Tải bản đầy đủ (.pdf) (9 trang)

Báo cáo " Bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người bị hại trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam " pptx

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (211.94 KB, 9 trang )



nghiªn cøu - trao ®æi
T¹p chÝ luËt häc sè 11/2011 29





Ts. Vò gia l©m *
1. Ở Việt Nam hiện nay, về lí luận,
người bị hại trong tố tụng hình sự là cá nhân
hay có thể vừa là cá nhân vừa là cơ quan, tổ
chức vẫn còn là vấn đề đang được tranh luận
giữa các nhà nghiên cứu pháp luật và những
người áp dụng pháp luật. Trong giới nghiên
cứu luật học vẫn còn tồn tại hai quan điểm
khác nhau về người bị hại:
Quan điểm thứ nhất, người bị hại chỉ có
thể là cá nhân, tức chỉ có thể là con người cụ
thể, giống như khái niệm chủ thể của tội
phạm trong luật hình sự hay khái niệm bị
can, bị cáo trong luật tố tụng hình sự. Ví dụ:
quan điểm khoa học của Trường Đại học
Luật Hà Nội cho rằng: “Luật tố tụng hình sự
nước ta chỉ coi người bị hại là công dân,
pháp nhân hay tổ chức xã hội không được
coi là người bị hại. Thể chất, tinh thần, tài
sản của họ phải là đối tượng của tội phạm.
Thiệt hại mà người bị hại phải chịu phải là
thiệt hại thực tế, nếu thể chất, tinh thần, tài


sản của một người chưa bị thiệt hại do tội
phạm gây ra thì người đó không được coi là
người bị hại”.
(1)
Quan điểm này dựa trên
quy định của pháp luật thực định, mang tính
truyền thống, là quan điểm được thừa nhận
rộng rãi từ trước tới nay.
Quan điểm thứ hai, ngoài cá nhân, người
bị hại còn có thể là pháp nhân, cơ quan, tổ
chức. “Người bị hại là cá nhân, cơ quan, tổ
chức bị thiệt hại về thể chất, tinh thần, tài sản
do tội phạm gây ra”.
(2)
Tuy nhiên, những người
có quan điểm như vậy hiện nay không nhiều.
Chúng tôi đồng tình với quan điểm thứ
nhất và cho rằng pháp luật hiện hành xác
định người bị hại chỉ có thể là cá nhân là
hoàn toàn hợp lí, vì các lí do sau:
Thứ nhất, từ “người” mà nhà làm luật sử
dụng ở đây dùng để chỉ con người cụ thể với
tư cách là một thực thể tự nhiên và một thực
thể xã hội. Thiệt hại mà tội phạm gây ra cho
họ có thể là thiệt hại về thể chất, tinh thần,
tài sản, trong đó thể chất là yếu tố không thể
tách rời cá nhân. Vì vậy, không thể đánh
đồng “người” với tư cách này với các đối
tượng khác không được gọi là “người”, đó là
các cơ quan, tổ chức.

Thứ hai, thiệt hại mà tội phạm gây ra cho
cơ quan, tổ chức chỉ có thể là thiệt hại về vật
chất, tinh thần vì thể chất là cái vốn gắn liền
với con người cụ thể. Việc thay đổi tư cách
tham gia tố tụng của họ từ tư cách nguyên
đơn dân sự có yêu cầu bồi thường thiệt hại
sang tư cách người bị hại liệu có chính xác
khi chúng ta sử dụng chữ “người” để chỉ các
đối tượng khác không phải là cá nhân, “con
người” theo đúng nghĩa của từ đó. Nếu làm
như vậy liệu có giúp đảm bảo tốt hơn quyền
lợi của các cơ quan, tổ chức này hay không?
Theo chúng tôi, trong trường hợp bị thiệt hại
* Giảng viên chính Khoa pháp luật hình sự
Trường Đại học Luật Hà Nội


nghiªn cøu - trao ®æi
30 T¹p chÝ luËt häc sè 11/2011
do tội phạm gây ra, việc nguyên đơn dân sự
hoặc người bị hại có bảo vệ được quyền và
lợi ích hợp pháp của mình hay không, phụ
thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau như: họ có
được tạo điều kiện để thực hiện các quyền tố
tụng của mình hay không, việc áp dụng pháp
luật để giải quyết những vấn đề liên quan
đến quyền và lợi ích hợp pháp của họ có
đúng đắn, khách quan không, phán quyết của
toà án liên quan đến quyền lợi của họ có
được thi hành nghiêm chỉnh, kịp thời

không…? chứ không phải chỉ phụ thuộc vào
tư cách tham gia tố tụng của họ. Vì vậy, việc
cho rằng nên coi các cơ quan, tổ chức bị
thiệt hại trực tiếp về tài sản hoặc tinh thần là
người bị hại trong vụ án hình sự thực sự
không chính xác và cần thiết.
Thứ ba, trên phương diện khái niệm
pháp lí tố tụng thì hiện nay, “người bị hại” là
khái niệm đã được ghi nhận tương đối thống
nhất trong nhiều văn bản khác nhau. Cụ thể,
trong Từ điển tiếng Việt, người bị hại được
xác định là: “Người bị thiệt hại về thể chất,
vật chất hoặc tinh thần do tội phạm gây
ra”;
(3)
trong Từ điển giải thích thuật ngữ luật
học pháp lí, người bị hại được xác định là
“Người bị thiệt hại về thể chất, về tinh thần
hoặc về tài sản do tội phạm gây ra. Người bị
hại chỉ có thể là thể nhân bị người phạm tội
làm thiệt hại về thể chất, về tinh thần hoặc
về tài sản chứ không thể là pháp nhân”.
(4)

Thứ tư, trên phương diện pháp luật thực
định, Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS) của
nước ta quy định về khái niệm người bị hại
tại khoản 1 Điều 51 như sau: “Người bị hại
là người bị thiệt hại về thể chất, tinh thần,
tài sản do hành vi phạm tội gây ra”.

Như vậy, cả trên phương diện pháp lí tố
tụng và phương diện luật thực định hiện nay,
“người bị hại” được hiểu thống nhất là khái
niệm dùng để chỉ con người cụ thể, cá nhân
bị tội phạm gây thiệt hại trực tiếp về thể
chất, tinh thần hoặc tài sản chứ không thể là
pháp nhân hay cơ quan, tổ chức.
2. Quyền của người bị hại, người đại
diện hợp pháp của họ được quy định tại
khoản 2 Điều 51 BLTTHS đã tương đối cụ
thể và phù hợp với mục đích tham gia tố tụng
của họ. Tuy nhiên, vẫn có vấn đề cần xác
định rõ là trong trường hợp nào thì có người
đại diện hợp pháp của người bị hại tham gia
tố tụng. Người đại diện hợp pháp của người
bị hại trong tố tụng hình sự là đại diện theo
pháp luật, người này xuất hiện trong ba
trường hợp cụ thể khi: người bị hại là người
chưa thành niên; người bị hại là người có
nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất; người
bị hại trong vụ án chết. Trong các trường hợp
này, việc tham gia tố tụng của người đại diện
hợp pháp của người bị hại là bắt buộc, họ có
các quyền giống quyền của người bị hại, các
quyền này được thực hiện độc lập, phù hợp
mục đích tham gia tố tụng của họ là nhằm bảo
vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của người bị
hại. Tuy nhiên, nếu quy định như tiêu đề của
khoản 2 Điều 51 BLTTHS “người bị hại hoặc
người đại diện hợp pháp của họ có quyền…”

nếu xét về ngữ nghĩa, lại phải hiểu là trong
trường hợp vụ án có sự tham gia của người
đại diện hợp pháp của người bị hại thì chỉ một
trong hai người (người này hoặc người kia
chứ không phải cả hai) có các quyền quy định
tại khoản 2 điều này. Như vậy là chưa hợp lí,
vì mặc dù việc tham gia tố tụng của những
người này đều có chung mục đích bảo vệ
quyền lợi của người bị hại nhưng các tư cách


nghiên cứu - trao đổi
Tạp chí luật học số 11/2011 31
t tng ú li cú tớnh c lp tng i. Do
i tng c bo v cú nhng hn ch nht
nh v kh nng c lp trong vic thc hin
cỏc hnh vi t tng bo v quyn v li ớch
hp phỏp ca mỡnh nờn cn phi cú ngi i
din hp phỏp. Tuy nhiờn, cho dự cú ngi
i din hp phỏp thỡ ngi b hi vn cú
quyn c lp ca mỡnh vi t cỏch t tng
ó c phỏp lut xỏc nh. Vỡ vy, cn thay
t hoc bng cỏch thờm t v hay du
phy vo sau cm t ngi b hi trong
quy nh ti tiờu ca khon 2 iu 51
BLTTHS mi chớnh xỏc.
BLTTHS quy nh trng hp v ỏn
khi t theo yờu cu ca ngi b hi hoc
ngi i din hp phỏp ca ngi b hi l
ngi cha thnh niờn hoc ngi cú nhc

im v tõm thn, th cht, ngi b hi hoc
ngi i din hp phỏp ca h cú quyn
buc ti b cỏo ti phiờn to, quy nh ny l
hp lớ, giỳp ngi b hi v ngi i din
hp phỏp ca h trc tip bo v quan im
buc ti nờu trong yờu cu khi t ca mỡnh.
Vỡ vy, ti phiờn to xột x, h cn phi cú
mt v v trớ ca h nờn c t tng
ng vi v trớ ca kim sỏt viờn thc hnh
quyn cụng t ti phiờn to, vỡ quyn buc
ti b cỏo bo v quan im trong yờu cu
khi t ca mỡnh cng ging nh quyn ca
kim sỏt viờn lun ti bo v cỏo trng
vy. Do ú, cn quy nh s cú mt ca h
ti phiờn to l bt buc v to ỏn phi hoón
phiờn to nu ngi b hi, i din hp
phỏp ca ngi ny vng mt cú lớ do chớnh
ỏng. Tuy nhiờn, to ỏn cú th xột x nu h
vng mt khụng cú lớ do chớnh ỏng hoc h
yờu cu xột x vng mt. Nờn quy nh ti
phiờn to xột x, ngi b hi hoc ngi i
din hp phỏp ca h cú quyn buc ti b
cỏo ngay sau lun ti ca kim sỏt viờn. Do
ú, m bo quyn li ca ngi b hi,
cn b sung khon 2 iu 191 BLTTHS
theo hng i vi v ỏn khi t theo yờu
cu, nu ngi b hi, i din hp phỏp ca
ngi b hi vng mt cú lớ do chớnh ỏng thỡ
to ỏn phi hoón phiờn to. To ỏn ch xột x
vng mt ca h trong trng hp h c tỡnh

khụng n theo giy triu tp hoc ó yờu
cu to ỏn xột x vng mt.
Thc t hin nay cú trng hp phm ti
ớt nghiờm trng, gõy hu qu khụng ln khi
xy ra thng ớt khi khi t, iu tra vỡ nhiu
v ngi b hi, ngi i din hp phỏp ca
ngi b hi khụng mun gii quyt cụng
khai v vic ny bng th tc t tng vỡ s
nh hng n uy tớn, danh d, nhõn phm
ca mỡnh hoc vỡ gia ngi b hi v ngi
gõy thit hi cú mi quan h c bit nh
quan h huyt thng, quan h hụn nhõn v
gia ỡnh, quan h cụng tỏc, hoc tn kộm
thi gian v chi phớ hay trong nhiu trng
hp ngũi b hi ch quan tõm n vic bi
thng v dõn s v.v Vớ d: cỏc hnh vi cu
thnh ti phm quy nh ti khon 1 cỏc iu
nh iu 107 B lut hỡnh s (BLHS) ti
gõy thng tớch hoc gõy tn hi cho sc
kho ca ngi khỏc trong khi thi hnh cụng
v; iu 110 BLHS ti hnh h ngi khỏc;
iu 142 BLHS ti s dng trỏi phộp ti sn;
iu 145 BLHS ti vụ ý gõy thit hi
nghiờm trng ti sn; iu 202 BLHS ti vi
phm quy nh v iu khin phng tin
giao thụng ng b trong trng hp khụng
gõy thit hi n tớnh mng hoc thit hi
nghiờm trng n sc kho ngi khỏc. i
vi cỏc trng hp ny, cng nờn quy nh



nghiªn cøu - trao ®æi
32 T¹p chÝ luËt häc sè 11/2011
chỉ khởi tố vụ án khi người bị hại hoặc đại
diện hợp pháp của người này yêu cầu. Vì
những lí do trên, chúng tôi kiến nghị, sửa
đổi, bổ sung khoản 1 Điều 105 BLTTHS theo
hướng mở rộng phạm vi các tội phạm khởi
tố theo yêu cầu của người bị hại, nhất là đối
với một số tội phạm xâm phạm sở hữu, xâm
phạm sức khoẻ của công dân đã nêu trên…
Về phạm vi quyền kháng cáo bản án,
quyết định sơ thẩm và hiệu lực của kháng cáo
của người bị hại, người đại diện hợp pháp của
họ, hiện nay còn có sự chưa thống nhất trong
các quy định của BLTTHS. Khoản 4 Điều 51
BLTTHS quy định: “Người bị hại, người đại
diện hợp pháp của họ có quyền kháng cáo
bản án, quyết định của toà án về phần bồi
thường cũng như về hình phạt đối với bị
cáo”. Quy định này được hiểu là người bị hại,
người đại diện hợp pháp của họ chỉ được
kháng cáo phần bồi thường về dân sự và về
hình phạt mà toà án đã áp dụng bao gồm loại
hình phạt, mức hình phạt mà không được
kháng cáo yêu cầu đổi tội danh khác hoặc
kháng cáo về việc toà án cho bị cáo hưởng án
treo, áp dụng biện pháp tư pháp v.v Tuy
nhiên, nếu theo quy định tại đoạn 1 Điều 231
BLTTHS “… người bị hại, người đại diện

hợp pháp của họ có quyền kháng cáo bản án,
quyết định của toà án” thì phải hiểu là người
bị hại, người đại diện hợp pháp của họ có
quyền kháng cáo toàn bộ bản án, quyết định
sơ thẩm. Rõ ràng, Điều 231 đã mở rộng phạm
vi kháng cáo của người bị hại, người đại diện
hợp pháp của họ so với quy định tại khoản 2
Điều 51 nói trên. Như vậy, đã có mâu thuẫn
giữa hai điều luật này khi quy định về cùng
vấn đề cụ thể. Trong khi đó, Điều 249
BLTTHS quy định quyền sửa bản án của toà
án cấp phúc thẩm không chỉ trong phạm vi
hình phạt và bồi thường mà còn mở rộng ra
các vấn đề khác ngoài phạm vi mà người bị
hại, người đại diện hợp pháp của họ được
kháng cáo như tội danh, khung hình phạt,
việc áp dụng án treo… mặc dù xét trên
phương diện bảo đảm quyền lợi của người bị
hại là phù hợp với quy định của Điều 231
BLTTHS nhưng lại mâu thuẫn với quy định
tại Điều 51 Bộ luật này. Do không thống nhất
về căn cứ pháp lí như vậy nên điều đó nếu đối
chiếu quy định tại Điều 51 Bộ luật này thì
quy định tại Điều 249 nói trên làm ảnh hưởng
đến sự ổn định của các phần của bản án sơ
thẩm đã có hiệu lực pháp luật vì pháp luật
không cho kháng cáo.
Vì vậy, chúng tôi cho rằng cần sửa đổi,
bổ sung quy định tại Điều 51 BLTTHS về
phạm vi quyền kháng cáo của người bị hại,

người đại diện hợp pháp của họ (nếu có) đối
với mọi vấn đề có liên quan đến quyền và lợi
ích hợp pháp của người bị hại cho thống nhất
với các quy định khác có liên quan như quy
định tại Điều 231 BLTTHS về những người
có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm, phù hợp
với quy định về quyền sửa, huỷ bản án sơ
thẩm của toà án cấp phúc thẩm không chỉ tại
Điều 249 BLTTHS mà còn phù hợp với quy
định về quyền huỷ bản án sơ thẩm quy định
tại Điều 250, 251 Bộ luật này. Có thể sửa
đổi, bổ sung khoản 4 Điều 51 BLTTHS theo
hướng quy định cụ thể cho người bị hại,
người đại diện hợp pháp của họ có quyền
kháng cáo toàn bộ bản án, quyết định của toà
án nếu xét thấy quyết định của toà án cấp sơ
thẩm chưa chính xác, ảnh hưởng đến quyền
và lợi ích hợp pháp của mình hoặc của người
mà mình đại diện.


nghiªn cøu - trao ®æi
T¹p chÝ luËt häc sè 11/2011 33
3. Về nghĩa vụ của người bị hại, khoản 4
Điều 51 BLTTHS quy định như sau: Người
bị hại phải có mặt theo giấy triệu tập của cơ
quan điều tra, viện kiểm sát, toà án; nếu từ
chối khai báo mà không có lí do chính đáng
thì có thể phải chịu trách nhiệm hình sự theo
Điều 308 BLHS.

Chúng tôi cho rằng BLTTHS không quy
định người bị hại có nghĩa vụ khai báo
nhưng lại quy định người bị hại có thể phải
chịu trách nhiệm hình sự về việc từ chối khai
báo không có lí do chính đáng là chưa hợp lí,
vì những lí do sau:
Thứ nhất, theo lẽ thông thường thì chỉ
khi một người đã được xác định phải làm (có
nghĩa vụ làm) việc gì đó mà không làm hoặc
làm không đúng theo quy định, dẫn đến hậu
quả xấu thì họ mới phải chịu chế tài vì đã vi
phạm nghĩa vụ. Chẳng hạn, Điều 55 BLTTHS
quy định người làm chứng có nghĩa vụ khai
báo trung thực những gì mà mình biết về vụ
án và trước khi lấy lời khai trong giai đoạn
điều tra hoặc khi xét hỏi người này tại phiên
toà, các cơ quan có thẩm quyền đã giải thích
cho họ biết về nghĩa vụ này. Vì vậy, nếu người
làm chứng cố tình khai báo gian dối, họ mới
phải chịu trách nhiệm hình sự. Khoản 3 Điều
50 BLTTHS quy định: “Bị cáo phải có mặt
theo giấy triệu tập của toà án; trong trường
hợp vắng mặt không có lí do chính đáng thì
có thể bị áp giải; nếu bỏ trốn thì bị truy nã”.
Theo quy định này, vì bị cáo có nghĩa vụ có
mặt khi được toà án triệu tập nên bị cáo vắng
mặt không có lí do chính đáng mới phải chịu
trách nhiệm về việc không thực hiện nghĩa vụ
này. Tuy nhiên, đối với người bị hại thì lại
chưa có quy định về nghĩa vụ phải khai báo

mà việc khai báo được quy định là quyền của
họ. Nếu chúng ta cho rằng việc khoản 4 Điều
51 quy định người bị hại phải có mặt theo
giấy triệu tập của cơ quan điều tra, viện kiểm
sát, toà án đồng nghĩa với việc họ có nghĩa vụ
khai báo thì rõ ràng là không có cơ sở. Bởi vì,
việc phải có mặt theo giấy triệu tập không thể
đồng thời bao hàm nghĩa vụ phải khai báo.
Cho nên, nếu buộc người bị hại phải chịu
trách nhiệm hình sự về hành vi từ chối khai
báo khi không có quy định nghĩa vụ khai báo
của họ là không có căn cứ pháp lí.
Thứ hai, cũng theo lẽ tự nhiên, người bị
hại là người bị thiệt hại bởi hành vi phạm tội
gây ra nên họ luôn mong muốn người gây
thiệt hại phải bị trừng trị, thiệt hại của họ phải
nhanh chóng được khắc phục và bồi thường
nên họ thường tích cực cộng tác với cơ quan
tiến hành tố tụng trong việc khai báo. Tuy
nhiên, thực tế cho thấy có trường hợp người
bị hại lại thiếu hợp tác trong việc khai báo,
thậm chí tìm cách trốn tránh để không phải
đến cơ quan điều tra hoặc đến phiên toà để
khai báo và việc này cũng ít nhiều gây ra
những khó khăn cho việc giải quyết vụ án.
Mặc dù vậy, cũng khó có thể bắt họ phải chịu
hình thức trách nhiệm pháp lí nghiêm khắc
(trách nhiệm hình sự) như quy định hiện nay
được. Bởi vì, xét cho cùng nếu họ từ chối
khai báo trong bất cứ trường hợp nào cũng

chính là việc họ đã mất đi cơ hội để có thể
trực tiếp bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp
của bản thân mình hoặc người mà mình đại
diện. Ngay cả bị cáo là người đã thực hiện
hành vi phạm tội bị đưa ra toà để xét xử, luật
cũng không quy định trách nhiệm phải khai
báo và khai báo trung thực mà chỉ khuyến
khích, động viên bị cáo khai báo thành khẩn
bằng việc quy định một tình tiết giảm nhẹ tại


nghiên cứu - trao đổi
34 Tạp chí luật học số 11/2011
im d khon 1 iu 46 BLHS ỏp dng
cho trng hp ny.
(5)
Nu b cỏo khụng chu
khai bỏo hoc khai bỏo gian di thỡ hu qu
ca nú cng khin cho vic gii quyt v ỏn
gp khú khn ging nh trng hp ngi b
hi t chi vic khai bỏo vy. Tuy nhiờn,
trong trng hp ny BLTTHS cng khụng
quy nh cho b cỏo phi chu bt kỡ hỡnh thc
trỏch nhim phỏp lớ no.
Th ba, lớ do khin ngi b hi, ngi
i din hp phỏp ca ngi b hi t chi
khai bỏo hoc khụng cú mt khi c triu
tp cú th nm ngoi ý mun ch quan ca
h. Chng hn, cú v ỏn b can, b cỏo nhn
thc c hu qu phỏp lớ xu m mỡnh cú

th phi chu nu b phỏt hin, x lớ nờn ó e
do, cng ộp ngi b hi khụng c t giỏc
ti phm, khụng khai bỏo vi c quan tin
hnh t tng. Thm chớ, cú trng hp ngi
b hi ó lm n yờu cu khi t nhng sau
ú do b e do, hnh hung ó phi n c
quan tin hnh t tng rỳt yờu cu khi t
ca mỡnh. Cú trng hp sau khi khai bỏo cỏc
tỡnh tit giỳp chng minh hnh vi phm ti ca
b can, do b e do nhiu ln v vỡ quỏ lo s
cho tớnh mng ca mỡnh hoc ca ngi thõn
nờn ngi b hi ó thay i li khai theo
hng cú li cho ngi phm ti Trong tt
c cỏc tỡnh hung nờu trờn, vic ngi b hi,
ngi i din hp phỏp ca ngi b hi t
chi, trn trỏnh khai bỏo hoc khụng cú mt
khi c triu tp cú th c xem l s la
chn bt c d. Trong trng hp ny cú th
coi nh h ó phi hi sinh li ớch trc mt cú
th l khụng ln bo v li ớch m h cho
l ln v l li ớch lõu di hn.
Th t, kho sỏt thc tin thi hnh BLHS
trong nhiu nm qua, chỳng tụi cha thy
mt ghi nhn no v vic truy cu trỏch
nhim hỡnh s i vi ngi b hi v hnh
vi t chi khai bỏo. Mt khỏc, i vi hnh
vi ny, vic hiu nh th no l t chi khai
bỏo cú lớ do chớnh ỏng (khụng b x lớ hỡnh
s) vi t chi khai bỏo khụng cú lớ do chớnh
ỏng (b x lớ hỡnh s) cho n nay cng

cha cú vn bn no gii thớch chớnh thc c.
Chớnh vỡ vy, quy nh ny cng tr nờn
khụng cú tớnh kh thi.
T nhng lớ do trờn, chỳng tụi kin ngh
b quy nh ti khon 4 iu 51 BLTTHS on
cú ni dung l nu t chi khai bỏo m
khụng cú lớ do chớnh ỏng cú th phi chu
trỏch nhim hỡnh s theo iu 308 BLHS.
Mt khỏc, khi nghiờn cu v a v phỏp
lớ ca ngi b hi v ngi i din hp
phỏp ca h, chỳng tụi thy BLTTHS hin
hnh quy nh quyn ca ngi i din hp
phỏp ca ngi b hi nhng khụng quy nh
ngha v cho h cng cha hp lớ. Hin phỏp
quy nh quyn ca cụng dõn bao gi cng
gn lin vi ngha v ca cụng dõn nờn v
nguyờn tc lp phỏp, nu mt ngi c
quy nh cú quyn thỡ h ng thi cng cú
ngha v tng ng. Do ú, chỳng tụi
ngh quy nh b sung ngha v ca ngi
i din hp phỏp ca ngi b hi cú c
s phỏp lớ buc h cú trỏch nhim hn trong
vic bo v cỏc quyn v li ớch hp phỏp
ca ngi b hi. Nờn quy nh s cú mt
ca h ti phiờn to l quyn v ngha v,
nu h vng mt cú lớ do chớnh ỏng thỡ phi
hoón phiờn to, nu ó c triu tp hp l
m vng mt khụng cú lớ do chớnh ỏng thỡ
to ỏn vn tin hnh xột x.
4. Nghiờn cu quy nh v quyn hn ca

to ỏn cp phỳc thm khi xột x li v ỏn m


nghiªn cøu - trao ®æi
T¹p chÝ luËt häc sè 11/2011 35
bản án sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật bị
kháng cáo, kháng nghị, chúng tôi thấy rằng
quy định về quyền sửa bản án sơ thẩm theo
hướng không có lợi cho bị cáo theo kháng
cáo của người bị hại tại BLTTHS là chưa
đảm bảo tối đa hiệu lực kháng cáo của người
bị hại, người đại diện hợp pháp của họ (nếu
có) đối với bản án, quyết định của toà án cấp
sơ thẩm. Đoạn 1 Điều 231 BLTTHS ghi rõ:
“… người bị hại, người đại diện hợp pháp
của họ có quyền kháng cáo bản án, quyết
định của toà án”. Theo đó, trong vụ án có sự
tham gia của người đại diện hợp pháp của
người bị hại, cả người bị hại và người đại
diện hợp pháp của họ đều có quyền kháng
cáo bản án, quyết định sơ thẩm với phạm vi
kháng cáo hoàn toàn độc lập, không lệ thuộc
vào ý chí của nhau. Bất kì ai kháng cáo thì
kháng cáo đó đều làm bản án, quyết định sơ
thẩm chưa có hiệu lực pháp luật và phải được
xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm. Đoạn 1 của
điều luật này cũng thống nhất với quy định tại
điểm e khoản 2 Điều 51 BLTTHS, quy định
tại điểm này cũng không hạn chế quyền
kháng cáo của người đại diện hợp pháp của

người bị hại chỉ trong phạm vi quyết định bồi
thường thiệt hại của bản án. Do đó, khi có
kháng cáo của người đại diện hợp pháp của
người bị hại, mọi yêu cầu nêu trong kháng
cáo đối với bản án, quyết định đều phải được
toà án cấp phúc thẩm xem xét, giải quyết tại
phiên toà. Tuy nhiên, theo quy định tại khoản
3 Điều 249 BLTTHS, cơ sở để toà án cấp
phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng
tăng hình phạt, áp dụng điều khoản BLHS về
tội nặng hơn chỉ là khi kháng nghị của viện
kiểm sát hoặc kháng cáo của người bị hại có
yêu cầu. Điều đó cũng đồng nghĩa với việc
nếu có kháng cáo của đại diện hợp pháp của
người bị hại theo hướng không có lợi cho bị
cáo về phần hình sự thì dù kháng cáo đó có
căn cứ, toà án cấp phúc thẩm cũng không
chấp nhận để sửa bản án sơ thẩm theo hướng
bất lợi cho bị cáo (có lợi cho người bị hại).
Như vậy, hiệu lực của kháng cáo quy định
cho những người này tại BLTTHS chưa được
đảm bảo thực hiện đầy đủ, dẫn đến tình trạng
không đảm bảo tối đa quyền lợi của người bị
hại trong vụ án. Đồng thời, biến quy định về
quyền kháng cáo của người đại diện hợp pháp
của người bị hại trở thành hình thức. Đây là
một trong các hạn chế về lập pháp cần phải
được khắc phục. Theo chúng tôi, để đảm bảo
sự thống nhất giữa các điều 51, 59, 231 và
khoản 3 Điều 249 BLTTHS, đảm bảo hiệu

lực kháng cáo của người tham gia tố tụng,
khoản 3 Điều 249 Bộ luật này cần phải bổ
sung một lí do (cơ sở) nữa để xem xét, sửa án
sơ thẩm theo hướng tăng nặng cả về phần
hình sự và dân sự, đó là: khi có kháng cáo có
căn cứ của người đại diện hợp pháp (đại diện
theo pháp luật) của người bị hại.
Phạm vi quyền kháng cáo của người bị
hại, đại diện hợp pháp của họ không chỉ giới
hạn trong việc yêu cầu tăng hình phạt, áp
dụng điều khoản BLHS về tội nặng hơn hoặc
tăng mức bồi thường thiệt hại mà còn có thể
có yêu cầu toà án cấp phúc thẩm kết tội bị cáo
được toà án cấp sơ thẩm tuyên vô tội; áp dụng
hình phạt đối với bị cáo được toà án cấp sơ
thẩm miễn trách nhiệm hình sự hoặc miễn
hình phạt; yêu cầu tăng hình phạt tù đối với bị
cáo được hưởng án treo và không cho bị cáo
hưởng án treo hoặc không yêu cầu tăng hình
phạt tù nhưng lại yêu cầu không cho bị cáo
hưởng án treo như bản án sơ thẩm đã tuyên


nghiên cứu - trao đổi
36 Tạp chí luật học số 11/2011
v.v Trong nhng trng hp ny, nu yờu
cu ca h cú cn c thỡ theo quy nh ti
khon 3 iu 249 BLTTHS hin hnh, to ỏn
cp phỳc thm cng khụng cú c s phỏp lớ
sa ỏn s thm. Nh vy, s khụng t

c mc ớch ca xột x phỳc thm l kp
thi sa cha nhng sai lm, thiu sút ca to
ỏn cp s thm. ng thi, khụng m bo
cỏc quyn v li ớch hp phỏp ca ngi tham
gia t tng núi chung v ngi b hi núi
riờng. Hin nay, v gii hn ca vic khỏng
cỏo bn ỏn hoc quyt nh s thm ca
ngi b hi, ngi i din hp phỏp ca
ngi b hi, ó c Hi ng thm phỏn
To ỏn nhõn dõn ti cao cú hng dn nh
sau: Ngi b hi, ngi i din hp
phỏp (i din theo phỏp lut) ca ngi b
hi trong trng hp ngi b hi cht hoc
trong trng hp ngi b hi l ngi cha
thnh niờn, ngi cú nhc im v tõm thn
hoc th cht cú quyn khỏng cỏo ton b
bn ỏn hoc quyt nh s thm theo hng
cú li cho b cỏo hoc theo hng lm xu
hn tỡnh trng ca b cỏo .
(6)
hin thc
hoỏ quyn khỏng cỏo ny, cn sa i, b
sung quy nh ca khon 3 iu 249 BLTTHS
theo hng quy nh quyn sa bn ỏn s
thm theo hng khụng cú li cho b cỏo c
khi cú khỏng cỏo ca ngi i din hp phỏp
ca h. Cú nh vy, vic nhn thc mi c
thng nht v nh ú cú th m bo ti a
quyn khỏng cỏo ca ngi b hi hoc ngi
i din hp phỏp (nu cú) ca h.

5. Da vo nhng phõn tớch, lớ gii v kt
lun nờu trờn chỳng tụi xut hon thin
mt s quy nh ca BLTTHS v ngi b hi
nhm m bo tt nht quyn v li ớch hp
phỏp ca h trong t tng hỡnh s nh sau:
Th nht, sa i, b sung khon 1 iu
51 v cỏc ni dung c bn sau:
- B sung tiờu chớ xỏc nh t cỏch ngi
b hi theo hng giỳp phõn bit rừ t cỏch
ngi b hi vi t cỏch nguyờn n dõn s
trỏnh vic hiu v thc hin khụng thng
nht v chớnh xỏc trong thc tin. Cỏc tiờu
chớ ú l: ch cỏ nhõn b thit hi do ti phm
gõy ra mi tham gia t tng vi t cỏch
ngi b hi phõn bit vi cỏc i tng
khỏc khụng phi l cỏ nhõn b ti phm gõy
ra thit hi; thit hi m ti phm gõy ra cho
cỏ nhõn ú phi l thit hi trc tip phõn
bit vi cỏc cỏ nhõn khỏc cng b thit hi v
vt cht do ti phm gõy ra.
- B sung vo khon 1 iu 51 BLTTHS
iu kin v hỡnh thc xỏc nh t cỏch
ca ngi b hi: ngi b hi phi l ngi
c c quan tin hnh t tng cụng nhn.
- Sa i, b sung tiờu ca khon 2
iu 51 BLTTHS theo hng trong v ỏn cú
s tham gia ca ngi b hi v ngi i
din hp phỏp ca h thỡ c hai ngi ny
u cú quyn nh nhau.
- Sa i, b sung khon 4 iu 51

BLTTHS theo hng m rng phm vi
quyn khỏng cỏo ca ngi b hi, ngi i
din hp phỏp ca ngi b hi i vi ton
b bn ỏn, quyt nh s thm.
- B on quy nh ti khon 4 iu 51
BLTTHS quy nh ngha v ca ngi b hi
cú ni dung l nu t chi khai bỏo m
khụng cú lớ do chớnh ỏng cú th phi chu
trỏch nhim hỡnh s theo iu 308 BLHS.
- B sung ngha v ca ngi i din
hp phỏp ca ngi b hi cú c s phỏp
lớ buc h cú trỏch nhim hn trong vic bo
v cỏc quyn v li ớch hp phỏp ca ngi


nghiên cứu - trao đổi
Tạp chí luật học số 11/2011 37
b hi. Cn quy nh theo hng ngi i
din hp phỏp ca ngi b hi cú ngha v
cú mt theo giy triu tp ca c quan iu
tra, vin kim sỏt, to ỏn; phi s dng mi
bin phỏp lut nh bo v quyn v li
ớch hp phỏp ca ngi b hi.
Th hai, sa i, b sung khon 1 iu
105 BLTTHS quy nh v khi t v ỏn theo
yờu cu ca ngi b hi theo hng m
rng phm vi cỏc ti phm khi t theo yờu
cu, ch yu i vi cỏc ti phm xõm phm
s hu, xõm phm sc kho, danh d, nhõn
phm ca cụng dõn (ó nờu v phõn tớch

trờn) v ti mi c b sung trong lut sa
i, b sung mt s iu ca BLHS ngy
19/6/2009 l ti xõm phm quyn tỏc gi v
cỏc quyn khỏc quy nh ti iu 170a.
ng thi a iu 131 BLHS ra khi quy
nh ca iu 105 BLTTHS vỡ iu ny ó
b lut núi trờn bói b. Ngoi ra, vi vic quy
nh quyn yờu cu khi t cho ngi i
din hp phỏp ca ngi b hi l ngi
cha thnh niờn, ngi cú nhc im v
tõm thn, th cht thỡ ni dung iu lut hin
hnh ó vt quỏ phm vi tờn iu lut xỏc
nh. Do vy, cn sa i tiờu ca iu
lut t Khi t v ỏn theo yờu cu ca
ngi b hi thnh Khi t v ỏn theo yờu
cu cho phự hp vi ni dung ca nú. Bờn
cnh ú, bo m trit quyn li ca
ngi b hi, nờn b t hoc trong on
ch c khi t khi cú yờu cu ca
ngi b hi hoc ngi i din hp phỏp
ca ngi b hi l ngi cha thnh niờn,
ngi cú ca khon 1 iu 105 v thay
vo ú bng du phy xỏc nh rng
trong trng hp ny c ngi b hi v i
din hp phỏp ca h u cú quyn yờu cu
khi t v ỏn, ch khụng phi l hoc ngi
ny hoc ngi kia nh quy nh hin hnh.
Th ba, b sung khon 1 iu 191
BLTTHS quy nh s cú mt ca ngi b
hi, nguyờn n dõn s, b n dõn s, ngi

i din hp phỏp ca h theo hng va l
quyn va l ngha v. i vi v ỏn khi t
theo yờu cu, nu ngi b hi, i din hp
phỏp ca ngi b hi vng mt cú lớ do
chớnh ỏng thỡ phi hoón phiờn to. To ỏn
ch xột x vng mt ca h trong trng hp
h c tỡnh khụng n theo giy triu tp hoc
ó yờu cu to ỏn xột x vng mt.
Th t, sa i, b sung khon 3 iu 249
BLTTHS on quy nh v quyn sa bn ỏn
s thm theo hng khụng cú li cho b cỏo,
m rng phm vi thc hin quyn sa bn ỏn
s thm theo hng khụng cú li cho b cỏo c
trong trng hp cú khỏng cỏo ca ngi i
din hp phỏp ca ngi b hi yờu cu nhm
m bo ti a quyn khỏng cỏo ca ngi b
hi, ngi i din hp phỏp hoc ngi bo
v quyn li ca ngi b hi./.

(1).Xem: Trng i hc lut H Ni, Giỏo trỡnh lut t
tng hỡnh s, Nxb. Cụng an nhõn dõn, H Ni, 2009, tr. 128.
(2).Xem: Lờ Tin Chõu,Ngi b hi trong t tng
hỡnh s, Tp chớ khoa hc phỏp lớ, s 1(38)/2007.
(3).Xem: T in ting Vit, Nxb. Nng, nm
2004, tr. 698.
(4).Xem: Trng i hc Lut H Ni, T in gii
thớch thut ng lut hc, Nxb. Cụng an nhõn dõn, H
Ni, 1999, tr. 198.
(5). im d khon 1 iu 46 BLHS quy nh tỡnh tit
gim nh trỏch nhim hỡnh s: Ngi phm ti thnh

khn khai bỏo, n nn, hi ci.
(6).Xem: Tiu mc 1.3 Phn I Ngh quyt s
05/2005/NQ-HTP ngy 8/12/2005 ca Hi ng
thm phỏn To ỏn nhõn dõn ti cao, hng dn ỏp
dng mt s quy nh ti Phn th t Xột x phỳc
thm ca BLTTHS nm 2003.

×