Tải bản đầy đủ (.doc) (31 trang)

Thực tiễn công tác kiểm sát thi hành án dân sự

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (240.37 KB, 31 trang )

MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
PHẦN 1: MỞ ĐẦU 1
1.1Lý do chọn đề tài nghiên cứu 1
1.2Mục tiêu nghiên cứu 1
1.3Phạm vi nghiên cứu 2
1.4Phương pháp nghiên cứu 2
1.5Kết cấu của chuyên đề 2
PHẦN 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ
VÀ HOẠT ĐỘNG KIỂM SÁT THI HÀNH ÁN DÂN SỰ 3
2.1Khái quát về hoạt động thi hành án dân sự 3
2.1.1Khái niệm thi hành án dân sự 3
2.1.2Đặc điểm của thi hành án dân sự 4
2.1.3Ý nghĩa của hoạt động thi hành án dân sự 6
2.2Khái quát về hoạt động kiểm sát thi hành án dân sự 6
2.2.1Khái niệm hoạt động Kiểm sát thi hành án dân sự 6
2.2.2Đối tượng của hoạt động kiểm sát thi hành án dân sự 7
2.2.3Phạm vi của hoạt động kiểm sát thi hành án dân sự 7
PHẦN 3: THỰC TIỄN CÔNG TÁC KIỂM SÁT THI HÀNH ÁN DÂN SỰ
TẠI VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN HUYỆN THÁP MƯỜI 10
3.1Tình hình chung về hoạt động kiểm sát thi hành án dân sự tại Viện
kiểm sát nhân dân huyện Tháp Mười 10
3.1.1Kiểm sát việc giải quyết các vụ, việc dân sự, hôn nhân và gia đình 10
3.1.2Kiểm sát giải quyết các vụ án hành chính, kinh doanh thương mại, lao
động 10
3.1.3 Kiểm sát thi hành án dân sự tại Viện kiểm sát nhân dân huyện Tháp
Mười 11
3.2Thực tiễn công tác kiểm sát thi hành án dân sự tại Viện kiểm sát nhân
dân huyện Tháp Mười 12
3.2.1Quá trình phân công công tác kiểm sát thi hành án dân sự tại Viện kiểm
sát nhân dân huyện Tháp Mười 12


3.2.2Quy trình kiểm sát thi hành án dân sự tại Viện kiểm sát nhân dân huyện
Tháp Mười 12
3.2.3Những vi phạm trong công tác thi hành án dân sự của cơ quan thi hành án
dân sự huyện Tháp Mười qua thực tiễn kiểm sát 14
3.2.4Đánh giá về công tác kiểm sát thi hành án dân sự tại Viện Kiểm sát nhân
dân huyện Tháp Mười 21
PHẦN 4: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ, ĐỀ XUẤT VỀ CÔNG TÁC KIỂM SÁT
THI HÀNH ÁN DÂN SỰ TẠI VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN HUYỆN
THÁP MƯỜI 25
4.1Tăng cường công tác phối hợp liên ngành giữa Tòa án nhân dân – Viện
kiểm sát nhân dân – Cơ quan thi hành án dân sự 25
4.2Nâng cao trình độ của Kiểm sát viên làm công tác kiểm sát thi hành án
dân sự 26
4.3Tăng cường công tác quản lý, chỉ đạo đối với lĩnh vực thi hành án dân
sự 26
PHẦN 5: KẾT LUẬN 28
TÀI LIỆU THAM KHẢO 29
PHẦN 1: MỞ ĐẦU
1.1 Lý do chọn đề tài nghiên cứu
Thi hành án dân sự là giai đoạn tiếp nối cuối cùng của quá trình tố tụng,
nếu những phán quyết của tòa án không được đưa ra thi hành thì các giai đoạn
trước đó của quá trình tố tụng không còn ý nghĩa trên thực tế. để công tác thi
hành án được thi hành đúng theo quy định của pháp luật thì vai trò của Viện
kiểm sát nhân dân trong hoạt động kiểm sát thi hành án dân sự hết sức quan
trọng, được quy định tại điều 12 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 “Viện kiểm
sát nhân dân cùng cấp trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình kiểm sát
việc tuân theo pháp luật của cơ quan thi hành án dân sự, Chấp hành viên, cá
nhân liên quan điến việc thi hành án được đúng theo pháp luật”. Và quy định tại
điều 24 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân.
Xuất phát từ những lý do trên, Em đã chọn đề tài: “Thực tiễn công tác

kiểm sát thi hành án dân sự tại Viện kiểm sát nhân dân huyện Tháp Mười – Tỉnh
Đồng Tháp” để làm chuyên đề báo cáo thực tập tốt nghiệp, qua đó đưa ra một số
đề xuất, kiến nghị về hoạt động kiểm sát thi hành án dân sự tại Viện kiểm sát
nhân dân huyện Tháp Mười.
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Đề tài tập chung làm rõ thực tiễn công tác kiểm sát thi hành án dân sự trên
cơ sở đó đưa ra một số kiến nghị, đề xuất về thực tiễn công tác kiểm sát thi hành
án ở địa phương. Để thực hiện được các mục tiêu trên đề tài phải giải quyết được
các vấn đề sau:
Nghiên cứu cơ sở lý luận, làm rõ hơn về hoạt động thi hành án dân sự và
hoạt động kiểm sát thi hành án dân sự;
Thông qua quá trình khảo sát thực tế cho thấy được những khó khăn,
vướng mắc trong quá trình kiểm sát thi hành án dân sự và thi hành án dân sự;
1
Phân tích được những hạn chế trong quá trình giám sát kiểm sát thi hành
án dân sự và đưa ra những đề xuất pháp lý.
1.3 Phạm vi nghiên cứu
Chuyên đề báo cáo thực tập tốt nhiệp tập chung nghiên cứu những vấn đề
cơ bản về thực tiễn hoạt động kiểm sát thi hành án dân sự tại Viện kiểm sát nhân
dân huyện Tháp Mười.
1.4 Phương pháp nghiên cứu
Chuyên đề báo cáo thực tập tốt nghiệp sử dụng các phương pháp chính:
khảo sát thực tế, phân tích, đánh giá và tổng hợp…
1.5 Kết cấu của chuyên đề
Chuyên đề báo cáo thực tập tốt nghiệp : “Thực tiễn công tác kiểm sát thi
hành án dân sự tại Viện kiểm sát nhân dân huyện Tháp Mười – tỉnh Đồng Tháp”
nội dung ngoài phần mở đầu và kết luận gồm có 3 phần chính:
Phần cơ sở lý luận về hoạt động thi hành án dân sự và hoạt động kiểm sát
thi hành án dân sự: phần này nội dung nêu lên những cơ sở pháp lý về hai hoạt
động: hoạt động thi hành án dân sự và kiểm sát thi hành án dân sự giúp ta hiểu

sâu hơn về những vấn đề cơ bản của hai hoạt động trên trong quá trình kiểm sát
thi hành án dân sự;
Phần thực tiễn công tác kiểm sát thi hành án dân sự tại viện kiểm sát nhân
dân huyện Tháp Mười, là phần trọng tâm của đề tài, nội dung bao gồm các hoạt
động cụ thể trong công tác kiểm sát thi hành án dân sự và thực tiễn công tác kiểm
sát thi hành án tại địa phương;
Phần một số kiến nghị, đề xuất về công tác kiểm sát thi hành án dân sự tại
Viện kiểm sát nhân dân huyện Tháp Mười: Nội dung bao gồm những kiến nghị,
đề xuất trong quá trình thực tế thực tập tại đơn vị.
2
PHẦN 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG THI HÀNH
ÁN DÂN SỰ VÀ HOẠT ĐỘNG KIỂM SÁT THI HÀNH
ÁN DÂN SỰ
3
2.1 Khái quát về hoạt động thi hành án dân sự
2.1.1 Khái niệm thi hành án dân sự
Thi hành án dân sự là giai đoạn kế tiếp sau giai đoạn xét xử, có mối quan
hệ mật thiết, đan xen với các giai đoạn tố tụng trước đó (ví dụ: việc thi hành các
quyết định khẩn cấp tạm thời của Toà án; trong quá trình thi hành án, Chánh án
Toà án, Viện trưởng Viện kiểm sát có thẩm quyền yêu cầu cơ quan thi hành án
hoãn việc thi hành án, quyết định tạm đình chỉ thi hành án để xem xét lại bản án
theo trình tự giám đốc thẩm hoặc tái thẩm ). Tuy nhiên, thi hành án lại có tính
độc lập tương đối thể hiện ở chỗ hoạt động này được bắt đầu bằng quyết định của
Thủ trưởng cơ quan thi hành dân sự đối với thi hành án dân sự. Những quyết
định này mang tính bắt buộc chấp hành đối với tất cả các chủ thể có trách nhiệm
và nghĩa vụ liên quan đến việc thi hành án. Các cơ quan, tổ chức, công dân, trong
phạm vi trách nhiệm của mình có nghĩa vụ chấp hành và phối hợp thực hiện để
thi hành án đạt hiệu quả. Tính chấp hành trong thi hành án phản ánh một đặc
trưng chứng tỏ nó không đơn thuần là hoạt động tố tụng thuần tuý. Bên cạnh các
chủ thể là Tòa án, Viện kiểm sát, chúng ta có thể thấy các chủ thể tham gia vào

giai đoạn thi hành án đông đảo và đa dạng hơn so với các giai đoạn tố tụng trước
đó, ví dụ Ủy ban nhân dân địa phương nơi người phải thi hành án cư trú; cơ
quan, tổ chức nơi người phải thi hành án làm việc Thi hành án và các giai đoạn
tố tụng trước đó có mối quan hệ nhân quả với nhau. Trong lĩnh vực thi hành án
hình sự, nếu ở giai đoạn điều tra, các cơ quan tiến hành tố tụng không kiên quyết
áp dụng đầy đủ, kịp thời các biện pháp ngăn chặn như thu giữ, kê biên, phong tỏa
tài sản thì đến giai đoạn thi hành án, cơ quan thi hành án sẽ gặp rất nhiều khó
khăn do đương sự cất giấu, tẩu tán tài sản dẫn đến tình trạng án tồn đọng không
thể thi hành được. Hoặc nếu một bản án, quyết định được Tòa án tuyên một cách
3
công bằng, thấu tình, đạt lý, rõ ràng, cụ thể, được dư luận ủng hộ, đồng tình thì
việc thi hành án sẽ dễ dàng, nhanh chóng hơn nhiều. Ngược lại, nếu bản án,
quyết định của Tòa án được tuyên không khách quan, toàn diện và công bằng,
thiếu tính khả thi sẽ gây cản trở cho việc thi hành án, làm giảm lòng tin của nhân
dân đối với các cơ quan nhà nước. Đồng thời, việc thi hành án nhanh chóng, kịp
thời sẽ có tác động tích cực trở lại đối với hoạt động xét xử, củng cố, tăng cường
uy tín của cơ quan xét xử.
2.1.2 Đặc điểm của thi hành án dân sự
 Tính chất pháp lý của thi hành án dân sự
Thi hành án dân sự tuy có tính phức tạp hơn so với thi hành án hình sự,
nhưng khi thi hành lại thể hiện sự mềm dẻo trên nguyên tắc của Luật dân sự “các
đương sự tự định đoạt”, “nguyên tắc thiện chí” và thỏa thuận. Vì vậy có một số
bản án, quyết định tuy có hiệu lực pháp luật nhưng chỉ ra quyết định thi hành án
khi có yêu cầu của người được thi hành án, một số bản án, quyết định được thi
hành khi chưa có hiệu lực pháp luật, một số bản án, quyết định do các trở ngại
khách quan hoặc do tình trang kinh tế của người phải thi hành án khó khăn kéo
dài. Một số bản án bị kéo dài nên cơ quan thi hành án dân sự không thể ra quyết
định thi hành án theo đúng quy định của pháp luật đã gây ảnh hưởng nhất định
đến quyền lợi ích hợp pháp của người được thi hành án.
 Hình thức tổ chức của cơ quan thi hành án dân sự

Vấn đề tổ chức cơ quan thi hành án dân sự hiện nay được quy định một
cách đầy đủ, toàn diện và cụ thể trong văn bản pháp lý đó là Luật thi hành án dân
sự. Theo Điều 13 Luật Thi hành án dân sự 2008 quy định “ Hệ thống Cơ quan
tổ chưc thi hành án bao gồm:
Cơ quan quản lý thi hành án dân sự:
Cơ quan quản lý thi hành án dân sự thuộc Bộ Tư pháp;
Cơ quan quản lý thi hành án dân sự thuộc Bộ Quốc phòng.
Cơ quan thi hành án dân sự:
4
Cơ quan thi hành án dân sự cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương
(sau đây gọi chung là cơ quan thi hành án dân sự cấp tỉnh);
Cơ quan thi hành án dân sự cấp huyện, quận, thị xã, thành phố trực thuộc
tỉnh (sau đây gọi chung là cơ quan thi hành án dân sự cấp huyện);
Cơ quan thi hành án cấp quân khu và tương đương( sau đây gọi chung
là cơ quan thi hành án cấp quân khu).
Chính phủ quy định nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan quản lý thi hành án
dân sự; tên gọi, cơ cấu, tổ chưc cụ thể của cơ quan thi hành án dân sự”.
 Những quy định cơ bản về thủ tục thi hành án dân sự
Được quy định khá đầy đủ, chặt chẽ từ Điều 26 đến Điều 65 Luật thi hành
án dân sự năm 2008, Nghị định số 58/2009/NĐ-CP ngày 13/7/2009 quy định chi
tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật thi hành án dân sự về thủ tục thi
hành án dân sự và một số văn bản khác như: hướng dẫn quyền yêu cầu thi hành
án dân sự và thời hiệu yêu cầu thi hành án; thủ tục gửi và nhận đơn yêu cầu thi
hành án; ra quyết định, thu hồi, sửa đổi, bổ sung, hủy quyết định về thi hành án,
gửi quyết định và thông báo về thi hành án; xác minh điều kiện thi hành án; biện
pháp bảo đảm thi hành án; thứ tự thanh toán tiền thi hành án; hoãn thi hành án,
tạm đình chỉ, đình chỉ thi hành án, trả đơn yêu cầu thi hành án, kết thúc thi hành
án và xác nhận kết quả thi hành án; ủy thác thi hành án; miễn giảm nghĩa vụ thi
hành án và bảo đảm tài chính từ ngân sách nhà nước để thi hành án…
 Các biện pháp cưỡng chế thi hành án

Các biện pháp cưỡng chế thi hành án bao gồm sáu loại sau: Khấu trừ tiền
trong tài khoản; thu hồi, xử lý tiền, giấy tờ có giá của người phải thi hành. Trừ
vào thu nhập của người phải thi hành án. Kê biên, xử lý tài sản của người phải thi
hành án, kể cả tài sản đang do người thứ ba giữ. Khai thác tài sản của người phải
thi hành án, buộc chuyển giao vật, chuyển giao quyền tài sản, giấy tờ. Buộc
người phải thi hành án thực hiện hoặc không được thực hiện công việc nhất định.
 Giải quyết khiếu nại, tố cáo về thi hành án
5
Luật thi hành án dân sự 2008 quy định cụ thể về khiếu nại, tố cáo và giải
quyết khiếu nại, tố cáo về thi hành án dân sự từ điều 140 đến điều 159, đặc biệt là
vấn đề thời hiệu, thời hạn, thẩm quyền giải quyết, quyền, nghĩa vụ của người
khiếu nại, tố cáo, người bị khiếu nại, tố cáo của cơ quan có thẩm quyền.
2.1.3 Ý nghĩa của hoạt động thi hành án dân sự
Bản án, quyết định của Tòa án chỉ thực sự có giá trị khi được thi hành trên
thực tế nhằm bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật, bảo đảm quyền, lợi ích
hợp pháp của tổ chức, cá nhân và nhà nước, góp phần giữ vững ổn định chính trị
- xã hội, tăng cường hiệu lực, hiệu quả của bộ máy nhà nước. Thông qua thi hành
án, các tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm pháp luật phải chấm dứt các hành vi
đó. Thi hành án còn có ý nghĩa giúp cho việc phát hiện những khiếm khuyết của
các quy định của pháp luật trên cơ sở đó kiến nghị sửa đổi, bổ sung các quy
định của pháp luật. Qua thi hành án có thể kiểm tra lại quá trình xét xử trước đó
để rút kinh nghiệm, nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác xét xử. Thi hành án
có tác dụng quan trọng trong việc tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật,
nâng cao ý thức chấp hành pháp luật cho người dân, nâng cao vai trò, trách
nhiệm của các cơ quan, tổ chức, tạo niềm tin của nhân dân vào tính nghiêm minh
của pháp luật và sức mạnh của nhà nước ngày càng được củng cố vững chắc.
2.2 Khái quát về hoạt động kiểm sát thi hành án dân sự
2.2.1 Khái niệm hoạt động Kiểm sát thi hành án dân sự
Kiểm sát thi hành án dân sự là hoạt động thực hiện chức năng, nhiệm vụ
của Viện kiểm sát nhân dân được quy định trong Luật tổ chức Viện kiểm sát

nhân dân năm 2002, Luật thi hành án dân sự năm 2008. Là một hoạt động tố tụng
dân sự được quy định tại điều 379 Bộ luật tố tụng dân sự: “Viện kiểm sát nhân
dân trong Phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình kiểm sát việc tuân theo pháp
luật của đương sự, cơ quan thi hành án,chấp hành viên và cá nhân, cơ quan, tổ
chức có liên quan đến việc thi hành bản án, quyết định của Toàn án kịp thời, đầy
đủ, đúng pháp luật”. Bảo vệ quyền và lợi ích của người tham gia tố tụng.
6
2.2.2 Đối tượng của hoạt động kiểm sát thi hành án dân sự
Đối tượng của hoạt động kiểm sát thi hành án dân sự là sự tuân thủ pháp
luật của các chủ thể trong hoạt động thi hành án dân sự. Bao gồm:
Sự tuân theo pháp luật của Tòa án trong hoạt động cấp, chuyển giao bản
án đã có hiệu lực thi hành, những bản án, quyết định được thi hành ngay theo quy
định của pháp luật;
Sự tuân thủ pháp luật của cơ quan thi hành án dân sự trong việc ra quyết
định thi hành án và ra quyết định có liên quan đến hoạt động thi hành án;
Sự tuân thủ pháp luật của chấp hành viên trong việc tổ chức thi hành bản
án, quyết định dân sự, kinh tế, lao động, hành chính, các quyết định tuyên bố phá
sản doanh nghiệp;
Sự tuân thủ pháp luật của cơ quan, tổ chức, đơn vị và cá nhân có liên quan
trong việc thi hành án.
 Các chủ thể bị kiểm sát trong hoạt động kiểm sát thi hành án
dân sự
Tòa án nhân dân;
Cơ quan thi hành án dân sự cùng cấp, cấp dưới có nhiệm vụ ra quyết định
thi hành án;
Chấp hành viên trong việc tổ chức thi hành án; Cơ quan, tổ chức, đơn vị
và cá nhân có liên quan tới việc thi hành án.
2.2.3 Phạm vi của hoạt động kiểm sát thi hành án dân sự
Khi bản án, quyết định dân sự có hiệu lực pháp luật hoặc bản án, quyết
định được thi hành theo quy định của pháp luật thì lúc đó Viện kiểm sát nhân dân

bắt đầu họat động kiểm sát thi hành án, kết thúc hoạt động kiểm sát thi hành án
khi các chủ thể bị kiểm sát thi hành xong bản án, quyết định của Tòa án. Điều 23
Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002 quy định “Viện kiểm sát nhân
dân kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Tòa án nhân dân, cơ quan thi hành án,
chấp hành viên, cơ quan tổ chức, đơn vị và cá nhân có liên quan trong việc thi
7
hành bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật và những bản án, quyết định
được thi hành ngay theo quy định của pháp luật bảo đảm các bản án, quyết định
đó được thi hành đúng pháp luật, đầy đủ kịp thời”. Tại Điều 12 Luật Thi hành án
dân sự năm 2008, quy định “Viện kiểm sát các cấp trong phạm vi nhiệm vụ,
quyền hạn của mình kiểm sát việc tuân theo pháp luật về thi hành án của cơ
quan thi hành án dân sự, chấp hành viên, cơ quan, tổ chức và cá nhân có liên
quan đến việc thi hành án nhằm bảo đảm việc thi hành kịp thời, đầy đủ, đúng
pháp luật”.
Như vậy, phạm vi của hoạt động kiểm sát thi hành án dân sự bắt đầu khi
bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật hoặc chưa có hiệu lực pháp
luật nhưng được thi hành ngay theo quy định của pháp luật, kết thúc khi bản án,
quyết định đó được thi hành xong.
 Kiểm sát thi hành án dân sự bắt đầu khi bản án, quyết định có
hiệu lực pháp luật
Kiểm sát việc thi hành bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật bao
gồm các bản án, quyết định sau:
Bản án, quyết định của Tòa án về dân sự, hôn nhân và gia đình, lao động,
kinh tế có hiệu lực pháp luật;
Bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài, quyết định của Trọng
tài nước ngoài được Tòa án Việt Nam công nhận và cho thi hành tại Việt Nam;
Quyết định về dân sự, phạt tiền, tịch thu tài sản, xử lý vật chứng, tài sản,
truy thu tiền, tài sản thu lợi bất chính, án phí trong bản án, quyết định của Tòa án
về hình sự;
Quyết định về phần tài sản trong bản án, quyết định hành chính của Tòa

án về hành chính;
Quyết định tuyên bố phá sản doanh nghiệp;
Quyết định của Trọng tài thương mại Việt Nam;
Bản án, quyết định khác do pháp luật quy định;
8
Bản án, quyết định hoặc phần bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm
không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm;
Bản án, quyết định phúc thẩm;
Quyết định của Tòa giám đốc thẩm hoạc tái thẩm; Những bản án, quyết
định của Tòa án nước ngoài đã dược Tòa án Việt Nam công nhận.
 Kiểm sát việc thi hành bản án, quyết định của Tòa án chưa có
hiệu lực pháp luật nhưng được thi hành ngay
Những bản án, quyết định của Toàn án chưa có hiệu lực pháp luật nhưng
được thi hành bao gồm:
Bản án, quyết định sơ thẩm về cấp dưỡng, trả công lao động, nhận người
lao động trở lại làm việc hoặc bồi thường thiệt hại về tính mạng, sức khỏe của
công dân, mặc dù có thể bị kháng cáo, kháng nghị;
Quyết định khẩn cấp tạm thời để bảo đảm lợi ích cấp thiết của đương sự,
bảo đảm cho việc xét xử và thi hành án;
Kết thúc hoạt động kiểm sát thi hành án dân sự khi bản án, quyết định dân
sự được các chủ thể thi hành xong.
9
PHẦN 3: THỰC TIỄN CÔNG TÁC KIỂM SÁT THI HÀNH
ÁN DÂN SỰ TẠI VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN HUYỆN
THÁP MƯỜI
3.1 Tình hình chung về hoạt động kiểm sát thi hành án
dân sự tại Viện kiểm sát nhân dân huyện Tháp Mười
3.1.1 Kiểm sát việc giải quyết các vụ, việc dân sự, hôn nhân và gia
đình
Năm 2013, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tháp Mười đã tích cực thực

hiện các giải pháp đẩy nhanh tiến độ, đảm bảo công tác kiểm sát việc xét xử các
vụ án trong thời gian luật định. Cụ thể, trong 10 tháng của năm 2013, Viện kiểm
sát nhân dân huyện Tháp Mười đã thụ lý 1.229 vụ, giải quyết được 1.220 vụ,
chiếm tỷ lệ 99,62%. Trong đó, án hôn nhân gia đình: 239 vụ đạt 98,41%. Loại án
nhiều nhất là án tranh chấp dân sự: 990 vụ, giải quyết đạt 100%. Công tác tuyên
truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật đến nhân dân được tăng cường. Hàng tháng,
Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tháp Mười và Toà án nhân dân huyện Tháp
Mười tổ chức phiên tòa lưu động tại các địa phương, nơi có vụ việc xảy ra nhằm
tuyên truyền, giáo dục pháp luật trong nhân dân.
Về giải quyết việc dân sự: Tổng số việc Tòa án thụ lý là 07 việc, trong đó
yêu cầu dân sự 05 việc và yêu cầu hôn nhân 02 việc. Viện kiểm sát ban hành 02
kháng nghị phúc thẩm đều được Viện kiểm sát cấp trên chấp nhận, bảo vệ kháng
nghị.
3.1.2 Kiểm sát giải quyết các vụ án hành chính, kinh doanh thương
mại, lao động
Viện kiểm sát đã kiểm sát 100% các vụ án hành chính, kinh doanh thương
mại do Tòa án thụ lý. Tổng số 20 vụ trong đó án tranh chấp hành chính 07 vụ, án
kinh doanh thương mại 13 vụ. Trong quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ
của mình, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tháp Mười thực hiện tốt các nhiệm vụ
10
đặt ra, đạt được một số kết quả: không có án bị đình chỉ điều tra, tỷ lệ kiểm sát
các vụ án hành chính, kinh doanh thương mại, lao động ở Viện kiểm sát đạt tỷ lệ
cao và ban hành nhiều kháng nghị, kiến nghị để công tác giải quyết các vụ án về
hành chính, kinh doanh thương mại, lao động được nâng cao và đúng thời hạn
luật định đối với các cơ quan có thẩm quyền và đều được chấp nhận.
3.1.3 Kiểm sát thi hành án dân sự tại Viện kiểm sát nhân dân huyện
Tháp Mười
Qua nghiên cứu thực tiễn công tác kiểm sát tại Viện kiểm sát nhân dân
huyện Tháp Mười về công tác kiểm sát thi hành án dân sự trong 10 tháng năm
2013 có thể thấy Viện kiểm sát nhân dân huyện Tháp Mười đã thực hiện đúng

chức năng, nhiệm vụ và các quy định của pháp luật trong quá trình kiểm sát.
Công tác kiểm sát thi hành án dân sự của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tháp
Mười đã góp phần quan trọng vào việc đảm bảo các vụ việc được thực thi một
cách công bằng đúng pháp luật đảm bảo quyền lợi của người được thi hành án và
người bị thi hành án, Viện kiểm sát nhân dân góp phần không nhỏ vào việc các
bản án, quyết định của Tòa án được thực thi. Nhờ tuân theo đúng trình tự và thời
hạn luật định cộng với thái độ làm việc nghiêm túc có trách nhiệm nên Viện
Kiểm sát nhân dân huyện Tháp Mười đã hạn chế được tình trạng thi hành án bị
án tồn đọng. Điều đó được thể hiện rõ ở những số liệu thông kê sau đây về kết
quả công tác kiểm sát thi hành án dân sự trong 10 tháng của năm 2013: Tổng
cộng: 1.506 việc, trong đó số việc năm 2012 chuyển qua 227 việc, số việc có
điều kiện thi hành: 1.408 việc. Tổng số tiền phải thi hành là 52.196.684.000
đồng, đã thu được 10.724.462.000 đồng, đã chi trả cho đương sự 8.969.711.000
đồng.
Bên cạnh đó số việc chưa có điều kiện thi hành: 98 việc với tổng sống tiền
6.024.428.000 đồng. Qua số liệu trên cho thấy số việc thi hành án với số lượng
vụ việc nhiều, tính chất vụ việc thi hành án ngày càng phức tạp, trình độ nhận
thức pháp luật của người phải thi hành án không cao, người có điều kiện thi hành
nhưng không tự nguyện thi hành, cố tránh né nghĩa vụ của mình…Lực lượng
kiểm sát viên chưa đáp ứng về năng lực nghiệp vụ so với yêu cầu hiện tại. Cho
11
nên với kết quả đạt được như trên đã là một cố gắng lớn của Viện kiểm sát nhân
dân huyện Tháp Mười.
Nguyên nhân của số việc tồn đọng và chưa có điều kiện thi hành án là do
việc phối hợp với cơ quan thi hành án dân sự và Tòa án và Viện kiểm sát nhân
dân huyện Tháp Mười chưa chặt chẽ, riêng đối với Viện kiểm sát nhân dân huyện
Tháp Mười thì khối lượng công việc ngày càng nhiều trong khi cán bộ, kiểm sát
viên làm nghiệp vụ về khâu thi hành án dân sự ít, biên chế chưa tuyển đủ và có
một số cán bộ đi học nên chất lượng công tác kiểm sát thi hành án dân sự chưa
cao.

3.2 Thực tiễn công tác kiểm sát thi hành án dân sự tại
Viện kiểm sát nhân dân huyện Tháp Mười
3.2.1 Quá trình phân công công tác kiểm sát thi hành án dân sự tại
Viện kiểm sát nhân dân huyện Tháp Mười
Cơ cấu tổ chức của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tháp Mười có 05 kiểm
sát viên trong đó có 02 lãnh đạo. Đồng chí Trần Thanh Sang - phó Viện trưởng là
người được phân công phụ trách về công tác kiểm sát thi hành án dân sự. Chịu
trách nhiệm thực hiện kế hoạch kiểm sát, yêu cầu cơ quan hữu quan cử thành
viên tham gia để giúp Viện kiểm sát nhân dân đánh giá đúng trong kết luận trực
tiếp kiểm sát.
3.2.2 Quy trình kiểm sát thi hành án dân sự tại Viện kiểm sát nhân
dân huyện Tháp Mười
Công tác chuẩn bị kiểm sát thi hành án dân sự: Xây dựng kế hoạch chi
tiết về nội dung, kế hoạch phải nêu rõ các việc cần kiểm sát, mục đích, yêu cầu
và thời gian cụ thể Viện kiểm sát nhân dân thực hiện quyết định trực tiếp kiểm
sát. Viện trưởng hoặc phó Viện trưởng ký duyệt kế hoạch trực tiếp kiểm sát và
gửi cho chủ thể sẽ bị kiểm sát trực tiếp: cơ quan thi hành án dân sự cùng cấp.
Chuẩn bị các văn bản pháp luật cần thiết phục vụ cho việc kiểm sát trực tiếp có
liên quan đến việc đánh giá những ưu điểm, tồn tại, thiếu sót và các vi phạm
12
pháp luật trong thi hành án dân sự. Viện kiểm sát nhân dân ra quyết định trực tiếp
kiểm sát và gửi quyết định trực tiếp kiểm sát cùng kế hoạch trực tiếp kiểm sát
cho cơ quan thi hành án dân sự.
Tiến hành hoạt động trực tiếp kiểm sát: Kiểm sát viên và cán bộ được
giao nhiệm vụ trực tiếp nghe cơ quan thi hành án dân sự báo cáo tình hình công
tác tổ chức thi hành án, địa điểm thi hành án. Sau khi nghe cơ quan thi hành án
dân sự báo cáo kiểm sát viên sẽ tiến hành trực tiếp kiểm tra hồ sơ, sổ sách các
quyết định, chứng từ, biên lai, hóa đơn thu, nộp, chi trả có liên quan trực tiếp đến
hoạt động thi hành án. Kiểm tra tài sản, tiến hành kê biên tang vật, tài sản, tiền
quỹ, thu sổ sách, kế toán và các chứng từ, hồ sơ thi hành án. Kiểm sát viên sau

khi kiểm tra thấy tài sản, sổ sách chứng từ có dấu hiệu bất thường thì áp dụng
ngay các biện pháp kiểm tra và ra quyết định niêm phong. Yêu cầu cơ quan thi
hành án dân sự và người phải thi hành án có trách nhiệm giải trình các vấn đề có
liên quan đến nội dung kiểm sát mà kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thấy
chưa rõ. Yêu cầu của Viện kiểm sát nhân dân phải nêu đầy đủ nội dung yêu cầu
kiểm tra lại bằng văn bản về thời điểm kiểm tra, thời hạn trả lời theo quy định
của pháp luật. Việc trả lời của cơ quan thi hành án dân sự cũng phải bằng một
văn bản trả lời có chữ ký của Thủ trưởng cơ quan. Sau khi nhận được văn bản trả
lời của cơ quan bị yêu cầu, Viện kiểm sát nghiên cứu kỹ và có bản kết luận chính
thức nêu rõ tình hình chấp hành pháp luật của chủ thể trong việc thi hành án và
gửi cho cơ quan thi hành án dân sự , gửi Viện kiểm sát nhân dân cấp trên và gửi
các cơ quan hữu quan. Để thực hiện tốt hoạt động trực tiếp kiểm sát thi hành án
dân sự, cán bộ Viện kiểm sát nhân dân khi thực hiện nhiệm vụ phải thống kê toàn
bộ phần thi hành án của bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật và những bản
án, quyết định được thi hành ngay theo quy định của pháp luật. Tiến hành thống
kê riêng các trường hợp thi hành án dân sự như: Bản án, quyết định hoặc phần
bản án, quyết định thuộc loại chủ động ra quyết định thi hành án theo khoản 1
Điều 36 Luật Thi hành án dân sự 2008; Các trường hợp thi hành án theo đơn yêu
cầu của người được thi hành án quy định tại khoản 2 Điều 36 Luật Thi hành án
dân sự 2008.
13
Công bố kết luận của Viện kiểm sát nhân dân: Bản kết luận của Viện
kiểm sát nhân dân được công bố công khai tại cơ quan thi hành án dân sự. Trong
hoạt động thực tiễn kiểm sát thi hành án dân sự khi tiến hành thực hiện bước
công bố kết luận của Viện kiểm sát nhân dân, phải thực hiện tốt hai bước trên và
có thể tiến hành các công việc như: Thống kê toàn bộ biên lai, hóa đơn; Cộng
dồn phiếu thu, chi; Cân đối thu chi trong công tác thi hành án dân sự; Cần kiểm
tra để phát hiện số tiền còn tồn đọng, hay bị thiếu hụt; So sánh với số tiền đã
thống kê toàn bộ bản án phải thi hành án với phiếu thu chi; Phát hiện số tiền
chênh lệch bao nhiêu và so sánh với số tồn quỹ.

Khi tiến hành trực tiếp kiểm sát tại cơ quan thi hành án dân sự thì Viện
kiểm sát nhân dân có trách nhiệm và thực hiện quyền của mình theo đúng các
quy định trong Hiến pháp và Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân 2002 và các
văn bản pháp luật có liên quan nhằm bảo đảm cho việc thi hành án đúng pháp
luật bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các đương sự theo bản án, quyết định của Tòa
án.
3.2.3 Những vi phạm trong công tác thi hành án dân sự của cơ quan
thi hành án dân sự huyện Tháp Mười qua thực tiễn kiểm sát
Hàng năm, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tháp Mười đều tiến hành kiểm
sát trực tiếp công tác thi hành án dân sự tại cơ quan thi hành án dân sự hyện Tháp
Mười theo kế hoạch, và đã phát hiện ra những vi phạm pháp luật trong quá trình
giải quyết các việc thi hành án dân sự, có kiến nghị kịp thời yêu cầu cơ quan thi
hành án dân sự có biện pháp khắc phục, nhằm đưa công tác thi hành án dân sự tại
địa phương tuân thủ theo đúng quy định của pháp luật góp phần thúc đẩy công
tác thi hành án dân sự tại địa phương đạt hiệu quả. Thông qua hoạt động kiểm sát
thi hành án dân sự của mình (kiểm sát trực tiếp ở cơ quan thi hành án dân sự
cùng cấp, kiểm sát các quyết định về thi hành án, việc tổ chức cưỡng chế, kê
biên, bán đấu giá, tiêu hủy tang vật, kiểm sát hoạt động của các chấp hành viên
trong quá trình thụ lý, giải quyết các việc thi hành án dân sự…). Viện kiểm sát
nhân dân huyện Tháp Mười thấy rằng các chấp hành viên đã thực hiện đầy đủ
các thủ tục về giải quyết việc thi hành án dân sự theo Luật thi hành án dân sự
14
2008, đã có nhiều biện pháp tích cực giải quyết việc thi hành án, những việc có
khó khăn phức tạp đã báo cáo, đề xuất hướng giải quyết phù hợp… Tuy nhiên,
trong quá trình thụ lý, giải quyết việc thi hành án dân sự của các chấp hành viên
cũng còn những vi phạm, thiếu sót đã phần nào hạn chế đến kết quả giải quyết
việc thi hành án. Cụ thể:
 Vi phạm về thời gian gửi quyết định cho Viện kiểm sát
Sau khi cơ quan thi hành án dân sự ra các quyết định như: Quyết định thi
hành án chủ động, Quyết định thi hành án theo đơn yêu cầu, Quyết định hoãn thi

hành án… đều được giao trực tiếp cho Viện kiểm sát, tuy nhiên cơ quan thi hành
án dân sự huyện Tháp Mười còn giao chậm một số Quyết định:
Quyết định thi hành án theo đơn yêu cầu số 02/QĐ-CCTHA ngày
13/5/2013 về yêu cầu về bồi thường thiệt hại về vi phạm hợp đồng thuê khoán
đất giữa ông Nguyễn Văn Đông và ông Nguyễn Trọng Kỳ đến ngày 10/7/2013
cơ quan thi hành án dân sự mới giao trực tiếp cho Viện kiểm sát nhân dân huyện
Tháp Mười (giao chậm 01 tháng 26 ngày). Xét thấy: Bản án có hiệu lực, ông
Đông làm đơn yêu cầu thi hành án, ngày 13/05/2013 cơ quan thi hành án dân sự
huyện Tháp Mười ra quyết định thi hành án. Tuy nhiên, sau một tháng bản án
vẫn không thi hành được vì chưa có quyết định kiểm sát của Viện kiểm sát nhân
dân. Theo quy định tại Điều 9 TTLT 14/2010/TTLT-BTP-TANDTC-VKSNDTC
ngày 26/7/2010: “Cơ quan thi hành án dân sự giao trực tiếp hoặc gửi bằng
đường bưu điện các quyết định về thi hành án cho Viện kiểm sát nhân dân cùng
cấp trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày ra quyết định, trừ kế hoạch
cưỡng chế thi hành án thì phải được gửi ngay”. Cơ quan thi hành án dân sự
huyện Tháp Mười đã giao chậm 01 tháng 26 ngày dẫn đến quyết định thi hành án
theo đơn yêu cầu của ông Đông bị chậm trễ. Tương tự như trên thì Quyết định thi
hành án theo đơn yêu cầu số 1211/QĐ-CCTHA ngày 20/5/2013 về việc yêu cầu
trả lại đất của bà Hoàng Thị Mơ đối với ông Huỳnh Văn Nguyên đến ngày
10/7/2013 mới giao trực tiếp cho Viện kiểm sát, cơ quan thi hành án dân sự
huyện Tháp Mười giao chậm 01 tháng 19 ngày và Quyết định thi hành án chủ
động số 1403/QĐ-CCTHA ngày 26/5/2013 về hợp đồng vay tài sản giữa bà Lê
15
Kim Thu và Ngân hàng Phương Đông chi nhánh Tháp Mười đến ngày 10/7/2013
cơ quan thi hành án dân sự huyện Tháp Mười mới giao trực tiếp cho Viện kiểm
sát (giao chậm 01 tháng 13 ngày). Từ các vụ việc trên thì đây không phải là vụ
việc phức tạp nhưng lại để kéo dài. Trong các trường hợp trên, cơ quan thi hành
án dân sự huyện Tháp Mười nên giải thích, để các đương sự được biết tránh gây
bức xúc trong dư luận.
 Vi phạm thông báo về thi hành án

Thông báo về thi hành án dân sự là hoạt động của chấp hành viên, cán bộ
và cơ quan thi hành án dân sự nhằm làm cho đương sự, người có quyền lợi, nghĩa
vụ liên quan biết được quyền và nghĩa vụ của mình phát sinh trong quá trình tổ
chức thi hành bản án, quyết định. Đây là một hoạt động diễn ra thường xuyên,
bởi lẽ đặc thù của công tác thi hành án dân sự là thường xuyên tác động hoặc sẽ
tác động trực tiếp đến quyền lợi và nghĩa vụ của công dân. Do đó, việc thông báo
trong thi hành án dân sự có ý nghĩa hết sức quan trọng. Không những nó đảm bảo
tính khách quan, minh bạch trong hoạt động thi hành án dân sự vốn dĩ đã chứa
đựng sự “nhạy cảm” mà còn là cơ sở để áp dụng các biện pháp cưỡng chế thi
hành án, giải quyết khiếu nại, tố cáo…. Nhận thức đầy đủ vai trò, ý nghĩa của
hoạt động thông báo thi hành án, bên cạnh đó nắm vững, hiểu rõ cũng như áp
dụng đúng và đầy đủ các quy định của pháp luật về trình tự, thủ tục thông báo thi
hành án sẽ giúp chấp hành viên và cơ quan thi hành án dân sự tránh được những
vi phạm làm phát sinh khiếu nại, tố cáo khi đương sự, người có quyền lợi liên
quan cho rằng mình không nắm được nội dung của các văn bản, giấy tờ do cơ
quan thi hành án dân sự ban hành
1
. Thực tiễn thi hành án dân sự thời gian qua tại
cơ quan thi hành án dân sự huyện Tháp Mười cho thấy, một số trường hợp việc
gửi các quyết định về thi hành án nói riêng và thông báo về thi hành án nói chung
không được chú trọng hoặc không đúng quy định của pháp luật dẫn đến, ảnh
hưởng đến uy tín của cơ quan thi hành án dân sự huyện Tháp Mười, Viện kiểm
sát nhân dân huyện Tháp Mười, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Điển
hình: Quyết định thi hành án chủ động số 1374/QĐ-CCTHA ngày 18/6/2013 của
1

ItemID=454
16
cơ quan thi hành án dân sự huyện Tháp Mười. Theo nội dung quyết định này thì
bà Mai Thị Rở phải thanh toán nợ cho Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển

nông thôn huyện Tháp Mười số tiền là 209.269.900 đồng, trong đó tiền gốc là
175.623.600 đồng, tiền lãi là 33.646.300 đồng và án phí dân sự là 3.639.000
đồng. Trong quá trình tổ chức thi hành án, do bà Mai Thị Rở không tự nguyện thi
hành nên ngày 24/10/2013 cơ quan thi hành án dân sự huyện Tháp Mười đã tiến
hành cưỡng chế kê biên toàn bộ nhà và trang thiết bị dùng cho việc kinh doanh
nhà nghỉ trên diện tích đất 186,3 m
2
tại Khóm 4, thị trấn Mỹ An, huyện Tháp
Mười, là tài sản bà Mai Thị Rở đã thế chấp để vay tiền tại Ngân hàng Nông
nghiệp và phát triển nông thôn huyện Tháp Mười. Ngày 03/11/2013, cơ quan thi
hành án dân sự huyện Tháp Mười định giá tài sản trên với giá 273.424.000 đồng
và ký hợp đồng uỷ quyền cho Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Đồng
Tháp để bán tài sản đã kê biên của bà Mai Thị Rở. Ngày 3/12/2013, cơ quan thi
hành án dân sự huyện Tháp Mười tổ chức cưỡng chế giao nhà, đất trên cho
người trúng đấu giá là ông Nguyễn Minh Kiên. Sau khi bị cưỡng chế kê biên tài
sản, bà Mai Thị Rở có nhiều đơn khiếu nại về việc bị cưỡng chế thi hành án.
Trên cơ sở xác minh, cơ quan có thẩm quyền đã quyết định chấp nhận một phần
khiếu nại của bà Mai Thị Rở về những nội dung của cơ quan thi hành án dân sự
huyện Tháp Mười có sai sót là không giao thông báo quyết định cưỡng chế giao
tài sản của cơ quan thi hành án cho bà Mai Thị Rở, kê biên một số tài sản là đồ
dùng sinh hoạt của gia đình bà Mai Thị Rở và việc giải quyết khiếu nại của cơ
quan thi hành án dân sự huyện Tháp Mười là chưa kịp thời. Cơ quan thi hành án
dân sự huyện Tháp Mười có trách nhiệm hoàn trả cho bà Mai Thị Rở số tiền
2.540.000 đồng và lãi suất của số tiền này theo mức lãi suất tiền gửi Ngân hàng
tính từ ngày phát mãi tài sản vì đã chi phí cưỡng chế không đúng quy định của
pháp luật.
Sau khi ra quyết định thi hành án thì cơ quan thi hành án phải gửi thông
báo cho đương sự được biết, theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 39 Luật
thi hành án dân sự năm 2008:
“Điều 39. Thông báo về thi hành án

1. Quyết định về thi hành án, giấy báo, giấy triệu tập và văn bản khác có
17
liên quan đến việc thi hành án phải thông báo cho đương sự, người có quyền,
nghĩa vụ liên quan để họ thực hiện quyền, nghĩa vụ theo nội dung của văn bản
đó.
2. Việc thông báo phải thực hiện trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ
ngày ra văn bản, trừ trường hợp cần ngăn chặn đương sự tẩu tán, huỷ hoại tài
sản, trốn tránh việc thi hành án”.
Việc thực hiện thông báo về thi hành án không đúng trình tự pháp luật quy
định được xác định là vi phạm thủ tục thông báo về thi hành án dân sự nói riêng,
vi phạm thủ tục thi hành án dân sự nói chung của cơ quan thi hành án dân sự
huyện Tháp Mười đã ảnh hưởng tới quyền và nghĩa vụ của người có quyền nghĩa
vụ liên quan trong hoạt động thi hành án.
 Vi phạm về thời gian xác minh điều kiện thi hành án
Việc xác minh tài sản, điều kiện thi hành án của người phải thi hành án là
cơ sở pháp lý để Chấp hành viên áp dụng kịp thời các biện pháp cưỡng chế thi
hành án hoặc kiến nghị Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra các quyết định
về thi hành án, trả đơn yêu cầu, ủy thác, hoãn, tạm đình chỉ, đình chỉ…và là cơ
sở để phân loại án. Tuy nhiên việc xác minh của Chấp hành viên được phân công
vẫn còn chậm trễ gây ảnh hưởng đến quyền lợi của người được thi hành án, ảnh
hưởng đến việc thu cho ngân sách nhà nước về các khoản án phí mà người phải
thi hành phải thực hiện nghĩa vụ của mình, điển hình:
Bản án dân sự sơ thẩm số 43/2013/DS-ST ngày 05/07/2013 của Tòa án
nhân dân huyện Tháp Mười tuyên buộc ông Nguyễn Văn Đồng ngụ khóm 3, thị
trấn Mỹ An, huyện Tháp Mười phải bồi thường cho ông Trương Văn Tho số tiền
100.000.000 đồng. Theo quyết định thi hành án số 1310/QĐ-CCTHA ngày
25/7/2013 cho thấy: Quá trình xác minh, Chấp hành viên chỉ phát hiện ông Đồng
có tài sản duy nhất là chiếc xe tải trị giá 120.000.000 đồng có giá trị thi hành án.
Và theo trình bày của ông Đồng, thì đây là tài sản của ông mua và do ông đứng
tên. Đối chiếu theo quy định, Chấp hành viên tiến hành xác minh nhưng trong

biên bản xác minh không có xác nhận của chính quyền địa phương. Sau khi giao
tài sản và chi tiền cho người được thi hành án đúng theo quyết định thi hành án
18
(chi đủ 100.000.000 đồng cho ông Tho), vợ ông Đồng là bà Lý Thị Chi khiếu nại
việc xác minh, kê biên tài sản của Chấp hành viên, yêu cầu hủy kết quả biên và
bán đấu giá, vì tài sản nói trên là do cha ruột của bà mua cho vợ chồng bà làm
của hồi môn, ông Đồng chỉ là người đứng tên, quyền sở hữu tài sản là của chung
hai vợ chồng. Nếu chấp hành viên xử lý tài sản chỉ được quyền xử lý ½ giá trị tài
sản của ông Đồng, ½ giá trị tài sản còn lại là của bà Chi, Chấp hành viên không
được quyền xử lý, và nếu có xử lý thì phải thông báo cho bà biết và thông báo
quyền ưu tiên mua tài sản này cho bà. Nay bà nộp số tiền 60.000.000 đồng để thi
hành án cho ông Đồng và yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự phải trả lại tài sản
cho bà, nếu không bà sẽ khởi kiện yêu cầu bồi thường. Hiện nay, cơ quan thi
hành án dân sự huyện Tháp Mười đang tiến hành thỏa thuận với bà Chi theo trình
tự, thủ tục quy định về trách nhiệm bồi thường trong thi hành án dân sự.
Qua quá trình kiểm sát, kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Tháp
Mười đã phát hiện ra vi phạm trên về việc tuân thủ chưa đúng các nguyên tắc xác
minh và các điều kiện xác minh trong thi hành án dân sự (khoản 2 Điều 44 Luật
thi hành án dân sự 2008 quy định cụ thể về nguyên tắc xác minh điều kiện thi
hành án:
Điều 44 Xác minh điều kiện thi hành án
2. Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày chủ động ra quyết định thi hành án
hoặc kể từ ngày nhận được yêu cầu xác minh của người được thi hành án, Chấp
hành viên phải tiến hành việc xác minh; trường hợp thi hành quyết định áp dụng
biện pháp khẩn cấp tạm thời thì phải xác minh ngay.
Việc xác minh phải được lập thành biên bản, có xác nhận của tổ trưởng tổ
dân phố, Uỷ ban nhân dân, công an cấp xã hoặc cơ quan, tổ chức nơi tiến hành
xác minh. Biên bản xác minh phải thể hiện đầy đủ kết quả xác minh”) của Chấp
hành viên. Xác minh điều kiện thi hành án có vai trò hết sức quan trọng trong
hầu hết các giai đoạn của quá trình thi hành án dân sự. Kết quả xác minh là cơ sở

để Chấp hành viên vận dụng trong quá trình thuyết phục đương sự tự nguyện thi
hành án, ra các quyết định về thi hành án và quan trọng nhất là lựa chọn biện
pháp cưỡng chế thích hợp đối với người phải thi hành án. Điều này đòi hỏi ở
19
Chấp hành viên một tinh thần trách nhiệm rất cao nhằm đáp ứng được yêu cầu,
nhiệm vụ được phân công.
 Vi phạm về cưỡng chế thi hành án
Cưỡng chế thi hành án dân sự là một trong những hoạt động quan trọng,
nhằm khôi phục và bảo vệ các quan hệ xã hội bị xâm hại. Do đó, thi hành dứt
điểm các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật hoặc chưa có hiệu lực pháp
luật nhưng được thi hành ngay trên thực tế có ý nghĩa đặc biệt trong việc đảm
bảo trật tự, an toàn xã hội. Hiệu quả của việc cưỡng chế thi hành án là cơ sở, tiền
đề cho sự thành công và hiệu quả của một vụ thi hành án dân sự về tài sản khi
đương sự không tự nguyện thi hành. Nhưng trong quá trình áp dụng biện pháp
cưỡng chế thi hành án dân sự còn gặp rất nhiều vướng mắc, nhiều nguyên nhân
khác nhau gây cản trở cho việc cưỡng chế như: cơ chế quản lý, hoạt động của cơ
quan thi hành án dân sự còn thiếu sót, sự phối hợp giữa các cơ quan tổ chức
trong việc cưỡng chế còn chưa tốt. Điển hình:
Quyết định thi hành án theo đơn yêu cầu số 727/QĐ-CCTHA ngày
24/12/2012 buộc ông Hà Văn Giúp phải phải trả cho ông Dương Hà Sơn 25m
2
đất. Các biên bản xác minh là ông Giúp có tài sản nhưng chưa tiến hành kê biên
tài sản. Đã hết thời gian tự nguyện thi hành án theo đơn yêu cầu nhưng ông Giúp
chưa trả đất cho ông Sơn và tới ngày 16/4/2013 cơ quan thi hành án mới tiến
hành kê biên tài sản của ông Hà Văn Giúp. Cơ quan thi hành án dân sự huyện
Tháp Mười đã lên kế hoạch chuẩn bị cưỡng chế thi hành án đối với ông Giúp.
Khi cơ quan thi hành án dân sự huyện Tháp Mười thông báo về việc cưỡng chế
thi hành án, người nhà ông Giúp cho biết thời gian cơ quan thi hành án dân sự
huyện Tháp Mười tiền hành kê biên tài sản ông Giúp lo sợ sẽ bị ở tù nên đã bỏ
trốn, hiện không rõ địa chỉ (ông Giúp ly hôn vợ, do hai chồng sống với nhau lâu

năm mà không có con, ngôi nhà hiện nay do Toà án giao cho ông Giúp quản lý,
sử dụng khi ly hôn vợ). Việc tổ chức cưỡng chế phải dừng lại do người phải thi
hành án vắng mặt. Từ đó đến nay, gia đình ông Giúp cũng không có tin tức gì
của ông. Vụ việc kéo dài đến nay vẫn chưa giải quyết dứt điểm được.
Từ vụ việc trên cho thấy cơ quan thi hành án dân sự huyện Tháp Mười tới
20
ngày 16/4/2013 mới tiến hành kê biên tài sản của ông Hà Văn Giúp đã kéo dài
thời gian theo qui định pháp luật, đã vi phạm qui định tại khoản 1 Điều 46, Luật
thi hành án dân sự 2008:
“Điều 46. Cưỡng chế thi hành án
1. Hết thời hạn quy định tại khoản 1 Điều 45 của Luật này, người phải thi
hành án có điều kiện thi hành án mà không tự nguyện thi hành án thì bị cưỡng
chế ”.
3.2.4 Đánh giá về công tác kiểm sát thi hành án dân sự tại Viện
Kiểm sát nhân dân huyện Tháp Mười
 Những ưu điểm trong công tác kiểm sát thi hành án dân sự
Xác định công tác kiểm sát thi hành án dân sự có vị trí quan trọng nên
hàng năm Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp có chỉ thị về công tác kiểm sát
trong đó có công tác kiểm sát thi hành án dân sự; Viện kiểm sát nhân dân huyện
Tháp Mười trong kế hoạch công tác hàng năm của mình đều đề ra kế hoạch cho
công tác kiểm sát thi hành án dân sự với nội dung trọng tâm là: “Nâng cao hơn
nữa về chất lượng, hiệu quả công tác kiểm sát thi hành án”. Kiểm sát chặt chẽ
việc phân loại các bản án và quyết định dân sự có hiệu lực pháp luật để kiến nghị
cơ quan thi hành án dân sự huyện Tháp Mười thi hành đối với các bản án, quyết
định có điều kiện thi hành. Trong quá trình trực tiếp kiểm sát việc tuân theo pháp
luật về thi hành án dân sự, cơ quan thi hành án dân sự huyện Tháp Mười đã thể
hiện được trách nhiệm phối hợp của mình cùng với Viện kiểm sát nhân dân
huyện Tháp Mười. Thực hiện nhanh chóng, kịp thời, chính xác các yêu cầu của
Kiểm sát viên như báo cáo số liệu, tài liệu, chứng từ, sổ sách, hồ sơ để phục vụ
cho cuộc kiểm sát, có phân công các Chấp hành viên trực tiếp làm việc với đoàn

để giải đáp những thắc mắc, vấn đề chưa rõ.
Từ thực tiễn công tác kiểm sát thi hành án dân sự tại địa phương, nhận
thấy công tác thi hành án dân sự tại địa phương đã luôn được coi trọng, đã được
các cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương quan tâm tạo điều kiện, thành lập ban
chỉ đạo thi hành án dân sự ở huyện do Chủ tịch hoặc phó chủ tịch Uỷ ban nhân
dân huyện Tháp Mười làm trưởng ban, tạo điều kiện cho cơ quan thi hành án dân
21
sự huyện Tháp Mười hoạt động có hiệu quả, kịp thời tháo gỡ những khó khăn
trong công tác thi hành án dân sự. Cơ quan thi hành án dân sự huyện Tháp Mười
đều xây dựng kế hoạch công tác thi hành án dân sự hàng năm của đơn vị và nỗ
lực thực hiện. Trong quá trình giải quyết các việc về thi hành án dân sự, Cơ quan
thi hành án dân sự huyện Tháp Mười đã chấp hành nghiêm túc các quy định của
pháp luật về thủ tục thi hành án dân sự. Việc thụ lý và ban hành các quyết định
về thi hành án dân sự đảm bảo thời gian luật định, đối với những việc chưa có
điều kiện thi hành các cơ quan thi hành án đã thường xuyên ra soát khi phát hiện
có điều kiện thi hành thì tổ chức thi hành ngay, những việc chưa có điều kiện thi
hành nhưng có đối tượng đủ điều kiện để xét miễn, giảm thi hành án thì tiến hành
làm các thủ tục đề nghị Tòa án xét miễn, giảm theo quy định. Vì vậy trong những
năm gần đây, số lượng việc thi hành án không có điều kiện thi hành án có chiều
hướng giảm.
 Những khó khăn, vướng mắc trong công tác kiểm sát thi hành án
dân sự
Bên cạnh những thuận lợi trên, trong thời gian qua, công tác thi hành án
dân sự tại huyện Tháp Mười vẫn còn nhiều khó khăn, một số vụ việc thi hành án
chưa có biện pháp giải quyết dứt điểm còn để kéo dài, trong từng bước giải quyết
thi hành án cũng còn vướng mắc, dẫn tới công tác kiểm sát thi hành án dân sự
của một số vụ án đã gặp phải nhiều khó khăn khách quan cũng như chủ quan:
Thứ nhất, Sự hiểu biết về pháp luật của người dân địa phương còn nhiều hạn chế.
Những người phải thi hành án, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan,…được
triệu tập để thi hành án nhưng họ không ý thức được quyền và nghĩa vụ của mình

nên đã cố tình không tham gia thi hành án, điển hình là Quyết định thi hành án
theo đơn yêu cầu số 727/QĐ-CCTHA ngày 24/12/2012 buộc ông Hà Văn Giúp
phải phải trả cho ông Dương Hà Sơn 25m
2
đất như đã trình bày ở phần trên.
Người nhà ông Giúp đã nhiều lần vận động ông tự nguyện thi hành án nhưng ông
đã không nghe, nên đến khi cơ quan thi hành án tới kê biên tài sản thì ông đã bỏ
trốn. Thứ hai, do đặc điểm của địa phương với đa số dân cư sống làm nông
nghiệp, trong đó chủ yếu là trồng lúa và chăn nuôi thủy sản, do cuộc sống khó
22
khăn nên đã đi sang các tỉnh thành khác làm thuê sinh sống mà không báo với
chính quyền địa phương. Ngoài ra còn các thành phần dân cư từ các tỉnh thành
khác đến làm thuê sinh sống nên khá nhiều người dân không có đăng kí tạm trú,
mặt khác một bộ phận không có công việc ổn định gây khó khăn trong công tác
thi hành án dân sự cũng như kiểm sát thi hành án dân sự.
Qua hơn 4 năm thực hiện Luật Thi hành án dân sự, Viện kiểm sát nhân
dân huyện Tháp Mười đã triển khai, quán triệt, tổ chức thực hiện tốt trong quá
trình kiểm sát thi hành án dân sự, tạo sự đồng thuận thống nhất trên cơ sở chức
năng nhiệm vụ của mỗi ngành, góp phần đưa công tác thi hành án tại địa phương
đạt hiệu quả cả về chất và lượng. Tuy nhiên, qua quá trình triển khai thực hiện có
một số khó khăn, vướng mắc cần tháo gỡ. Đó là, một số bản án, quyết định của
toà án có hiệu lực pháp luật, nhưng chưa được chuyển giao kịp thời cho cơ quan
thi hành án. Bản án, quyết định của toà án chưa có hiệu lực pháp luật đang trong
thời gian kháng cáo, kháng nghị đã chuyển giao cho cơ quan thi hành án dân sự
thi hành. Đối với bản án có hiệu lực từng phần, khi chuyển giao, toà án không
kèm thông báo kháng cáo của đương sự, kháng nghị của Viện Kiểm sát nhân dân.
Sau khi Cơ quan thi hành án ra các Quyết định như: Quyết định thi hành án chủ
động, Quyết định thi hành án theo đơn yêu cầu, Quyết định hoãn thi hành án…
đều được giao trực tiếp cho Viện kiểm sát, tuy nhiên Cơ quan thi hành án vẫn
còn giao chậm chưa đúng thời gian pháp luật quy định, làm cho công tác kiểm

sát gặp khó khăn.
Thi hành án dân sự là công tác rất phức tạp, liên quan đến nhiều lĩnh vực,
ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích của các bên đương sự, những người có
liên quan. Một số ngành chưa thực sự quan tâm thực hiện quy chế phối hợp liên
ngành, chưa kịp thời triển khai, quán triệt các nội dung thực hiện Luật Thi hành
án dân sự, nhất là những văn bản hướng dẫn thi hành Luật thi hành án dân sự đến
cán bộ, công chức làm công tác thi hành án.dân sự Do đó, gây khó khăn trong
việc phối hợp giữa Viện kiểm sát nhân dân và các cơ quan có liên quan dẫn tới
hiệu quả công tác chưa cao, một số vụ việc thi hành án dân sự chưa có biện pháp
giải quyết dứt điểm còn để kéo dài, trong từng bước giải quyết thi hành án cũng
còn vướng mắc.
23

×