế
- Chiếu khấu thương phiếu, trái phiếu và các giấy tờ có giá trị khác.
- Cung cấp các dịch vụ giao dịch giữa các khách hàng.
- Cung cấp các dịch vụ chuyển tiền trong nước và Quốc tế.
- Các dịch vụ Ngân hàng khác theo quy định của Ngân hàng Nhà nước

Việt Nam.
1.2.2.Nhiệm vụ
Trở thành Ngân hàng đô thị đa năng, hoạt động theo phương châm: lợi
ích của khách hàng là trên hết; lợi ích của người lao động được quan tâm; lợi
ích của cổ đông đựơc chú trọng; đóng góp có hiệu quả váo sự phát triển của
cộng đồng.
- Đối với khách hàng: VPBank cam kết thỏa mãi tối đa lợi ích của
khách hàng trên cơ sở cung cấp cho khách hàng các sản phẩm và dịch
vụ phong phú, đa dạng và đồng bộ, nhiều tiện ích, chi phí cạnh tranh.
Nguyễn Thị Hải Yến Lớp: TMQT 46
24
Chuyên đề thực tập
- Đối với nhân viên: VPBank quan tâm đến dời sống vật chất và tinh
thần của nhân viên và đảm bảo cho nhân viên mức thu nhập ổn định,
mang tính cạnh tranh cao trong thị trường lao động nghành tài chính
ngân hàng.VPBank đảm bảo các cán bộ nhân viên thường xuyên được
nâng cao trình độ nghiệp vụ, phát triển đầy đủ các quyền lợi về chính
trị, văn hóa . . .
- Đối với cổ đông: VPBank quan tâm và cố gắng năng cao giá trị cổ
phiếu, duy trì mức cổ tức cao hằng năm. . .
- Đối với cộng động: VPBank cam kết thực hiện tốt các nghĩa vụ đối
với Ngân hàng Nhà nước, quan tâm chăm lo đến công tác xã hội, từ
thiện để chia sẻ khó khăn của cộng đồng.
- VPBank phấn đấu năm 2010 trở thành Ngân hàng bán lẻ dẫn đầu khu
vực phía Bắc, đồng thời là Ngân hàng trong top năm của cả nước và một
Ngân hàng có tầm cỡ của khu vực Đông Nam Á về chất lượng, hiệu quả và độ
tin cậy.
1.2.3.Đặc điểm
- Là một ngân hàng bán lẻ và theo đuổi chiến lược bán lẻ:
Thể hiện: VPBank cung cấp những sản phẩm dịch vụ cho từng phân

đoạn khách hàng.Do đó, đòi hỏi sự thâm nhập sâu vào thị trường để tìm hiểu
và thỏa mãn tối đa nhu cầu đa dạng của từng phân đoạn khách hàng cụ thể.
Ngân hàng VPBank sẽ phát huy thế mạnh năng động và linh hoạt trong việc
biến đổi bản thân để đáp ứng nhanh chóng nhu cầu đa dạng đó của thị trường.
- VPBank phục cụ đối tượng khách hàng chủ yếu là các ngân hàng vừa
và nhỏ trong nước và cá nhân trung lưu ở khu vực đô thị.
1.3. Các lĩnh vực hoạt động của VPBank
- Huy động vốn ngắn hạn, trung hạn, dài hạn dưới các hình thức tiền
gửi có kỳ hạn, không kỳ hạn; tiếp nhận vônd ủy thác đầu tư và phát
Nguyễn Thị Hải Yến Lớp: TMQT 46
25

×