Tải bản đầy đủ (.pdf) (127 trang)

định hướng và giải pháp tổ chức thị trường chứng khoán phi tập trung ở việt nam

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (12.61 MB, 127 trang )

BỘ GIÁO
DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG
ĐẠI
HỌC KINH TẾ THÀNH
PHÔ Hổ CHÍ
MINH
*******
**
**
** **
** ** **
ĐỀ
TÀI NGHIÊN CỨU
KHOA
HỌC TRỌNG
DIÊM
CÁP BỘ
ĐỊNH HƯỚNG VÀ
GIẢI
PHÁP
Tổ CHỨC THỊ TRƯỜNG
CHỨNG
KHOÁN
PHI
TẬP
TRUNG

VIỆT
NAM


Mã số :
B2002
- 22 - 21
-

'•GÍ:
CHỦ
NHIỆM ĐÊ TÀI
Phó
Giáo sư.Tiến sĩ.
PHẠM
VĂN NĂNG
PHÓ
CHỦ NHIỆM ĐỀ TÀI
Phó
Giáo sư.Tiến sĩ.
NGUYÊN
NGỌC
HÙNG
4focu92.
&<7).
7ỔỒ
(PhíMinh,
Qlăm 2006
MỤC
LỤC
Trang
Lời mở đầu Ì
CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN cơ BẢN VE THỊ TRƯỜNG

CHỨNG KHOÁN PHI TẬP TRƯNG
ì. Khái quát quá trình hình thành và phát triển thị trường chứng
khoán
4
li.
Khái niệm
và các
loại
chứng khoán
giao
dịch trên
thị
trường
chứng khoán phi tỰp trung 10
IU. Các chủ thể tham gia trên thị trường chứng khoán phi tỰp
trung 13
IV. Phương thức hoạt động của thị trường chứng khoan phi tỰp
trung 18
CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG THỊ
TRƯỜNG
CHỨNG
KHOÁN
VÀ sự CAN
THIẾT
TỔ CHỨC THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN PHI TẬP TRUNG ở
VIỆT NAM.
ì. Quá trình hình thành và phát triển thị trường chứng khoán ở
Việt Nam 26
li.

Thực
trạng
thị
trường
chứng
khoán
Việt
Nam 31
IU. Sự cần
thiết
tổ
chức
thị trường
chứng
khoán phi tập
trung

Việt Nam
58
CHƯƠNG 3
ĐỊNH
HƯỚNG

GIẢI
PHÁP Tổ
CHỨC
THỊ
TRƯỜNG
CHỨNG
KHOÁN PHI TẬP

TRUNG

VIủT
NAM
ì. Định hướng mô hình thị trường
chứng
khoán phi tập
trung

Việt
Nam 65
li.
Giải
pháp tổ
chức
thị trường
chứng
khoán phi tập
trung

Việt
Nam 68
1.
Thiết
lập
khung
pháp lý cho
việc
tổ
chức

thị trường
chứng
khoán phi tập
trung

Việt
Nam 68
2. Đa dạng hóa các
loại
chứng
khoán
giao
dịch
trên thị
trường
chứng
khoán phi tập
trung
70
3. Thành lập tổ chức chủ quản điều hành hoạt động của thị
trường
chứng
khoán phi tập
trung
87
4. Các điều
kiện
trở thành thành viên của thị trường
chứng
khoán phi tập

trung
88
5. Chính sách công khai hóa thông tin 91
6. Thành lập tổ chức xếp hạng tín nhiệm 94
7.
Khuyến
khích các nhà đầu tư
tham gia thị
trường
chứng
khoán
phi
tập
trung
106
8. Các
giải
pháp hỗ trợ 108
8. Ì. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực 108
8.2. Nâng cao chất lượng quản lý nhà nước đối với thị trường
chứng khoán no
8.3. Cải
thiện
hoạt
động kế toán,
kim
toán .111
Kết luận 114
Tài
liệu

tham khảo
116
LỜI
MỞ ĐẦU

Việt
Nam, kể
từ
khi xuất
hiện
các công
ty
cổ
phần,
giao
dịch chứng
khoán
trao
tay cũng lập tức
được hình thành. Do một số đặc
điểm
có tính
khách
quan, phần lớn
các
chứng
khoán được
giao
dịch
phổ

biến
ở nước ta
hiện
nay đều là cổ
phiếu
của các
doanh
nghiệp
nhà nước cổ
phần
hóa. Đến
nay
trên cự nước có
khoựng
2.926
doanh
nghiệp
nhà nước đã được cổ
phần
hóa và
khoựng
gần 1.000 công
ty
cổ
phần
thành
lập theo
luật
doanh
nghiệp

,
tuy
nhiên con
sô"
công
ty
cổ
phần
đáp ứng được
những
yêu cầu về
vốn,
về
kiểm
toán và số lượng cổ đông
tham
gia
bên ngoài do Uy ban
chứng
khoán
Nhà nước
đặt
ra đối với
các công
ty
niêm
yết
trên
thị
trường

chứng
khoán
tập
trung hiện

khoựng
400 công
ty.
Trên
thực
tế,
tính đến
thời
điểm
28/ 07/ 2006
,
chỉ
có 44 công
ty
niêm
yết
chứng
khoán
tại trung
tâm
giao
dịch chứng
khoán
Tp.HCM
và 12 công ty

niêm
yết
tại
trung
tâm
giao
dịch chứng
khoán Hà Nội
,
một con số quá
ít
cho
một thị
trường
chứng
khoán
tập
trung.
Như
vậy,
số lượng công ty cổ
phần
chưa đủ
điều
kiện
niêm
yết hoặc
đủ
điều
kiện

nhưng chưa thích niêm
yết
chiếm
một
tỷ
trọng
quá
lớn
(
trên 96%
)

tất
nhiên các công
ty
này
cũng

nhu
cầu huy động vốn trên
thị
trường
chứng
khoán. Chính vì
thế, việc
tổ
chức
thị
trường
chứng

khoán
phi tập
trung trở
thành một nhu cầu cấp bách đang
đặt
ra
hiện
nay ở nước
ta.
Hoạt
động của
thị
trường
chứng
khoán
phi
tập
trung
sẽ
tạo
tính
thanh
khoựn
cho các
loại
chứng
khoán chưa được niêm
yết,
tạo
thêm

" sân chơi " cho các nhà đầu tư và
kinh
doanh chứng
khoán, cho các công
ty
cổ
phần
không thích
hoặc
chưa đủ
điều
kiện
niêm
yết
tại
trung
tâm
giao
dịch
chứng
khoán, góp
phần
đẩy
nhanh
tiến
trình cổ
phần
hóa
doanh
nghiệp

nhà
nước,
đồng
thời
qua đó
cũng
sẽ hạn chế
những
hoạt
động
giao
dịch chứng
khoán ngoài tầm
quựn
lý của nhà
nước.
Tuy nhiên, để một
thị
trường
chứng
Ì
khoán
phi
tập
trung
ra đời
hoạt
động
tốt
cần có một sự

chuẩn
bị
thật
chu đáo.
Nếu gượng ép để
ra
đời ngay
một
thị
trường
chứng
khoán
phi tập trung
sẽ đưa
đến những
hậu quả khó
lường.
Xuất
phát từ
những
luận
giải
trên, chúng tôi
mạnh
dạn
chện
chủ đề
"Định hướng và
giải
pháp

tổ
chức
thị
trường
chứng khoán
phi tập
trung

Việt
Nam " làm đề
tài
nghiên cứu
khoa
hệc
trệng
điểm
cấp Bộ.
Bằng
phương pháp
luận
của Chủ
nghĩa
duy
vật
biện
chứng
và chủ
nghĩa
duy vật
lịch

sử,
lô-gích
hệc,
phân tích
hoạt
động
kinh tế kết
hợp
với
sự
trừu
tượng
hóa
khoa
hệc
trong
nghiên
cứu,
với
sự kế
thừa
những
tinh
hoa của các
hệc giả
tiền
bối,
kết
hợp
với

chính
lao
động của bản thân mình, công trình
nghiên cứu nhằm hướng
tới
các mục tiêu chủ yếu sau :
- Thị trường
chứng
khoán là yếu
tố
cơ bản của nền
kinh tế thị
trường
hiện đại.
Hầu
hết
các
quốc
gia
có nền
kinh tế
vận
hành
theo

chế
thị
trường
đểu ton
tại

thị
trường
chứng
khoán, ơ
Việt
Nam, mặc dù
trung
tâm
giao
dịch
chứng
khoán
Tp.HCM

trung
tâm
giao
dịch chứng
khoán Hà Nội đã được
thiết
lập
và đi vào
hoạt
động,
song
lĩnh
vực
thị
trường
chứng

khoán còn
nhiều
vấn
đề chưa được làm rõ về khía
cạnh

luận
cũng
như khả năng vận
dụng
vào
thực
tiễn
cho nền
kinh
tế
nước
ta,
đặc
biệt

lĩnh
vực
thị
trường
chứng
khoán
phi
tập
trung.

Do
vậy,
mục tiêu đầu tiên của đề tài là nhằm làm sáng
tỏ
những
vân đề lý
luận
cơ bản về
thị
trường
chứng
khoán
phi tập
trung,
để
tạo
cơ sở
vững chắc
cho
việc
vận
dụng
chúng vào
thực
tế Việt
Nam một cách

hiệu
quả.
- Xây

dựng những
luận
cứ
khoa
hệc và
thực
tiễn
về sự cần
thiết
tổ
chức
thị
trường
chứng
khoán
phi tập trung

Việt
Nam.
2
- Định hướng mô hình
thị
trường
chứng
khoán
phi tập trung

Việt
Nam. Trên cơ sở đó đề
xuất

những
giải
pháp để tổ
chức
thị
trường
chứng
khoán
phi tập trung
ở nước
ta trong
thời
gian
tới.
Tuy nhiên
thị
trường
chứng
khoán
phi tập trung
là vấn đề
mới,
phức
tạp

thời
gian
nghiên cứu có hạn,
do vậy,
công trình nghiên cứu chỉ

tập trung
vào
những
vấn đề mấu
chốt

xem xét trên góc độ định hướng.
Ngoài
phỏn
mở đỏu và
kết luận,
công trình nghiên cứu được
kết
cấu thành
03
chương :
• Chương Ì
:
Những vấn đề lý
luận
cơ bản về
thị
trường
chứng
khoán
phi
tập trung.
• Chương 2
:
Thực

trạng thị
trường
chứng
khoan
và sự cỏn tô
chức
thị
trường
chứng
khoán
phi tập trung

Việt
Nam.
• Chương 3
:
Định hướng và
giải
pháp
tổ
chức
thị
trường
chứng
khoán
phi
tập trung

Việt
Nam.

3
CHƯƠNG
ĩ
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN cơ BẢN VE THỊ
TRƯỜNG
CHỨNG
KHOÁN PHI
TẬP
TRUNG
Ị.
KHÁI QUÁT
QUÁ
TRÌNH HÌNH THÀNH
VẢ PHẮT
TRIỂN
THI TRƯỜNG
CHỨNG
KHOÁN

Thị
trường
chứng
khoán
là yêu
tố

bản của nền
kinh
tế
thị

trường
hiện đại.
Đến
nay,
hầu
hết
các
quốc
gia

nền
kinh
tế
phát
triển
đều

thị
trường
chứng
khoán,
thị
trường
chứng
khoán
đã
trở
thành
một
định chế

tài
chính không
thể
thiếu
được
trong
đời sống
kinh
tế
của
những
nước
theo

chế
thị
trường.

nhiều
định
nghĩa
về
thị
trường
chứng
khoán
:
-
Thị
trường

chứng
khoán
:
tiếng La-tinh
là BURSA,
nghĩa

cái

đựng
tiền,
còn
gấi
là sở
giao
dịch chứng
khoán,
là một
thị
trường

tổ chức

hoạt
động

điều
khiển.
Theo
chữ

Hán

chứng
khoán
giao
dịch
sở,
sở

nơi
chốn,
giao
dịch

mua
bán
đổi
chác.
- Thị trường
chứng
khoán được định
nghĩa
theo
Longman
Dictionary
of
Business
English,
1985như
sau:

"An
organized
market
where
securities
are
bought
and
sold
under
fixed
Rules".
Dịch
ra
tiếng
việt:
một
thị
trường

tổ
chức
là nơi các
chứng
khoán được
mua
bán
tuân
theo
những

quy
tắc
đã
được
ấn
định.
Định
nghĩa
này đưa
ra
một
thuật
ngữ

chứng
khoán
(
securities)

cổ
phiếu
(
share)

trái
phiếu
( bond) cũng
chính

hai

dạng
của
chứng
4
khoán,
chứng
khoán được
kết
nạp
bằng hai
từ đồng
nghĩa

chứng
khoán
đều có nghĩa là bằng cứ ( evidence). Trong tiếng Anh theo The American
Heritage Dictionnary of the English Language, Dell, 1971. p. 633, Securities
có nghĩa là : Written evidence of ownership. Vậy nghĩa căn bản của chứng
khoán là: bằng chứng giấy trắng mực đen về quyền sở hữu.
Tuy nhiên,
trong
đời
sống
kinh
tế,
thuật
ngữ thớ trường
chứng
khoán đã
thoát ly đớnh nghĩa ban đầu và có thêm nội dung mới. Thật ra, mỗi đớnh nghĩa

chỉ cung cấp được một khái niệm tổng quát về một vấn đề nào đó, còn muốn
hiểu
trọn
vẹn vấn đề thì
phải
nghiên cứu quá trình hình thành và phát
triển
lâu dài của nó.
Vào
khoảng
giữa
thế kỷ 15 ở tại
những
thành phố
trung
tâm buôn bán
của phương Tây, các thương gia thường tụ tập tại các quán cà phê để thương
lượng
việc
mua bán,
trao
đổi các
loại
hàng hóa như: nông sản, khoáng sản,
ngoại
tệ và giá khoán động
sản
điểm
đặc
biệt


trong
những cuộc
thương
lượng này các thương gia chỉ dùng lời nói để
trao
đổi với
nhau,
không có
hàng hóa,
ngoại
tệ, giá khoán động sản hay bất cứ một
loại
giấy
tờ nào.
Những cuộc thương lượng này nhằm thống nhất với nhau các " Hợp đồng"
mua bán,
trao
đổi
thực
hiện
ngay,
kể cả
những
hợp đồng cho tương lai 3
tháng, 6 tháng
hoặc
một năm sau mới
thực
hiện.

Những
cuộc
trao
đổi này lúc đầu chỉ có một nhóm nhỏ, dần dần số
người tăng lên. Đến cuối thế kỷ 15 " khu chợ riêng" này trở thành một " thớ
trường" và
thời
gian
họp chợ rút
xuống
hàng
tuần
và sau đó là hàng ngày.
Trong các phiên họp chợ này, họ thống nhất với nhau những quy ước cho các
5
cuộc
thương
lượng.
Dần dần
những
quy ước đó được
tu
bổ hoàn
chỉnh
thành
những quy tắc có giá trị bắt buộc đối với những người tham gia. Từ đó thị
trường chứng khoán bắt đầu hình thành.
Buổi
họp đầu tiên của
giai

đoạn này xụy ra năm 1453
trong
một lữ
quán của gia đình Vanber tại Bruges ( Bỉ ). Trước lữ quán này có một bụng
hiệu
vẽ hình 3 túi da với một từ
tiếng
Pháp "
Bourse",
tức là " mậu
dịch
trường" hay còn gọi là " sở giao dịch".
"Mậu dịch trường" là một bụng hiệu chung, ba túi da tượng trưng cho 3
nội dung của mậu dịch trường: mậu dịch trường hàng hóa, mậu dịch trường
ngoại tệ và mậu dịch trường giá khoán động sụn.
Đến năm 1547, mậu dịch trường tại thành phô Bruges bị suy sụp khi
Bruges mất hẳn sự phồn vinh vì eo bể dẫn tàu bè vào thị trấn bị cát lấp mất.
Mậu dịch thị trường được dời đến hụi cụng Auvers ( Bỉ ). Mậu dịch
trường
Auvers
phát
triển
nhanh
và từ
kinh
nghiệm
của nó, các mậu
dịch
ở các
nước bắt đầu phát

triển.
Tại
London,
vào
giữa
thế kỷ 18, một mậu
dịch
trường đã được
thiết
lập
theo
mẫu mậu
dịch
trường
Auvers
gọi là
Stock
Exchange, nơi mà sau này gọi là Sở giao dịch chứng khoán London. Các mậu
dịch trường khác cũng lần lượt được thành lập tại Pháp, Ý, Đức và Bắc Ấu
với ít
nhiều
cụi
tiến,
thay
đổi tùy
theo
những
điều
kiện
tại mỗi

quốc
gia.
Sau một
thời
gian
hoạt
động, mậu
dịch
trường không còn phù hợp và
không đủ sức cho các giao dịch với 3 nội dung hoàn toàn khác nhau. Vì vậy,
giao dịch hàng hóa được tách ra thành khu thương mại, giao dịch ngoại tệ
6
tách
ra
thành
thị
trường
hối
đoái,
giao
dịch
giá khoán động sản tách
ra
thành
thị trường chứng khoán, và các giao dịch hợp đồng cho tương lai được tách ra
thành các " thị trường tương lai".
Như vậy, thị trường chứng khoán được xuất hiện từ thế kỷ 15. sự hình
thành thị trường
chứng
khoán

cũng
đồng
thời
với thị trường hối đoái và các
loại
thị trường khác.
Quá trình hình thành và phát
triần
của các thị trường
chứng
khoán thế
giới
đã
trải
qua
những
bước thăng
trầm.
Thời
kỳ huy hoàng
nhất
là vào
những
năm
1875-1913,
thị trường
chứng
khoán phát
triần
mạnh

cùng với sự tăng
trưởng của nền kinh tế. Nhưng đến ngày 29-10-1929 ngày được gọi là " ngày
thứ năm đen tối", tức là ngày mở đầu cuộc khủng hoảng thị trường chứng
khoán New York đã làm thị trường chứng khoán New York và các thị trường
chứng khoán Tây Âu, Bắc Âu, và Nhật Bản khủng hoảng. Sau thế chiến thứ
hai, các thị trường
chứng
khoán
phục
hồi, phát
triần
mạnh.
Nhưng rồi "
cuộc
khủng hoảng tài chính" năm 1987. một lần nữa đã làm cho các thị trường
chứng
khoán thế
giới
suy sụp,
kiệt
quệ. Lần này, hậu quả của nó rất lớn và
nặng nề hơn cuộc khủng hoảng năm 1929, nhưng chỉ sau 2 năm thị trường
chứng
khoán thế
giới
lại đi vào ổn
định,
phát
triần
và đã trở thành một định

chế tài chánh không thầ
thiếu
được
trong
đời
sống
kinh
tế của
những
quốc
gia
có nền
kinh
tế phát
triần
theo
cơ chế thị
trường.
Thị trường
chứng
khoán và các thị trường tài chính nói
chung
đã
trải
qua
cuộc
cách
mạng
thực
sự

trong
những
năm gần đây do có các
biến
động
7
lớn trong bối
cảnh
kinh tế,
pháp lý
hoặc
kỹ
thuật.
Các
cuộc
cải
cách có
nhiều
hình thức khác nhau:
+ Cải cách các chế độ
thuế
nhằm thu hút
người

tiền
tích lũy ra thị
trường chứng khoán bằng cách giảm thuế thu nhập đánh vào các khoản đầu
tư vào các cổ phiếu.
+ Thành lập một thị trường không chính thức: năm 1983 ở một số nước,
thị trường không chính

thức
đã được thành lập để tẩo
điều
kiện
cho các
doanh
nghiệp
tầm cỡ
trung
bình có thể
tham
gia trên thị trường
chứng
khoán : các
điều
kiện
về hành chính và tài chính được yêu cầu ít hơn là trên thị trường
chính thức.
+ Tẩo ra các hình
thức
chứng
khoán mới: một
loẩt
các sản phẩm tài
chính mới đã được xây dựng đê nhằm đáp ứng tốt hơn hình thức tài trợ qua thị
trường chứng khoán cho các nhu cầu của các nhà vay vốn. Phần lớn các sản
phẩm mới về chứng khoán này tồn tẩi dưới hình thức "lai tẩo", bằng cách tận
dụng các lợi thế của một hình thức pháp lý nào đó mà không có các điểm bất
lợi hoặc để kết hợp các ưu điểm của nguồn vốn tự có với các ưu điểm của các
chứng khoán đẩi diện quyền cho vay. Hình thức tư vấn tài chính này không

phải
lúc nào
cũng
thu hút được
người

tiền
tích lũy. Đó là
điều
giải
thích
cho tính
chất
ngắn
hẩn hay tính khả
dụng
kém của một số
loẩi
chứng
khoán
không hâm mộ đối với các nhà đầu tư.
+ Hiện đẩi hóa thị trường vay nợ của Nhà nước, để tẩo điều kiện cho
Nhà nước có thể vay vốn được trên các thị trường và để giảm nhẹ bớt chi phí.
8
+
Họat
động của ngành
kinh
doanh chứng
khoán và

thị
trường
chứng
khoán đã được tin học hóa
mạnh
mẽ. Hai cải cách lớn
nhất
về kỹ
thuật
một
mặt liên
quan
đến sự
giao
dịch
(front-office)
và mặt khác đến
việc
xữ lý hành
chánh các
nghiệp
vụ
giao
dịch
(back-office)
tạo
điều
kiện
cho
việc

lưu thông
các cổ phiếu giữa các tổ chức thành viên, thông qua các nghiệp vụ chuyển
khoản từ tài khoản này sang tài khoản khác.
Kể từ năm 1986, ở một số nước, các giá trị động sản đã lần lượt được
yết giá trên hệ
thống
vi tính. Như vậy,
việc
yết giá các cổ
phiếu
và các trái
phiếu
không còn được tập
trung
trên thị trường
chứng
khoán nữa và không
phải được giao dịch dưới hình thức " rao miệng " nữa: các nhà giao dịch
truyền
miệng
cho công ty
chứng
khoán của mình thông qua
điểm
cuối
mạng
vi tính, trên đó mọi thông tin của thị trường đều có thể tra cứu bởi các chức
năng đặc
biệt.
Năm 1991, hệ

thống
RELIT đã tiêu
chuẩn
hóa
tiến
trình
thanh
toán
tiền

giao
nhận chứng
phiếu
sau khi đã có
giao
dịch
thương lượng trên thị
trường - ( RELIT: Hệ thống tin học về thanh toán và giao nhận ).
+ Thành lập các thị trường biến tướng. Năm 1986, ở Pháp thành lập thị
trường MATIF, năm 1987 thành lập thị trường
MONEP,
các thị trường
biến
tướng này được lập ra để tạo cho các tổ chức kinh tế và cho các nhà quản lý
hồ sơ chứng khoán khả năng phòng ngừa các rủi ro liên quan đến các biến
động về cổ phiếu, về tỉ lệ lãi suất và về tỉ giá hối đoái. Các thị trường này
cũng có mục đích tăng vốn khả dụng trên thị trường giao ngay qua các khả
năng
kinh
doanh

chênh
lệch
giá. Là các thị trường
thực
sự
trong
thời
đại mới
9
các
thị
trường này đã thúc đẩy
việc
hiện
đại
hóa
giới
tài chính và
tham
gia
vào cuộc chiến giành ngôi bá chủ tài chính ở Châu Au.
lĩ. KHÁI NIÊM VẢ CÁC LOAI CHỨNG KHOÁN GIAO ĐÍCH
TRÊN THI TRƯỜNG CHỨNG KHOẢN PHI TÁP TRUNG :
Ị. Khái niêm về thi trường chứng khoán phi táp
trung :
Xét về phương diện pháp lý thị trường chứng khoán được chia làm 2
loại:
thị trường
chứng
khoán chính

thức
( The
stock
exchange
) và thị trường
chứng
khoán phi chính
thức
(
Over
the
Counter
market,
viết
tắt OTC ).
Thị trường chứng khoán chính thức ( hay còn được gọi là thị trường
chứng
khoán tập
trung
- thị trường
chứng
khoán có tổ
chức
- sở
giao
dịch
chứng
khoán) là nơi tập
trung
các

giao
dịch
chứng
khoán một cách có tổ
chức
theo
những
luật
định
nhểt
định, là nơi
giao
dịch
các
loại
chứng
khoán đã được
đăng ký (niêm yết -
Listed
or
Registered
securities)
hay được
biệt
lệ.
Chứng khoán sau khi phát hành đại chúng, nếu hội đủ một số yêu cầu
chọn lọc, thì có thể đăng ký niêm yết lên sàn giao dịch của sở giao dịch
chứng khoán. Các tiêu chuẩn niêm yết thường chú trọng đến thâm niên hoạt
động, thành tích lợi nhuận, quy mô cổ phần và lượng cổ đông.
Sở dĩ, Sở giao dịch chứng khoán chỉ giao dịch những chứng khoán đã

được niêm yết xuểt phát từ các mục đích sau :
10
-
Nhằm
bảo vệ các nhà đầu
tư.
Sở
giao
dịch chứng
khoán và công
ty
phát hành chứng khoán đều phải có nghĩa vụ bảo đảm cho nhà đầu tư một sự
hiểu
biết
đúng và đủ về
lịch
sử hình thành và tình hình
hoạt
động của công ty
phát hành
chứng
khoán. Nhà đầu tư cần được
biết
tại sao công ty đó
muốn
tìm
nguổn
vốn và
phải
phán đoán cho được

việc
đầu tư của mình vào công ty
đó có lợi hay không.
-
Nhằm
thiết
lập một mối
quan
hệ hợp đổng
giữa
sở
giao
dịch chứng
khoán và công ty cổ phần phát hành chứng khoán về những nghĩa vụ thông
báo công
khai
đều đặn và
nhanh
chóng cho thị trường
biết
về
những
sự
kiện
có liên
quan
đến
tuổi
thọ và giá cổ
phiếu

của công ty.
-
Nhằm
bảo đảm cho toàn bộ
hoạt
động của Sở
giao
dịch chứng
khoán
đạt được các yêu cầu có tính nguyên tắc, cởi mở,
trung
thực,
công
bằng
và an
toàn. Mặt khác,
việc
đăng ký còn giúp cho sở
giao
dịch chứng
khoán có thể
gia tăng số
cung
và các
loại
chứng
khoán, đáp ứng nhu cầu đầu tư của công
chúng, giữ cho thị trường chứng khoán hoạt động liên tục, bình thường và
phát
triển

vững
chắc.
Chứng khoán đã được đăng ký là
loại
chứng
khoán đã được cơ
quan

thâm
quyền
cho phép bảo đảm phân
phối
và mua bán qua
trung
gian
các nhà
môi
giới
và công ty
chứng
khoán , tức là đã hội đủ các tiêu
chuẩn
đã
định.
Chứng khoán
biệt
lệ là
loại
chứng
khoán được

miễn
giấy
phép của cơ
quan có thẩm quyền, do chính phủ hoặc chính quyền địa phương phát hành
và bảo đảm.
li
Thị
trường
chứng
khoán chính
thức
có địa điểm và
thời
điểm mua bán
rõ rệt và giá cả được xác định trên cơ sở đấu giá công khai có sự kiểm soát
của hội đổng
chứng
khoán
quốc
gia ( ở
Việt
Nam gọi là Uy ban
chứng
khoán
Xỉ
Nhà nước
).
ơ
thị
trường này

chữ
có các nhà môi
giới,
công
ty
chứng
khoán là
thành viên thì mới được phép giao dịch tại sàn giao dịch.
Thị trường
chứng
khoán phi tập
trung
là thị trường mua bán
chứng
khoán bên ngoài sở
giao
dịch chứng
khoán, không có địa điểm tập
trung
những
người
môi
giới,
những
người
kinh
doanh chứng
khoán như ỏ sở
giao
dịch chứng khoán, ở đây không có sự kiểm soát từ bên ngoài (Hội đồng

chứng
khoán
quốc
gia), không có
thời
biểu
mua bán rõ rệt hay thủ tục
nhất
định mà do sự
thỏa
thuận
của
người
mua và
người
bán. Các
loại
chứng
khoán
được
giao
dịch
ở thị trường này thường là các
loại
chứng
khoán không được
đăng ký ( niêm yết), ít
người
biết
đến hay ít được mua bán.

2. Các
loai
chứng
khoán
giao
đích
trẽn
thi trường
chứng
khoán phi táp
trung:
Các chứng khoán được giao dịch trên một sở giao dịch chứng khoán
chữ
giới
hạn đối với các
chứng
khoán đã niêm yết. Thông thường là
những
chứng khoán của các công ty quốc gia ( công ty quốc gia là một công ty mà
chứng khoán của nó do nhiều nhà đầu tư trên cả nước sở hữu ). Tuy nhiên
trên thị trường
chứng
khoán phi tập
trung
các
chứng
khoán được
giao
dịch
bao gồm cả chứng khoán của các công ty quốc gia lẫn công ty địa phương

( công ty địa phương là một công ty mà chứng khoán của nó do các cư dân
12
của
một
tỉnh,
thành phố
nhất
định sở hữu ) cụ
thể
bao gồm các
loại
chứng
khoán sau:
- Cổ phiếu của các công ty cổ phần.
- Các trái phiếu của chính phủ và của chính quyền địa phương.
- Các trái phiếu công ty.
- Cổ phiếu của các quỹ tương hợ.
- Chứng khoán của các công ty nước ngoài.
Nhìn
chung,
tất cả các
loại
chứng
khoán mới phát hành đều được
giao
dịch
trên thị trường
chứng
khoán phi tập
trung.

Sau đó Ì số
chứng
khoán này
được niêm yết giao dịch trên các sở giao dịch chứng khoán. Như vậy nhiều
chứng
khoán không được niêm yết trên sở
giao
dịch
chứng
khoán chúng
tiếp
tục được
giao
dịch
trên thị trường
chứng
khoán phi tập
trung.
in. CẮC CHỦ THỂ THAM GIA THI TRƯỜNG
CHỨNG KHOẢN PHI TÁP TRUNG :
Ị. Các công ty chứng khoán :
Thành viên của thị trường
chứng
khoán phi tập
trung
là các công ty
chứng khoán không phải là thành viên của sở giao dịch chứng khoán.
Bất kỳ công ty chứng khoán nào dù là doanh nghiệp cá thể, công ty
hợp doanh, công ty trách nhiệm hữu hạn hay công ty cổ phần đều có thể kinh
13

doanh
trên
thị
trường
chứng
khoán
phi tập
trung.
Tuy nhiên vẫn đòi
hỏi
một
số điều kiện nhất định đó là:
- Phải đăng ký và được sự chấp thuận của Hội đồng chứng khoán quốc
gia.
- Các nhà môi
giới,
giao
dịch
của các công ty
chứng
khoán
phải
đáp
ứng các tiêu chuỳn về đào tạo chuyên môn và kinh nghiệm, thường họ phải
trải
qua một kỳ
kiểm
tra
viết
và sát

hạch.
Thành viên của thị trường
chứng
khoán phi tập
trung
tự mua bán
chứng
khoán cho chính mình bằng nguồn vốn của mình. Tuy nhiên, họ vẫn thực
hiện
các
giao
dịch chứng
khoán với tư cách là
người
môi
giới
hưởng hoa
hồng.
Các
loại
công ty
chứng
khoán trên thị trường
chứng
khoán phi tập
trung
thường bao gồm :
a. Công ty đầu tư ngân hàng ị the investment Bankỉng Fỉrm )
Công ty đầu tư ngân hàng chuyên bán các
loại

chứng
khoán mới phát
hành. Do vậy, công ty này còn được gọi là "Nhà bảo lãnh phát hành" ( The
undervvriter).
Khi một nhà bảo lãnh phát hành bán các chứng khoán, nó hoạt động
như một nhà giao dịch. Nghĩa là, công ty mua chứng khoán từ công ty phát
hành cho bản thân mình. Sau đó, công ty tìm cách bán lại các chứng khoán
này với giá cao hơn. Khoảng chênh lệch giữa giá chứng khoán mà công ty
mua và bán gọi là lợi nhuận.
14
b.
Công
ty trái phiêu (
Bond
house
)
Công ty trái phiếu là công ty mua bán các trái phiếu của chính phủ và
chính quyền địa phương. Có một số công ty trái phiếu hoặc chỉ mua bán các
trái phiếu của chính phủ hoặc chỉ mua bán các trái phiếu của chính quyền địa
phương. Tuy
nhiên,
cũng
có một số công ty trái
phiếu
lại mua bán cả 2
loại
trái phiếu của chính phủ lẫn chính quyền địa phương.
c. Công ty chứng khoán phi tập trung (Over the counter securities
house)
Công ty

chứng
khoán phi tập
trung
tương tự công ty môi
giới
hoạt
động
trên cơ sở
giao
dịch
chứng
khoán.
Công ty
chứng
khoán phi tập
trung
còn có
một tên gọi khác nữa là "Công ty
giao
dịch
- môi
giới"
(
Broker
-
Dealers
).
Công ty
chứng
khoán phi tập

trung
mua bán các
loại
chứng
khoán trên
thị
trưệng
phi tập
trung
cho các khách hàng của
mình.
Thông
thưệng
loại
công ty này không mua bán các trái phiếu của chính phủ và của chính quyền
địa phương. Họ để cho các công ty trái
phiếu
chuyên mua bán các
loại
chứng
khoán này. Các công ty
chứng
khoán phi tập
trung
lớn
cũng
có thể
hoạt
động
như một nhà bảo lãnh phát hành đối với các chứng khoán mới phát hành.

Nhưng hầu như họ chỉ đóng vai trò như những nhà giao dịch khi bán các
chứng khoán này và sau đó mua bán lại các chứng khoán đó.
ả. Nhà môi giới trung gian (Dealer's broker - Broker's broker):
Đây là một
loại
công ty môi
giới
đặc
biệt,
mà các khách hàng của nó
thưệng
là các nhà
giao
dịch
và môi
giới
trên thị
trưệng
phi tập
trung.
Công ty
15
môi
giới
trung
gian ( Dealer's broker hay Broker\s broker
),
với
mạng
lưới

thông tin rộng lớn của mình, nó có thể cung cấp cho các nhà giao dịch và môi
giới
trên
thị
trường
phi tập
trung
cùng
với
khách hàng
của họ một bức
tranh
toàn cảnh thị trường và câu trả lời về sự lựa chọn tốt nhất đối với công ty và
khách hàng.
Chẳng hạn : Một bàn mua bán trái phiếu địa phương của một công ty
chứng
khoán
phi tập
trung
không

loại
trái
phiếu của
bang
Oklahoma,
bởi
vì công ty không có chi nhánh ở bang Oklahoma và các khách hàng của họ
thuờng không quan tâm đến các chứng khoán của bang này. Tuy nhiên, để
đáp ứng nhu cổu mua bán bất thường chứng khoán của bang Oklahoma, nhà

giao
dịch
môi
giới
của
công
ty
chứng
khoán
phi tập
trung
có thể yêu cổu một
công
ty
khác
duy trì thị
trường
của
loại
chứng
khoán
này
hoặc
nhờ đến một
nhà môi giới trung gian.
2. Hỉẽp hôi các nhà giao đích chứng khoán quốc gia
(
National
Association
of Securitỉes Dealer -

NASD
ì:
Đây là một tổ chức của các công ty chứng khoán. Tổ chức này được
thành
lập theo
luật
chứng
khoán,

đăng
ký với Hội
đồng
chứng
khoán
quốc
gia. Mục đích của hiệp hội là ban hành, quản lý và củng cố các quy tắc thực
hiện
các giao
dịch
chứng
khoán trên
thị
trường
chứng
khoán
phi tập
trung.
Bất kỳ Ì công ty chứng khoán nào đã đăng ký tại Hội đồng chứng
khoán quốc gia đều có thể trở thành thành viên của hiệp hội. Tuy nhiên cũng
loại

trừ các đối
tượng
sau :
16
- Những nhà môi
giới

giao
dịch chứng
khoán bị đình
chỉ hoặc
bị
khai
trừ từ Hiệp hội hoặc từ Sở giao dịch chứng khoán.
- Những nhà môi
giới

giao
dịch chứng
khoán bị ngăn
chặn
hay bị
đình chỉ từ Ì bộ phận các thành viên của Hiệp hội hay sở giao dịch chứng
khoán.
- Những nhà môi
giới

giao
dịch chứng
khoán bị Tòa án cấm

tham
gia các công
việc
tư vấn đầu tư, bảo lãnh phát hành
chứng
khoán, môi
giới,
kinh doanh chứng khoán.
- Những cá nhân mua và bán chứng khoán cho chính mình bằng tải
khoản
của hể nhưng không mang tính
kinh
doanh
chuyên
nghiệp
thì sẽ không
được coi là nhà kinh doanh chứng khoán va' không có khả năng là thành viên
của Hiệp hội.
Một công ty chứng khoán vẫn có thể hoạt động trên thị trường chứng
khoán phi tập
trung
mà không
nhất
thiết
phải
là thành viên của
Hiệp
hội.
Trong
những

trường hợp này công ty sẽ
chịu
sự giám sát
trực
tiếp
của Hội
đồng chứng khoán quốc gia.
Để trở thành thành viên của Hiệp hội, công ty chứng khoán phải điền
và gửi những mẫu đơn nhất định cho Hiệp hội, cùng với một khoản lệ phí
đăng ký nhất định.
Các thành viên của
hiệp
hội mới được phép
tiến
hành
giao
dịch
với
những thành viên khác trên cơ sở Ưu tiên liên quan đến tất cả các lãnh vực
•• ri c
ịh
i>
j
- •
/CHU
<nc<í".
khoán mới phát hành được bảo lãnh
bởi
các thành viên của
Hiệp hội


phân
phối
các cổ
phiếu
của công
ty
đầu tư được bảo
trợ
từ
các thành viên của
Hiệp
hội.
Hiệp hội

quyền
giám sát
hoạt
động của các thành
viên.
Hiệp hội

thể
khiển
trách,
phạt
tiền
hoặc
đình
chỉ

các thành viên
vi
phạm các quy định
của Hiệp
hội.
Một công
ty
thành viên bị đình chỉ sẽ không được phép
hoạt
động
trên
thị
trưấng
chứng
khoán
phi tập
trung trong
một
thấi
gian
nhất
định.
Một
hình
thức
khác

Hiệp hội

thể phạt

một công
ty
thành viên
vi
phạm các quy định của
Hiệp hội
là hủy bỏ
quyền
là thành
viên.
Điều
này nếu
được
thực
hiện
sẽ không cho phép công
ty hoạt
động trên
thị
trưấng
chứng
khoán
phi tập
trung.
Một
công ty thành viên nếu bị đình chỉ
hoặc
bị tước
quyền


thành
viên

thể
yêu cầu Hội đồng
chứng
khoán
quốc
gia
xem
xét
lại
quyết
định
của Hiệp
hội.
IV.
PHƯƠNG
THỨC HOẠT
ĐỐNG
CỦA THI
TRƯỜNG
CHỨNG KHOẢN
PHI TÁP
TRUNG :
Ị. Yết giá trẽn thi trường chứng khoán phỉ táp trung
Giá
yết
của
ngưấi

tạo thị
trưấng cho một
loại
chứng
khoán
gồm

giá
đặt
mua
(bid)

giá chào bán
(offer),
giá
đặt
mua
là giá cao
nhất

ngưấi
tạo
thị
trưấng sẩn sàng
trả
cho một
loại
chứng
khoán
nhất

định.
Giá chào
bán
18
là giá
thấp
nhất
một
người
tạo thị
trường sẽ bán một
loại
chứng
khoán nhát
định.
Tùy
theo
độ chuyên sâu của thị trường và sự hấp dẫn của
loại
chứng
khoán nhất định mà giá yết có thể là:
- Giá yết
chắc
chắn
(
firm
): có
nghĩa
là nhà
giao

dịch
sẵn sàng
giao
dịch tới khối lượng chào bán và đặt mua. Chảng hạn: Đối với giá yết chắc
chắn 60 1/4 - 60 1/2 ; 7 X 4, trường hợp này, nhà giao dịch này sẽ mua tới
700 cổ phiếu với giá 60 1/4 $ hoặc sẽ bán tới 400 cổ phiếu với giá 60 1/2 $.
Bất kỳ số cổ phiếu nào vượt quá số lượng đã tuyên bố sẽ phải thương lượng.
- Giá yết phụ
thuộc
(
subject
) : có
nghĩa

người
tạo thị trường
tiến
hành yết giá " phụ thuộc " vào sự xác nhận của đối tác giao dịch.
- Giá yết có chủ định ( work out) : là giá yết cố gắng đạt được, chỉ thực
hiện
đối với các
loại
chứng
khoán kém năng động trên thị trường phi tập
trung.
Vì là
loại
chứng
khoán kém tính năng động nên khi ra giá
loại

chứng
khoán này,
người
tạo thị trường phi tập
trung
phải
thu
thập
thông tin, tập hợp
các nhu cầu
giao
dịch
mà anh ta đã
biết
đối với
loại
chứng
khoán đó để yết
giá sao cho một giao dịch có thể được thực hiện.
Do
việc
mua bán
tiến
hành trên các cơ sở
giao
dịch
chứng
khoán được
thực
hiện

tại một địa
điểm
nhất
định,
việc
báo cáo các
giao
dịch
để niêm yết
công khai tương đối dễ dàng. Hầu như mọi chi nhánh của mỗi công ty môi
giới
đều có
nhiều
loại
màn hình
video
khác
nhau
cho
thấy
các
giao
dịch
được
thực
hiện

những
nơi khác
nhau.

Nó còn cho
biết
giá mới
nhất
giá mở
cửa
19
Điều
này chỉ
tồn
tại
trên các cơ sở
giao
dịch chứng
khoán không có trên
thị
trường
chứng
khoán phi tập
trung,
bởi lẽ các mua bán trên thị trường này
được
thực
hiện
giữa
các công ty qua
mạng
lưới
điện
thoại.

Trên thị trường
chứng
khoán phi tập
trung
giá niêm yết được thể
hiện
trên "hệ thống màn hình yết giá tự động cấa Hiệp hội các nhà giao dịch
chứng
khoán
quốc
gia"
(National
Association
of
securities
Dealer's
Automated
quotation
-
NASDAQ).
Hệ
thống
này
hiện
lên giá chào bán và
giá đặt mua cấa các
loại
chứng
khoán. Có 3 mức
dịch

vụ
NASDAQ
đó là:
- Mức thứ nhất: là yết giá đại diện (Representative quote), bao gồm
giá đặt mua cao
nhất
và giá chào bán
thấp
nhất
tại một
thời
điểm
nhất
định.
Nó tính đến tất cả các giá yết hiện có cấa các nhà tạo thị trường và thể hiện
trên màn hình để công chúng áp dụng.
- Mức thứ hai, được những nhà mua bán tại các bàn giao dịch phi tập
trung
cấa
nhiều
công ty sử
dụng.

hiện
lên tất cả các nhà tạo thị trường
cùng với các giá yết tương ứng cấa họ. số
liệu
này thông báo cho các nhà
mua bán
biết

được ai là
những
người
tạo thị trường và giá yết cấa họ là bao
nhiêu.
- Mức thứ ba, chỉ được các nhà tạo thị trường sử dụng. Mức này cho
phép các nhà tạo thị trường điều chỉnh các giá yết.
Thông qua
NASDAQ,
công chúng được thông báo giá thị trường
hiện
hành cấa các
loại
chứng
khoán trên thị trường phi tập
trung.
Mặc dù
NASDAQ
không thể đưa ra số
liệu
cấa
việc
mua bán mới
nhất,
giá mở cửa
20

×