Tải bản đầy đủ (.doc) (76 trang)

Giải pháp nâng cao hiệu quả cho vay xuất nhập khẩu tại Ngân hàng nông nghiệp và Phát triển nông thôn thành phố Hà Nội

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (359.17 KB, 76 trang )

CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP TỐT NGHIỆP
LỜI MỞ ĐẦU
Hoạt động xuất nhập khẩu có vai trò quan trọng đối với phát triển kinh
tế song chịu tác đọng của nhiều nhân tố và có yếu tố nước ngoài nên tính chất
phức tạp hơn hoạt động nội thương. Do vậy để hoạt động này thực sự có hiệu
quả đòi hỏi các doang nghiệp phải có một tiềm lực tài chính đủ lớn. Tuy
nhiên, trong giai đoạn hiện nay điểm yếu lớn nhất của hệ thống các doanh
nghiệp Việt Nam nói chung và các doanh nghiệp xuất nhập khẩu nói riêng là
nguồn vốn tự có để kinh doanh còn rất nhỏ bé vì vậy, việc đẩy mạnh hỗ trợ tài
chính của các Ngân hàng thương mại đối với các doanh nghiệp là điều kiện
quan trọng trong việc thực hiện thành công chiến lược đẩy mạnh xuất khẩu
thay thế dần các mặt hàng nhập khẩu mà nhà nước đã đề ra. Thực tế các ngân
hàng hiện nay đã quan tâm đến hoạt động này không chỉ bởi ngân hàng luôn
sẵn sàng đầu tư vào những dự án có hiệu quả mà còn bởi ngân hàng là nơi hội
tụ những chuyên gia kinh tế có thể cung cấp nguồn thông tin hữu ích cho các
doanh nghiệp khi tham gia hoạt động kinh doanh quốc tế. Đặ biệt, tại Việt
nam hiện nay hệ thống ngân hàng thương mại vẫn là nguồn cung cấp vốn chủ
yếu cho nền kinh tế trong bối cảnh thị trường chứng khoán vẫn đang trong
quá trình hoàn thiện và phát triển.
Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn thành phố Hà Nội trực
thuộc Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam đã rất quan
tâm tới cho vay xuất nhập khẩu. Tuy vậy, ngân hàng vẫn chưa đáp ứng được
nhu cầu vay của các donah nghiệp xuất nhập khẩu và cũng chính vì sự phát
triển của ngân hàng mở rộng cho vay xuất nhập khẩu là rất cần thiết trong
thời gian tới.
Sau một thời gian thực tạp tại Ngân hàng nông nghiệp và phát triển
nông thôn thành phố Hà Nội, được tham gia các nghiệp vụ cho vay và thông
qua tìm hiểu nhu cầu vay vốn của các khách hàng lớn tại chi nhánh trong thời
gian tới, em đãlựa chọn đề tài: “Giải pháp nâng cao hiệu quả cho vay xuất
SV: TRỊNH KHẮC DƯƠNG LỚP: NGÂN HÀNG 44A1
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP TỐT NGHIỆP


nhập khẩu tại Ngân hàng nông nghiệp và Phát triển nông thôn thành phố
Hà Nội ”.
Chuyên đề ngoài lời mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo
được kết cấu thành 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề cơ bản về cho vay xuất nhập khẩu của Ngân
hàng thương mại
Chương 2: Thực trạng cho vay xuất nhập khẩu tại ngân hàng nông
nghiệp và phát triển nông thôn thành phố Hà Nội
Chương 3: Giải pháp mở rộng cho vay xuất nhập khẩu tại ngân hàng
Em xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn tận thình của Th.s Hoàng Lan
Hương. Em cũng xin chân thành sự giúp đỡ, tạo điều kiện của các cán bộ
nhân viên phòng tài chính tín dụng Ngân hàng nông nghiệp và Phát triển nông
thôn thành phố Hà Nội đã giúp em hoàn thành chuyên đề này.
SV: TRỊNH KHẮC DƯƠNG LỚP: NGÂN HÀNG 44A2
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP TỐT NGHIỆP
NỘI DUNG
CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CHO VAY XUẤT NHẬP
KHẨU CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1 HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1.1. Hoạt động cơ bản của Ngân hàng thương mại
Ngân hàng là một trung gian tài chính quan trọng trong nền kinh tế,
đóng vai trò người thủ quỹ cho toàn xã hội đồng thời là nguồn cung cấp vốn
chủ yếu cho các cá nhân, doanh nghiệp và một phần đối với nhà nước.
Ngân hàng thương mại là một tổ chức tài chính cung cấp một danh mục
các dịch vụ tài chính đa dạng nhất đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm, dịch vụ
thanh toán và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ một tổ
chức kinh doanh nào trong nền kinh tế.
Xuất phát từ lịch sử hình thành hệ thống Ngân hàng trên thế giới với
nghiệp vụ đầu tiên là mua bán ngoại tệ đến nay số lượng các dịch vụ mà Ngân
hàng cung cấp đã trở nên đa dạng, phong phú, góp phần phần quan trọng vào

quá trình lưu thông nguồn vốn trong nền kinh tế. Các dịch vụ Ngân hàng đang
có hiện nay bao gồm:
- Mua bán ngoại tệ: Đây được xem là một trong những dịch vụ đầu
tiên được thực hiện tại các Ngân hàng, ở đây ngân hàng đóng vai
trò là trung gian mua, bán các loại ngoại tệ và được hưởng phần
chênh lệch giữa giá mua vào với giá bán ra cùng một khoản phí
dịch vụ. Tuy nhiên, nghiệp vụ này thường mang tính rủi ro cao,
chịu tác động của nhiều nhân tố nên chỉ những ngân hàng lớn nhất
mới được phép cung cấp.
- Nhận tiền gửi: Với chức năng là một trung gian tài chính trong nền
kinh tế, các Ngân hàng không ngừng tăng lượng tiền cho vay và
để thoả mãn nhu cầu đó các Ngân hàng đồng thời cũng phải tìm
kiếm các nguồn tiền nhàn rỗi để thu hút, kêu gọi họ gửi vào Ngân
hàng. Nguồn tiền nhàn rỗi mà các Ngân hàng nhận được chủ yếu
SV: TRỊNH KHẮC DƯƠNG LỚP: NGÂN HÀNG 44A3
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP TỐT NGHIỆP
là các khoản tiền gửi tiết kiệm từ dân cư hoặc khoản tiền gửi thanh
toán của các tổ chức kinh tế.
- Bảo quản vật có giá: Các Ngân hàng thực hiện việc lưu trữ vàng
và các vật có giá trị khác cho khách hàng trong kho bảo quản và
nhận được các khoản phí dịch vụ đóng góp vào nguồn thu nhập
của Ngân hàng.
- Cung cấp các tài khoản giao dịch và thực hiện thanh toán: Khi các
doanh nhân gửi tiền vào Ngân hàng, họ nhận thấy Ngân hàng
không chỉ bảo quản mà còn thực hiện các lệnh chi trả cho khách
hàng của họ. Thanh toán qua Ngân hàng đã mở đường cho thanh
toán không dùng tiền mặt, tức là người gửi tiền không cần phải
đến Ngân hàng để lấy tiền mà chỉ cần viết giấy chi trả cho khách
hàng (còn gọi là séc), khách hàng mang giấy đến Ngân hàng sẽ
nhận được tiền. Các tiện ích của thanh toán không dùng tiền mặt là

an toàn, chính xác, nhanh chóng, tiết kiệm đã góp phần rút ngắn
thời gian kinh doanh và nâng cao thu nhập cho các doanh nhân.
Điều này đã khuyến khích các doanh nhân gửi tiền vào Ngân hàng
để nhờ Ngân hàng thanh toán hộ. Như vậy một dịch vụ mới, quan
trọng nhất được phát triển đó là tài khoản tiền gửi giao dịch, cho
phép người tiền viết séc thanh toán cho việc mua hàng hoá và dịch
vụ.
- Quản lý ngân quỹ: Các Ngân hàng mở tài khoản và giữ tiền của
phần lớn các doanh nghiệp và cá nhân. Nhờ đó, Ngân hàng thường
có mối liên hệ chặt chẽ với nhiều khách hàng. Do có kinh nghiệm
trong quản lý ngân quỹ và khả năng trong việc thu ngân, nhiều
Ngân hàng đã cung cấp cho khách hàng dịch vụ quản lý ngân quỹ,
trong đó Ngân hàng đồng ý quản lý việc thu và chi của công ty
kinh doanh và tiến hành đầu tư phần thặng dư tiền mặt tạm thời
SV: TRỊNH KHẮC DƯƠNG LỚP: NGÂN HÀNG 44A4
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP TỐT NGHIỆP
vào các chứng khoán sinh lợi và tín dụng ngắn hạn cho đến khi
khách hàng cần tiền mặt để thanh toán.
- Tài trợ các hoạt động của Chính phủ: do nhu cầu chi tiêu lớn và
thường là cấp bách trong khi thu không đủ, Chính phủ các nước
đều muốn tiếp cận với các khoản cho vay của Ngân hàng. Các
Ngân hàng được cấp giấy phép thành lập với điều kiện là họ phải
cam kết thực hiện với mức độ nào đó các chính sách của Chính
phủ và tài trợ cho Chính phủ. Các Ngân hàng mua trái phiếu
Chính phủ theo một tỷ lệ nhất định trên tổng lượng tiền gửi mà
Ngân hàng huy động được, hoặc phải cho vay với các điều kiện ưu
đãi cho các doanh nghiệp của Chính phủ.
- Bảo lãnh: Các Ngân hàng với uy tín và khả năng thanh toán của
mình đã giành được lòng tin của công chúng, vì vậy khi khách
hàng có nhu cầu và thoả mãn được các điều kiện Ngân hàng yêu

cầu thì sẽ được Ngân hàng thực hiện bảo lãnh cho giao dịch như
bảo lãnh phát hành chứng khoán, bảo lãnh thực hiện hợp đồng,
bảo lãnh thanh toán, bảo lãnh dự thầu, bảo lãnh vay vốn nước
ngoài...
- Cho thuê thiết bị trung, dài hạn: Trong dịch vụ này các Ngân hàng
chỉ là trung gian trong việc thoả mãn một nhu cầu sử dụng máy
móc, thiết bị của các doanh nghiệp với các nhà sản xuất các loại
thiết bị đó. Ngân hàng sẽ dùng vốn của mình mua các thiết bị và
cho thuê lại các doanh nghiệp thông qua hợp đồng thuê trung và
dài hạn. Để thực hiện hợp đồng này người thuê phải đảm bảo yêu
cầu phải trả tới hơn 2/3 giá trị tài sản cho thuê.
- Cung cấp dịch vụ uỷ thác đầu tư và tư vấn: Do hoạt động trong
lĩnh vực tài chính nên các Ngân hàng thường có nhiều chuyên gia
về quản lý tài chính. Vì vậy, nhiều cá nhân và các doanh nghiệp đã
nhờ Ngân hàng quản lý tài sản và quản lý hoạt động tài chính hộ.
SV: TRỊNH KHẮC DƯƠNG LỚP: NGÂN HÀNG 44A5
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP TỐT NGHIỆP
Dịch vụ uỷ thác phát triển sang cả uỷ thác vay hộ, uỷ thác cho vay
hộ, uỷ thác phát hành, uỷ thác đầu tư... Nhiều Ngân hàng sẵn sàng
tư vấn về đầu tư, về quản lý tài chính, về thành lập, mua bán, sáp
nhập doanh nghiệp.
- Cung cấp dịch vụ môi giới đầu tư chứng khoán: Nhiều Ngân hàng
đang phấn đấu cung cấp đầy đủ các dịch vụ tài chính cho phép
khách hàng thoả mãn mọi nhu cầu. Đây là một trong những lý do
chính khiến cho các Ngân hàng bắt đầu đưa ra các dịch vụ môi
giới chứng khoán, cung cấp cho khách hàng cơ hội mua cổ phiếu,
trái phiếu và các chứng khoán khác mà không phải nhờ đến người
kinh doanh chứng khoán. trong điều kiện cho phép các Ngân hàng
sẽ thành lập ra công ty chứng khoán hoặc công ty môi giới chứng
khoán có thể hoạt động độc lập với hoạt động Ngân hàng.

- Cung cấp các dịch vụ bảo hiểm: Cùng với sự phát triển của ngành
bảo hiểm, các ngân hàng đã nắm bắt cơ gội kinh doanh thông qua
việc chấp nhận làm đại lý bán bảo hiểm cho các công ty bảo hiểm
lớn, nhờ đó làm tăng thu nhập cho Ngân hàng bằng các khoản hoa
hồng đại lý và phí cung cấp dịch vụ.
- Cung cấp các dịch vụ đại lý: Nhiều Ngân hàng trong quá trình
hoạt động không thể thiết lập chi nhánh hoặc văn phòng ở khắp
mọi nơi. Trong khi đó, các Ngân hàng lớn sẵn sàng cung cấp dịch
vụ ngân hàng đại lý cho các ngân hàng có nhu cầu như thanh toán
hộ, phát hành hộ các chứng chỉ tiền gửi làm ngân hàng đầu mối
trong hoạt động tài trợ.
Tất cả các dịch vụ trên đều mang lại cho ngân hàng các khoản thu nhập
nhưng cho đến nay nguồn thu nhập chủ yếu của các Ngân hàng vẫn là từ các
khoản cho vay. Vì vậy, cho vay được xem là một trong những nghiệp vụ chủ
yếu và quan trọng nhất của các ngân hàng thương mại, nó vừa giúp cho ngân
SV: TRỊNH KHẮC DƯƠNG LỚP: NGÂN HÀNG 44A6
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP TỐT NGHIỆP
hàng mở rộng kinh doanh tín dụng tăng thêm lợi nhuận, vừa giúp cho các đơn
vị vay có đủ vốn để duy trì quá trình sản xuất kinh doanh.
Sự phát triển của hệ thống Ngân hàng thương mại không chỉ là quy luật
tất yếu mà còn là yêu cầu khách quan của nền kinh tế bởi nó góp phần quan
trọng trong tiến trình đi lên của quốc gia. Ngành công nghiệp Ngân hàng cũng
đang ra sức tận dụng sự phát triển của ngành công nghệ thông tin để cung cấp
cho khách hàng những dịch vụ tiện ích, chính xác, an toàn và nhanh chóng
hơn nữa. Cho đén nay các Ngân hàng thương mại vaanx là nơi cung cấp
nguồn vốn đầu tư chủ yếu cho nền kinh tế, vì vậy việc phát triển hoạt đọng
cho vay của Ngân hàng là một nhân tố quan trọng không chỉ đối với các
doanh nghiệp mà còn mang lại nhiều lợi ích cho bản thân Ngân hàng.
1.1.2 Hoạt động cho vay của Ngân hàng thương mại
1.1.2.1 Khái niệm:

Với tư cách là người cung cấp vốn cho các khách hàng, Ngân hàng
quan niệm cho vay là một hình thức cấp tín dụng, theo đó Ngân hàng giao cho
khách hàng sử dụng một khoản tièn vào mục đích và thời gian nhất định theo
thoả tthuận với nguyên tắc có hoàn trả gốc và lãi. Đối tượng của hoạt động
cho vay là tiền tệ nên nó phải đảm bảo một số nguyên tắc nhất định được thoả
thuận giữa Ngân hàng và khách hàng khi ký hợp đồng tín dụng, thực hiện
điều này sẽ góp phần làm cho hoạt động của Ngân hàng an toàn và nguồn vốn
được sử dụng hiệu quả.
1.1.2.2 Nguyên tắc cho vay
Cho vay là một trong những nghiệp vụ chủ yếu và quan trọng của các
Ngân hàng thương mại, nó vừa giúp cho Ngân hàng mở rộng hoạt động kinh
doanh tín dụng, tăng thêm thu nhập, vừa giúp cho khách hàng vay có đủ vốn
để duy trì và phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh. Vì vậy, để đảm bảo
vốn vay phát huy được tác dụng, mang lại lợi ích cho cả Ngân hàng và người
đi vay thì quá trình cho vay và sử dụng vốn vay đều phải tuân theo những
nguyên tắc sau:
SV: TRỊNH KHẮC DƯƠNG LỚP: NGÂN HÀNG 44A7
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP TỐT NGHIỆP
Nguyên tắc 1: Tiền vay phai được sử dụng đúng mục đích và có hiệu
quả.
Theo nguyên tắc này thì tất cả các khoản tiền cho vay của Ngân hàng
đều phải sử dụng đúng mục đích theo đún chức năng, nhiệm vụ ghi trong
quyết định thành lập và trong giấy phép kinh doanh do cơ quan có thẩm
quyền cấp. Đồng thời phải mang lại hiệu quả kinh tế cao sau khi sử dụng.
Căn cứ vào mục đích cho vay của Ngân hàng là phục vụ cho nhu cầu
đầu tư phát sản xuất. Vì vậy, việc cho vay phải dựa trên những mục đích nhất
định phù hợp với hoạt động sản xuất kinh doanh của đơn vị vay.
Dựa vào đặc điểm của cho vay là cho vay có hoàn trả cả gốc và lãi, do
đó đòi hỏi đơn vị vay phải sử dụng vốn vay có hiệu quả.
Việc Ngân hàng cho vay đúng mục đích buộc đơn vị vay phải sử dụng

vốn vay đúng mục đích, có hiệu quả thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh
phát triển, tạo cơ sở cho việc thu nợ của Ngân hàng, tạo điều kiện để phát huy
tác dụng của nguồn vốn tín dụng Ngân hàng.
SV: TRỊNH KHẮC DƯƠNG LỚP: NGÂN HÀNG 44A8
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP TỐT NGHIỆP
Nguyên tắc 2: Tiền vay phải được hoàn trả đủ và đúng hạn
- Các khoản tiền cho vay của Ngân hàng sau khi được sử dụng vào
mục đích sản xuất kinh doanh theo đúng phương án kinh doanh đã
định, phải hoàn trả cho Ngân hàng đúng thời hạn đã quy định với
số lượng lớn hơn (gốc + lãi)
- Căn cứ vào tính chất của nguồn vốn cho vay thường mang tính
tạm thời và ngắn hạn. Vì vậy, Ngân hàng chỉ cho vảytong một thời
hạn nhất định phù hợp với thời gian huy động vốn của Ngân hàng.
- Căn cứ vào yêu cầu của chế độ hạch toán kinh tế: mọi hoạt động
kinh doanh đều phải có lãi, nên cho vay Ngân hàng phải thu lãi.
- Thực hiện nguyên tắc này sẽ đảm bảo được khả năng thanh toán
của Ngân hàng, đảm bảo sự tồn tại và phát triển của Ngân hàng
đồng thời thúc đẩy đơn vị vay sử dụng vốn có hiệu quả, tăng tốc
độ luân chuyển vốn.
- Việc thực hiện nghiêm túc các nguyên tắc này đảm bảo khả năng
thu hồi vốn của Ngân hàng, tạo mối quan hệ tin tưởng lẫn nhau
giữa Ngân hàng và khách hàng, là cơ sở cho việc duy trì quan hệ
vay mượn lâu dài, hỗ trợ cho nhau cùng phát triển.
1.1.2.3 Phân loại cho vay
Dựa vào các tiêu thức khác nhau, ta có thể phân loại hoạt động cho vay
thành các hình thức khác nhau, tuy nhiên việc phân loại chỉ mang tính tương
đối bởi cùng một khoản vay nhưng có thể mang nhiều đặc điểm khác nhau.
• Căn cứ vào thời hạn của khoản vay thì cho vay bao gồm:
- Cho vay ngắn hạn: là loại hình cho vay có thời hạn cho vay từ một
năm trở xuống nhằm mục đích đáp ứng nhu cầu vốn lưu động cho

sản xuất kinh doanh , phục vụ nhu cầu tiêu dùng sinh hoạt của
người đi vay.
- Cho vay trung hạn: tuỳ theo quy định của từng Ngân hàng thì cho
vay trung hạn có thể là một khoản vay từ 1 đến 5 năm hoặc 7 năm,
SV: TRỊNH KHẮC DƯƠNG LỚP: NGÂN HÀNG 44A9
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP TỐT NGHIỆP
những khoản vay này chủ yếu cho các nhu cầu vốn đầu tư vào các
dự án trung hạn của doanh nghiệp hoặc các mục đích sử dụng sửa
chữa nhà cửa, mua sắm tài sản giá trị lớn của dân cư.
- Cho vay dài hạn: là những khoản vay có thời hạn từ 5 năm hoặc 7
năm trở lênnhwng khong vượt quá thời hạn hoạt động còn lại của
dơn vị kinh doanh theo quyết định thành lập và không vượt quá 15
năm đối với các dự án phục vụ đời sống.
• Căn cứ heo ngành, cho vay bao gồm:
- Cho vay nông nghiệp: là hình thức cho vay đáp ứng các nhu cầu
phục vụ cho lĩnh vực Nông nghiệp như cho vay để chăn nuôi,
trồng trọt,...
- Cho vay Công nghiệp – Thương mại: là hình thức cho vay để đáp
ứng nhu cầu phục vụ cho lĩnh vực Công nghiệp, Thương mại.
- Cho vay xây dựng cơ bản: là hình thức cho vay để đáp ứng các
nhu cầu về xây dựng cơ sở hạ tầng, xây dựng những công trình
thiết yếu phục vụ cho lợi ích kinh tế xã hội.
- Cho vay tiêu dùng: là hình thức cho vay để đáp ứng các nhu cầu
sinh hoạt tiêu dùng trong cuộc sống như mua hàng hoá, xây dựng
nhà ở, mua sắm các phương tiện cho cuộc sống.
• Căn cứ theo mức độ tín nhiệm với Ngân hàng:
- Cho vay có đảm bảo: là việc cho vay mà người vay phải có tài sản
để thế chấp, cầm cố hoặc phải có sự bảo lãnh của một tổ chức có
năng lực hoàn trả.
- Cho vay không có đảm bảo: là việc khách hàng vay dực trên mức

độ tín nhiệm, quen biết mà Ngân hàng không cần đảm bảo, thế
chấp hoặc bảo lãnh của bên thứ ba.
Bên cạnh đó, đối với những hoạt động kinh tế cụ thể như hoạt động
ngoại thương thì hoạt động cho vay của Ngân hàng được phân thành cho vay
nhập khẩu và cho vay xuất khẩu bởi đặc trưng của mỗi hoạt động này là khác
SV: TRỊNH KHẮC DƯƠNG LỚP: NGÂN HÀNG 44A10
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP TỐT NGHIỆP
nhau. Hiện nay, do hoạt động thương mại quốc tế ngày càng mở rộng nên nhu
cầu vay vốn của các doanh nghiệp hoạt động xuất nhập khẩu cũng không
ngừng tăng lên. Điều này đòi hỏi các Ngân hàng cần phải có chính sách cho
vay phù hợp nhằm đáp ứng nhu cầu của người vay trong điieù kiện mới hiện
nay.
1.2 CHO VAY XUẤT NHẬP KHẨU CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.2.1 Khái niệm
Quan hệ kinh tế quốc tế đã xuất hiện từ xa xưa trong lịch sử, có quá
trình phát triển từ đơn giản đến phức tạp, từ quy mô hẹp đến quy mô rộng
cùng với quá trình phát triển của xã hội loài người. Từ đầu những năm 40-50
của thế kỷ XX, đặc biệt từ những năm 70, sự phát triển hư vũ bão của cuộc
cách mạng khoa học công nghệ đã gây nên sự thay đổi về chất trong cấu trúc
của lực lượng sản xuất, trong cơ cấu kinh tế và trong tăng cường phát triển
kinh tế thế giới. Loài người đang chuyển từ nền văn minh máy móc, hoá chất
và dầu lửa sang nền văn minh sinh học và thông tin. Nền kinh tế thế giới đang
bước vào một nền kinh tế tri thức, loài người đang dứng trước sự kụa chon là
phải đổi mới bằng hệ thống công nghệ hiện đại hoặc bị tiêu diệt, để tránh
nguy cơ bị tụt hậu ngày càng xa trong cộng đồng kinh tế thế giới, đặc biệt đối
với những nước đang phát triển. Đặc trưng này vừa tạo ra những thách thức,
nguy cơ mới. vừ tạo ra khả năng để vượt lên những thách thức nguy cơ đó. Vì
vậy, kinh tế đang trở thành mặt trận hàng đầu của mỗi quốc gia, chạy đua
kinh tế để phát triển và tăng trưởng là vấn đề sống còn với bất cứ dân tộc nào.
Xuất nhập khẩu là một trong những hoạt động kinh doanh quốc tế đầu

tiên của một doanh nghiệp và tiếp tục phát triển ngay cả khi doanh nghiệp
thực hiện đa dạng hoá các hoạt động kinh doanh của mình. Kinh doanh xuát
nhập khẩu thường diễn ra các hình thức sau: Xuất nhập khẩu hàng hoá hữu
hình, hàng hoá vô hình; xuất khẩu trực tiếp do chính các doanh nghiệp sản
xuất kinh doanh hàng xuất nhập khẩu đảm nhận; xuất khẩu gián tiếp do các
SV: TRỊNH KHẮC DƯƠNG LỚP: NGÂN HÀNG 44A11
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP TỐT NGHIỆP
doanh nghiệp sản xuất kinh doanh, tổ chức kinh doanh trung gian đảm nhận;
nhập khẩu máy móc, thiết bị, nguyên nhiên, vật liệu...
Xuất khẩu là hoạt động trong đó một cá nhân hay doanh nghiệp nhờ có
những lợi thế về tài nguyên, giá thành sản xuất, tiến hành sản xuất các mặt
hàng theo đơn đặt hàng của bên nước ngoài để thực hiện việc trao đổi hàng
hoá với người mua và thu ngoại tệ về nước mình. Ngược lại, nhập khẩu là
hoạt động đi mua hàng hoá, dịch vụ của một nước từ nước khác có lợi thế
trong việc sản xuất mặt hàng đó thông qua tro đổi một lượng tiền nhất định
láy một lượng hàng hoá, dịch vụ như cam kết. Kinh doanh xuất nhập khẩu là
hoạt động kinh tế cơ bản, là chaiếc chìa khoá mở ra những giao dịch kinh tế
quốc tế cho một quốc gia, tạo ra nguồn thu chi ngoại tệ chủ yếu, góp phần
đáng kể vào mục tiêu tăng trưởng, phát triển nền kinh tế đát nước, củng cố
mối quan hệ đối ngoại và khẳng định vj thế quốc gia trên thị trường khu vực
và thế giới. Vai trò của hoạt động xuất nhập khẩu thể hiện ở các điểm:
- Xuất khẩu khai thác hiệu quả lợi thế tuyệt đối, lợi thế tương đối
của đất nước và kính thích các ngành kinh tế phát triển góp phần
tăng tích luỹ vốn, mở rộng sản xuất, tăng thu nhập cho nền kinh tế,
cải thiện từng bước đời sống nhân dân. Xuất khẩu góp phần không
nhỏ giải quyết công ăn việc làm cho người lao động đồng thời tác
động tích cực đến trình độ tay nghề của công nhân làm nghề xuất
khẩu.
- Xuất khẩu cho phép tập trung năng lực sản xuất cho những mặt
hàn truyền thống được thế giới ưa chuộng hay những mặt hàng tận

dụng được nguyên liệu sẵn có trong nước hay nước khác không
làm được hoặc lam được nhưng giá thành cao.
- Thông qua hoạt động xuất khẩu đã thúc đẩy phát triển quan hệ đối
ngoại với tất cả các nước nhất là với các nước trong khu vực, nâng
cao uy tín đất nước trên trường quốc tế.
SV: TRỊNH KHẮC DƯƠNG LỚP: NGÂN HÀNG 44A12
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP TỐT NGHIỆP
- Hoạt động nhập khẩu góp phần thúc đẩy nhanh quá trình xây dựng
cơ sở vật chất kỹ thuật, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng đẩy
mạnh Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá đất nước.
- Bổ sung kịp thời những mặt mất cân đối của nền kinh tế đảm bảo
một sự phát triển cân đối và ổn định, khai thác đến mức tối đa tiềm
năng và khả năng của nền kinh tế vào vòng quay kinh tế.
- Đảm bảo đầu vào cho sản xuất, tạo việc làm ổn định cho người lao
động, góp phần cải thiện và nâng cao mức sống của nhân dân.
- Nhập khẩu có vai trò tích cực thúc đẩy xuất khẩu, góp phần nâng
cao chất lượng sản xuất hàng xuất khẩu, tạo môi trường thuận lợi
cho xuất khẩu hàng hoá ra nước ngoài.
Trong quan hệ kinh tế quốc tế, hoạt động ngoại thương giữ vai trò quan
trọng nhất và hỗ trợ cho nó là hoạt động hợp tác tín dụng quốc tế. Các nghiệp
vụ tín dụng quốc tế thực chất là các hoạt động cụ thể về cung ứng, tài trợ vốn
lẫn nhau giữa các chủ thể ở các nước nhằm thực hiện các hoạt động thương
mại cũng như các hoạt động trao đổi quốc tế khác. Các hoạt động tín dụng
quốc tế rất đa dạng nhưng chủ yếu có hai loại là nghiệp vụ tín dụng thương
mại xuất nhập khẩu và nghiệp vụ tín dụng ngân hàng.
Tín dụng thương mại xuất nhập khẩu là loại hình tín dụng do các công
ty xuất nhập khẩu ở các nước tài trợ cho nhau nhằm duy trì và mở rộng các
hoạt động thương mại quốc tế giữa các nước. Nghiệp vụ tín dụng này tồn tại
dưới các hình thức sau:
• Mua hàng chịu bằng chấp nhận hối phiếu

Hối phiếu là một phương tiện thanh toán phổ biến trong thương mại
quốc tế. Nó là một loại giấy đòi tiền do một người chủ nợ nước ngoài yêu cầu
người mắc nợ có tên trên hối phiếu phải trả một số tiền nhất định cho người
phát hành hoặc trả theo lệnh cho một người thứ ba khi hối phiếu đến hạn.
Với hình thức mua bán chịu hàng hoá bằng chấp nhận hối phiếu thì
trong hợp đồng mua bán ngoại thương người xuất khẩu và người nhập khẩu
SV: TRỊNH KHẮC DƯƠNG LỚP: NGÂN HÀNG 44A13
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP TỐT NGHIỆP
cam kết cùng thực hiện những điều về vay nợ, chấp nhận hối phiếu, thời hạn
trả nợ...
Nội dung của hình thức vay này được thực hiện như sau:
- Người xuất khẩu sau khi tiến hành giao hàng cho người nhập khẩu
thì phát hành một tờ hối phiếu có kỳ hạn đòi tiền người nhập khẩu
và gửi kèm với các chứng từ hàng hoá về ngân hàng nước mình,
để rồi được chuyển đến ngân hàng nước người nhập khẩu và ngân
hàng này sẽ thông báo cho người nhập khẩu biết. Chỉ khi người
nhập khẩu ký chấp nhận trả tiền trên hối phiếu thì ngân hàng mới
ký chuyển nhượng những chứng từ hàng hoá cho người nhập
khẩu.
- Khi người nhập khẩu ký chấp nhận hối phiếu, tức người nhập khẩu
có cam kết trả tiền vô điều kiện đối với tờ hối phiếu đó khi nó đến
hạn, từ đó người nhập khẩu trở thành người chịu nợ. Khi hối phiếu
được chấp nhận thì nó được chuyển về ngân hàng nước xuất khẩu
hoặc được chuyển thẳng cho người xuất khẩu.
- Hối phiếu có kỳ hạn do người xuất khẩu ký phát có số tiền tính
bằng giá bán trả ngay cộng với khoản thu nhập lãi mà người nhập
khẩu phải chịu đối với người xuất khẩu. Đó là giá bán chịu.
Khi hối phiếu đã được người nhập khẩu ký chấp nhận trả tiền thì người
xuất khẩu có thể gửi hối phiếu chờ ngày đến hạn thanh toán, hoặc nếu có nhu
cầu về vốn có thể sử dụng hối phiếu đó để đảm bảo trong các quan hệ tín

dụng khác hoặc thực hiện chiết khấu tại ngân hàng để nhận tiền sớm hơn
trước hạn.
• Ứng trước tiền hàng
ứng trước tiền hàng được coi là hình thức tài trợ của người nhập khẩu
đối với người xuất khẩu để nhập khẩu hàng hoá được thuận lợi.
SV: TRỊNH KHẮC DƯƠNG LỚP: NGÂN HÀNG 44A14
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP TỐT NGHIỆP
ứng trước tiền hàng được thực hiện trước khi giao hàng một thời gian
nhất định ( thời gian này do 2 bên xuất nhập khẩu thoả thuận ). Tỷ lệ ứng
trước so với tổng giá trị do 2 bên thoả thuận.
ứng trước tiền hàng còn được coi là hình thức tín dụng nhập khẩu ( do
người nhập khẩu cung cấp cho người xuất khẩu )
Việc ứng trước tiền hàng của người nhập khẩu được đáp ứng bằng sự
ưu tiên giảm giá hàng của người xuất khẩu với người nhập khẩu.
Hình thức ứng trước tiền hàng trong thương mại quốc tế đôi khi được
áp dụng khi người xuất khẩu chưa tin vào khả năng thanh toán của người
nhập khẩu nên yêu cầu người đó phải ứng trước một số tiền nhất định. Trong
trường hợp này tiền ứng trước nặng về tiền dặt cọc hơn là tín dụng tài trợ, cho
nên không có lãi hoặc có nhưng lãi thấp.
Để hoàn trả tiền ứng trước có thể áp dụng một số cách sau:
- Khấu trừ dần vào số tiền hàng hóa khi giao hàng với một tỷ lệ nào
đó
- Khấu trừ dần vào số tiền hàng hoá khi giao hàng theo một tỷ lệ luỹ
tiến tăng dần.
- Hoặc khấu trừ 1 lần vào chuyến giao hàng cuối cùng
• Tín dụng mở tài khoản
Đây là hình thức tài trợ của người xuất khẩu với người nhập khẩu.
Nghiệp vụ này diễn ra theo một trình tự như sau: Người xuất khẩu được
quyền mở một tài khoản để ghi nợ tài khoản cho người nhập khẩu sau từng
lần giao hàng ( theo những điều kiện mà hai bên đã thoả thuận bằng hợp đồng

).
Đến thời hạn thoả thuận thì người xuất khẩu đình việc giao hàng và
người xuất khẩu thông báo đòi thanh toán nợ (gốc+lãi) cho người nhập khẩu.
Hình thức này chỉ áp dụng khi hai bên xuất nhập khẩu rất tin tưởng
nhau.
SV: TRỊNH KHẮC DƯƠNG LỚP: NGÂN HÀNG 44A15
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP TỐT NGHIỆP
Tín dụng thương mại góp phần thúc đẩy nhanh tốc độ lưu thông hàng
hoá nâng cao hiệu quả kinh tế nhờ giảm chi phí giao dịch do không phải qua
khâu trung gian mà qua quan hệ trực tiếp.
Tuy nhiên, tín dụng thương mại cũng bộc lộ những hạn chế nhất định,
thể hiện trên các phương diện:
- Về quy mô: Tín dụng thương mại do các doanh nghiệp ( người sản
xuất kinh doanh hàng hoá ) cung cấp và họ chỉ có thể cung ứng
khối lượng tín dụng trong giới hạn khả năng vốn hàng hoá của
mình
- Về thời hạn cho vay: Tín dụng thương mại thường là tín dụng
ngắn hạn nên không thể đáp ứng nhu cầu vay daì hạn.
- Về phạm vi: Tín dụng thương mại chỉ được thực hiện dưới hình
thức hàng hoá, vì vậy pạhm vi hoạt động của nó chỉ giới hạn trong
các doanh nghiệp có cung và cầu hàng hoá phù hợp nhau.
Khắc phục những hạn chế của tín dụng thương mại một hình thức tín
dụng ưu việt hơn đã hình thành là tín dụng ngân hàng, ở đây tín dụng ngân
hàng có thể hiểu là một hoạt động phản ánh quan hệ vay mượn vốn tiền tệ
giữa các ngân hàng đối với các chủ thể kinh tế khác trong nền kinh tế.
Tín dụng ngân hàng có ưu điểm trên các mặt sau:
- Về khối lượng tín dụng: Tín dụng ngân hàng có khả năng cung
ứng những khoản vốn lớn đáp ứng đầy đủ nhu cầu vay của khách
hàng.
Do đối tượng của tín dụng ngân hàng là tiền tệ, và các hình thức huy

động phong phú nên có thể huy động tiền tệ tạm thời nhàn rỗi từ mọi chủ thể
trong nền kinh tế, kể cả nguồn vốn giữa các ngân hàng với nhau. Điều đó đã
tạo cho ngân hàng có khả năng tài chính lớn để đáp ứng nhu cầu vay của
khách hàng.
- Về thời hạn tín dụng: Thông thường người có vốn muốn cho vay
ngắn hạn hơn là cho vay dài hạn bởi ít rủi ro và ít ổn thất về thanh
SV: TRỊNH KHẮC DƯƠNG LỚP: NGÂN HÀNG 44A16
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP TỐT NGHIỆP
khoản, nhưng người đi vay lại có nhu cầu vay dài hạn. Còn ngân
hàng lại có thể đi vay ngắn hạn để cho vay dài hạn. Chính nhờ khả
năng chuyển hoá thời hạn này mà ngân hàng có thể tạo điều kiện
cho nhu cầu của người tích luỹ và người đầu tư dược đáp ứng phù
hợp.
- Về phạm vi tín dụng: Tín dụng ngân hàng có phạm vi huy động
vốn cũng như cho vay rất lớn, liên quan đến các chủ thể và các
lĩnh vực khác nhau trong nền kinh tế. Bởi thế, nó thích hợp với rất
nhiều đối tượng xin vay cũng như cho vay.
Hạn chế cơ bản của tín dụng ngân hàng là có độ rủi ro cao. Hạn chế này
gắn liền với chính những ưu điểm của tín dụng ngân hàng, do việc ngân hàng
có thể cho vay số tiền lớn hơn nhiều so với vốn tự có hoặc có sự chuyển hoá
thời hạn và phạm vi tín dụng rất rộng. Tuy nhiên, hệ thống ngân hàng với
những lợi thế về nhân lực, mạng lưới hoạt động, cơ sở vật chất kỹ thuật cao,
luôn có sự kiểm tra, giám sát chặt chẽ từ các cơ quan cấp trên nên khả năng
xử lý, hạn chế rủi ro có thể diễn ra kịp thời và an toàn.
Xuất nhập khẩu có vai trò to lớn đối với sự phát triển của các quốc gia
vì vậy hoạt động tài trợ cho xuất nhập khẩu cũng có một ý nghĩa rất quan
trọng. Bất cứ quốc gia nào trên thế giới cũng đều tiến hành tài trợ cho xuất
nhập khẩu dưới nhiều hình thức khác nhau do các hoạt động xuất nhập khẩu
luôn chịu sự cạnh tranh gay gắt, nếu không có tài trợ thì các doanh nghiệp
xuất khẩu có thể gặp rất nhiều khó khăn để chiếm lĩnh được thị trường nước

ngòi, còn câc doanh nghiệp nhập khẩu thì có thể mua phải hàng chất lượng
kém, giá cao, làm mất đi nhiều ngoại tệ của đất nước. Tiến hành tài trợ cho
xuất nhập khẩu không chỉ giúp đỡ các doanh nghiệp xuất nhập khẩu mà còn
làm cho hạot động ngân hàng, hoạt động tài cính trở nên linh hoạt và hiệu quả
hơn. Tài trọ cho xuất nhập khẩu không chỉ có ý nghĩa lớn trong lĩnh vực kinh
tế mà còn có ý nghĩa cả trong chính trị vì qua các hoạt động này có thể đánh
giá được vai trò, uy tín của mỗi quốc gia, mỗi tổ chức tài chính trên trường
SV: TRỊNH KHẮC DƯƠNG LỚP: NGÂN HÀNG 44A17
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP TỐT NGHIỆP
quốc tế. Tiến hành xuất nhập khẩu nếu chỉ có các doanh nghiệp thực hiện thì
không thể đạt được hiệu quả cao vì tất cả các doanh nghiệp xuất nhập khẩu
đều luôn luôn cần vốn, thông tin định hướng thị trường, những đòi hỏi này
nhiều khi vượt quá khả năng của doanh nghiệp, đòi hỏi phải có sự hỗ trợ từ
nhiều phía. Thực tiễn thương mại đã chứng minh, hoạt động xuất nhập khẩu
sẽ trơ nên hiệu quả hơn khi nó nhận được sự tài trợ mà chủ yếu từ phía Nhà
nước và ngân hàng. Tóm lại, trong xu thế toàn cầu hoá, khu vực hoá hiện nay,
hoạt động tài trợ cho xuất nhập khẩu là không thể thiếu được đặc biệt là hoạt
động cho vay xuất nhập khẩu của ngân hàng thương mại. Như vạy, có thể nói
cho vay xuất nhập khẩu là việc các ngân hàng giao cho khách hàng sử dụng
một khoản tiền trong một thời hạn nhất định để thực hiện các hợp đồng xuất
nhập khẩu theo nguyên tắc hoàn trả đầy đủ cả gốc và lãi.
Đối với các chủ thể trực tiếp tham gia các hoạt động trao đổi ngoại
thương, kể cả các trung gian tài chính cung cấp các dịch vụ tài chính ngân
hàng đối với các hoạt đọng nói trên thì việc vận dụng tốt các điều kiện thanh
toán quốc tế là rất cần thiết. Điều trước hết sẽ đảm bảo lợ ích cho các chủ thể
trực tiếp tham gia các hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu, kế đến là thực
hiện được những yêu cầu cụ thể trong chính sách thương mại và chiến lược
thị trường quốc tế của nhà nước. Cụ thể là:
• Đối với xuất khẩu:
- Đảm bảo chắc chắn thu đủ, kịp thời các khoản thu về hàng xuất

khẩu và dịch vụ cung ứng, thu được càng nhanh càng tốt.
- Để giữ được giá trị thực tế của các khoản thu nói trên, tránh được
những rủi ro về hối đoái, rủi ro về lãi suất.
- Tạo điều kiện thúc đẩy xuất khẩu, thúc đẩy các dịch vụ đối ngoại,
giữ vững và mở rộng các thị trường buôn bán.
• Đối với nhập khẩu:
SV: TRỊNH KHẮC DƯƠNG LỚP: NGÂN HÀNG 44A18
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP TỐT NGHIỆP
- Phải đảm bảo chắc chắn được hàng hoá đủ về số lượng, thoả mãn
về chất lượng, đáp ứng các nhu cầu về tiêu chuẩn kỹ thuật và công
nghệ hiện đại, nhập hàng đúng thời hạn...
- Trong các điều kiện không đổi, bằng cách nào đó mà giành được
quyền trả tiền tại trong nước, hoặc trả tiền chậm càng tốt.
- Đảm bảo việc nhập khẩu được thực hiện theo đúng yêu cầu phát
triển của nền kinh tế quốc dân và nhu cầu của xã hội.
Việc đảm bảo lợi ích cho các doanh nghiệp trực tiếp tham gia xuất nhập
khẩu cũng đồng thời giúp ngân hàng hoạt động an toàn và hiệu quả. Đối với
thương mại quốc tế việc áp dụng chính xác các quy tắc, chuẩn mực quốc tế là
điều kiện đảm bảo an toàn cho bản thân doanh nghiệp và ngân hàng phục vụ
hoạt động xuất nhập khẩu. Vì vậy, việc lựa chọn các hình thức tài trợ mà cụ
thể là cho vay xuất nhập khẩu của các ngân hàng thương mại là rất quan trọng
trong việc thực hiện mục tiêu thu được lợi nhuận nhưng phải an toàn của ngân
hàng. Hiện nay, có rất nhiều hình thức cho vay xuất nhập khẩu mà các ngân
hàng có thể lựa chọn sao cho phù hợp với năng lực tài chính, chiến lược phát
triển của ngân hàng đồng thời tăng khả năng thích ứng của hoạt động ngân
hàng với xu thế phát triển chung của toàn hệ thống kinh tế nói chung và hoạt
động thương mại quốc tế nói riêng.
1.2.2 Hình thức cho vay nhập khẩu của Ngân hàng thương mại
1.2.2.1 Cho vay ký quỹ mở L/C
Ký quỹ là một quy định của ngân hàng phát sinh trong trường hợp

khách hàng xin được bảo lãnh. Khách hàng sẽ phải nộp một khoản tiền nhất
định vào tài khoản của họ tại Ngân hàng mà họ xin được bảo lãnh và khoản
tiền đó sẽ được phong toả cho đến khi nghĩa vụ bảo lãnh của ngân hàng chấm
dứt, thường khoản tiền này được tính tỷ lệ với giá trị mà khách hàng xin bảo
lãnh. Trong trưòng hợp thiếu sự tin cậy hoặc hiệu quả thương vụ tiềm ẩn rủi
ro cao, ngân hàng có thể yêu cầu khách hàng ký quỹ 100% giá trị mà khách
hàng xin bảo lãnh.
SV: TRỊNH KHẮC DƯƠNG LỚP: NGÂN HÀNG 44A19
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP TỐT NGHIỆP
Việc ký quỹ có ý nghĩa sau đây:
- Ký quỹ nhằm hạn chế rủi ro cho ngân hàng trong quá trình thực
hiện bảo lãnh cho khách hàng. Trường hợp ngân hàng phải thực
hiện nghĩa vụ trả thay cho người được bảo lãnh, tiền ký quỹ sẽ
được sử dụng trước để thanh toán cho người thụ hưởng bảo lãnh,
phần còn lại ngân hàng mới dùng vốn của mình thanh toán sau.
- Ký quỹ nhằm khẳng định khách hàng có năng lực nhất định về
vốn và ràng bộc khách hàng làm tròn nghĩa vụ của người được bảo
lãnh. Trong trường hợp bảo lãnh, thường có quy định tiền ký quỹ
của khách hàng sẽ bị mất khi khách hàng vi phạm hợp đồng đã ký
với ngân hàng.
Trong thanh toán quốc tế, khách hàng phải thực hiện ký quỹ khi đề
nghị ngân hàng phát hành thư tín dụng, xác nhận tín dụng thư hoặc bảo lãnh
cho doanh nghiệp vay vốn nước ngoài. Trên cơ sở phân tích năng lực tài
chính, hiệu quả của phương án kinh doanh và uy tín của khách hàng đối với
ngân hàng, các ngân hàng có thể xem xét một khoản vay cho các doanh
nghiệp để ký quỹ. Cho vay ký quỹ là hình thức tài trợ nhập khẩu bởi tính rủi
ro của thương vụ quá cao ngân hàng yêu cầu khách hàng ký quỹ với giá trị
lớn mà khả năng doanh nghiệp không đáp ứng được hoặc chỉ đáp ứng một
phần. Cho vay ký quỹ vừa giải quyết được khó khăn về vốn lưu động cho
khách hàng, tăng tính an toàn và mang lại hiệu quả cho ngân hàng, vừa đảm

bảo tuân thủ những quy định pháp lý của ngân hàng về ký quỹ bảo lãnh. Tuy
nhiên, chỉ nên cho vay ký quỹ đối với khách hàng thực hiện việc bảo lãnh và
thanh toán qua chính ngân hàng cho vay.
SV: TRỊNH KHẮC DƯƠNG LỚP: NGÂN HÀNG 44A20
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP TỐT NGHIỆP
1.2.2.2 Cho vay dành cho người đặt hàng và hiệp định khung tài trợ
nhập khẩu
Cho vay đối với người đặt hàng là cho vay đối với người nước ngoài
đặt mua hàng hoá, hoặc các dịch vụ trong nước nhằm thanh toán cho hàng
hoá và các dịch vụ này. Đây là hình thức tài trợ của những nước muốn
khuyến khích và đẩy mạnh xuất khẩu của nước mình, hình thức này phổ biến
ở các nước phát triển. Một trong những hình thức cho vay đối với khách hàng
nhập khẩu là các ngân hàng ký hiệp định khung tài trợ ký hiệp định khung với
các ngân hàng và chính phủ nước ngoài đồng ý cung ứng cho các ngân hàng
và chính phủ nước này những khoản vay riêng, nhằm tài trợ cho việc nhập
khẩu máy móc, thết bị, hàng hoá, dây chuyền công nghệ từ nước tài trợ.
• Đối với nhà xuất khẩu, hình thức cho vay này có ý nghĩa:
- Hạn chế rủi ro do bên nhập khẩu ngừng trệ thanh toán.
- Tránh được khó khăn đối với cán cân thanh toán
- Cạnh tranh với đối thủ ở nước ngoài.
• Đối với nhà nhập khẩu, hình thức cho vay này có ý nghĩa:
- Có thể thanh toán từng phần cho cả công trình, thiết bị đã nhập
khẩu.
- Có thể tận dụng được lãi suất thấp ở nước xuất khẩu.
1.2.2.3 Cho vay thanh toán hàng nhập khẩu
Theo hình thức này, khách hàng phải lập phương án sản xuất kinh
doanh mang tính khả thi cho lô hàng nhập về phục vụ sản xuất kinh doanh.
Đồng thời, khách hàng phải lên kế hoạch tài chính nhằm xác định khả năng
thanh toán thì đến thời điểm thanh toán dự kiến, xác định khoản thiếu hụt cần
ngân hàng tài trợ. Trên cơ sở xem xét, phân tích kế hoạch và phương án của

khách hàng ngân hàng sẽ ra quyết định tài trợ và xác định mức ngân hàng
chấp nhận tài trợ. Tất cả các công đoạn này phải được thực hiện trước khi bộ
chứng từ giao hàng của người xuất khẩu về đến ngân hàng dứng ra tài trợ.
Trường hợp bộ chứng từ giao hang đã về rồi khách hàng mới xin tài trợ thanh
SV: TRỊNH KHẮC DƯƠNG LỚP: NGÂN HÀNG 44A21
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP TỐT NGHIỆP
toán, thì khả năng bị ngân hàng từ chối là rất lớn vì ngân hàng có rất ít thời
gian xem xét bộ chứng từ cũng như đánh giá khả năng hoàn vốn của khách
hàng cho khoản tiền mà ngân hàng tài trợ. Khi hàng hoá, bộ chứng từ về đến
nơi, nhà nhập khẩu có thể nhận được sự tài trợ của ngân hàng thông qua hình
thức cho vay thanh toán L/C trong trường hợp L/C trả ngay, hoặc ngân hàng
thay mặt nhà nhập khẩu ký chấp nhận thanh toán trên hối phiếu trong trường
hợp L/C trả chậm.
1.2.3 Hình thức cho vay xuất khẩu của Ngân hàng thương mại
1.2.3.1 Cho vay dưới hình thức chuyển sở hữu L/C
Thư tín dụng không những là công cụ đảm bảo thanh toán mà còn là
một công cụ tín dụng. Nó có thể phục vụ trong nhiều mối liên quan như là
một phương tiện trong hoạt động cho vay xuất khẩu.
Về cơ bản một thư tín dụng trả chậm được sử dụng như là một phương
tiện để đi vay. Số tiền trên thư tín dụng này không phải trả ngay lập tức mà
theo thời hạn quy định trên đó.
Doanh nghiệp xuất khẩu là người được hưởng L/C. Họ có thể nhận
được tiền dưới hình thức chuyển nhượng toàn bộ quyền thụ hưởng L/C cho
ngân hàng cho vay trước khi L/C được thanh toán. Thông thường các ngân
hàng mua với giá khỏng 70%-80% giá trị L/C. Khi L/C được thanh toán là lúc
ngân hàng thu nợ. Để hạn chế rủi ro nảy sinh, ngân hàng đồng ý cho vay chỉ
cho vay loại L/C không huỷ ngang và L/C trả chậm có xác nhận.
1.2.3.2 Cho vay thu mua hàng xuất khẩu
Hình thức này được tiến hành trước khi giao hàng, thông thường được
áp dụng trong trường hợp ngân hàng tài trợ vừa là ngân hàng thanh toán cho

L/C xuát, nhà xuất khẩu trình bộ chứng từ và được thanh toán tại Ngân hàng.
Để giám sát chặt chẽ tình hình sử dụng vốn vay đúng mục đích, thông thường
ngân hàng thực hiện tài trợ như sau:
- Khi vay ngân hàng yêu cầu nhà xuất khẩu phải có một số vốn nhất
định cộng thêm với số tiền vay ngân hàng để thu mua hàng hoá
SV: TRỊNH KHẮC DƯƠNG LỚP: NGÂN HÀNG 44A22
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP TỐT NGHIỆP
chế biến, sản xuất hàng xuất khẩu, hàng hoá sẽ làm tài sản đảm
bảo để tiếp tục vay và được nhập kho tại ngân hàng, hoặc nhập
kho mà trước đó ngân hàng và nhà xuất khẩu thoả thuận và đồng
ý, dưới sự giám sát của ngân hàng, nhà xuất khẩu muốn xuất hàng
ra khỏi kho phải có sự đồng ý của ngân hàng. Ngân hàng tiếp tục
cho vay, khách hàng sẽ dùng số tiền ngân hàng tài trợ để đi mua
hàng, chế biến sản xuất hàng hoá tiếp tục cứ như vậy cho đến khi
bằng 100% trị giá hàng xuất. Thông thường ngân hàng chỉ cho vay
khoảng 70% giá trị lô hàng xuất khẩu.
- Sau khi giao hàng xong nhà xuất khẩu lập bộ chứng từ phù hợp
với những điều kiện quy định trong L/C nộp vào ngân hàng để xin
thanh toán tiền. Trên hối phiếu đòi nợ ngân hàng sẽ là người
hưởng lợi trực tiếp trên hối phiếu. Ngân hàng kiểm tra bộ chứng từ
hợp lý chuyển ra nước ngoài đòi nnợ từ phía ngân hàng mở L/C.
Khi nhận được tiền từ phía ngân hàng mở L/C, ngân hàng thông
báo L/C ghi Có trên tài khoản cho vay để thu nợ. Trường hợp giữa
ngân hàng mở và ngân hàng thông báo L/C là đại lý có mở tài
khoản tiền gửi cho nhau, việc thực hiện thanh toán bộ chứng từ để
thu nợ được tiến hành nhanh chóng, thuận tiện, dễ dàng nên ngân
hàng có thể tài trợ mức lãi xuất ưu đãi thấp hơn mức lãi xuất bình
thường.
- Khi ngân hàng tài trợ không phải là ngân hàng thông báo cũng
không phải là ngân hàng thanh toán, rủi ro có thể xảy ra nếu như

doanh nghiệp được tài trợ không xuất được hàng hoặc xuất được
hàng nhưng gặp rủi ro trong giao nhận hàng hay thanh toán, hoặc
khách hàng không dùng số tiền trên vào mục đích xuất hàng như
đã cam kết với ngân hàng.
1.2.3.3 Tạm ứng cho nhà xuất khẩu
SV: TRỊNH KHẮC DƯƠNG LỚP: NGÂN HÀNG 44A23
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP TỐT NGHIỆP
Các doanh nghiệp xuất khẩu sau khi xuất hàng cho nhà nhập khẩu
thường phải mất một thời gian khá dài mới được thanh toán, trong khi đó do
nhu cầu sản xuất kinh doanh đòi hỏi nhà xuất khẩu phải tìm kiếm ngồn vốn
khác bổ sung, trong tình huống đó các ngân hàng có thể hỗ trợ doanh nghiệp
xuất khẩu thông qua cá khoản tạm ứng. Đây là hình thức cho vay đối với
doanh nghiệp xuất khẩu trước khi bộ chứng từ được thanh toán.
Đối vối cho vay ứng trước loại này, những giấy tờ như vận đơn, hoá
đơn thương mại, hợp đồng bảo hiểm... đều có thể là những vật cầm cố cho
ngân hàng. Do đó, tất cả những giấy tờ có giá theo lệnh đều phải có lệnh để
không chuyển nhượng cho ngân hàng cấp cho vay ứng trước. Một khi những
giấy từ có giá trên không cho phếp chuyển nhượng thì người vay vốn phải sử
dụng những hìn thức khác.
Tỷ lệ ứng trước phụ thuộc vào các yếu tố sau:
• Khả năng thanh toán của doanh nghiệp xuất khẩu.
• Khả năng cạnh tranh của hàng hoá và giá trị của hàng hoá xuất khẩu.
• Chính sách kinh tế và chính trị của nước nhập khẩu đối với ngân hàng
xuất khẩu
• Những rủi ro tỷ giá hối đoái ( đối với ngân hàng nhập khẩu ).
1.3 CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐÉN VIỆC NÂNG CAO HIỆU QUẢ CHO VAY
XUẤT NHẬP KHẨU CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
Hoật động cho vay xuất nhập khẩu của ngân hàng thương mại được
xem là mở rộng thể hiện ở mọt số chỉ tiêu:
- Doanh số cho vay xuất nhập khẩu tăng lên qua các năm.

- Số lượng khách hàng hoạt động trong lĩnh vực ngoại thương có
quan hệ giao dịc tăng lên.
- Chủng loại mặt hàng được phép xuất nhập khẩu được ngân hàng
chấp thuận cho vay ngày càng đa dạng và không ngừng tăng.
- Dư nợ cho vay qua các năm có sự tăn trưởng.
SV: TRỊNH KHẮC DƯƠNG LỚP: NGÂN HÀNG 44A24
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP TỐT NGHIỆP
- Mở rộng cho vay đối với nhứng khách hàng có quan hệ uy tín
nhừm đáp ứng tối đa nhu cầu vốn của họ từng bước thu hút khách
hàng quan hệ với riêng ngân hàng mình đồng thời sử dụng các
dịch vụ khác của ngân hàng và củng cố sự tin tưởng giữa đôi bên
làm cơ sở giảm tính cạnh tranh với ngân hàng khác.
1.3.1 Các yếu tố chủ quan
1.3.1.1 Chiến lược phát triển của ngân hàng
Chiến lược phát triển của ngân hàng là yếu tố quan trọng quyết định sự
phát triển của nghiệp vụ kinh doanh đối ngoại của Ngân hàng. Trên cơ sở
đánh giá, dự báo biến động thực tiễn, ban lãnh đạo ngân hàng sẽ phải đưa ra
các chiến lược phát triển khác nhau điều chỉnh các hoạt động nghiệp vụ của
mình, các chính sách ưu đãi với từng nhóm khách hàng mục tiêu, từng khu
vực ngành nghề, từng loại hình dịch vụ nhất định một cách thích hợp nhằm
đạt được các mục tiêu đề ra.
Chiến lược kinh doanh đúng đắn sẽ tạo đà cho sự phát triển, ngược
lại,nó sẽ trở thành rào cản cho việc thích ứng với những biến động thị trường
từ đó gây ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh nói chung của ngân hàng. Vi
vậy, để hoạt động kinh doanh nói chung và hoạt động cho vay xuất nhập
khẩu nói riêng đảm bảo luôn ổn định, an toàn và tăng trưởng đòi hỏi ban lãnh
đạo ngân hàng phải đề ra được một chiến lược kinh doanh hiệu quả, vận hàn
một cách trôi chảy và luôn điều chỉnh để phù hợp với những biến đọng bất
thường.
Hoạt động kinh doang trong nền kinh tế thị trường với xu hướng phát

triển mạnh mẽ các quan hệ kinh tế quốc tế trong đó hoạt động xuất nhập khẩu
giữ vai trò trung tâm, các ngân hàng thương mại không thể không quan tâm
đến mảng thị trường các doanh nghiệp thương mại kinh doanh xuất nhập
khẩu. Từ khi Đảng thực hiện chính sách đổi mới nền kinh tế với chiến lược
đẩy mạnh xuất khẩu và nhập khẩu những mặt hàng trong nước chưa có khả
năng tự sản xuất nó đã trở thành động lực để các doanh nghiệp đẩy mạnh hoạt
SV: TRỊNH KHẮC DƯƠNG LỚP: NGÂN HÀNG 44A25

×