Tải bản đầy đủ (.pdf) (70 trang)

luận văn:Một số giải pháp cho thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài của thành phố Hà Nội trong giai đoạn 2006-2010 pptx

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (690.17 KB, 70 trang )


1





LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP

ĐỀ TÀI: “Một số giải pháp cho thu hút vốn
đầu tư trực tiếp nước ngoài của thành phố
Hà Nội trong giai đoạn 2006-2010.”














2

MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1


CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI
VÀ CHÍNH SÁCH THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP
NƯỚC NGOÀI 3

1. Khái niệm vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài và đặc điểm của vốn
đầu tư trực tiếp nước ngoài 3
1.1 Khái niệm FDI 3
1.2 Đặc điểm của FDI 4
2. Chính sách thu hút FDI 5
2.1 Khái niệm chính sách thu hút FDI 5
2.2 Mục tiêu của chính sách thu hút FDI 6
2.3 Quan điểm về chính sách thu hút FDI 6
2.4 Nội dung chính sách thu hút FDI 7
3. FDI và chính sách thu hút FDI của Việt Nam 8
3.1 Đặc điểm của vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam 8
3.1.1 Về quy mô dự án 8
3.1.2 Về hình thức sở hữu 9
3.1.3 Về cơ cấu đầu tư theo ngành 9
3.1.4 Về địa bàn đầu tư 11
3.1.5 Theo đối tác đầu tư 12
3.2 Tác động của FDI tới kinh tế-xã hội Việt Nam 12
3.2.1 Về lĩnh vực kinh tế 12
3.2.1.1 Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tác động đến kinh tế 12
3.2.1.2 Đánh giá chính sách hiện tại 13
3.2.2 Về lĩnh vực xã hội 15
3.2.2.1 Vốn FDI tác động đến xã hội 15
3.2.2.2 Đánh giá chính sách hiện tại 17
3.2.3 Về lĩnh vực môi
trường

1
8

3

CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG VỀ THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC
NGOÀI VÀ CHÍNH SÁCH THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI
CỦA HÀ NỘI 20

1. Giới thiệu khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của
thành phố Hà Nội
2
0

1.1 Điều kiện địa lý tự nhiên 20
1.1.1 Vị trí địa lý 20
1.1.2 Đặc điểm địa hình 21
1.1.3 Khí hậu 22
1.2 Tài nguyên thiên nhiên 23
1.2.1 Tài nguyên đất 23
1.2.2 Tài nguyên rừng 23
1.2.3 Tài nguyên khoáng sản 24
1.3 Tiềm năng kinh tế 25
1.3.1 Những lĩnh vực kinh tế lợi thế 25
1.3.2 Tiềm năng du lịch 25
2. Thực trạng thu hút vốn đầu tư nước ngoài của thành phố
Hà Nội trong những năm gần đây 26
2.1 Tình hình chung 26
2.2 Năm 2004 – 2007 26

2.3 Năm 2008 29

2.4 Đánh giá chung 30
2.4.1 Yếu tố tích cực 30
2.42 Các vấn đề còn hạn chế 31
3. Các chính sách thu hút vốn đầu tư nước ngoài của thành
phố trong khung khổ chung của đất nước. 32
4. Tác động của vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tới nền kinh
tế thành phố Hà Nội 37
4.1 FDI đối với việc làm và cải thiện nguồn nhân lực của thành phố 37
4.2 FDI đối với công nghiệp 39
CH

Ư

ƠNG 3
GIẢI PHÁP CHO CHÍNH SÁCH THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC
NGOÀI CỦA HÀ NỘI 41

4

1. Quan điểm về thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 41
1.1 Huy động cao nhất các nguồn lực để phát triển với tốc độ tăng
trưởng nhanh
43
1.2 Phát triển thành phố Hà Nội đảm bảo vị trí vai trò của tỉnh đối với
đồng bằng Sông Hồng 45
1.3 Phát triển kinh tế gắn với phát triển xã hội 46
1.4 Phát triển kinh tế phải kết hợp chặt chẽ với khai thác tài nguyên
thiên nhiên hợp lý 46

1.5 Phát triển kinh tế kết hợp với bảo vệ an ninh - quốc phòng 47
1.6 Phát triển các tiểu vùng 47
1.6.1 Vùng công nghiệp - dịch vụ thành phố Hà Nội và phụ cận 47
1.6.2 Vùng sản xuất nông nghiệp 49
2. Một số giải pháp nhằm thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào
thành phố Hà Nội. 50
2.1 Nâng cao hiệu quả khu vực kinh tế có nhiều vốn FDI
5
0
2.2 Phát triển nguồn nhân lực 51
2.3 Phát triển khoa học - công nghệ và bảo vệ môi trường 52
2.4 Tổ chức thực hiện quy hoạch 52
2.5 Tăng hiệu quả phân bổ vốn FDI 53
2.6 Một số chính sách cụ thể 54
3. Kiến nghị thu hút vốn đầu tư 57
3.1 éề xuất hoàn thiện công tác quy hoạch 57
3.2 Nâng cao hiệu lực quản lý Nhà nước đối với ĐTNN 58
3.3 Trong lĩnh vực quản lý môi trường tại các KCN nơi tập trung
ĐTNN 58
3.4 Cải cách hành chính và kiến nghị với trung ương 60

KẾT LUẬN 61
DANH SÁCH TÀI LIỆU THAM KHẢO





5


LỜI MỞ ĐẦU
Để thực hiện mục tiêu được đề ra ngay từ Đại hội đảng lần thứ 6 năm
1986 “Về cơ bản hoàn thành công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nu?c vào năm
2020”, nhiều chủ trương chính sách đã được xây dựng trong các Chiến lu?c
phát triển kinh tế xã hội giai đoạn 2001-2010, Chiến lược toàn diện tăng trưởng
xóa đói giảm nghèo (2003), Mục tiêu thiên niên kỷ (2001), Định hướng chiến l-
ược phát triển bền vững (2004). Các văn kiện này đều hướng tới các m?c tiêu
chính như sau:
Về phát triển kinh tế: tăng trưởng GDP năm 2010 gấp đôi năm 2000,
chuyển dịch cơ cấu theo hướng giảm tỷ trọng nông lâm nghiệp còn 16-17%,
tăng tỷ trọng công nghiệp lên 40-41% và tăng mạnh tỷ trọng dịch vụ lên 42-
43%;
Về xã hội: đảm bảo tiến bộ, công bằng xã hội về điều kiện học tập, tìm
kiếm việc làm và phân phối thu nhập, nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe
nhân dân, phát triển đô thị và quản lý quá trình di dân;
Về môi trường: khai thác hợp lý, sử dụng tiết kiệm và có hiệu quả nguồn
tài nguyên thiên nhiên, phòng ngừa và xử lý hiệu quả tình trạng ô nhiễm môi
trường, bảo tồn đa dạng sinh học.
Đối với Việt nam, trong gần hai thập kỷ qua, khu vực Đầu tu trực tiếp
nước ngoài (ĐTTTNN) đã góp phần quan trọng vào quá trình tăng trưởng với
tốc độ cao của n?n kinh tế Việt Nam, tạo nhiều thuận lợi cho quá trình Công
nghiệp hoá, Hiện đại hoá đất nước, xoá nghèo, tạo việc làm và thu hẹp khoảng
cách kinh tế với các nước trong khu vực. Thấy được tâm quan trọng của nó nên
các tỉnh thành phố trong nước phải có những biện pháp và chính sách sử dụng
và thu hút vốn FDI sao cho hiệu quả, hợp lý.

6

Hà Nội là một trong các tỉnh thành phố dẫn đầu trong việc thu hút vốn
FDI nên em chọn đề tài “Một số giải pháp cho thu hút vốn đầu tư trực tiếp

nước ngoài của thành phố Hà Nội trong giai đoạn 2006-2010”.
Ngoài lời mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo thì nội dung của
đề tài gồm ba chương:
Chương I: Cơ sở lý luận về vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài và chính sách
thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài.
Chương II: Thực trạng về thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài và
chính sách thu hút vốn đầu tư trực tiếp tại Hà Nội.
Chương III: Giải pháp chính sách thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
tại Hà Nội.
















7

CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI
VÀ CHÍNH SÁCH THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI


1. Khái niệm vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài và đặc điểm của vốn
đầu tư trực tiếp nước ngoài
1.1 Khái niệm FDI
Đầu tư là tập hợp các hoạt động bỏ vốn và sử dụng vốn theo một chương
trình đã được hoạch định trong một khoàn thời gian tương đối lâu dài nhằm thu
được lợi ích lớn hơn cho các nhà đầu tư, cho xã hội và cho cộng đồng.
Đầu tư trực tiếp nước ngoài(FDI) là loại hình đầu tư quốc tế được thực
hiện trên thông qua việc thành lập các công ty con để mở rộng phạm vi hoạt
động kinh doanh của các công ty quốc tế ra toàn cầu. Việc mở rộng sản xuất
thông qua các hình thức FDI không chỉ đơn thuần là các hoạt động chu chuyển
tài chính quốc tế, mà cùng với nó là hoạt động chuyển giao công nghệ, bí quyết
và các tài sản khác. Người bỏ vốn trong hoạt động đầu tư trực tiếp cũng là người
sử dụng vốn, nhà đầu tư là người quản lý hoạt động đầu tư. Trong hoạt động
FDI, người đầu tư bỏ vốn vào một đối tượng nhất định nhằm tăng thêm năng lực
sản xuất hiện có hoặc tạo ra năng lực sản xuất mới, họ cũng có thể mua lại một
số cổ phiếu đủ lớn để tham gia quản lý, điều hành hoạt động kinh doanh thu lợi
tức.
Đầu tư trực tiếp nước ngoài là hình thức đầu tư quốc tế mà các nhà đầu tư
nước ngoài góp một lượng vốn đủ lớn để thiết lập các cơ sở sản xuất, kinh
doanh, nhờ đó cho phép họ trực tiếp tham gia quản lý, điều hành đối tượng bỏ
vốn đầu tư, cùng với các đối tác nước nhận đầu tư chia sẻ rủi ro, thu lợi nhuận từ
hoạt động đầu tư đó.

8

Tổ chức thương mại thế giới WTO đưa ra định nghĩa về FDI như sau:
“Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) xảy ra khi một nhà đầu tư từ một nước (nước
chủ đầu tư) có được một tài sản ở một nước khác (nước thu hút đầu tư) cùng với
quyền quản lý tài sản đó. Phương diện quản lý là thứ để phân biệt FDI với các

công cụ tài chính khác. Trong phần lớn trường hợp, cả nhà đầu tư lẫn tài sản mà
người đó quản lý ở nước ngoài là các cơ sở kinh doanh. Trong những trường
hợp đó, nhà đầu tư thường hay đựoc gọi là "công ty mẹ" và các tài sản được gọi
là "công ty con" hay "chi nhánh công ty".
1.2 Đặc điểm của FDI
Đầu tư FDI tồn tại dưới nhiều hình thức, đặc điểm của FDI cũng phụ
thuộc theo các hình thức như sau:
- Hợp đồng hợp tác kinh doanh là văn bản ký kết giữa hai hoặc nhiều bên
(gọi là bên hợp doanh) quy định rõ trách nhiệm và phân chia kết quả kinh doanh
cho mỗi bên để tiến hành đầu tư sản xuất kinh doanh ở nước tiếp nhận đầu tư mà
không thành lập một pháp nhân
- Doanh nghiệp liên doanh là loại hình doanh nghiệp do hai bên hoặc các
bên nước ngoài hợp tác với các nước tiếp nhận đầu tư cùng góp vốn, cùng kinh
doanh, cùng hưởng lợi nhuận và chia sẻ rủi ro theo tỷ lệ góp vốn. Doanh nghiệp
liên doanh thường được thành lập theo hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn,
có tư cách pháp nhân theo pháp luật của nước tiếp nhận đầu tư.
Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài là doanh nghiệp thuộc sự sở hữu của
các nhà đầu tư nước ngoài ( tổ chức hoặc cá nhân nước ngoài) do nhà đầu tư
nước ngoài thành lập tại nước tiếp nhận đầu tư, tự quản lý và chịu trách nhiệm
về kết quả sản xuất, kinh doanh.Đầu tư trực tiếp nước ngoài có tác động trực
tiếp không những với các nước được tiếp nhận đầu tư mà còn với các nước đi
đầu tư ở các nước khác.

9

2. Chính sách thu hút FDI
2.1 Khái niệm chính sách thu hút FDI
Chính sách là tổng thể các tư tưởng ,quan điểm công cụ mà chủ thể quản
lý sủ dụng để tác động lên đối tượng và khách thể quản lý nhằm thực hiện các
mục tiêu nhất định của hệ thống theo định hướng mục tiêu tổng thể. Chính sách

xác định những chỉ dẫn chung cho quá trình ra quyết định. Chúng vạch ra phạm
vi hay giới hạn cho phép của các quyết định, nhắc nhở các nhà quản lý những
quyết định nào là có thể và những quyết định nào là không thể. Bằng cách đó
các chính sách đề xướng suy nghĩ và hành động của mọi thành viên trong tổ
chức vào thực hiện các mục tiêu chung của tổ chức.
Chính sách phát triển kinh tế xã hội là quyết sách của Nhà nước nhằm giải
quyết một vấn đề chín muồi đặt ra trong đời sống kinh tế xã hội của đất nước
thông qua hoạt động thực thi của các ngành, các cấp có liên quan trong bộ máy
Nhà nước.
- Xét theo nghĩa rộng chính sách kinh tế - xã hội là tổng thể các quan
điểm tư tưởng phát triển , những mục tiêu tổng quát và những phương thức cơ
bản để thực hiện mục tiêu phát triển của đất nước. Chính sách theo quan niệm
trên là đường lối phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Ở Việt Nam đường lối
do Đảng cộng sản Việt Nam - lực lượng chính trị lãnh đạo nhà nước và xây
dựng.
- Xét theo nghĩa hẹp thì có rất nhiều khái niệm khác nhau về chính sách
kinh tế - xã hội ( chính sách công) :
Chính sách công là phương thức hành động được nhà nước tuyên bố và
thực hiện nhằm giải quyết những vấn đề lặp đi lặp lại. Các vấn đề lặp đi lặp lại
là những vấn đề gây ra sự hạn chế trong việc sử dụng đầu tư. Tình trạng lặp đi
lặp lại này buộc nhà nước phải đưa ra các chính sách.

10

Chính sách là những hành động của nhà nước nhằm hướng tới những mục
tiêu của đất nước. Với quan niệm này, chính sách công là bộ phận của chiến
lược, bao gồm những giải pháp và công cụ thực hiện chiến lược.
Chính sách thu hút FDI là một trong những chính sách phát triển kinh tế
xã hội mà trong đó vấn đề được giải quyết là vấn đề thu hút vốn đầu tư trực tiếp
nước ngoài.

2.2 Mục tiêu của chính sách thu hút FDI
Mỗi chính sách được xây dựng nhằm thực hiện những mục tiêu riêng của
mình,nhưng đều góp phần vào việc thực hiện những mục tiêu bậc cao hơn.Chính
sách thu hút FDI góp phần thực hiện những mục tiêu chung của xã hội thông
qua việc sử dụng các giải pháp và công cụ nhất định như:Thứ nhất, tỷ lệ tăng
trưởngkinh tế đáng kể và liên tục , ổn định giá cả ,mức độ đảm bảo công ăn việc
làm cao (tỷ lệ thất nghiệp thấp )và cân bằng cán cân thanh toán.Thứ hai,công
bằng xã hội ,an toàn xã hội và tiến bộ xã hội.Thứ ba, cải thiện cơ cấu ngành,cơ
cấu lãnh thổ, cơ cấu kết cấu hạ tầng và cơ cấu các thành phần kinh tế.
Là một chính sách kinh tế ,ngoài những mục tiêu tối cao và mục tiêu chung,
chính sách thu hút FDI thực hiên nhưng mục tiêu đặc trưng của mình như:
Huy động vốn tư các nhà đầu tư nước ngoài đổi mới công nghệ, tạo việc
làm, thay đổi cơ cấu doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
Phát triển các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đẩy mạnh cạnh
tranh với các doanh nghiệp trong nước nhằm phát triển kinh tế thị trường.

2.3 Quan điểm về chính sách thu hút FDI
Nhiều người thường hiểu chính sách thu hút một cách đơn giản là những
chủ trương, chế độ mà nhà nước ban hành nhằm thu hút vốn đầu tư điều đó đúng
như chưa đủ. Nếu không có việc thực thi chính sách để đạt được những kết quả
nhất định thì những chủ trương, chế độ đó chỉ là những khẩu hiệu mà thôi.

11

- Chính sách thu hút được nhà nước đề ra nhằm phục vụ lợi ích chung
của nhiều người hoặc của xã hội từ việc thu hút được vốn đầu tư để phát triển
khu vực đó. Thước đo chính để đánh giá, so sánh lựa chọn chính sách phù hợp là
lợi ích mang tính xã hội mà chính sách đó mang lại. Đây cũng chính là lý do để
các chính sách thu hút được gọi là chính sách công. Trong thực tế có tình trạng
một chính sách đem lại lợi ích cho nhóm xã hội này nhiều hơn nhóm xã hội

khác, thậm chí có nhóm còn bị thiệt hại. Khi đó chính sách thu hút phải đứng
trên lợi ích của đa số của xã hội để giải quyết vấn đề.
- Chính sách thu hút là quá trình do nhiều người, nhiều tổ chức tham gia.
Trước hết chính sách kinh tế - xã hội là sản phẩm của các đường lối chính trị
quan hệ giữa các quốc gia, do nhà nước với tư cách là người tổ chức và quản lý
vốn đầu tư của toàn xã hội xây dựng và chịu trách nhiệm tổ chức thực thi.
Nhưng qua đây không phải chính sách chỉ do các tổ chức công của nhà nước
thực hiện. Ngày nay trong quá trình dân chủ hóa chính sách, vai trò của các tổ
chức dân chúng và ngoài nhà nước ngày càng tăng lên cao hơn.
- Chính sách thu hút vốn đầu tư có phạm vi tác động lớn đến mọi lĩnh
vực của đời sống xã hội, thể hiện sự cần thiết của can thiệp nhà nước trong các
lĩnh vực đó.
2.4 Nội dung chính sách thu hút FDI
Là một trong những công cụ quản lý quan trọng của nhà nước, các chính
sách thu hút vốn đầu tư có vai trò hết sức to lớn đóng góp cho sự tăng trưởng
chung của đất nước. Một số nội dung quan trọng của chính sách như sau:
- Tạo được môi trường đầu tư thông thoáng, thủ tục đầu tư nhanh chóng
không rườm rà gây cản trở cho các nhà đầu tư nước ngoài cũng như các nhà đầu
tư trong nước trong việc thực thi các dự án. Tích cực phòng chống tham nhũng
hiệu quả, tạo môi trường pháp luật cho các nhà đầu tư khi đầu tư trong nước.

12

- Nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực để nguồn đầu tư của các tổ
chức vào trong nước có hiệu quả cao. Từ đó mới tạo được sự tin tưởng của các
nhà đầu tư vào lao động có tay nghề cao trong nước.
- Mở rộng quan hệ hợp tác với các nước lớn và đặc biệt các nước trong
khu vực. Có thể xây dựng quan hệ hợp tác lâu dài với các nước nhưng không
nên lệ thuộc quá nhiều vào các nước đối tác dẫn đến tình trạng nền kinh tế phụ
thuộc nhiều vào nước đầu tư.

- Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội. Việc quy hoạch tổng thể
cần được minh bạch và công khai để các nhà đầu tư biết được rõ ràng yên tâm
đầu tư vào một khu vực trong nước.
- Nâng cao cơ sở hạ tầng của đất nước, bên cạnh đó tạo môi trường trong
sạch, và chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng nhanh các lĩnh vực hiện tại
có khả năng thu hút cao như các ngành công nghiệp, dịch vụ
3. FDI và chính sách thu hút FDI của Việt Nam
3.1 Đặc điểm của vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam
3.1.1 Về quy mô dự án
Nhìn chung các dự án FDI vào Việt Nam Đều có quy mô vừa và
nhỏ,trung bình cho cả giai đoạn 1988-2003 chỉ ở mức 8,3 triệu USD/dự án. Quy
mô dự án có tính chất quan trọng trong các dự án đầu tư. Quy mô dự án quyết
định đến lượng vốn đầu tư sử dụng trong dự án, quyết định tính chất lớn nhỏ của
dự án. Quy mô dự án càng lớn thì quá trình sử dụng lao động, quản lý dự án
cũng lớn. Bên cạnh đó nếu dự án có quy mô quá nhỏ không đem lại nhiều lợi ích
cho nhân dân có thể nhà nước hoặc cơ quan chính quyền tỉnh sẽ không cho thực
hiện.
3.1.2 Về hình thức sở hữu

13

Do nhiều lý do trong đó có việc hạn chế thành lập doanh nghiệp FDI với
100% vốn đầu tư nước ngoài , các dự án FDI đăng ký ở Việt Nam cho đến giữa
thập kỹ 90 chủ yếu dưới hình thức liên doanh giữa doanh nghiệp nhà nước
(DNNN) và nhà đầu tư nước ngoài.Tính đến cuối năm 1998 số dự án liên doanh
chiếm tới 59%tổng số dự án và 69% tổng số vốn đăng ký.Từ năm 1997 hạn chế
này đã được xoá bỏ và tác động mạnh tới chuyển dịch cơ cấu số dự án FDI theo
hình thức sở hữu.Hiện tại hình thức liên doanh giảm xuống còn chiếm 42,5%
tổng vốn đăng ký, trong khi hình thức dự án có 100% vốn nước ngoài chiếm
45,5% còn lại là dự án BOT và hợp đồng hợp tác kinh doanh. Trong các dự án

liên doanh, số dự án liên doanh giữa nhà đầu tư nước ngoài với doanh nghiệp
ngoài nhà nước cũng tăng lên đáng kể .
3.1.3 Về cơ cấu đầu tư theo ngành
Các dự án FDI chủ yếu tập trung vào lĩnh vực công nghiệp, góp phần
không nhỏ vào quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá.
Vốn ĐTNN tập trung rất cao vào một số địa phương và các vùng kinh tế
trọng điểm (riêng Hà Nội, HCM, Đồng Nai, Bình Dương thu hút 2/3 vốn
ĐTNN). Cơ cấu ngành cũng tập trung chủ yếu vào lĩnh vực công nghiệp, xây
dựng, dịch vụ (tới 88%). Khu vực nông, lâm nghiệp chỉ thu hút 3% vốn ĐTNN,
và có xu hớng giảm (đã giảm từ 21% giai đoạn 1988-1990 xuống 14,3% giai
đoạn 1991-1995). Điều này cho thấy sức cạnh tranh thu hút hút đầu tư khác
nhau giữa các vùng miền và các ngành.
Từ năm 1988 đến cuối tháng 8/2007 đất nước ta có tổng số vốn đầu tư nước
ngoài hoàn toàn tương đối lớn so với các vốn đầu tư khác. Nếu số dự án của 100% vốn
đầu tư nước ngoài trong thời kỳ này là 6054 thì liên doanh chỉ là 1514 tức là chỉ bằng
¼ so với vốn đầu tư nước ngoài được đổ vào Việt Nam. Phần nhỏ là các công ty cổ
phần và các hợp đồng khác.

14

Bảng 1: Tình hình thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài từ năm 1988 đến
cuối tháng 08/2007(Theo hình thức đầu tư).
Đơn vị tính: nghìn USD
Nguồn: Tổng cục thống kê
Như vậy có thể thấy rằng đất nước ta đang trong quá trình nâng cao thu hút
vốn đầu tư nước ngoài. Bên cạnh đó cũng thấy rằng các doanh nghiệp trong nước
đang còn yếu kém trong việc thực hiện đầu tư có hiệu quả các dự án trong nước.
Sau đây là bảng tình hình thu hút đầu tư vào cả nước trong những năm gần đây:
Bảng 2: Tình hình thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài từ năm 1988 đến cuối
tháng 08/2007(Theo ngành)


Đơn vịt ính: nghìn USD

Số dự án Vốn đầu tư Vốn điều lệ
Đầu tư thực
hiện
100% vốn nước ngoài 6054 44,002,952 18,133,419 12,467,591
Liên doanh 1514 21,772 8,343,964 11,574,913
Hợp đồng hợp tác KD 210 4,487,031 4,039,887 6,351,274
Công ty cổ phần 43 673,155 322,530 367,220
Hợp đồng BOT, BT,
BTO
4 440,125 147,530 71,800
Công ty Mẹ - Con 1 98,008,000 82,958,000 73,738,000
Chuyên ngành Số dự án Vốn đầu tư Vốn điều lệ Đt thực hiện
Công nghiệp và xây
dựng
5,252
Công nghiệp dầu khí 36 2,146,011 1,789,011 5,828,865
Công nghiệp nhẹ 2245 12,037,102 5,472,759 3,635,854
Công nghiệp nặng 2272 22,227,920 8,519,459 7,320,745,
Công nghiệp thực 290 3,444,180 1,529,173 2,203,981,

15

Nguồn: Tổng cục thống kê

3.1.4 Về địa bàn đầu tư
Cho đến nay FDI có mặt ở 62/64 tỉnh thành phố Việt Nam. Tuy nhiên
trong giai đoạn vừa qua cơ cấu dự án FDI theo vùng thay đổi rất chậm. Phần lớn

các dự án FDI tập trung vào các đô thị lớn và các khu công nghiệp tập trung, nơi
có điều kiên cơ sở hạ tầng thuận lợi, nguồn lao động dồi dào và có trình độ kĩ
năng.

Sau đây bảng tình hình thu hút đầu tư FDI tại một sốcác tỉnh thành:

phẩm
Xây dựng 409 4,421,371 1,590,669 2,219,727
Nông, lâm nghiệp 889
Nông – Lâm nghiệp 768 3,842,310 1,780,732 1,913,735
Thủy sản 121 362,693 171,458 166,535
Dịch vụ 1,685
Dịch vụ 810 2,058,412 889,421 443,206
Giaothông vận tải-Bưu
điện
197 4,175,818 2,718,671 741,622
Khách sạn - Du lịch 206 5,499,848 2,298,676 2,509,336
Tài chính - Ngân hàng 64 840,150 777,395 762,870
Văn hóa –Y tế - Giáo
dục
245 1,159,430 504,466 389,546
Xây dựng Khu đô thị
mới
8 3,227,764 894,920 282,984
Xây dựng Văn phòng
căn hộ
131 4,886 1,707 1,907
Xây dựng hạ tầng Khu
chế xuất - Khu Công
nghiệp

24 1,144,524 425,944 579,567

16

Bảng 3: Tình hình thu hút đâu tư trực tiếp nước ngoài từ năm 1988 đến
cuối tháng 08/2007
Đơn vị tính: nghìn USD
Địa phương Số dự án Vốn đầu tư Vốn điều lệ
Đầu tư thực
hiện
Tp.HCM 2248 15,245,741 6,675,115 6,603,519
Hà Nội 896 11,110,634 4,604,694 3,938,343
Đồng Nai 855 10,018,972 4,058,742 4,214,807
Bình Dương 1431 7,070,030 3,064,665 2,082,570
Bà Rịa - Vũng Tàu 158 6,078,149 2,396,533 1,354,919
Hải Phòng 236 2,274,066 962,194 1,274,083
Dầu khí 34 2,101,961 1,744,961 5,828,865
Nguồn: Tổng cục thống kê
Bảng 4: Phân bổ vốn ĐTNN giữa các vùng kinh tế trọng điểm qua các thời
kỳ
Vùng Kinh tế
1988-2004

1991-1995

1995-2000

2001-2005

Vùng kinh tế TĐ phía Nam 60,5% 53,7% 46,3% 63,6%

Vùng kinh tế TĐ phía Bắc 27,8% 25,8% 30,8% 17,5%
Vùng kinh tế TĐ miền Trung 2,0% 2,0% 2,0% 2,0%
nguồn:Dự ánVIE/01/021
3.1.5 Theo đối tác đầu tư
Cho đến nay đã có 74 nước và vùng lãnh thổ có dự án FDI tại Việt Nam
,trong đó Singapỏe, Đài Loan,Nhật Bản và Hàn Quốc là những nhà đầu tư lớn
nhất ,chiếm 63,3% tổng số dự án va 63% tổng vốn đăng ký
3.2 Tác động của FDI tới kinh tế-xã hội Việt Nam
3.2.1 Về lĩnh vực kinh tế
3.2.1.1 Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tác động đến kinh tế

17

ĐTNN làm tăng năng lực cạnh tranh, gây khó khăn cho các DN trong
nu?c, nhung ngu?c lại cũng buộc DN trong nước phải vươn lên, hoạt động hiệu
quả hơn hoặc chuyển đổi cơ cấu. Cho đến nay, lượng vốn đầu tư nước ngoài vào
Việt Nam chưa phải là đã quá mức, tính theo đầu người, vẫn còn nhiều ngành
hấp dẫn đầu tư nước ngoài nhưng chưa được cấp phép đầu tư. Trong những năm
trước mắt và tương lai lâu dài ĐTNN tiếp tục là nguồn vốn đầu tư quan trọng
đối với nền kinh tế do tiết kiệm trong nước chưa đủ để đảm bảo tốc độ tăng
trưởng GDP đặt ra. Do nước ta mới ở giai đoạn đầu phát triển, còn thiếu rất
nhiều ngành kinh tế và những ngành đã hình thành còn rất nhỏ bé nên càng mở
ra nhiều ngành nghề thì càng thu hút thêm được vốn đầu tư nước ngoài mà
không ảnh hưởng tiêu cực quá mức đến đầu tư trong nước.
Thực tế đầu tư thời gian qua phù hợp với chủ trương chuyển dịch cơ cấu
theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ. Đầu tư nước ngoài đổ vào
những ngành nuớc ta có xu thế về lao động và thị trường (dệt may, da giày, xe
máy, du lịch) và cả những ngành nước ta chưa hoặc không có lợi thế cạnh tranh
về vốn và công nghệ (khai thác dầu khí, viễn thông, ô tô, điện tử).
3.2.1.2 Đánh giá chính sách hiện tại

Chính sách đầu tư nói chung và chính sách nội địa hóa nói riêng về cơ
bản chưa thành công trong việc phát triển mối liên kết giữa ĐTNN với đầu tư
trong nước. Mối liên kết với DN trong nước ở cả 2 đầu cung cấp và tiêu thụ đều
lỏng lẻo. Tuy nhiên có thể thấy rằng nhìn chung chính sách nội địa hóa tuy chua
thúc đẩy phát triển mạnh các ngành công nghiệp phụ trợ nhung nói riêng thì
cũng có những ngành nội địa hóa nhanh hơn hẳn các ngành khác nhu ngành điện
tử, xe máy. Kết quả nội địa hóa thấp cũng xảy ra ở những ngành nhu may mặc,
da giày là những ngành không có chính sách bắt buộc hoặc khuyến khích nội địa
hóa. Chính sách uu đãi xuất khẩu bằng cách hoãn thời hạn nộp thuế nhập khẩu

18

cho nguyên liệu làm cho những ngành này phát triển tốt mà không cần phải phát
triển các ngành phụ trợ. Trong trường hợp này chính sách thơng mại có tác động
lớn hơn chính sách công nghiệp ngân hàng nhưng không đem lại kết quả cao.
Mặt khác, kết quả ĐTNN chua phù hợp với chủ truơng khuyến khích
phát triển ngành. Có những ngành nghề mở ra, thậm chí đuợc khuyến khích và
uu đãi nhiều nhung vẫn không thu hút đuợc đầu tu nhu trồng trọt, nghiên cứu
khoa học, công nghệ cao, công nghiệp hóa dầu. Vấn đề có lẽ không nằm ở chính
sách đầu tu. Chính sách khuyến khích đầu tu vào nông nghiệp không đạt kết
quả do những khó khăn về sở hữu đất đai và tính chất sản xuất nhỏ lẻ của nông
nghiệp nuớc ta. Những vấn đề này chua thể giải quyết được trong một thời gian
ngắn. Số lượng dự án khai thác dầu khí khá nhiều nhưng cho đến nay vẫn chưa
phát triển được công nghiệp lọc dầu, mặc dù nhiều nhà đầu tư quan tâm.
Mặc dù không có chính sách rõ rệt loại công ty cần được khuyến khích
nhưng cho đến nay vốn đầu tư chủ yếu là của các công ty vừa và nhỏ, thích hợp
với các đối tác Việt nam hơn. Việc thu hút đầu tu của các công ty đa quốc gia có
lợi về nguồn vốn dồi dào, công nghệ cao và mới, cách kinh doanh chính quy nh-
ng mặt khác, các công ty này có sức mạnh chi phối thị trường quá lớn so với
doanh nghiệp trong nước. Doanh nghiệp trong nước khó có thể cạnh tranh đối

đầu với các công ty đa quốc gia mà cần phải tìm cách tham gia hợp tác trong
chuỗi dây chuyền giá trị của các công ty này hoặc các thị trường ngách. Thời
gian tới, trong công tác xúc tiến đầu tư cần chú trọng hơn tới các công ty đa
quốc gia.
Về hiệu quả đầu tu : chua thể kết luận hiệu quả đầu tu nước ngoài cao
hay thấp hơn đầu t trong nước vì điều này còn tùy theo chỉ số đánh giá và lĩnh
vực xem xét. Các dự án đầu t nước ngoài nhìn chung thu hồi vốn nhanh nhng
tốn nhiều vốn mới tạo ra được một việc làm. Tuy nhiên nhà đầu t nước ngoài có

19

u thế về vốn nên điều này không ảnh hưởng tiêu cực tới nước nhận đầu tư. Giá
trị gia tăng và giá trị mới do ĐTNN tạo ra không cao (chủ yếu là lắp ráp, sơ chế)
nhng vẫn lớn hơn đầu tư trong nước. Giá trị giữ lại ở Việt nam mà không
chuyển về nước tương đối cao: mức độ tái đầu tư khá lớn, chủ yếu do môi tr-
ường đầu tư thuận lợi chứ không phải do bị hạn chế chuyển vốn về nước.
Trình độ công nghệ của các dự án đầu tư nước ngoài đều cao hơn trong
nước nhng ít chuyển giao công nghệ. Tác động đối với chuyển giao công nghệ
cho trong nước chủ yếu dới hình thức lan truyền, thông qua cạnh tranh và học
hỏi kinh nghiệm. Việc góp vốn bằng công nghệ không nhiều, dù đã xóa bỏ nhiều
hạn chế. Cần phân tích sâu thêm nguyên nhân hạn chế chuyển giao công nghệ
nhng có thể thấy sự thiếu vắng đầu tư của các công ty đa quốc gia và vấn đề bảo
hộ quyền sở hữu công nghiệp có thể là những nguyên nhân quan trọng.
Đóng góp cho ngân sách của ĐTNN tăng nhanh cùng với việc tăng các dự
án được phê duyệt và mở rộng hoạt động nhng thấp hơn so với trong nước do
được hưởng nhiều chính sách u đãi, miễn thuế. Xu hướng chung về ưu đãi là thu
hẹp mức ưu đãi, tiến dần tới mặt bằng như đầu tư trong nước nhng không được
thực hiện một cách nhất quán và thường chưa đảm bảo nguyên tắc không hồi tố
khi xóa bỏ ưu đãi.
ĐTNN về cơ bản không để lại gánh nặng kinh tế cho nước ta trong tương

lai. ĐTNN có mức độ ổn định thấp hơn đầu tư trong nước do phụ thuộc vào tình
hình kinh tế của bản thân nước đầu tư (kinh tế nước ta có mức độ ổn định vĩ mô
khá cao) nhng thực tế vốn thực hiện không biến động lớn. Đa dạng hóa nước
đầu tư (hiện đang tập trung vào các nước châu á) và đẩy mạnh thu hút vốn của
các công ty đa quốc gia sẽ hạn chế bớt tác động tiêu cực này.
3.2.2 Về lĩnh vực xã hội
3.2.2.1 Vốn FDI tác động đến xã hội

20

Vốn ĐTNN đã có nhiều đóng góp quan trọng của vào thành tựu phát triển
xã hội của Việt Nam: góp phần XĐGN, tạo nhiều việc làm (đặc biệt là việc làm
gián tiếp®), góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, là kênh tiếp cận với
nền công nghệ thế giới, hỗ trợ cho tiến trình hội nhập. Tác động thúc đẩy tăng
trưởng kinh tế thông qua bổ sung nguồn vốn đầu tư là rất rõ ràng (khoảng 1/5
tổng vốn đầu tư giai đoạn 1991-2004). Vai trò động lực, đầu tàu của ĐTNN
trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa là rất tích cực. Khu vực ĐTNN
luôn là đầu tàu trong các lĩnh vực công nghiệp, xuất khẩu, với tốc độ tăng
trưởng vượt trội. Điều đó cũng thể hiện qua tỷ lệ đóng góp GDP của khu vực
ĐTNN tăng từ 6,3% năm 1995 lên 13,3% năm 2003; đóng góp ngân sách đã lên
tới gần 1, 5 tỷ đô la, cải thiện cán cân thanh toán Thông qua vốn ĐTNN, nhiều
nguồn lực trong nước (lao động, đất đai, tài nguyên) được khai thác và đa vào sử
dụng tương đối có hiệu quả. Hàng năm, khu vực vốn ĐTNN tạo ra trung bình
khoảng 60.000 việc làm mới, chiếm khoảng 5% việc làm mới tạo ra của cả n-
ước. Tuy nhiên, nếu tính cả số lao động gián tiếp thì tỷ lệ này có thể lên tới 20%.
So với phần lớn các nước thu hút ĐTNN (cao nhất gồm Singapore 54%, Braxin
23%, Mexico 21%; thấp nhất: Inđônexia 0,8%, Achentina 1,2%, Hàn quốc
2,3%) – Việt nam đạt mức trung bình khá.
Mặt khác, kết quả nghiên cứu cũng cho thấy những tác động tiêu cực về
mặt xã hội của khu vực vốn ĐTNN. Chẳng hạn ĐTNN góp phần làm trầm trọng

thêm chênh lệch phát triển KT -XH giữa các vùng trọng điểm và vùng có điều
kiện KT -XH khó khăn, làm gia tăng khoảng cách giữa các vùng miền và các
nhóm giầu, nghèo. Nghĩa là góp phần làm tăng thêm những hậu quả xã hội
chung của quá trình đầu tư phát triển cao. Đồng thời cũng làm nảy sinh những
xung đột xã hội (xung đột lợi ích giữa chủ và thợ, xung đột giữa doanh nghiệp
trong nước và doanh nghiệp nước ngoài) xung quanh vấn đề chế độ đãi ngộ về

21

lương, điều kiện môi trường sống của công nhân các doanh nghiệp ĐTNN lớn,
vấn đề mất đất và mất công ăn việc làm của nông dân…Một hậu quả nữa là thúc
đẩy nhanh quá trình đô thị hoá và các luồng di dân, gây khó khăn cho việc quản
lý và cung ứng hạ tầng, đặc biệt tại khu vực ngoài hàng rào các khu công
nghiệp; hạ tầng tại các KCN trở nên quá tải, các dịch vụ thiết yếu không được
đảm bảo, làm giảm chất lượng sống đối với lao động ở những khu công nghiệp.
3.2.2.2 Đánh giá chính sách hiện tại
Đánh giá chung là không có dấu hiệu có ảnh hưởng bất lợi của khu vực
ĐTNN đối với chính trị, an ninh đất nước cho đến thời điểm này. Xét về xung
đột xã hội do khu vực ĐTTTNN gây ra thì ở Việt Nam mức độ còn thấp hơn so
với các nước trong khu vực (xung đột xảy ra chủ yếu với các doanh nghiệp nhỏ,
làm ăn không lâu dài, bài bản (Đài Loan, Hàn Quốc). Nhìn chung, các doanh
nghiệp lớn có văn hoá đối xử với công nhân và có kỷ cương tốt hơn. Tuy nhiên,
những vấn đề phát sinh trước nay cũng đưa ra những cảnh báo về chất lượng của
công tác quy hoạch và quản lý. Quy hoạch KCN chưa tính đến đầy đủ những
yếu tố hạ tầng xã hội, quy hoạch phát triển ngành còn coi nhẹ vai trò của khu
vực ĐTNN. Chính sách lao động và giải quyết các tranh chấp chưa được bài
bản, chưa xem xét kỹ ảnh hưởng của thông lệ quốc tế trong tiến trình hội nhập
trong khi khung thể chế của ta còn kém hoàn chỉnh….
Vấn đề đình công bãi công không chỉ do mức lương tối thiểu mà do hàng
loạt các vấn đề khác nữa liên quan đến quy hoạch, đến chính sách, điều kiện

sống đối với người lao động ở các KCN lớn.
Thành tích xóa đói giảm nghèo của Việt nam chưa bền vững, tỷ lệ tái
nghèo còn cao; 5-10% tỷ lệ thoát nghèo nằm sát ngay ngưỡng nghèo, tình trạng
dễ tổn thương còn khá phổ biến do có mức thu nhập thấp, không có dự trữ và
việc làm không ổn định. Điều đó cho thấy đóng góp ĐTTTNN vào việc làm,

22

chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu vùng còn hạn chế. Cụ thể là chênh lệch giữa
các vùng miền về mức đầu tư, mức huy động ngân sách, xuất khẩu, tỷ lệ hộ
nghèo ngày càng gia tăng, hệ số GINI tăng từ 0, 28 lên 0,35, trong đó, thành thị
tăng nhanh hơn nông thôn, vùng phát triển tăng nhanh hơn vùng chậm phát
triển. Thu nhập khu vực ĐTNN cao gấp từ 2 đến 5 lần khu vực trong nước.
Vấn đề đặt ra đối với chính sách ĐTNN là các giải pháp ưu đãi tài chính
không cải thiện được cơ cấu. Các mức ưu đãi hiện nay áp dụng theo ngành nghề
(khuyến khích và ít khuyến khích), mức độ sử dụng lao động và mức ứng dụng
công nghệ tiên tiến đều cao hơn ở các KCN -KCX; nhất là gần đây, Nghị định
164 đã mở rộng thêm phạm vi ngành nghề, chi tiết và cụ thể hơn đến từng địa
bàn ưu đãi. Tuy nhiên nhìn chung, vẫn chưa bao quát được đặc điểm kinh tế -xã
hội và nhu cầu từng địa phương, do đó nhìn chung, tác động chỉ dẫn còn chưa
nhiều, cũng nh chưa cải thiện đáng kể cơ cấu phân bổ vốn ĐTNN. Các địa ph-
ương đều có những giải pháp ưu đãi thêm như: hỗ trợ tiền thuê đất, thuế thu
nhập doanh nghiệp, hỗ trợ chi phí hạ tầng, đào tạo nhân lực, cung cấp thông tin,
làm cầu nối cho đối tác đầu tư, giảm các chi phí không chính thức…nhằm khắc
phục các trở ngại do chênh lệch về điều kiện vị trí địa lí, dân trí, trình độ phát
triển kinh tế -xã hội, tài nguyên, kết cấu hạ tầng, đặc biệt đối với các tỉnh duyên
hải Nam Trung Bộ, ĐBSCL. Các giải pháp năng động của chính quyền địa phư-
ơng đã góp phần nâng cao đáng kể sức cạnh tranh thu hút vốn đầu tư. Tuy nhiên,
cũng gây trở ngại không ít cho công tác quản l?í, giám sát và đánh giá.
3.2.3 Về lĩnh vực môi trường

Trong những năm gần đây, ĐTTTNN ở Việt Nam đã có những tác động
tích cực to lớn đến quá trình phát triển đất nước, đặc biệt là góp phần tăng
trưởng kinh tế. Tuy nhiên, quá trình tiến hành ĐTTTNN cũng chứa đựng những
bất lợi tiềm tàng về môi trường sinh thái, chủ yếu tác động tới ba lĩnh vực: Gây

23

ô nhiễm môi trường; Làm cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên; và Suy giảm đa dạng
sinh học và những tác động về văn hoá. Do vậy, đạt bền vững môi trường là một
mục tiêu quan trọng của hoạt động ĐTTTNN, cần được theo đuổi từ khâu lập
chính sách, cơ chế khuyến khích, tới khâu quản lý và thực hiện các dự án đầu t-
ư.
Luật Đầu tư trực tiếp nước ngoài (ĐTNN) trong suốt thời gian từ 1987
đến nay và các văn bản bảo vệ môi trường đã có một số điều khoản đề cập đến
khía cạnh môi trường, như khuyến khích các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào
những lĩnh vực bảo vệ môi trường sinh thái, sử dụng có hiệu quả tài nguyên
thiên nhiên; không cấp phép đầu t nước ngoài vào các lĩnh vực và địa bàn gây
thiệt hại đến môi trường sinh thái, vv Tuy nhiên, chưa thiết lập được các cơ
chế mang tính khuyến khích cụ thể cho các hoạt động ĐTTTNN bền vững môi
trường, mà còn dừng ở mức chung, như khuyến khích sử dụng hợp lý và bảo vệ
tài nguyên, bảo vệ môi trường sinh thái”. Yêu cầu cụ thể nhất trong các văn bản
này là “Chủ đầu tư phải giải trình Đánh giá tác động môi trường của Dự án
trong hồ sơ xin cấp Giấy phép đầu tư”.
Nhiều doanh nghiệp ĐTNN cho rằng nội dung của một số điều khoản
trong các văn bản về môi trường chưa rõ ràng, trong khi các cơ quan quản lý
môi trường địa phương lại thiếu năng lực giúp họ giải đáp những thắc mắc về
các quy định luật pháp về bảo vệ môi trường. Mặt khác, sự không rõ ràng trong
các quy định pháp luật về môi trường cũng là một yếu tố cản trở doanh nghiệp
thực hiện tốt các qui định trong Luật.
Do còn thiếu tính thống nhẩttong quản lý về môi trường, nên thường mỗi

KCN, trong đó có nhiều doanh nghiệp ĐTNN hoạt động, được quản lý môi
trường theo một cách khác nhau.

24

Một nhận xét tổng quát là đa số doanh nghiệp ĐTNN đã tuân thủ các tiêu
chuẩn môi trường Việt Nam, và các doanh nghiệp ĐTNN có kết quả môi trường
tốt hơn doanh nghiệp trong nước. Tuy nhiên ĐTNN cũng đang gây ra những tác
động tiêu cực lên môi trường ở Việt Nam, chủ yếu do tổng lượng chất thải gây ô
nhiễm từ các doanh nghiệp ĐTNN là lớn. Ngoài ra, một số doanh nghiệp ĐTNN
chỉ tuân thủ tốt quy định về môi trường khi cơ quan quản lý phát hiện ra tình
trạng ô nhiễm vượt tiêu chuẩn cho phép. ĐTNN cũng ảnh hưởng đến đa dạng
sinh thái và một số dự án ĐTNN về du lịch dịch vụ cũng đã gây nên những xung
đột về xã hội và văn hoá.

25

CHƯƠNG II
THỰC TRẠNG VỀ THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC
NGOÀI VÀ CHÍNH SÁCH THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI
CỦA HÀ NỘI

1. Giới thiệu khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của
thành phố Hà Nội

1.1 Điều kiện địa lý tự nhiên
1.1.1 Vị trí địa lý
Thủ đô Hà Nội nằm ở trung tâm đồng bằng Bắc Bộ. Hà Nội tiếp giáp với
5 tỉnh: Thái Nguyên ở phía Bắc; Bắc Ninh, Hưng Yên ở phía Đông; Vĩnh Phúc
ở phía Tây; Hà Tây ở phía Nam. Vị trí địa lý và địa thế tự nhiên đã khiến cho Hà

Nội sớm có một vai trò đặc biệt trong sự hình thành và phát triển của dân tộc
Việt Nam. Từ năm 1010, Hà Nội đã được Vua Lý Công Uẩn chọn làm thủ đô
của cả nước.
Tính đến năm 2004, Hà Nội có 9 quận nội thành (Ba Đình, Hoàn Kiếm,
Hai Bà Trưng, Đống Đa, Tây Hồ, Cầu Giấy, Thanh Xuân, Hoàng Mai, Long
Biên ) với 125 phường, có diện tích 84,3 km² (chiếm 9% diện tích toàn thành
phố) và 5 huyện ngoại thành (Sóc Sơn, Đông Anh, Gia Lâm, Thanh Trì và Từ
Liêm) với diện tích là 836,67 km² (chiếm 91% diện tích) với 99 xã và 5 thị trấn.
Nghị quyết 15/NQ - TW ngày 15/12/2000 về “Phương hướng, nhiệm vụ
phát triển thủ đô Hà Nội trong thời kỳ 2001-2010” và Pháp lệnh Thủ đô đã xác
định: “Hà Nội là trái tim của cả nước, đầu não về chính trị - hành chính, trung
tâm lớn về văn hoá, khoa học, giáo dục, kinh tế và giao dịch quốc tế”. Là trung
tâm của vùng Bắc Bộ, là đầu mối giao thông quan trọng đi các tỉnh và là thủ đô
của cả nước, Hà Nội có khả năng to lớn để thu hút các nguồn lực của cả nước,

×