Tải bản đầy đủ (.pdf) (93 trang)

TIỂU LUẬN:Biện pháp nâng cao chất lượng sản phẩm ở công ty cơ khí Trần Hưng Đạo.Lời mở đầuTrong xu thế khu vực hoá, toàn cầu hoá nền kinh tế, các doannh nghiệp Việt Nam đang đứng trước những cơ hội nhưng cũng phải đương đầu với rất nhiều khó khăn và docx

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (25.08 MB, 93 trang )







TIỂU LUẬN:

Biện pháp nâng cao chất lượng
sản phẩm ở công ty cơ khí
Trần Hưng Đạo












Lời mở đầu

Trong xu thế khu vực hoá, toàn cầu hoá nền kinh tế, các doannh nghiệp Việt Nam
đang đứng trước những cơ hội nhưng cũng phải đương đầu với rất nhiều khó khăn
và thách thức. Sự cạnh tranh gay gắt và quyết liệt trên thị trường cũng như việc
xoá bỏ hàng rào thuế quan trong tương lai gần đã tạo nên sức ép buộc các doanh
nghiệp Việt Nam phải chú trọng vấn đề chất lượng sản phẩm, coi chất lượng sản
phẩm là vấn đề sồng còn của mình. Chất lượng sản phẩm ngày nay đã trở thành


một trong những nhân tố cơ bản quyết định sự thành bại trong cạnh tranh, quyết
định sự tồn tại và phát triển của từng doannh nghiệp và cảu cả nền kinh tế. Thực tế
cho thấy các doanh nghiệp thành đạt thường là nhưnngx doanh nghiệp quan tâm
đến vấn đề chất lượng, thực hiện và duy trì các biện pháp nâng cao chất lượng sản
phẩm phù hợp với nhu cầu khách hàng và nhu cầu thị trường. Nhận thức được tầm
quan trọng của việc nâng cao chất lượng sản phẩm, sau thời gian thực tập ở công
ty cơ khí Trần Hưng Đạo, em đã lựa chọn đề tài: “ Biện pháp nâng cao chất
lượng sản phẩm ở công ty cơ khí Trần Hưng Đạo”.

















Phần I Những vấn đề chung về chất lượng sản phẩm và quản lý chất lượng
Chương I: Chất lượng sản phẩm
I Khái niệm, phân loại, chỉ tiêu đánh giá.

Chất lượng sản phẩm là một phạm trù rất rộng và phức tạp phản ánh các nội

dung kỹ thuật, kinh tế và xã hội. Cùng với sự vận động không ngừng được bổ sung
và hoàn thiện phản ánh chính xác đầy đủ nội dung, yêu cầu chất lượng sản phẩm.
Trong sản xuất kinh doanh không ai phủ nhận tầm quan trọng của chất lượng sản
phẩm, chất lượng sảnn phẩm được coi là xuất phát điểm của mọi quá trình sản
xuất kinh doanh, được nhìn nhận linh hoạt gắn bó chặt chẽ với nhu cầu khách hàng
trên thị trường. Chất lượng sản phẩm trở thành mục tiêu quan trọng của doanh
nghiệp và chương trình phát triển kinh tế của nhiều quốc gia trên giới
1. Khái niệm và đặc trưng của chất lượng sản phẩm
Khái niệm.
Theo giáo sư IshiKawa- Chuyên gia chất lượng Nhật Bản:
“Chất lượng là sự thỏa mãn nhu cầu thị trường với chi phí thấp nhất ”
Theo Juran : “ Chất lượng sản phẩm là sự phù hợp mục đích sử dụng ”
Tổ chức tiêu chuẩn hóa quốc tế ISO (International organization for
standardization)
“Chất lượng sản phẩm, dịch vụ là tổng thể các chỉ tiêu, đặc trưng của sản
phẩm thể hiện sự thỏa mãn nhu cầu trong những điều kiện nhất định tiêu dùng
xác định phù hợp công dụng sản phẩm”
Phần lớn các chuyên gia về chất lượng sản phẩm trong nền kinh tế thị trường
đều coi chất lượng sản phẩm là sự phù hợp với nhu cầu hay mục đích sử dụng
của khách hàng . Chất lượng sản phẩm luôn gắn bó chặt chẽ với nhu cầu và xu
hướng và vận động của thị trường , do vậy cần phải thường xuyên đổi mới cải
tiến kịp thời cho thích ứng đòi hỏi của khách hàng. Khách hàng là người xác
định chất lượng chứ không phải là nhà sản xuất hay nhà quản lý. Tuy nhiên ,




quan điểm chất lượng sản phẩm hướng về khách hàng có thể dẫn đến sự xem
nhẹ và bỏ qua đặc tính nội tại vốn có của sản phẩm.
Cục đo lường chất lượng Việt Nam đã đưa ra khái niệm

“ Chất lượng là tổng hợp tất cả tính chất biểu thị giá trị sử dụng phù hợp
nhu cầu xã hội xác định, đảm bảo các yêu cầu của người sử dụng nhưng cũng
đảm bảo tiêu chuẩn thiết kế và khả năng sản xuất của từng nước” (TCVN
5814-1994)
Chất lượng sản phẩm được tạo nên từ nhiều yếu tố, điều kiện trong chu kỳ
sống sản phẩm như : chất lượng máy móc, lao động , nguyên vật liệu, quản lý,
cung ứng Như vậy, ta có thể khái quát những yếu tố chung của chất lượng
sản phẩm như sau:
- Chức năng công dụng của sản phẩm: là những đặc tính cơ bản của sản
phẩm dưa lại những lợi ích nhất định về giá trị sử dụng hay tính hữu ích
của chúng.
- Những đặc điểm riêng biệt dặc trưng cho từng sản phẩm: thể hiện sự đặc
biệt của sản phẩm tạo ra khả năng cạnh tranh của sản phẩm.
- Tính tin cậy của sản phẩm: đặc trưng cho thuộc tính của sản phẩm giữ
được khả năng làm việc chính xác, ổn định và an toàn trong một khoảng
thời gian nhất định nào đó.
- Tuổi thọ của sản phẩm: thể hiện thời gian tồn tại có ích của sản phẩm
trong quá trình đáp ứng yêu cầu người tiêu dùng.
- Các dịch vụ sau bán: thể hiện sự đáp ứng đòi hỏi của khách hàng sau khi
đã trao sản phẩm cho họ .

Hiện nay, quan niệm về chất lượng sản phẩm còn được tiếp tục phát triển bổ
sung, mở rộng hơn nữa để thích hợp với sự phát triển của thị trường. Để đáp
ứng nhu cầu khách hàng các doanh nghiệp không ngừng nâng cao chất lượng
sản phẩm của mình. Song không thể theo đuổi chất lượng với bất kỳ giá nào
mà luôn có sự giới hạn về kinh tế - xã hội - công nghệ. Khi đề cập đến chất





lượng sản phẩm thì không thể bỏ qua các yếu tố giá cả và dịch vụ sau bán.
Ngoài ra, vấn đề giao hàng đúng lúc, đúng thời hạn, thái độ của người phục vụ
cũng là yếu tố vô cùng quan trọng trong sản xuất hiện đại.
Đặc trưng cơ bản của chất lượng sản phẩm.

* Chất lượng sản phẩm là một phạm trù kinh tế- kỹ thuật-xã hội tổng hợp:
Luôn thay đổi theo thời gian , không gian, môi trường và điều kiện kinh
doanh.
Chất lượng là khả năng đáp ứng các yêu cầu , vì vậy một sản phẩm muốn đáp
ứng được nhu cầu sử dụng thì phải có tiêu chuẩn về chức năng phù hợp. Để tạo
ra tiêu chuẩn đó thì phải có những giải pháp kỹ thuật thích hợp, không thể tạo ra
sản phẩm có chất lượng cao bằng khả năng kỹ thuật non kém. Chỉ có công nghệ
cao, máy móc thiết bị tiên tiến phù hợp trình độ lao động, nguyên vật liệu tốt mới
làm ra sản phẩm có tính năng sử dụng cao thỏa mãn nhu cầu của khách hàng.
Chất lượng không chỉ là vấn đề kỹ thuật mà còn là vấn đề kinh tế, sự thỏa
mãn nhu cầu khách hàng không chỉ bằng những tiêu chuẩn về chức năng sản phẩm
mà còn bằng chi phí tạo ra nó. Đời sống xã hội ngày càng phát triển nhu cầu con
người luôn thay đổi họ không chỉ muốn ” Ăn no mặc ấm” mà còn ”Ăn ngon mặc
đẹp”. Như vậy chất lượng sản phẩm là sự kết hợp 3 yếu tố kinh tế- kỹ thuật- xã
hội.
*Chất lượng sản phẩm phải được đánh giá qua các chỉ tiêu, tiêu chuẩn cụ thể.
Không thể tạo ra một mức chất lượng cao nếu chỉ dựa trên những ý tưởng, nhận
xét về mặt định tính. Mỗi sản phẩm được đặc trưng bằng các tiêu chuẩn, đặc điểm
riêng biệt nội tại của nó phụ thuộc vào trình độ thiết kế sản phẩm và được biểu thị
bằng các chỉ tiêu cơ, lý, hóa nhất định có thể đo lường và đánh giá được nhờ đó ta
có thể so sánh được chất lượng các sản phẩm.
*,Chất lượng sản phẩm phải có tính tương đối






Thể hiện trên cả hai mặt không gian và thời gian. Một loại sản phẩm có thể
được đánh giá có chất lượng cao ở thị trường này nhưng lại không ở thị trường
khác.
Ngay trên một thị trường, cùng một loại sản phẩm được đánh giá khác nhau về
chất lượng với những người tiêu dùng khác nhau. Nhu cầu khách hàng lại luôn
thay đổi sản phẩm phù hợp mong muốn khách hàng hôm nay nhưng ngày mai thì
không. Vì vậy, chất lượng sản phẩm phải luôn được đổi mới, linh hoạt và phải đón
trước được nhu cầu khách hàng thì các doanh nghiệp mới thành công cao.
* ,Chất lượng sản phẩm thể hiện hai cấp độ phản ánh hai mặt khách quan và
chủ quan.
Chất lượng trong tuân thủ thiết kế thể hiện ở mức độ chất lượng sản phẩm đạt
được so với tiêu chuẩn đề ra. Khi sản phẩm có những đặc tính kinh tế - kỹ
thuật càng gần tiêu chuẩn kinh tế thì chất lượng càng cao. Loại chất lượng này
phụ thuộc chặt chẽ vào tiêu chuẩn, đặc điểm, trình độ công nghệ, cách tổ chức
qu*****
thỏa mãn một số người nhất định.
- Chất lượng phù hợp: là chất lượng đảm bảo đúng thiết kế hay tiêu chuẩn đã
qui định.
- Chất lượng thị hiếu: là chất lượng phù hợp với sở thích, sở trường, tâm lý
người tiêu dùng.
 Phân loại theo hệ thống chất lượng ISO 9000.
-Chất lượng thiết kế: là giá trị các chỉ tiêu đặc trưng của sản phẩm được phác
thảo qua văn bản trên cơ sở nghiên cứu nhu cầu thực tế, các đặc điểm của quá
trình sản xuất- tiêu dùng, so sánh chỉ tiêu chất lượng hàng tương tự của các
hãng khác thông qua: Nghiên cứu thị trường, trình độ thiết kế viên, nguyên vật
liệu đưa vào
-Chất lượng tiêu chuẩn: là giá trị cấc chỉ tiêu đặc trưng được cấp có thẩm
quyền phê duyệt dựa trên cơ sở nghiên cứu chất lượng thiết kế mà cơ quan nhà





nước xét duyệt, bao gồm: tiêu chuẩn quốc tế, tiêu chuẩn khu vực, quốc gia,
ngành, doanh nghiệp
- Chất lượng thực tế: là mức độ chất lượng thực tế đạt được do các yếu tố chi
phối như: điều kiện tự nhiên, kinh tế, kỹ thuật, máy móc thiết bị, nguyên vật
liệu
- Chất lượng cho phép: là mức độ cho phép giới hạn về độ lệch giữa chất lượng
tiêu chuẩn và chất lượng thiết kế, chất lượng cho phép phụ thuộc vào trình độ
tay nghề công nhân, phương pháp quản lý của doanh nghiệp
- Chất lượng tối ưu:là chất lượng mà tại đó lợi nhuận đạt được do nâng cao
chất lượng sản phẩm cao hơn mức chi phí tăng lên để đạt mức chất lượng đó.
Sản phẩm hàng hóa đạt chất lượng tối ưu là chỉ tiêu chất lượng sản phẩm thỏa
mãn nhu cầu người tiêu dùng, có khả năng cạnh tranh cao trên thị trường, sức
tiêu thụ nhanh đạt hiệu quả kinh doanh cao
2.2 Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng sản phẩm.
2.2.1 Chỉ tiêu đặc trưng cho chất lượng
Chỉ tiêu chất lượng là những tiêu chuẩn, tính năng hoặc những đặc trưng nào
đó của sản phẩm mà nhờ chúng sản phẩm đáp ứng yêu cầu chất lượng, và có
thể so sánh, đánh giá chất lượng các sản phẩm
*Chỉ tiêu công dụng
Đây là nhóm chỉ tiêu quan trọng nhất thường được giới thiệu rộng rãi để
người tiêu dùng biết trong các bản thuyết minh hướng dẫn sử dụng hoặc trên
nhãn hiệu sản phẩm. Nhóm chỉ tiêu công dụng thể hiện rõ tính năng, tác dụng
và điều kiện sử dụng sản phẩm
- Những chỉ tiêu thể hiện quy cách sản phẩm: chỉ tiêu này nêu rõ sản phẩm
có thể dùng vào việc gì và những điều kiện cần thiết để sử dụng chúng
giúp người tiêu dùng có thể lựa chọn sản phẩm đúng mục đích sử dụng.

- Những chỉ tiêu thể hiện tính năng, đặc điểm sản phẩm như: hiệu suất, suất
tiêu hao điện năng, nhiên liệu, độ chính xác, độ tin cậy, tuổi thọ là cơ sở
so sánh những sản phẩm cùng quy cách xem sản phẩm nào ưu việt hơn .




* Chỉ tiêu an toàn.
Với một số loại sản phẩm thì nhóm chỉ tiêu này đặc biệt quan trọng và được
kiểm soát nghiêm ngặt. Chẳng hạn:
Hàng thực phẩm chỉ tiêu an toàn là chỉ tiêu vệ sinh.
Với thiết bị máy móc chỉ tiêu an toàn thể hiện khả năng bảo vệ thiết bị khi
có sự cố, bảo vệ người sử dụng, sự an toàn kết cấu khi vận hành
Chỉ tiêu an toàn được đánh giá bằng các bộ phận bảo vệ như: Bảo vệ khi
có sự cố, bảo vệ quá dòng, quá điện áp
* Chỉ tiêu thẩm mỹ.
Là những chỉ tiêu đặc trưng cho sự gợi cảm, hấp dẫn của sản phẩm, sự hợp
lý của hình thức, bao gói, mẫu mã sản phẩm. Tùy từng loại sản phẩm có
những chỉ tiêu thẩm mỹ khác nhau như về màu sắc, độ bền, họa tiết, kết cấu,
độ bóng, độ cứng
*Chỉ tiêu công thái
Thể hiện mối quan hệ sản phẩm với người tiêu dùng và môi trường, sự phù
hợp của sản phẩm với đặc diểm sinh lý, tâm lý của người tiêu dùng với điều
kiện sử dụng.
*Chỉ tiêu về công nghệ
Đặc trưng cho sự thuận lợi và hiệu quả sử dụng sản phẩm do đặc điểm công
nghệ đem lại. Nhóm chỉ tiêu này đặc biệt quan trọng đối với máy móc thiết bị
có liên quan đến kỹ thuật bảo trì, bảo dưỡng, sửa chữa
*Nhóm chỉ tiêu công nghệ bao gồm: Hệ số lắp ráp, hệ số sử dụng nguyên
vật liệu, xuất nguyên vật liệu

* Chỉ tiêu tiêu chuẩn hóa
Đặc trưng cho mức độ sử dụng các chi tiết, bộ phận được tiêu chuẩn hóa trong
sản phẩm và cho biết bộ phận cấu tạo sản phẩm được sử dụng theo tiêu chuẩn
nào có tính thống nhất cao, dễ sử dụng, dễ sửa chữa.
* Chỉ tiêu kinh tế.




Đặc trưng cho tính kinh tế của sản phẩm liên quan đến hiệu quả sử dụng bao
gồm: Giá mua ban đầu, chi phí lắp đặt, chi phí vận hành, chi phí cho quá trình
sử dụng
Hệ thống chỉ tiêu trên không tồn tại độc lập, tách rời mà chúng có mối quan hệ
chặt chẽ thống nhất với nhau. Đối với mỗi loại sản phẩm khác nhau thì chỉ tiêu
chất lượng có ý nghĩa khác nhau. Do đó mỗi doanh nghiệp cần căn cứ vào đặc
điểm sử dụng của sản phẩm, tổ chức sản xuất, quan hệ cung cầu để lựa chọn
cho mình những chỉ tiêu phù hợp, có sắc thái riêng biệt với các sản phẩm cùng
loại khác trên thị trường.
2.2.2 Các chỉ tiêu dùng để phản ánh và đánh giá.
Ngoài các chỉ tiêu đặc trưng cho chất lượng sản phẩm, để phân tích tình hình
thực hiện chất lượng giữa các bộ phận các doanh nghiệp còn sử dụng các chỉ
tiêu:
+ Dùng thước đo hiện vật :
100*
phÈmns¶ sè Tæng
háng phÈmns¶ sè
háng sai lÖ Tû 

(Số sản phẩm hỏng bao gồm sản phẩm có thể sửa chữa và không thể sửa
chữa )

+ Dùng thước đo giá trị :
100*
phÈmns¶xuÊt ns¶ phÝchi Tæng
háng phÈmns¶xuÊt ns¶ phÝchi
háng sai lÖ Tû 
- Tỷ lệ đạt chất lượng
100*
xuÊt ns¶ phÈmns¶ Tæng
luîngchÊt d¹t phÈmns¶ sè
lîngchÊt d¹t lÖ Tû 
- Hệ số thiệt hại sản phẩm hỏng
100*
phÈmns¶xuÊt ns¶ phÝchi Tæng
háng phÈmns¶cha söa do h¹ithiÖt háng phÈmns¶ h¹ithiÖt 
H
II . CáC NHÂN Tố ảNH HƯởNG TớI CHấT LƯợNG SảN PHẩM





1 Nhóm nhân tố khách quan bên ngoài
Chất lượng sản phẩm ngày càng được phát triển và hoàn thiện theo một chu
trình kép kín. Tổ chức tiêu chuẩn chất lượng quốc tế (ISO) gọi chu trình này
là vòng tròn chất lượng. Vòng tròn chất lượng là cơ sở để xác định các yếu tố
ảnh hưởng tới chất lượng sản phẩm từ quá trình hình thành cũng như duy trì
từ khâu đầu đến khâu cuối trên cơ sở đó đưa ra biện pháp để điều chỉnh các
yếu tố cần thiết để nâng cao chất lượng sản phẩm. Chia nhóm nhân tố ảnh
hưởng tới chất lượng bên trong và bên ngoài





















Vòng tròn chất lượng( TCVN-5204-ISO9004)
Bao gói và
d
ự trữ

Bán và cung
c
ấp

Tự bảo dư
ỡng kĩ

thu
ật

Lắp đ
ặt và
v
ận

hành
Thanh lý
sau

SD

Nghiên cứu
Marketting

Cung
c
ấp

vật t
ư
k
ĩ

thuậ
t

Thử nghiệm và

ki
ểm

tr
a

Sản
xu
ất

Thống kê xd các yêu cầu kĩ
thu
ật , nghiên

cứu triển khai sản
xu
ất sản phẩm

Chuẩn bị và
khai t
ri
ển

quá trình
s
ản xuất







1.1 Nhu cầu nền kinh tế -văn hóa - xã hội.
Bất cứ ở trình độ nào, với mục đích sử dụng gì, chất lượng sản phẩm bao giờ
cũng bị chi phối, bị ràng buộc bởi hoàn cảnh, điều kiện và nhu cầu nhất định
của nền kinh tế. Trong thực tế không một sản phẩm nào tồn tại và phát triển
mà ít nhiều không liên quan đến nhưng mặt sau của nền kinh tế: cơ cấu, tính
chất, đặc điểm và xu hướng vận động của nhu cầu tác động trực tiếp tới chất
lượng sản phẩm.
Vấn đề kinh tế của tiêu dùng,cũng như thói quen tập quán ảnh hưởng tới
chất lượng sản phẩm mà các nhà sản xuất phải cố gắng đáp ứng. ậ những độ
tuổi khác nhau, trình độ nhận thức khác nhau, phong cách tiêu dùng khách
nhau ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm khác nhau. Chính vì thế chất lượng
sản phẩm chịu ảnh hưởng lớn của nền kinh tế- văn hóa- xã hội.
1.2 Trình độ khoa học- kỹ thuật- công nghệ.
Ngày nay, khoa học kỹ thuật đã và đang trở thành lực lượng sản xuất trực
tiếp. Do đó chất lượng của bất kỳ sản phẩm nào cũng gắn liền và bị quyết
định bởi sự phát triển của khoa học kỹ thuật, đặc biệt việc ứng dụng những
thành tựu công nghệ mới. Chu kỳ công nghệ ngày càng được rút ngắn, sản
phẩm sản xuất ngày càng có khả năng cung cấp nhiều lợi ích hơn cũng chính
vì vậy mà những chuẩn mực về chất lượng thường xuyên trở nên lạc hậu.
Làm chủ được khoa học công nghệ, tạo điều kiện để ứng dụng một cách
nhanh nhất, hiệu quả nhất thành tựu khoa học kỹ thuật vào sản xuất là vấn đề
quyết định đối với nâng cao chất lượng sản phẩm, góp phần nâng cao hiệu
quả kinh doanh của doanh nghiệp.
1.3 Nhu cầu thị trường
Nhu cầu thị trường là xuất phát điểm của quá trình quản lý chất lượng sản
phẩm, tạo động lực định hướng cho việc hoàn thiện chất lượng sản phẩm, các
sản có thể được đánh giá cao ở thi trường này nhưng lại không cao ở thị
trường khác. Nhu cầu thị trường thương xuyên thay đổi ở trong nước cũng





như trên thế giới về cỡ loại, tính năng, kỹ thuật, số lượng, chủng loại, cho ai,
lúc nào, tính an toàn, thẩm mỹ Vì vậy, phải tiến hành nghiêm túc thận trọng
công tác điều tra nghiên cứu nhu cầu khách hàng như thói quen, khả năng
thanh toán nhằm đưa ra những sản phẩm phù hợp, có đối sách kịp thời
đúng đắn.
1.4 Hiệu lực của cơ chế quản lý.
Các doanh nghiệp không thể tồn tại một cách biệt lập mà luôn có mối quan
hệ chặt chẽ và chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của tình hình chính trị xã hội và cơ
chế chính sách quản lý của nhà nước. Cơ chế quản lý vừa là môi trường vừa
là điều kiện cần thiết để tác động đến phương hướng, tốc độ cải tiến và nâng
cao chất lượng sản phẩm của doanh nghiệp.
- Trên cơ sở một hệ thống pháp luật chặt chẽ, quy định những hành vi và trách
nhiệm pháp lý của nhà sản xuất đối với nhà nước và người tiêu dùng. Nhà nước
tiến hành điều tra theo dõi chặt chẽ mọi hoạt động của người sản xuất nhằm bảo vệ
người tiêu dùng. Nhà nước tiến hành kiểm tra, theo dõi chặt chẽ mọi hoạt động
của nhà sản xuất nhằm bảo vệ người tiêu dùng.
- Nhà nước xây dựng các chính sách thưởng phạt về chất lượng ảnh hưởng tới tinh
thần các doanh nghiệp trong việc cố gắng nâng cao chất lượng sản phẩm. Việc
khuyến khích và hỗ trợ của nhà nước đối với các doanh nghiệp thông qua các
chính sách về thuế, tài chính là những điều kiện để đảm bảo chất lượng. Chú trọng
đầu tư theo chiều sâu để nâng cao hiệu quả tổng hợp của lực lượng sản xuất, dành
lực lượng thích đáng cho việc nghiên cứu, chế thử nhằm nâng cao chất lượng.
Ngoài ra, điều kiện tự nhiên cũng là nhân tố ảnh hưởng tới chất lượng sản phẩm
như: Khí hậu, các tia bức xạ mặt trời có thể làm thay đổi màu sắc, mùi vị của sản
phẩm hay nguyên vật liệu dùng để sản xuất sản phẩm, hoặc mưa bão có thể gây
ẩm mốc doanh nghiệp cần chú ý bảo quản và ngăn chặn những nhân tố gây tác

động xấu.
2. Những nhân tố bên trong doanh nghiệp
2.1 Lực lượng lao động




Con người là nhân tố vô cùng quan trọng quyết định tới chất lượng sản phẩm vì
con người tham gia vào tất cả các giai đoạn của quá trình sản xuất. Bao gồm toàn
thể cán bộ, công nhân viên trong doanh nghiệp. Trình độ chuyên môn, tay nghề,
kinh nghiệm, ý thức tinh thần, trách nhiệm, sự năng động, sáng tạo có ảnh hưởng
trực tiếp tới chất lượng sản phẩm. Do đó, doanh nghiệp phải có chính sách tuyển
dụng, đào tạo, huấn luyện, có chế độ đãi ngộ thoả đáng để kích thích sự hăng hái
làm việc.
2.2 Máy móc thiết bị và công nghệ
Đối với mỗi doanh nghiệp, máy móc thiết bị và công nghệ là yếu tố cơ bản tác
động mạnh mẽ và trực tiếp ảnh hưởng tới chất lượng sản phẩm. Mức độ chất
lượng sản phẩm phụ thuộc rất lớn vào trình độ hiện đại, cơ cấu tính đồng bộ, tình
hình bảo dưỡng, duy trì khả năng làm việc theo thời gian làm việc của máy móc
thiết bị, công nghệ, trình độ công nghệ của cá doanh nghiệp không thể tách rời
trình độ của các nước trên thế giới. Muốn sản phẩm có chất lượng đủ khả năng
cạnh tranh thì phải có công nghệ phù hợp . Trong khi nguồn tài nguyên ngày càng
cạn kiệt, khan hiếm đòi hỏi ứng dụng khoa học công nghệ vào sản xuất mới đạt
sản phẩm có chất lượng cao với chi phí hợp lý.
2.3 Vật tư, nguyên vật liệu.
Nguyên vật liệu là yếu tố cấu thành tham gia trực tiếp cấu thành sản phẩm vì
vậy,chất lượng , cơ cấu, tính đồng bộ của nguyên vật liệu sẽ ảnh hưởng trực tiếp
đến chất lượng sản phẩm. Vì vậy, cần quan tâm tới khâu bảo quản dự trữ để sử
dụng nguyên vật liệu đủ định lượng theo tiêu chuẩn, xây dựng mối quan hệ tốt lâu
dài giữa người sản xuất và người cung ứng. Xu hướng chuyên môn hoá hiện nay

làm cho việc sử dụng bán thành phẩm ngày càng gia tăng, các doanh nghiệp hiện
đại chỉ chế tạo một số bộ phận , 1 số bộ phận mua rồi lắp thành sản phẩm hoàn
chỉnh. Bởi vậy, chất lượng sản phẩm bị chi phối vào các bạn hàng nên phải tạo lập
quan hệ tốt để họ cung ứng kịp thời đầy đủ chính xác góp phần nâng cao chất
lượng sản phẩm của doanh nghiệp.
2.4 Công tác quản lý chất lượng sản phẩm




Quản lý chất lượng về cơ bản là những hoạt động và kỹ thuật nhằm đạt duy trì
chất lượng 1 sản phẩm, quy trình dịch vụ, việc đó gồm: Theo dõi tìm hiểu và loại
trừ các nguyên nhân gây ra những trục trặc về chất lượng để các yêu cầu của
khách hàng tiếp tục được đáp ứng. Trình độ quản lý nói chung và quản lý chất
lượng là một trong những nhân tố cơ bản góp phần đảy nhanh tốc độ cải tiến hoàn
thiện chất lượng sản phẩm. Quản lý chất lượng sản phẩm trở thành một nhiệm vụ
trung tâm của quá trình sản xuất của doanh nghiệp.
- Xây dựng tiêu chuẩn: Việc thực hiện công tác xây dựng chỉ tiêu chất
lượng sản phảm sẽ hình thành sản phẩm mới hợp lý về công dụng, thích hợp về thị
hiếu, loại bỏ sản phẩm không kinh tế, sử dụng hợp lý nguyên vật liệu, rút ngắn
thời gian sản xuất, nâng cao năng suất lao động vì vậy nâng cao chất lượng sản
phẩm phải coi trọng công tác xây dựng tiêu chuẩn và định mức kinh tế kỹ thuật
của sản phẩm.
- Kiểm tra quá trình cung ứng nguyên vật liệu.
- Kiểm tra kỹ thuật: cần kiểm tra việc thiết lập hệ thống kế hoạch sản xuất
sản phẩm trên từng loại máy móc thiết bị có phù hợp không, nếu không phải điều
chỉnh lại, doanh nghiệp cần tiến hành chặt chẽ từng công đoạn , thực hiện bảo
dưỡng sửa chữa máy móc thiết bị, cung cấp kịp thời phụ tùng linh kiện thay thế.
- Kiểm tra chất lượng sản phẩm: Kiểm định đánh giá trình độ chất lượng
sản phẩm, khắc phục nguyên nhân gây sản phẩm kém.

Chất lượng sản phẩm là vô cùng quan trọng, do đó không thể phó mặc cho các
nhân viên kiểm tra chất lượng, không nên coi kiểm tra chất lượng là trách nhiệm
của phòng kiểm tra (KCS) mà là của mọi thành viên trong doanh nghiệp. Các công
nhân sản xuất trực tiếp phải ý thức tầm quan trọng của việc mình làm ra từng sản
phẩm chất lượng tốt.
Quản lý kỹ thuật và kiểm tra chất lượng sản phẩm phụ thuộc vào phương thức tổ
chức nên cần phải xác định lại trách nhiệm của mỗi bộ phận trong doanh nghiệp.
Mục đích của việc kiểm tra chất lượng sản phẩm là đảm bảo sản phẩm cuối cùng
đạt yêu cầu đặt ra với giá thành thấp nhất, muốn đạt được điều đó phải hợp nhất




công tác kiểm tra chất lượng vào quá trình sản xuất sản phẩm. Thực chất của công
tác kiểm tra chất lượng sản phẩm là phòng ngừa việc đưa ra thị trường những sản
phẩm hỏng chứ không đơn thuần loại bỏ chúng , phải vạch ra những khuyết điểm ,
nguyên nhân và biện pháp khắc phục .



















III. Vai trò đảm bảo , nâng cao chất lượng sản phẩm.

Trong đời sống xã hội và giao lưu kinh tế có vai trò hết sức quan trọng và đang
trở thành thách thức to lớn trên phạm vi toàn thế giới. Nâng cao chất lượng sản
phẩm không chỉ có ý nghĩa to lớn và thiết thực đối với hoạt động sản xuất kinh
doanh mà còn ảnh hưởng trực tiếp tới người lao động, người tiêu dùng và nền kinh
tế quốc dân. Chính vì vậy, nâng cao chất lượng sản phẩm là một biện pháp quan
Nhu cầu

trườn
g

Khoa học công
ngh


Cơ ch
ế quản

Con



kinh
nghiệm


An

V
ốn

Nguyên
vật
li
ệu

ch
ất

ợng
chủng
lo
ại

Quản lý
ch
ất

lượn
g

Chất lượng
s
ản


ph
ẩm

Kiểm

trìn
h

độ

đo

M M
thi
ết

bị

trình đ
ộ công

Chính

Khách





trọng để doanh nghiệp có thể tồn tại và đứng vững trong môi trường cạnh tranh

ngày càng gay gắt và khốc liệt, để đáp ứng nhu cầu luôn thay đổi cuả khách hàng.
Nâng cao chất lượng sản phẩm không chỉ nghĩa là làm sản phẩm sử dụng tốt hơn,
an toàn hơn mà đồng nghĩa tăng tính hữu ích , đa năng của sản phẩm.

* Đối với người sản xuất
- Nâng cao chất lượng sản phẩm giúp doanh nghiêp có khả năng cạnh
tranh cao trên thị trường , mở rộng thị trường và chinh phục khách hàng .
- Tạo uy tín, danh tiếng cho doanh nghiêp . Đó là tài sản vô hình thu hút
được khách hàng, tăng doanh thu, phát triển và mở rộng sản xuất.
- Hạ giá thành, tạo cơ hội cho doanh nghiêp buôn bán làm ăn với các nước
khác giữ uy tín cho quốc gia .
- Nâng cao chất lượng sản phẩm tức là cùng một khối lượng nguyên vật
liệu có thể sản xuất ra một giá trị sử dụng cao hơn nên tiết kiệm được sức người,
sức của và đạt hiệu quả kinh tế cao hơn.
* Đối với xã hội và nền kinh tế quốc dân
- Nâng cao chất lượng sản phẩm sẽ làm tăng giá trị sử dụng và lợi ích xã
hội trên một đơn vị chi phí đầu vào, giảm lượng nguyên vật liệu sử dụng, giảm ô
nhiễm môi trường , phát triển sản xuất, đảm bảo việc làm, thu nhập cho người lao
động .
- Tạo dược lòng tin cậy của người tiêu dùng với sản phẩm
- Tăng khả năng cạnh tranh về kinh tế, khẳng định vị trí sản phẩm của đất
nước trên thị trường quốc tế.
- Nâng cao chất lượng sản phẩm là một biện pháp hữu hiệu kết hợp các
loại lợi ích: doanh nghiêp, xã hội, người tiêu dùng, người lao động.
Chất lượng sản phẩm tạo nên hình ảnh tốt đẹp của doanh nghiêp. hoặc ngược lại.
Người mua hàng có thể hoàn toàn không biết đến khả năng , nguồn lực của doanh
nghiêp nhưng họ biết đến doanh nghiêp qua sử dụng sản phẩm. Theo số lượng
thống kê những công ty có vị thế hàng đầu về chất lượng đã thiết lập giá ở mức





8% cao hơn so với đối thủ cạnh tranh có vị thế thấp hơn về chất lượng. Họ cũng
đạt mức trung bình về thu hồi vốn cho đầu tư 30% so với mức 20% của những
công ty ở những thang bậc khác nhau của chất lượng.
















chương II : Quản trị chất lượng

I. Khái niệm, vai trò quản trị chất lượng
1, Khái niệm, vai trò quản trị chất lượng
1.1 Khái niệm
Để tạo ra những sản phẩm thoả mãn nhu cầu khách hàng, nâng cao hiệu quả
công tác quản lý và tạo ra những sản phẩm có chi phí hợp lý ngay cả trong quá
trình vận hành nhằm đảm bảo sự ổn định lâu dài của các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật.
Trách nhiệm quản lý chất lượng không chỉ nằm trong khâu sản xuất mà cả trong





hoạt động quản lý bán hàng. Quản lý chất lượng là trách nhiệm của tất cả các cấp
từ cán bộ lãnh đạo, chỉ đạo đến mọi thành viên trong tổ chức.
“ Quản trị chất lượng là một tập hợp những hoạt động của chức năng quản trị
chung nhằm xác định chính sách chất lượng, mục đích và thực hiện chúng bằng
những phương tiện như lập kế hoạch , điều khiển chất lượng, đảm bảo chất lượng
và cải tiến chất lượng trong khuôn khổ hệ thống pháp luật”.
Các quan điểm về quản lý chất lượng được phát triển và hoàn thiện liên tục thể
hiện ngày càng đầy đủ hơn bản chất tổng hợp, phức tạp của vấn đề chất lượng và
sự phản ánh thích hợp với điều kiện và môi trường kinh doanh mới.
Theo A.G.Robéton- người Anh: “ quản lý chất lượng sản phẩm và ứng dụng các
sản phẩm, thủ tục kiến thức khoa học kỹ thuật đảm bảo cho các sản phẩm đã, đang
sản xuất phù hợp với yêu cầu thiết kế hoặc với yêu cầu trong hợp đồng kinh tế
bằng con đường hiệu quả nhất, kinh tế nhất”.
Theo A.V.Feigenbaun- người Mỹ: “ quản lý chất lượng là một hệ thống hoạt động
thống nhất có hiệu quả của những bộ phận khác nhau trong một tổ chức chịu trách
nhiệm triển khai các tham số chất lượng, duy trì mức chất lượng đã đạt được và
nâng cao nó để đảm bảo sản xuất và tiêu dùng sản phẩm một cách kinh tế nhất,
hiệu quả nhất “
Theo Philip.B.Grosby:” quản lý chất lượng là một phương tiện có tính chất hệ
thống đảm bảo việc tôn trọng tổng thể tất cả các thành phânf của một kế hoạch
hành động”.
Theo ISO 9000:” quản lý chất lượng sản phẩm là các phương pháp hoạt động
được sử dụng nhằm đáp ứng yêu cầu về chất lượng”.
Mặc dù có nhiều quan điểm về quản lý chất lượng song chúng có nhiều điểm
tương đồng, có thể khái quát bằng khái niệm sau:” quản lý chất lượng là hệ thống
các hoạt động, các biện pháp và quy định hành chính, xã hội , kinh tế – kỹ thuật

dựa trên các thành tựu của khoa học hiện đại nhằm sử dụng tối ưu những tiềm
năng để đảm bảo, duy trì và không ngừng nâng cao chất lượng nhằm thoả mãn tối
đa nhu cầu của xã hội với chi phí thấp nhất”.




1.2 Vai trò quản lý chất lượng
Quản lý chất lượng sản phẩm đóng vai trò rất quan trọng trong doanh nghiệp ,
nó quyết định chất lượng sản phẩm tung ra thị trường như thế nào, cao hay thấp
qua đó quyết định sự tồn vong và thịnh suy của công ty trên thị trường. Đối với
mọi doanh nghiệp, quản lý chất lượng sản phẩm nhằm duy trì, đảm bảo và nâng
cao chất lượng sản phẩm, tạo khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp, tăng lợi
nhuận.
Kono Suke Matuhita – chủ tịch tập đoàn điện tử Nhật Bản:” Nếu cho rằng mọi
hàng hoá có linh hồn thì chất lượng chính là linh hồn của nó” ( Bản lĩnh trong kinh
doanh-NXB quốc gia 1994). Như vậy nâng cao chất lượng sản phẩm phải cần
nhiều nỗ lực và thái độ của nhà sản xuất thực hiện thông qua hàng loạt các giải
pháp từ khâu định chiến lược đến mua yếu tố đầu vào, tổ chức công nghệ sản xuất
và cung ứng sản phẩm đến khách hàng, nó còn đặt ra với cả người phân phối bán
hàng.
2. Chức năng quản lý chất lượng
2.1 Hoạch định chất lượng
* Vai trò
- Hoạch định chất lượng là chức năng quan trọng nhất và là khâu đầu tiên của
hoạt động quản lý , là định hướng phát triển chung cho toàn công ty
- Làm cho hoạt động của doanh nghiệp có hiệu quả hơn nhờ khai thác hiệu quả
nguồn lực và tiềm năng dài hạn làm giảm chi phí chất lượng .
- Xác định chính xác mục tiêu, giúp công ty mở rộng thị trường.
- Tạo ra văn hoá mới, một sự chuyển biến căn bản về phương pháp quản lý

chất lượng của các công ty.
* Nội dung
- Xác định mục tiêu chất lượng và chính sách chất lượng.
- Phát triển các quá trình hình thành các đặc điểm của sản phẩm đáp ứng nhu
cầu khách hàng
- Xây dựng các giải pháp kinh tế kỹ thuật cần thiết ở từng giai đoạn




* Cơ sở
Nhu cầu khách hàng về chất lượng sản phẩm, khả năng công nghệ
2.2 Tổ chức thực hiện
Là quá trình tổ chức điều hành các hoạt động tác nghiệpthông qua những
phương tiện kỹ thuật, phương pháp cụ thể nhằm đảm bảo chất lượng theo
đúng yêu cầu đề ra
- Giúp từng người , từng bộ phận thực hiện mục tiêu rõ ràng
- Phân giao nhiệm vụ cho từng người, từng bộ phận phải cụ thể khoa học để
tạo thoả mái trong quá trình làm việc.
- Tổ chức các chương trình đào tạo, cung cấp kiến thức, kinh nghiệm phương
pháp cần thiết
- Cung cấp nguồn lực về tài chính và phương tiện kỹ thuật để thực hiện nhiệm
vụ .
2.3 Kiểm tra, kiểm soát chất lượng.
Kiểm tra chất lượng được xem là một hệ thống các hoạt động nghiệp vụ nhằm
theo dõi, thu thập ,phát hiện và đánh giá những trục trặc khuyết tật của quá trình,
của sản phẩm trong mọi khâu. Mục đích kiểm tra không phải phát hiện sản phẩm
hỏng , loại ra mà phải tìm kiếm nguyên nhân để có biện pháp khắc phục, ngăn
chặn .
- Xác định mức độ chất lượng thực tế đạt được có tuân thủ quy trình quy phạm

không?
- So sánh giữa chất lượng thực tế với chất lượng kế hoạch để phát hiện sai
lệch.
- Phân tích thông tin về chất lượng làm cơ sở cho việc cải tiến chất lượng, sản
phẩm
Có thể tiến hành kiểm tra định kỳ hoặc kiểm tra bất thường
2.4 Chức năng điều chỉnh và cải tiến chất lượng.
Đây là hoạt động nhằm làm cho các hoạt động của hệ thống doanh nghiệp có
khả năng thực hiện ddược những tiêu chuẩn chất lượng đề ra, đồng thời cũng là




đưa ra chất lượng sản phẩm thích ứng với tình hình mới nhằm giảm khoảng cách
giữa mong muốn của khách hàngvà thực tế chấ lượng đạt được, thoả mãn nhu cầu
khách hàng ở mức độ cao hơn.
Những nhiệm vụ chủ yếu:
- Xác định các yêu cầu cụ thể và cải tiến chất lượng
- Xác định các yêu cầu cụ thể và điều kiện nhân lực, tài chính, vật tư cần thiết.
- Duy trì và khuyến khích quá trình xây dựng và thực hiện các dự án cải tiến
chất lượng sản phẩm
Với những chỉ tiêu không đạt , phải phân tích nguyên nhân nhằm xác định
xem vấn đề thuộc về khách hàng hay thực hiện, tìm ra điều sai để tiến hành hoạt
động điều chỉnh hợp lý, có thể đổi mới hoặc cải tiến.
3. Nội dung quản lý chất lượng .
3.1 Quản lý chất lượng trong khâu thiết kế.
Đây là hệ thống hết sức quan trọng và ngày nay được coi là nhiệm vụ đầu tiên
trong quản lý chất lượng , mức độ thoả mãn nhu cầu sản phẩm hoàn toàn phụ
thuộc vào chất lượng thiết kế. Chất lượng thiết kế tác động trực tiếp tới chất
lượng sản phẩm

Để thực hiện mục tiêu đó cân thực hiện các nhiệm vụ sau:
- Tập hợp tổ chức và thực hiện sự phối hợp giữa các nhà thiết kế, tài chính, tác
nghiệp để thiết kế sản phẩm, chuyển hoá những yêu cầu đó thành đặc điểm
sản phẩm.
- Đưa ra các phương án khác nhau về sản phẩm có thể đáp ứng yêu cầu khác
nhau của khách hàng. Đặc điểm sản phẩm có thể lấy từ sản phẩm cũ hay cải tiến
những sản phẩm đócho phù hợp đòi hỏi mơí hoặc nghiên cứu thiết kế đặc điểm
sản phẩm mới.
- Đánh giá phương án thiết kế và lựa chọn phương án tối ưu, phân tích kinh tế
về mối quan hệ giữa lợi ích của đặc điểm sản phẩm mới đưa lại và chi phí
cần thiết để tạo ra chúng. Trong giai đoạn này, sử dụng các hệ thống đảm bảo




chất lượng : Hệ thống điều kiện kỹ thuật thít kế, duyệt thiết kế, thẩm định bản
vẽ, thử nghiệm sản phẩm.
3.2. Quản lý chất lượng trong giai đoạn cung ứng.
Mục tiêu cơ bản của phân hệ cung ứng là đáp ứng đầy đủ 5 yêu cầu: chính xác
về thời gian, địa điểm, số lượng, chất lượng, chủng loại. Do đó giai đoạn này cần:
- Lựa chọn nhà cung ứng phù hợp đảm bảo tính ổn định cao của đầu vàoquá
trình sản xuất, xây dựng mối quan hệ tin tưởng lâu dài.
- Tạo lập một hệ thống thông tin phản hồi chặt chẽ với người cung ứng.
- Thoả thuận về việc đảm bảo tiêu chuẩn chất lượng của nguyên vật liệu cung
ứng cũng như các phương pháp thẩm tra, xác minh.
- Phải xác định rõ, đầy đủ thống nhất các điều khoản trong việc giải quyết trục
trặc khuyết tẩttong qua trình cung ưngs nguyên vật liệu như: phương án giao
nhận, thời gia, địa điểm
3.3. Quản lý chất lượng trong quá trình sản xuất.
Mục đích: Huy đọng và khai thác có hiệu quả các quá trình công nghệ, máy

móc thiết bị và con người đã lựa chọn để sản xuất sản phẩm có chất lượng phù hợp
thiết kế ban đầu.
- Kiểm tra nguyên vật liệu trước khi đưa vào sử dụng.
- Thiết lập các quy trình, thủ tục, thao tác, tiêu chuẩn ở toàn bộ dây chuyền sản
xuất.
- Kiểm tra các sản phẩm dở dang, bán thành phẩm, bộ phận, chi tiết, thành
phẩm.
- Kiểm tra hoàn chỉnh thường xuyên các dụng cụ đo lườngchất lượng sản
phẩm, công việc được tiến hành với cả lĩnh vực quản lý.
- Kiểm tra công nghệ, thiết bị kỹ thuậtvà có giải pháp đảm bảochất lượng hoạt
động của máy móc thiết bị.
Người ta thường sử dụng các chỉ tiêu: chỉ tiêu phản ánh chất lượng kỹ thuật,
nguyên vật liệu, bán thành phẩm, thành phẩm, chất lượng quản trị Và các hệ




thống đảm bảo chất lượng: Hệ thống duyệt thiết kế quy trình(kỹ sư công nghệ,
người thiết kế sản phẩm ) , hệ thống kiểm tra chất lượng.
3.4. Quản lý chất lượng trong phân phối bán hàng.
Mục đích: Cung cấp nhanh đầy đủ kịp thời các sản phẩm đáp ứng nhu cầu
khách hàng với chi phí hợp lý, bên cạnh đó tìm mọi cách để tạo điều kiện cho
người sử dụng có thể khai thác được tối đa những tính năng của sản phẩm. Do
vậy, mà chúng ta cần xác định các hình thức và phương thức quảng cáo cho phù
hợp, gây ấn tượng.
Những nhiệm vụ chủ yếu:
- Xác định danh mục sản phẩm hợp lý.
- Tổ chức mạng lưới tiêu thụ hợp lý.
- Đảm bảo thông tin đày đủ cho khách hàng về thuộc tính sản phẩm, điều kiện
sử dụng và hướng đãn cần thiết.

- Đảm bảo việc sản xuất và cung cấp phụ tùng, chi tiết thay thế.
- Tổ chức mạng lưới bảo hành và sửa chữa khi bán hàng.
- Đề xuất các phương án bao gói, bảo quản, vận chuyển bốc dỡ
Thông thường người ta sử dụng hệ thống phục vụ tại chỗ( lắp đặt, bảo hành, chỉ
đường ) và hệ thống đánh giá sản phẩm, nhận thông tin từ khách hàng về sản
phẩm họ thích hoặc không thích.
Để công tác quản lý chất lượng có hiệu quả thì việc xác định trách nhiệm
ban lãnh đạo, các phòng ban, mỗi cá nhân với chất lượng sản phẩm của doanh
nghiệp là vô cùng quan trọng, không thể chỉ phó mặc cho nhân viên phòng KCS
mà nên coi chất lượng sản phẩm là trách nhiệm của mọi thành viên. Điều cần
thiết là phải làm sao đểviệc kiểm tra chất lượng sản phẩm trở thành tự giác trong
ý thưcs của người công nhân.Việc xác định, định lượng sản phẩm để phục vụ
yêu cầu chất lượng trong sản xuất dựa vào các hình thức như kiểm tra toàn bộ
,kiểm tra đại diện
* Kiểm tra toàn bộ: Là thực hiện kiểm tra đối với toàn bộ sản phẩm sản xuất ra
thường áp dụng trong doanh nghiệp sản xuất với số lượng không lớn, sản phẩm




quý hiếm có giá trị cao, không để sản phẩm kém ra thị trường song rất tốn thời
gian và chi phí.
* Kiểm tra đại diện( chọn mẫu): Bộ phận kiểm tra lấy một mẫu ngẫu nhiên một
số sản phâmtrong toàn bộ sản phẩm để đánh giá, thường được áp dụng ở doanh
nghiệp có quy mô lớn, chất lượng sản phẩm tương đối đều, chi phí kiểm tra ít
nhưng lại không loại bỏ hết sản phẩm hỏng.
Có nhiều phương pháp để kiểm tra chất lượng sản phẩm như:phương pháp cảm
quan, chuyên gia, thống kê, thử nghiêm
- Phương pháp cảm quan: Chủ yếu dựa vào khả năngcủa con người về chỉ tiêu
chất lượngđòi hỏi trình độ chuyên môn của nhân viên kiểm tra phải cao ,

phải có bề dày kinh ngghiệm. Có ưu điểm là tiết kiệm vật tư máy móc thiết bị
nhưng lại thiêu tính chính xác
- Phương pháp kiểm tra bằng thực nghiệm: Là dựa hoàn toàn vàohệ thống máy
móc thiết bị để xác định chỉ tiêu chất lượng sản phẩm. Có kết quả khách
quan, độ chính xác tuỳ thuộc vào độ chính xác của máy móc thiết bị .
4. Một số mô hình quản lý chất lượng .
Hệ thống quản lý chất lượng là một tổ hợp các cơ cấu, tổ chức, trách nhiệm,
thủ tục, phương pháp và các nguồn lực cần thiết để thực hiện quản lý chất lượng .
* Sự cần thiết phải xây dựng hệ thống quản lý chất lượng :
- Xây dựng hệ thống quản lý chất lượng mới có khả năng tạo ra những sản
phẩm dịch vụ thoả mãn nhu cầu của khách hàng với chi phí hợp lý.
- Mới tập trung được các biện pháp phòng ngừa như: Thiết kế, cung ứng, đào
tạo, nghiên cứu thị trường
- Tạo ra sự tham gia tích cực của mọi thành viên, mọi bộ phận phát huy sức
mạnh tập thể.
- Hình thành cấu trúc rõ ràng, phân định rõ chức năng nhiệm vụ từng thành
viên, tạo ra sự ổn định thống nhất.
4.1. Mô hình QLCL đồng bộ TQM(Total Quality Management.)




TQM là cách tổ chức quản lý của một doanh nghiệp tập trung về chất lượng
thông qua việc động viên thu hút toàn bộ mọi thành viên tham gia tích cực vào
quản lý chất lượng ở mọi cấp, mọi khâu nhằm đạt được những thành công lâu dài
nhờ việc thoả mãn nhu cầu khách hàngvà đem lại lợi ích cho mọi thành viên, cho
khách hàng, cho doanh nghiệp và cho toàn xã hội.
* Mục tiêu quản lý chất lượng .
Mục tiêu chính của TQM là tạo ra chất lượng sản phẩm tốt thoả mãnnhu cầu của
khách hàng. TQM là phong cách quản lý dựa trên tinh thần nhân văn vì vậy mà

phát huy yếu tố con người, đưa họ nhiều sáng kiến, giá trị kinh tế cao, tiết kiệm
chi phí, rút ngắn thời gian giao hàng nhưng chất lượng không thay đổi hoặc tăng
lên almf tăng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp.
* Đặc điểm của TQM.
- Coi chất lượng là mục tiêu hàng đầu, chất lượng là nhận thức đánh giá của
khách hàng về chỉ tiêu sản phẩm. Coi khách hàng là một bộ phận, là người cộng
sự trong quá trình quản lý chất lượng của doanh nghiệp.
- Lấy con người là trung tâm, là nhân tố cơ bản có ý nghĩa quyết định trong
quá trình quản lý, mọi người đều có vai trò trách nhiệm đối với vấn đề chất lượng ,
phụ thuộc vào trình độ chuyên môn, kinh nghiệm và kỹ năng của các thành viên vì
vậy cần trang bị cho họ những kiến thức cơ bản về quản lý, ý thức tự giác Mọi
người đều tham gia, giám đốclà người đề ra chương trình và là người đầu tiên
phục vụ chương trình, chỉ đạo tới cán bộ cấp trung gian, cuối cùng tới nhân viên
trực tiếp hoạt động, mỗi cấp tự chịu trách nhiệm về chất lượng của mình. Ngày
nay xu hướng quản lý chất lượng đang dần đổi thành cái tự mình quản lý.
- TQM tập trung vào quản lý quá trình nhằm phát hiện các nguyên nhân để
xoá bỏ, lấy phòng ngừa là chinh, sử dụng công cụ thống kê như: biểu đồ Pareto,
biểu đồ kiểm soát, lưu đồ vòng tròn Deming để cải tiến không ngừng hệ thống.
- TQM quản lý chất lượng tập trung quản lý chức năng chéo trong tổ chức ,bên
cạnh đó xây dựng nhóm tự quản lý về chất lượng trên cơ sở tôn trọng những con

×