Tải bản đầy đủ (.pdf) (27 trang)

Vài nét về chương trình hỗ trợ lãi suất 2009 của chính phủ và tác động của nó đến các doanh nghiệp

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (396.64 KB, 27 trang )

Tiểu luận Tài chính – Tiền tệ

Lãi suất là một phạm trù kinh tế quan trọng và phức tạp, diễn biến của lãi suất có
ảnh hưởng trực tiếp đến quyết định của các chủ thể kinh tế về đầu tư, chi tiêu, tiết
kiệm… Về phía nhà nước, nhà nước sử dụng lãi suất làm cơng cụ của chính sách tiền
tệ nhằm điều chỉnh thị trường và các quan hệ kinh tế nhằm mục tiêu tăng trưởng và
phát triển. Còn đối với các doanh nghiệp, lãi suất - đặc biệt là lãi suất tín dụng ngân
hàng lại có ảnh hưởng mạnh mẽ đến các hoạt động sản xuất kinh doanh của họ. Như
vậy có thể nói, các chính sách vĩ mơ thơng qua việc điều chỉnh lãi suất của Chính phủ
có tác động mạnh mẽ đến sự phát triển của các doanh nghiệp.
Trong thời gian vừa qua, cuộc khủng hoảng kinh tế- tài chính bắt đầu bằng khủng
hoảng tài chính Hoa Kỳ 2007 và lan rộng trên phạm vi toàn thế giới trong 2008-2009
đã ảnh hưởng tiêu cực, gây ra suy thoái kinh tế ở nhiều nơi và tăng trưởng chậm ở hầu
hết các nước khác. Hệ thống tài chính Việt Nam mặc dù chưa hòa nhập chung với hệ
thống tài chính tồn cầu nhưng cũng chịu ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng này, đó là
việc chi phí vốn trở nên đắt đỏ, tín dụng dành cho doanh nghiệp khan hiếm và lãi suất
vay vốn tăng cao, nhất là vào giữa năm 2008. Bên cạnh đó, một loạt các chính sách tiền
tệ thắt chặt nhằm giảm lạm phát của Chính phủ làm các doanh nghiệp càng khó khăn
trong việc huy động vốn.
Trước tình hình sản xuất kinh doanh bị đình trệ, đặc biệt là nhiều doanh nghiệp nhỏ
và vừa làm ăn thua lỗ thậm chí đứng bên bờ vực phá sản, thủ tướng Chính phủ đã ra
quyết định số 131/QĐ-TTg, 443/QĐ-TTg và một số quyết định khác về việc hỗ trợ lãi
suất cho các tổ chức, cá nhân vay vốn ngân hàng để sản xuất, kinh doanh. Đây là một
trong những chiến lược kích cầu, tăng đầu tư nhằm khơi phục sản xuất của Chính phủ
Việt Nam nhằm nhanh chóng đưa nước ta ra khỏi suy thối. Có thể nói chương trình hỗ
trợ lãi suất của Chính phủ tới các doanh nghiệp là “chiếc phao” cứu các doanh nghiệp
ra khỏi khủng hoảng.
Chương trình hỗ trợ lãi suất hiện nay vẫn đang trên lộ trình thực hiện, tuy nhiên do
tính thực tiễn và những ảnh hưởng sâu sắc của chính sách đến nền kinh tế nước ta nên
nhóm nghiên cứu đã chọn đề tài đồ án tốt nghiệp đại học“Vài nét về chương trình hỗ
trợ lãi suất 2009 của Chính phủ và tác động của nó đến các doanh nghiệp”.


Nguyễn Ngọc Phương Huyền
Phạm Văn Tuấn

Stt: 33
Stt: 38

- Trang 1 -

Lớp: Anh 5 - K46C
Khoa: Kinh tế đối ngoại

LUAN VAN CHAT LUONG download : add


Tiểu luận Tài chính – Tiền tệ
Mục đích nghiên cứu của đề tài chỉ là xem xét một cách tổng qt về chương trình
hỗ trợ lãi suất nằm trong gói kích cầu đầu năm 2009 của Chính phủ Việt Nam và tác
động sơ bộ của nó tới hoạt động sản xuất kinh doanh. Từ đó tiểu luận đưa một số nhận
xét, giải pháp đề xuất nhằm thực hiện tốt chương trình và một số giải pháp vĩ mơ khác
có thể giúp Việt Nam hạn chế tối đa những tác động xấu của cuộc khủng hoảng.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: Tiểu luận nghiên cứu chương trình cho vay hỗ
trợ theo lãi suất 4% của Chính phủ theo quyết định số 131/QĐ-TTg, 443/QĐ-TTg và
những tác động tới nền kinh tế Việt Nam từ tháng 02 tới đầu tháng 06 năm 2009.
Trong q trình nghiên cứu nhóm đã sử dụng các phương pháp thống kê, suy luận,
phân tích kinh tế trên cơ sở phương pháp duy vật biên chứng.
Do thời gian thực hiện tiểu luận có hạn và tầm hiểu biết cịn chưa sâu rộng nên bài
tiểu luận này khơng thể tránh khỏi những sai sót. Nhóm nghiên cứu kính mong thầy
góp ý để chúng em có thể hồn thành bài tiểu luận tốt hơn. Xin chân thành cảm ơn
thầy!


Nguyễn Ngọc Phương Huyền
Phạm Văn Tuấn

Stt: 33
Stt: 38

- Trang 2 -

Lớp: Anh 5 - K46C
Khoa: Kinh tế đối ngoại

LUAN VAN CHAT LUONG download : add


Tiểu luận Tài chính – Tiền tệ

Phần II: NỘI DUNG
I. Lãi suất – công cụ hiệu quả điều tiết nền kinh tế:
1. Lý thuyết chung về lãi suất:
Về định nghĩa, lãi suất là tỷ lệ phần trăm của tổng số tiền phải trả so với tổng số
tiền đi vay hay tỷ lệ phần trăm của tổng số tiền nhận được so với tổng số tiền cho vay.
Đó chính là giá cả của quyền sử dụng một đơn vị vốn vay trong một đơn vị thời gian
nhất định (ngày, tuần, tháng, năm).
Về bản chất, đây là một loại giá cả đặc biệt vì được hình thành trên giá trị sử dụng
chứ không phải trên cơ sở giá trị. Đối với người đi vay, giá trị sử dụng của khoản vốn
vay chính là khả năng mang lại lợi nhuận trong việc sản suất kinh doanh hay mức độ
thỏa mãn một số nhu cầu nào đó khi sử dụng lượng vốn vay đó. Đối với người cho vay,
lãi suất chính là tỷ lệ sinh lời mà anh ta thu được khi cho vay khoản vốn đó.
Trên thị trường tài chính (căn cứ vào nghiệp vụ ngân hàng) thường phân biệt các
loại lãi suất sau:

- Lãi suất tín dụng ngân hàng là lãi suất mà người đi vay phải trả cho ngân hàng.
- Lãi suất tiền gửi ngân hàng (lãi suất huy động ngân hàng) là lãi suất ngân hàng trả
cho các khoản tiền gửi.
Cả hai loại lãi suất đều phụ thuộc vào loại tiền gửi (nội hay ngoại tệ), thời hạn,
phương thức, quan hệ giữa người cho vay và người đi vay, mức độ rủi ro của khoản
vay và tình hình thị trường.
- Lãi suất chiết khấu là lãi suất các ngân hàng áp dụng cho các khoản vay dưới hình
thức chiết khấu thương phiếu hay các giấy tờ có giá ngắn hạn khác chưa tới kỳ thanh
tốn. Đây là hình thức lãi suất được trả trước cho ngân hàng.
- Lãi suất tái chiết khấu tương tự như lãi suất chiết khấu, nhưng là lãi suất mà Ngân
hàng Trung Ương cho các ngân hàng thương mại vay trong trường hợp các ngân hàng
thương mại khơng có đủ tiền mặt cho thanh tốn. Lãi suất tái chiết khấu thường nhỏ
hơn lãi suất chiết khấu, tuy nhiên trong một số trường hợp cần hạn chế tín dụng, Ngân
hàng Trung ương có thể đặt mức lãi suất tái chiết khấu cao hơn.

Nguyễn Ngọc Phương Huyền
Phạm Văn Tuấn

Stt: 33
Stt: 38

- Trang 3 -

Lớp: Anh 5 - K46C
Khoa: Kinh tế đối ngoại

LUAN VAN CHAT LUONG download : add


Tiểu luận Tài chính – Tiền tệ

- Lãi suất liên ngân hàng là lãi suất mà các ngân hàng thương mại cho vay lẫn nhau.
Lãi suất liên ngân hàng đóng vai trò quan trọng trong hoạt động của hệ thống ngân
hàng và chịu sự chi phối của lãi suất tái chiết khấu.
- Lãi suất cơ bản là lãi suất cơ sở để các ngân hàng ấn định lãi suất tín dụng và lãi
suất tền gửi. Lãi suất cơ bản có tính chất định hướng cho các loại lãi suất khác và là cơ
sở giới hạn lãi suất tín dụng (ở Việt Nam, Ngân hàng Trung Ương có thể kiểm sốt
trực tiếp lãi suất cơ bản và theo Quyết định 16/2008/QĐ-NHNN ngày 16/5/2008 lãi
suất tín dụng khơng được vượt q 150% lãi suất cơ bản). Đây là một công cụ hiệu quả
mà Chính phủ có thể tác động tới nền kinh tế thơng qua tín dụng.
Các loại lãi suất này tuy biến động phức tạp nhưng thường thay đổi cùng chiều và
khá tương đồng theo nguyên tắc tăng dần: lãi suất cơ bản, lãi suất liên ngân hàng, lãi
suất nhận gửi, lãi suất cho vay. Trong đó lãi suất tín dụng có vai trị quan trọng nhất,
tác động trực tiếp tới tiết kiệm, đầu tư và ảnh hưởng lớn nhất tới nền kinh tế. Do đó,
trong phạm vi của bài tiểu luận, nhóm nghiên cứu chỉ chủ yếu đề cập đến lãi suất tín
dụng ngân hàng - lãi suất mà người đi vay phải trả cho ngân hàng.
Lãi suất cũng là một biến số nằm trong mối quan hệ với các biến số kinh tế khác
nên cũng chịu tác động của các biến số đó. Khi xét các nhân tố ảnh hưởng tới lãi suất ta
thường sử dụng hai mơ hình: “Khn mẫu tiền vay” và mơ hình “Khn mẫu ưa thích
tiền mặt”:
- Mơ hình “Khn mẫu tiền vay” xác định lãi suất cân bằng trên thị trường các
công cụ nợ (các khoản vay) với các nhân tố ảnh hưởng: lợi tức dự tính; lạm phát dự
tính; rủi ro; tính lỏng của các cơng cụ nợ… và tình hình ngân sách Chính phủ.
- Mơ hình “Khn mẫu ưa thích tiền mặt” xác định lãi suất cân bằng trên thị trường
tiền tệ dưới sự tác động của: thu nhập; mức giá; cung tiền…
Trong điều kiện kinh tế thông thường, các yếu tố trên cùng với nhân tố nước ngoài
như lãi suất quốc tế, đầu tư nước ngoài, tài trợ, viện trợ quốc tế… tác động lên thị
trường tạo ra mức lãi suất cân bằng. Mức lãi suất này thể hiện đúng bản chất của lãi
suất như đã nêu trên: chi phí của việc sử dụng vốn của người đi vay và là lợi nhuận của
người cho vay.


Nguyễn Ngọc Phương Huyền
Phạm Văn Tuấn

Stt: 33
Stt: 38

- Trang 4 -

Lớp: Anh 5 - K46C
Khoa: Kinh tế đối ngoại

LUAN VAN CHAT LUONG download : add


Tiểu luận Tài chính – Tiền tệ
Tuy nhiên, trong giai đoạn nền kinh tế khơng ổn định, suy thối hay khủng hoảng
thì lãi suất cịn chịu sự tác động của nhiều yếu tố khác như tình hình chính trị, qn
sự,… và có diễn biến rất phức tạp. Trong giai đoạn gần đây, dưới tác động của khủng
hoảng tài chính tồn cầu, lãi suất Việt Nam biến động tương đối mạnh và đạt mức cao
kỷ lục 21%/năm, bằng với mức lãi suất tối đa. Điều này được xem là một trong những
biểu hiện xấu nhất của khủng hoảng, làm đình trệ hoạt động sản xuất kinh doanh, là
dấu hiệu của suy thoái trong giai đoạn tiếp theo. Phần tiếp sau đây sẽ đưa ra cơ chế ảnh
hưởng của lãi suất tới hoạt động của các doanh nghiệp và toàn bộ nền kinh tế.

2. Ảnh hưởng của lãi suất đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp:
Như chúng ta đã tìm hiểu ở trên, lãi suất có ảnh hưởng sâu sắc tới nền kinh tế, có
vai trị định hướng hoạt động tiết kiệm và đầu tư của các chủ thể kinh tế:
- Quyết định của các cá nhân: chi tiêu hay để dành, mua nhà hay mua trái phiếu hay
gửi tiền vào một tài khoản tiết kiệm.

- Quyết định các doanh nghiệp như: đầu tư mua thiết bị mới cho các nhà máy hoặc
để gửi tiết kiệm trong một ngân hàng.
Dưới đây chúng ta sẽ tìm hiểu cách thức tác động của lãi suất đến hoạt động của
các doanh nghiệp để có thể thấy rõ tầm quan trọng của lãi suất đối với hoạt động sản
xuất kinh doanh.
Trong hoạt động của các doanh nghiệp, vốn đóng vai trị là một trong những yếu tố
đầu vào quan trọng nhất. Các doanh nghiệp muốn mở rộng hoạt động đều phải dựa trên
cơ sở gia tăng lượng vốn đầu tư. Trong đó, hình thức huy động vốn phổ biến, nhanh
chóng và hiệu quả nhất là huy động vốn thơng qua kênh tín dụng ngân hàng. Ở đó, lãi
suất cho vay phản ánh giá cả của đồng vốn mà người sử dụng vốn là các doanh nghiệp
phải trả cho người cho vay là các NHTM. Đối với các doanh nghiệp, lãi suất cho vay
hình thành nên chi phí vốn – một trong những chi phí đầu vào quan trọng nhất của q
trình sản xuất. Có thể nói, mọi loại hình doanh nghiệp: doanh nghiệp thương mại hay
doanh nghiệp sản xuất đều coi yếu tố lãi suất là một trong những nhân tố có tính chất
định hướng cho mọi quyết định của mình. Do đó, mọi biến động về lãi suất trên thị
Nguyễn Ngọc Phương Huyền
Phạm Văn Tuấn

Stt: 33
Stt: 38

- Trang 5 -

Lớp: Anh 5 - K46C
Khoa: Kinh tế đối ngoại

LUAN VAN CHAT LUONG download : add


Tiểu luận Tài chính – Tiền tệ

trường đều tác động trực tiếp và mạnh mẽ đến hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp.
Khi lãi suất tăng làm tăng chi phí đầu vào của doanh nghiệp và đẩy giá thành sản
phẩm lên cao, do đó làm suy giảm lợi nhuận và khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp.
Nếu lãi suất lên cao tới một mức nào đó cịn có thể gây ra tình trạng thua lỗ thậm chí là
phá sản trong hoạt động sản xuất kinh doanh, nhất là đối với các doanh nghiệp có tiềm
lực tài chính yếu hoặc doanh nghiệp mới thành lập. Xu hướng tăng lãi suất cho vay của
các ngân hàng thương mại sẽ dẫn đến xu hướng cắt giảm, thu hẹp qui mô và phạm vi
của các hoạt động sản xuất, đầu tư. Đó chính là dấu hiệu của một nền kinh tế bất ổn và
cũng là dấu hiệu của sự suy thoái, khủng hoảng.
Ngược lại, khi lãi suất tín dụng giảm sẽ làm giảm chi phí đầu vào và giá thành sản
phẩm của doanh nghiệp, do đó doanh nghiệp có thể tăng lợi nhuận và tiến tới mở rộng
sản xuất kinh doanh. Điều này tạo tiền đề cho sự tăng trưởng bền vững của nền kinh tế.
Ở Việt Nam, do thị trường tài chính chưa thật sự phát triển, các kênh huy động vốn
khác cịn yếu kém thì vai trị của lãi suất tín dụng ngân hàng đối với các doanh nghiệp
càng tỏ ra hết sức quan trọng. Bên cạnh đó, có tới 87,9% doanh nghiệp Việt Nam là
các doanh nghiệp nhỏ và vừa với số vốn chỉ khoảng 20% tổng nguồn vốn kinh doanh
của các doanh nghiệp (2008), thường xuyên nằm trong tình trạng thiếu vốn thì vai trị
của lãi suất tín dụng ngân hàng càng trở nên đặc biệt quan trọng đối với nền kinh tế.
Trong năm 2008, lãi suất cho vay của các NHTM trên thị trường đã có những biến
động bất thường và gây ra nhiều xáo trộn trong nền kinh tế, trong đó khu vực doanh
nghiệp là nơi chịu nhiều ảnh hưởng nhất. Những tác động tiêu cực của lãi suất đến các
doanh nghiệp trong năm vừa qua có thể khái quát lại như sau:
- Do lãi suất cho vay tăng cao, hiệu quả sản xuất kinh doanh của hầu hết các
doanh nghiệp đã bị giảm sút, nhiều doanh nghiệp bị thua lỗ, khả năng trả nợ bị suy
giảm.
- Lãi suất vay cao, cùng với nguồn cung tín dụng bị hạn chế đã dẫn đến tình
trạng hầu hết các doanh nghiệp buộc phải cơ cấu lại hoạt động sản xuất, cắt giảm việc
đầu tư, thu hẹp quy mô và phạm vi hoạt động.


Nguyễn Ngọc Phương Huyền
Phạm Văn Tuấn

Stt: 33
Stt: 38

- Trang 6 -

Lớp: Anh 5 - K46C
Khoa: Kinh tế đối ngoại

LUAN VAN CHAT LUONG download : add


Tiểu luận Tài chính – Tiền tệ
- Nhiều doanh nghiệp có quy mơ nhỏ, vốn ít, khơng chịu đựng được mức lãi
suất cao, khơng có khả năng huy động vốn để duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh đã
phải ngừng hoạt động, giải thể và phá sản.
Có thể thấy lãi suất đóng vai trị hết sức quan trọng trong hoạt động của các doanh
nghiệp, đặc biệt với đặc điểm nền kinh tế Việt Nam thì ảnh hưởng của lãi suất tới nền
kinh tế tương đối sâu sắc và toàn diện. Lãi suất có thể gây ra nhiều hậu quả nghiêm
trọng cho nền kinh tế nhưng đây cũng có thể là một công cụ hiệu quả mà các nhà hoạch
định chính sách có thể sử dụng để định hướng sản xuất kinh doanh, kích thích phát
triển kinh tế.

II. Chương trình hỗ trợ lãi suất của Việt Nam:
1. Bối cảnh thực hiện: khủng hoảng kinh tế vĩ mô Việt Nam và thế giới (cuối
năm 2008)
a. Tình hình thế giới:
Cuối năm 2008, nền kinh tế thế giới đang rơi vào tình trạng suy thối do khủng

hoảng tài chính tồn cầu gây ra. Bắt đầu từ nước Mỹ, cuộc khủng hoảng nhanh chóng
lan sang Châu Âu, Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc… và tạo thành cuộc khủng
hoảng “tồi tệ nhất trong vòng 60 năm” (Olivier Blanchard – kinh tế trưởng của IMF).
Cuộc khủng hoảng tài chính Mỹ bắt nguồn từ làn sóng vay tiền để mua nhà ở của
người dân Mỹ giai đoạn 2004-2006. Hàng triệu hộ gia đình Mỹ sở hữu những căn nhà
vay từ vốn vay tín dụng bất động sản dưới chuẩn đã đẩy nguồn vốn này lên tới 20%
tổng dư nợ cho vay bất động sản ở Mỹ năm 2005 và 2006. Những khoản vay rủi ro này
lại được chuyển thành MBS-chứng khoán được đảm bảo bằng bất động sản dể bán cho
các nhà đầu tư. Các ngân hàng đầu tư và ngân hàng thương mại mua MBS đồng thời
cho quỹ rủi ro và nhà đầu tư khác vay để mua MBS. Khi giá nhà giảm, thị trường
chứng khoán đóng băng vào năm 2007, các ngân hàng phát hiện trong sổ sách có
khoảng 600 tỷ USD tài sản tài chính được thiết kế trên các MBS, CDO… và các loại
chứng khốn khác mà giá trị của chúng khơng thể xác định được. Tổng mệnh giá của
chúng lên tới 2500 tỷ USD, do ngân hàng và các nhà đầu tư nắm giữ. Tình trạng nợ
Nguyễn Ngọc Phương Huyền
Phạm Văn Tuấn

Stt: 33
Stt: 38

- Trang 7 -

Lớp: Anh 5 - K46C
Khoa: Kinh tế đối ngoại

LUAN VAN CHAT LUONG download : add


Tiểu luận Tài chính – Tiền tệ
xấu và xiết nợ giữa các ngân hàng và các hộ gia đình làm cho “bong bóng kinh tế Mỹ”

vốn đã phình to càng trở nên dễ vỡ.
Khi tình trạng mất ổn định xảy ra, người ta soi xét giá trị nền tảng của nhiều loại
cơng cụ tài chính. Giá thị trường của các hợp đồng phái sinh tăng từ 75000 tỷ USD
trong năm 1997 lên tới 600000 tỷ USD trong năm 2007, tức là gấp hơn 10 lần GDP
tồn cầu.
Tình trạng thiếu hụt thanh khoản ngay sau đó đẩy nền cơng nghiệp ơ tô Mỹ tới bờ
vực phá sản, các hãng ô tô châu Âu, Nhật Bản , Hàn Quốc, Trung quốc cũng phải nhận
hỗ trợ từ chính phủ. Doanh số bán hàng các công ty sụt giảm, tỷ lệ thất nghiệp tăng lên.
Sau sự sụp đổ của Lehman Brother – ngân hàng đầu tư lớn nhất của Mỹ, ngày
15/9/2008 thì cuộc khủng hoảng tài chính ở Mỹ đã lộ rõ thành một cuộc khủng hoảng
tài chính tồn cầu hết sức nghiêm trọng, cả về phạm vi, cấp độ, sức lan tỏa (Tổng số nợ
thế chấp nhà ở được chứng khốn hóa vào năm 2006 đã lên tới 14.000 tỷ USD, tương
đương GDP của Mỹ). Năm 2008, Mỹ cắt giảm 2 triệu việc làm, trong đó riêng tháng 11
là gần nửa triệu việc làm, tỷ lệ thất nghiệp bị đẩy lên tới 6,7%. Công nghiệp chế biến
của Mỹ, khu vực đồng Euro, Anh, Nhật Bản và cả Trung Quốc đều suy giảm. Tới
tháng 11/2008 xuất khẩu của Nhật Bản giảm 27% so với cùng kỳ năm trước, Đài Loan
là 24% và Hàn Quốc là 18%. Singapore và Hong Kong liên tiếp giảm tốc độ tăng
trưởng trong hai quý liên tiếp, Trung Quốc cũng phải đối mặt với suy giảm xuất khẩu
sau 7 năm liên tục tăng trưởng, giá nhà Thượng Hải giảm tới 20% trong quý 3 năm
2008… Cuối năm 2008 nhiều nước châu Âu đã phải nhận trợ giúp của IMF.
b. Tình hình Việt Nam:
Trước tình hình khủng hoảng tồn cầu, Việt Nam cũng khơng nằm ngồi vùng ảnh
hưởng do là một nước nhỏ, nhập siêu, có độ mở cửa cao (khoảng 160%), phụ thuộc
nhiều vào kinh tế thế giới. Cuộc khủng hoảng có tác động xấu tới nền kinh tế Việt Nam
qua các mặt chủ yếu sau:
Thứ nhất, xuất khẩu có xu hướng giảm do Việt Nam có tới trên 50% nhu cầu xuất
khẩu đến từ Mỹ, Nhật Bản và châu Âu (năm 2007: Mỹ 26%, Nhật 16%, châu Âu
19%) . Kim ngạch xuất khẩu Việt nam xấp xỉ 70% GDP nên sự suy giảm này có thể tác
động mạnh tới kinh tế Việt Nam, đặc biệt là qua tiêu dùng.
Nguyễn Ngọc Phương Huyền

Phạm Văn Tuấn

Stt: 33
Stt: 38

- Trang 8 -

Lớp: Anh 5 - K46C
Khoa: Kinh tế đối ngoại

LUAN VAN CHAT LUONG download : add


Tiểu luận Tài chính – Tiền tệ
Thứ hai, dự trữ ngoại tệ của Việt Nam giảm do: đầu tư nước ngồi, du lịch và kiều
hối đều có xu hướng giảm. Điều này tác động rất xấu tới một nền kinh tế nhỏ, mở cửa
và có tỷ lệ “Đơla hóa” khá cao như Việt Nam. Vốn FDI đăng ký năm 2008 ở Việt Nam
là 60 tỷ USD nhưng chỉ có một lượng nhỏ phần vốn này được giải ngân, Financial
Times dự báo FDI toàn cầu sẽ giảm mạnh trong 2009, khoảng 15%. Nhiều doanh
nghiệp Việt Nam rơi vào tình trạng thiếu tín dụng trầm trọng, khơng thể vay hoặc phải
trả lãi suất quá cao, có thể dẫn tới phá sản.
Cuối cùng, ngân sách Chính phủ có thể bị thâm hụt lớn hơn do giá hàng hóa cơ
bản giảm, nguồn thu từ các loại thuế đều có xu hướng giảm. Thuế VAT, thuế xuất nhập
khẩu và thụ tiêu thụ đặc biệt chiếm tới 16% ngân sách Chính phủ đều giảm. Sự thâm
hụt ngân sách kéo dài có thể đẩy nền kinh tế vào tình trạng khủng hoảng trầm trọng
hơn khi Chính phủ buộc phải tăng cung tiền để bù đắp bội chi ngân sách.
Tóm lại, có thể thấy cuộc khủng hoảng làm suy giảm sản lượng của những nền kinh
tế hàng đầu thế giới, kéo theo là đà suy giảm toàn cầu, trong đó có Việt Nam. Tiêu
dùng và đầu tư trong nước giảm, thương mại quốc tế, các dòng vốn và đầu tư bị thu
hẹp… Nhiều nước được dự đoán sẽ có mức tăng trưởng âm trong năm 2009. Các nước

đang phát triển giảm tăng trưởng khoảng 30%. Các nền kinh tế lớn đều hạn chế suy
thoái bằng hạ lãi suất, khôi phục thanh khoản và chỉ tiêu ngân sách. Trong khi đó
khủng hoảng tồn cầu lại làm Việt Nam bị giảm đầu tư trong nước và kim ngạch xuất
khẩu nên sẽ bị giảm cầu nội địa. Năm 2008, nhiều chỉ số kinh tế của Việt Nam diễn
biến phức tạp, không đạt mục tiêu kế hoạch:
- GDP thực tế tăng 6,23% (trong khi năm 2007 là 8,48% và mục tiêu kế hoạch điều
chỉnh là 7,0%), trong đó khu vực nơng, lâm nghiệp và thuỷ sản tăng 3,79%, đóng góp
0,68 điểm phần trăm; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 6,33%, đóng góp 2,65
điểm phần trăm; khu vực dịch vụ tăng 7,2%, đóng góp 2,9 điểm phần trăm. Đặc biệt
năm 2008 khu vực xây dựng gần như khơng có tăng trưởng.
- Giá tiêu dùng tăng khá cao và diễn biến phức tạp; kết quả là giá tiêu dùng tháng
12 năm 2008 so với tháng 12 năm 2007 tăng 19,89% và chỉ số giá tiêu dùng bình quân
năm tăng 22,97%.

Nguyễn Ngọc Phương Huyền
Phạm Văn Tuấn

Stt: 33
Stt: 38

- Trang 9 -

Lớp: Anh 5 - K46C
Khoa: Kinh tế đối ngoại

LUAN VAN CHAT LUONG download : add


Tiểu luận Tài chính – Tiền tệ
- Bội chi ngân sách Nhà nước năm 2008 ước tính bằng 13,7% tổng số chi, trong đó

77,3% được bù đắp bằng nguồn vay trong nước và 22,7% được bù đắp từ nguồn vay
nước ngồi.
- Xuất nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ đều tăng. Xuất khẩu tăng mạnh chủ yếu do
giá thế giới tăng. Trong khi đó nhập khẩu hàng hóa nguyên vật liệu chững lại ở những
cuối năm do sản xuất có dấu hiệu đình trệ, cịn nhập khẩu hàng tiêu dùng có xu hướng
tăng lại thể hiện sự “tấn cơng” của hàng tiêu dùng nước ngoài vào thị trường Việt Nam.
Ước tính nhập siêu năm 2008 là 17,5 tỷ USD, tăng 24,1 % so với năm 2007, bằng
27,8% tổng kim ngạch xuất khẩu.
- Thất nghiệp gia tăng, đời sống nhân dân cịn nhiều khó khăn. Tỷ lệ thất nghiệp
của lao động trong độ tuổi khu vực thành thị ước tính 4,65%. Thiên tai, dịch bệnh trên
gia súc, gia cầm xảy ra liên tiếp thêm vào đó giá cả hàng hố tiêu dùng, xăng dầu và
vật tư nông nghiệp tăng cao đã tác động không nhỏ đến sản xuất và đời sống của nông
dân. Theo báo cáo của các địa phương, năm 2008 cả nước có 957,5 nghìn lượt hộ thiếu
đói, tăng 32,3% và 4 triệu lượt nhân khẩu thiếu đói, tăng 32,7% so với năm 2007.
Có thể thấy mặc dù Việt Nam chưa hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới
nhưng tác động của cuộc khủng hoảng tới tăng trưởng kinh tế nước ta là khơng nhỏ.
Nếu Chính phủ khơng có những hành động đúng đắn can thiệp vào nền kinh tế thì Việt
Nam có thể sẽ suy giảm mạnh trong 2009 (hầu hết các tổ chức quốc tế như Ngân hàng
phát triển châu Á ADB, quỹ tiền tệ thế giới IMF, BMI, Citigroup đều dự đoán năm
2009 Việt nam chỉ đạt mức tăng trưởng khoảng 5%, nhiều tổ chức cịn đưa ra những
con số thấp hơn). Do đó việc kích thích tổng cầu, tăng đầu tư là một trong những chiến
lược tất yếu nhằm nhanh chóng đưa Việt Nam ra khỏi khủng hoảng và tăng trưởng ổn
định trở lại. Một trong những hành động kích thích nền kinh tế đầu tiên của Việt Nam
là chương trình hỗ trợ lãi suất 4% cho các hoạt động đầu tư.
2. Nội dung chương trình hỗ trợ lãi suất:
Chương trình hỗ trợ lãi suất cho các tổ chức, cá nhân vay vốn ngân hàng để sản suất
- kinh doanh. Đây là một quyết định quan trọng của Chính phủ trong gói kích cầu và
duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm giảm giá thành sản phẩm và tạo việc làm
năm 2009.
Nguyễn Ngọc Phương Huyền

Phạm Văn Tuấn

Stt: 33
Stt: 38

- Trang 10 -

Lớp: Anh 5 - K46C
Khoa: Kinh tế đối ngoại

LUAN VAN CHAT LUONG download : add


Tiểu luận Tài chính – Tiền tệ
a. Hỗ trợ vay vốn ngắn hạn:
Ngày 23/01/2009, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 131/QĐNHNN về việc cho vay vốn ngắn hạn cho hoạt động sản xuất kinh doanh với nội dung
như sau:
- Các tổ chức tín dụng thực hiện chương trình cho vay theo quy định của pháp luật
bao gồm tất cả các loại hình ngân hàng thương mại đang hoạt động tại Việt Nam: Ngân
hàng thương mại Nhà nước, Ngân hàng thương mại Cổ phần, ngân hàng liên doanh,
chi nhánh ngân hàng nước ngoài hoạt động tại Việt Nam, ngân hàng 100% vốn nước
ngồi và Quỹ tín dụng nhân dân trung ương.
- Đối tượng vay vốn: tất cả các tổ chức (doanh nghiệp, hợp tác xã, tổ hợp tác, hộ gia
đình …), cá nhân vay vốn lưu động để sản xuất - kinh doanh, đặc biệt chú trọng khu
vực sản xuất vật chất, xuất khẩu.
- Các khoản vay: chương trình hỗ trợ cho các khoản vay ngắn và trung hạn bằng
VND theo các hợp đồng tín dụng được ký kết và giải ngân trong năm 2009.
- Thời hạn vay được hỗ trợ lãi suất tối đa là 8 tháng đối với các khoản vay theo hợp
đồng tín dụng được ký kết và giải ngân trong khoảng thời gian từ 1/2/2009 31/12/2009.
- Mức hỗ trợ lãi suất cho khách hàng vay là 4%/năm, tính trên số tiền vay và thời

hạn cho vay thực tế nằm trong khoảng thời gian quy định nêu trên; khi thu lãi cho vay,
các ngân hàng thương mại giảm trừ số tiền lãi phải trả cho khách hàng vay.
- Tổng giá trị chương trình hỗ trợ là 17000 tỷ đồng (1 tỷ USD trong tổng 8 tỷ USD
của gói kích cầu – xấp xỉ 10% GDP), tương đương với khoảng 420000 tỷ đồng vốn vay
sẽ được giải ngân.
b. Hỗ trợ vay vốn trung và dài hạn:
Bổ sung cho chương trình hỗ trợ vốn vay ngắn hạn, ngày 04/04/2009 các NHTM
bắt đầu thi hành hỗ trợ lãi suất cho vay vốn trung và dài hạn theo tinh thần quyết định
443/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ. Nội dung của Quyết định tương tự như việc
cho vay vốn ngắn hạn.
Nguyễn Ngọc Phương Huyền
Phạm Văn Tuấn

Stt: 33
Stt: 38

- Trang 11 -

Lớp: Anh 5 - K46C
Khoa: Kinh tế đối ngoại

LUAN VAN CHAT LUONG download : add


Tiểu luận Tài chính – Tiền tệ
- Các khoản vay được hỗ trợ lãi suất là vay trung, dài hạn bằng đồng Việt Nam.
- Đối tượng vay vốn: các tổ chức, cá nhân thực hiện đầu tư mới để phát triển sản
xuất - kinh doanh, kết cấu hạ tầng theo các hợp đồng tín dụng ký kết trước và sau ngày
1/ 4 2009, được giải ngân (một hoặc nhiều lần) trong khoảng thời gian từ ngày 1/4 đến
31/12/2009, thuộc các ngành, lĩnh vực kinh tế:

Ngành nông, lâm nghiệp
Ngành thủy sản
Công nghiệp khai thác mỏ
Ngành công nghiệp chế biến
Ngành công nghiệp sản xuất và phân phối điện, khí đốt và nước
Ngành xây dựng( trừ cơng trình xây dựng văn phịng(cao ốc) cho th, cơng
trình xây dựng, sửa chữa mua nhà để bán)
Ngành thương nghiệp, sửa chữa xe có động cơ, mơ tơ, xe máy, đồ dùng cá
nhân và gia đình
Ngành vận tải, kho bãi và thông tin liên lạc
Hoạt động khoa học và công nghệ
- Mức lãi suất hỗ trợ cho khách hàng vay là 4%/năm, tính trên số tiền vay và thời
hạn cho vay thực tế.
- Thời gian thực hiện: từ ngày 01 tháng 4 năm 2009 đến 31 tháng 12 năm 2011.
- Thời hạn vay được hỗ trợ lãi suất tối đa là 24 tháng, kể từ ngày giải ngân đối với
các khoản vay theo hợp đồng tín dụng ký kết trước và sau ngày 01 tháng 4 năm 2009
mà được giải ngân trong khoảng thời gian từ ngày 01 tháng 4 đến 31 tháng 12 năm
2009.
Trong điều kiện nền kinh tế thế giới đang lâm vào suy thoái việc thực hiện kích cầu
nhằm vào bảo đảm an sinh xã hội, đặc biệt hướng tới hỗ trợ người nghèo, cho đồng bào
ở vùng sâu, vùng xa...là định hướng rất đúng đắn của Chính phủ. Cụ thể 420000 tỷ
đồng vốn vay hỗ trợ 4% lãi suất cho hoạt động sản xuất kinh doanh có thể được coi là
hành động tương đối “mạnh tay” của Việt Nam đầu năm 2009. Tuy nhiên, theo ý kiến
Nguyễn Ngọc Phương Huyền
Phạm Văn Tuấn

Stt: 33
Stt: 38

- Trang 12 -


Lớp: Anh 5 - K46C
Khoa: Kinh tế đối ngoại

LUAN VAN CHAT LUONG download : add


Tiểu luận Tài chính – Tiền tệ
của nhiều chuyên gia, gói kích cầu sẽ phản tác dụng nếu chúng ta chi tiêu không hiệu
quả và sẽ gây ra tái lạm phát cao do cơ sở hạ tầng Việt Nam con nhiều yếu kém và bất
cập. Việc tăng tín dụng đột ngột sẽ tạo đà cho lạm phát quay trở lại và khuyến khích
nhập khẩu trong khi nguồn dự trữ ngoại tệ của Việt Nam rất thấp (khoảng 250
USD/người, so với 1500USD/người của Trung Quốc) khó có thể tài trợ cho nhập khẩu.
Bên cạnh đó tín dụng tăng nhanh sẽ tạo ra bong bóng tài sản, đạc biệt là trên thị trường
chứng khoán và bất động sản, ảnh hưởng tới sự bền vững của tăng trưởng. Để tránh
tình trạng thất thốt, lãng phí các nguồn vốn vay, gia tăng gánh nặng nợ nần và các
hiện tượng "đầu cơ nóng" với các dự án vay chất lượng thấp hoặc triển khai kém, giải
ngân khơng đúng mục đích; Chính phủ cần theo sát hoạt động của chương trình, đảm
bảo cho vay kịp thời, đúng đối tượng, hiệu quả. Nếu thực hiện tốt thì gói kích cầu sẽ
tạo ra “cú hích” thúc đẩy tăng trưởng, đảm bảo cân đối vĩ mơ và cịn có thể kiểm sốt
được lạm phát.

3. Tình hình giải ngân của chương trình hỗ trợ lãi suất 6 tháng đầu năm 2009:
Có thể nói gói kích cầu là một chiếc phao cứu hộ cho một tỷ lệ không nhỏ các
doanh nghiệp, bởi theo số liệu thống kê thì trong năm 2008 có tới hơn 30% các doanh
nghiệp nhỏ và vừa làm ăn thua lỗ, nợ đọng kéo dài, thậm chí đứng trên bờ vực phá sản.
Tuy nhiên, việc thực hiện chương trình đã thực sự hiệu quả hay chưa? Trước hết chúng
ta nhìn lại tiến độ giải ngân sau gần 4 tháng thực hiện chương trình hỗ trợ lãi suất qua
bảng 1.


Nguyễn Ngọc Phương Huyền
Phạm Văn Tuấn

Stt: 33
Stt: 38

- Trang 13 -

Lớp: Anh 5 - K46C
Khoa: Kinh tế đối ngoại

LUAN VAN CHAT LUONG download : add


Tiểu luận Tài chính – Tiền tệ

Bảng 1: Tiến độ giải ngân gói kích cầu từ tháng 03 tới tháng 06 năm 2009
(Đơn vị: tỷ đồng)

Stt Ngày

NHTM
nhà
Ngân hàng NH
liên
Tổng dư nợ cho
nước và Quỹ tín
Cơng ty tài
thương mại doanh, NH
vay hỗ trợ lãi

dụng nhân dân
chính
cổ phần
nước ngồi
suất
TW
Dư nợ

Tăng


nợ

Tăng

18854


nợ

Tăng


nợ

Tăng

1543

Dư nợ


Tăng

1

28/02/2009 72630

93027

2

6/3/2009

89430

16800

22607

3753

1669

126

113708

20681

3


13/3/2009

114537

25107

26837

4230

2938

1269

144312

30604

4

20/3/2009

115659

1122

31731

4894


4513

1575

151903

7591

5

26/3/2009

133602

17943

37265

5534

7559

3046

296

178722

26819


6

3/4/2009

151010

17408

42141

4876

8633

1074

347

51

202131

23409

7

10/4/2009

162256


11246

46128

3987

9669

1036

371

24

218424

16293

8

16/4/2009

175934

13678

50316

4188


10096

427

474

103

236820

18396

9

23/4/2009

187660

11726

55245

4929

11042

946

953


479

254900

18080

10

29/4/2009

197709

10049

58443

3198

11447

405

1186 233

268776

13876

11


7/5/2009

202773

5064

60851

2408

11975

528

1074 -111.8 276673

7897

12

14/5/2009

212298

9525

65647

4796


12774

799

1167 93.22

291886

15213

13

21/5/2009

218472

6174

67476

1829

13768

994

1665 497.9

301382


9496

14

28/5/2009

230597

12125

71408

3932

15068

1300

2002 336.3

319075

17693

15

4/6/2009

240032


9435

73953

2545

15619

551

2303 301.3

331907

12832

16

11/6/2009

243531

3499

75901

1948

16287


668

2712 409

338431

6525

(Nguồn: Tổng hợp từ Website Ngân hàng Nhà nước Việt Nam)
Nguyễn Ngọc Phương Huyền
Phạm Văn Tuấn

Stt: 33
Stt: 38

- Trang 14 -

Lớp: Anh 5 - K46C
Khoa: Kinh tế đối ngoại

LUAN VAN CHAT LUONG download : add


Tiểu luận Tài chính – Tiền tệ
Ngay sau khi chương trình bắt đầu, để đẩy nhanh tiến độ thực hiện, Ngân hàng nhà
nước đã ban hành nhiều văn bản hướng dẫn cụ thể tới các NHTM (1436/NHNN ngày
03/03, Thông tư số 05/2009/NHNN ngày 7/4/2009) thực hiện nghiêm túc các thủ tục
hỗ trợ lãi suất, kiểm soát các khoản vay và công bố công khai các trường hợp từ chối
hỗ trợ, tăng cường tiến độ giải ngân.

Từ bảng có thể thấy tín độ giải ngân khơng đồng đều qua các tuần, tăng dư nợ hàng
tuần của các khối ngân hàng đều biến động phức tạp do chịu nhiều tác động của thị
trường trong nước và thế giới. Các khoản vay tập trung nhiều trong tháng 03 và sau đó
có xu hướng giảm. Tính tới 11/06 tổng dư nợ cho vay đã thực hiện là 338431 tỷ đồng
Trong đó, khối NHTM nhà nước và Quỹ tín dụng nhân dân TW đạt gần 72% (243531
tỷ đồng), khối NHTM chỉ chiếm 75901 tỷ đồng, tương đương 22,4%, cịn lại NH có
vốn nước ngồi và các cơng ty tài chính lần lượt chiếm 4,8% và 0,8%. Những con số
trên cho thấy vai trò đi đầu trong khôi phục kinh tế của khối NHTM nhà nước với quy
mô và thị phần lớn. Đồng thời chúng cũng thể hiện sự thận trọng trong quá trình cho
vay của các tổ chức tín dụng ngồi nhà nước.
Theo đối tượng khách hàng vay vốn: Tính tới ngày 18/06 Doanh nghiệp Nhà nước
53.724,58 tỷ đồng, tăng 1.369,28 tỷ đồng (tương đương tăng 2,61% so với ngày
11/6/2009); doanh nghiệp ngoài nhà nước (công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ
phần, doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài …) 230.421,85 tỷ
đồng, tăng 5.872,77 tỷ đồng (tương đương tăng 2,61%); hợp tác xã 2.604,62 tỷ đồng,
tăng 66,39 tỷ đồng (tương đương tăng 2.61%); hộ gia đình, cá nhân 59.420,01 tỷ đồng,
tăng 1.514,44 tỷ đồng (tương đương tăng 2.61%); tổ chức khác 1.111,3 tỷ đồng, tăng
28,32 tỷ đồng (tương đương tăng 2.61%).
Có thể nói sau hơn 4 tháng thực hiện, các tổ chức tín dụng đã cho vay được một
lượng vốn vay tương đối lớn, 338431 tỷ đồng vốn vay đó nếu đến đúng điểm và được
sử dụng hợp lý thật sự sẽ có tác dụng rất lớn trong khơi phục kinh tế và chống suy thối
ở Việt Nam. Tuy nhiên, việc cấp tín dụng và sử dụng nguồn vốn vay của các doanh
nghiệp vẫn tồn tại một số điểm sẽ được xem xét, đề cập trong những mục sau.

Nguyễn Ngọc Phương Huyền
Phạm Văn Tuấn

Stt: 33
Stt: 38


- Trang 15 -

Lớp: Anh 5 - K46C
Khoa: Kinh tế đối ngoại

LUAN VAN CHAT LUONG download : add


Tiểu luận Tài chính – Tiền tệ

III. Tác động của chương trình hỗ trợ lãi suất tới hoạt động sản xuất
kinh doanh:
1. Tác động tích cực:
Trong bối cảnh nền kinh tế thế giới khủng hoảng, nền kinh tế Việt Nam có nguy cơ
đi vào suy thối, chương trình hỗ trợ lãi suất của Chính phủ cho các doanh nghiệp thực
sự là một chương trình cấp thiết, có ý nghĩa trong việc khơi phục kinh tế. Nhìn vào
tồn bộ nền kinh tế, sau hơn 4 tháng thực hiện, chương trình đã tạo ra nhiều tác động
tích cực đối với nền kinh tế, đóng góp một phần khơng nhỏ vào cơng cuộc chống suy
thoái của Việt Nam. Xét tổng thể nền kinh tế ta có thể thấy những tác động tích cực
sau:
Thứ nhất, về tình hình sản xuất hàng hóa và dịch vụ:
Theo báo cáo mới nhất của mình, Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) dự báo kinh tế toàn
cầu tiếp tục lún sâu vào suy thoái với mức tăng trưởng năm nay sẽ là âm 1,3%, thấp
nhất trong vòng hơn 60 năm trở lại đây. Trong bối cảnh âm u đó, thực sự nước ta đã
đạt được những kết quả khá đáng khích lệ:
- GDP của quý I năm 2009 là 311,136 nghìn tỷ đồng, tăng 3,1% so cùng kỳ năm
2008. Trong đó khu nơng, lâm nghiệp và thủy sản tăng 0,4%; công nghiệp và xây dựng
tăng 1,5%; riêng khu vực dịch vụ tăng 5,4% so với cùng kỳ năm 2008; đóng góp
42,8% GDP.
- Tháng 4-2009 giá trị sản lượng cơng nghiệp tăng 5,4% so cùng kỳ, gộp cả 4 tháng

đầu năm thì cơng nghiệp tăng được 3,3% so cùng kỳ. Khu vực nông nghiệp-nông thôn
đã được chú trọng đầu tư; chính sách hỗ trợ lãi suất đã duy trì được nhịp điệu sản xuất
kinh doanh và đảm bảo công ăn việc làm. Đặc biệt, 4 tháng đầu năm nay nước ta đã
xuất khẩu được hơn 2 triệu tấn gạo và dự kiến cả năm sẽ xuất khoảng 5,5 triệu tấn, tăng
nửa triệu tấn so với năm 2008. Giá thu mua lúa gạo cũng tăng nhẹ đã cải thiện được
đời sống cũng như tạo thêm sự phấn khởi cho bà con nông dân. Kim ngạch xuất khẩu
cả nước 4 tháng đầu năm đạt 18,64 tỷ USD, xấp xỉ cùng kỳ và một số mặt hàng có dấu
hiệu tăng trưởng như dệt may, gạo, chè, hạt tiêu…

Nguyễn Ngọc Phương Huyền
Phạm Văn Tuấn

Stt: 33
Stt: 38

- Trang 16 -

Lớp: Anh 5 - K46C
Khoa: Kinh tế đối ngoại

LUAN VAN CHAT LUONG download : add


Tiểu luận Tài chính – Tiền tệ
- Tính chung 5 tháng đầu năm giá trị sản xuất công nghiệp đạt 265,64 nghìn tỷ
đồng, tăng 4% so với cùng kỳ năm trước. Giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản
cũng tăng nhẹ, ước tính khoảng 0,8-1%. Tổng mức lưu chuyển hàng hóa bán lẻ và
doanh thu dịch vụ tính chung 5 tháng đầu năm đạt 452,3 nghìn tỷ đồng, tăng 21% so
với cùng kỳ. Kim ngạch xuất khẩu tháng 5 đạt 4,4 tỷ USD, tăng 2,8% so với tháng
trước.

Có thể thấy trong bối cảnh kinh tế toàn cầu mất ổn định, chính sách kích cầu của
Chính phủ đã có tác dụng vào nền kinh tế nước nhà, giữ cho hoạt động sản xuất kinh
doanh dần khôi phục sau một năm 2008 đầy sóng gió và thử thách. Mặc dù chỉ là
những biến đổi nhỏ nhưng đây là dấu hiệu cho thấy nền kinh tế đang tăng trưởng khả
quan, các giải pháp kích cầu đã phát huy tác dụng. Những mặt tích cực trên cho thấy
nước ta đã đạt được hai mục tiêu cơ bản là ngăn chặn được sự suy giảm kinh tế và đảm
bảo an sinh xã hội.
Thêm vào đó, sau quyết định 131 về việc hỗ trợ lãi suất cho vay ngắn hạn đối với
các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh, quyết định số 443-TTG về việc mở rộng hỗ trợ
lãi suất 4% cho cả hoạt động trung và dài hạn lại hứa hẹn một tình hình sản xuất kinh
doanh khả quan hơn cho các doanh nghiệp.
Thứ hai, về tình hình giá cả thị trường:
Theo đánh giá của Bộ Cơng Thương vào tháng 4/2009, chương trình hỗ trợ lãi suất
đã giúp nhiều doanh nghiệp giảm chi phí vay vốn tới khoảng 35%, giá thành sản phẩm
giảm từ 2-5%. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 5 năm 2009 tăng 0,44% so với tháng
trước và tăng 5,58% so với cùng kỳ. Chỉ số giá tiêu dùng bình quân 5 tháng đầu năm
2009 tăng 11,59% so với 5 tháng đầu năm 2008. Như chúng ta đã biết, chỉ số giá tiêu
dùng là một thước đo khá tốt về tình hình kinh tế, khi CPI tăng thì mức sống của người
dân được cải thiện. Một nền kinh tế có chỉ số giá tiêu dùng giảm là một nền kinh tế bất
ổn và đáng lo ngại. Năm 2008, tỷ lệ lạm phát ở Việt Nam ở mức khá cao, trong khi đó
CPI 3 tháng cuối năm lại có xu hướng giảm dần. Cụ thể là tháng 10/2008 CPI Việt
Nam giảm 0,19% so với tháng 9, sau đó tiếp tục giảm 0,76% vào tháng 11 và 0,68%
vào tháng 12, đó thực sự là một bức tranh ảm đạm của nền kinh tế Việt. Sang năm
2009, sau khi chính sách kích cầu của Chính phủ được tung ra CPI đã dần tăng trở lại,
Nguyễn Ngọc Phương Huyền
Phạm Văn Tuấn

Stt: 33
Stt: 38


- Trang 17 -

Lớp: Anh 5 - K46C
Khoa: Kinh tế đối ngoại

LUAN VAN CHAT LUONG download : add


Tiểu luận Tài chính – Tiền tệ
thị trường trong nước lại nóng dần lên. Điều này là một tín hiệu tốt cho việc phục hồi
của nền kinh tế nói chung và của các doanh nghiệp Việt Nam nói riêng. Thơng qua
giảm chi phí đầu vào, giá thành sản phẩm của doanh nhiệp giảm, cầu hàng hóa tăng lên
vừa kích thích nền kinh tế phát triển và vừa làm tăng khả năng cạnh tranh của doanh
nghiệp.
Sau cái nhìn tồn bộ tổng thể nền kinh tế, chúng ta có thể tìm hiểu về thực trạng các
doanh nghiệp những tháng đầu năm 2009.
Các chuyên gia nhận định nhiều doanh nghiệp đang tăng tốc đón đầu phục hồi kinh
tế. Đợt kích cầu đầu tiên với một lượng vốn đáng kể được rót vào thị trường đã giải
quyết được khá nhiều vấn đề. Sau đó, chương trình hỗ trợ vốn trung và dài hạn đã làm
cho cộng đồng doanh nghiệp có thêm nhiều niềm tin và động lực làm việc mặc dù thực
tế vẫn chưa như ý. Nhiều doanh nghiệp đã mạnh dạn vay vốn để tái khởi động các dự
án bị hoãn trước đây do kẹt vốn; các ngành thương mại, dịch vụ, tài chính đang “hồi
sinh”, dần tăng trưởng trở lại… Tháng 4 và tháng 5, công tác xúc tiến đầu tư và thương
mại cũng nhộn nhịp hẳn lên với nhiều đoàn nhà đầu tư nước ngồi đến tìm hiểu cơ hội
hợp tác. Hàng loạt doanh nghiệp công bố kết quả hoạt động kinh doanh khả quan vào
tháng 4 như Tổng công ty Hóa chất Việt Nam, cho biết, riêng quý I năm nay, lượng
phân bón tiêu thụ của doanh nghiệp đã tăng gấp ba lần quý IV năm 2008, đạt 900.000
tấn các loại. Tổng công ty Máy và thiết bị công nghiệp cũng công bố giá trị sản xuất
đạt 56,8 tỷ đồng, tăng 64% so với tháng 3… Bên cạnh đó, mặt hàng vật liệu xây dựng
đã thốt khỏi tình trạng ế ẩm của năm 2008. Năm tháng đầu năm, toàn ngành xây dựng

thực hiện 41.398 tỷ đồng giá trị sản xuất kinh doanh, bằng 35% kế hoạch năm và bằng
cùng kỳ năm 2008, trong đó một số đơn vị có sản lượng cao là Tổng Công ty Sông Đà,
Tổng Công ty Xây dựng Hà Nội…

2. Tác động tiêu cực:
Chính sách hỗ trợ lãi suất của chính phủ đến các doanh nghiệp có rất nhiều tác động
tích cực đến hoạt động sản xuất kinh doanh. Nhưng bên cạnh đó, chính sách này chưa
hẳn đã là một liều thuốc tốt cho nền kinh tế.
Việc được cấp cứu bằng nguồn vốn rẻ vơ hình chung đã làm trì hỗn việc tái cấu
trúc doanh nghiệp và ngân hàng – một nhiệm vụ “đau đớn” nhưng cần thiết. Chính
Nguyễn Ngọc Phương Huyền
Phạm Văn Tuấn

Stt: 33
Stt: 38

- Trang 18 -

Lớp: Anh 5 - K46C
Khoa: Kinh tế đối ngoại

LUAN VAN CHAT LUONG download : add


Tiểu luận Tài chính – Tiền tệ
sách này dường như là một sự bảo hộ với các doanh nghiệp trong nước, làm lỡ một cơ
hội tăng cường năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam vốn đã yếu kém trên
trường thế giới. Khơng tự lực đối đầu với khó khăn, doanh nghiệp Việt Nam đến bao
giờ mới trưởng thành?
Việc thực hiện chương trình cũng cịn nhiều điểm khơng cơng bằng. Nhìn vào kết

quả hoạt động của các doanh nghiệp và tiến trình giải ngân ta thấy rằng vốn dùng cho
hỗ trợ lãi suất chủ yếu chảy vào những doanh nghiệp quốc doanh. Các doanh nghiệp
quốc doanh Việt Nam thực sự vẫn ln hoạt động kém hiệu quả vì dựa dẫm vào nhà
nước nay dường như lại được ưu ái hơn khi phải đối đầu với khó khăn, điều này thể
hiện cơ chế cịn quan liêu của nước ta. Khơng chỉ thế, bất cơng cịn thể hiện ở chỗ
trong QĐ-443 khơng cho phép các cơng ty cho th tài chính cho vay trong khi các
cơng ty đó cũng là các tổ chức tín dụng, cũng hoạt động tín dụng trung và dài hạn. Với
các cơng ty tài chính, vốn dĩ họ đã chịu lép vế khi cạnh tranh với các NHTM trong cho
vay, tài trợ dự án. Hơn thế nữa, xét trên tổng thể nền kinh tế, việc hỗ trợ các cơng ty tài
chính cũng góp phần thúc đẩy kinh tế phát triển vì thơng qua các cơng ty này, các
doanh nghiệp sản xuất cũng được thuê tư bản với giá rẻ hơn và hạ được giá thành sản
phẩm.
Ngoài những mặt tiêu cực đã nói ở trên, nguy cơ tái lạm phát sẽ hiện hữu trong
những năm tới nếu sử dụng "gói kích cầu" kém hiệu quả, tiếp tục thực hiện chính sách
tiền tệ, chính sách tài khóa nới lỏng cả về phạm vi và thời gian nhất là khi nền kinh tế
Việt Nam và thế giới hồi phục trở lại, vì những ngun nhân có tính cơ cấu của lạm
phát trong nền kinh tế Việt Nam vẫn còn nguyên vẹn.

Nguyễn Ngọc Phương Huyền
Phạm Văn Tuấn

Stt: 33
Stt: 38

- Trang 19 -

Lớp: Anh 5 - K46C
Khoa: Kinh tế đối ngoại

LUAN VAN CHAT LUONG download : add



Tiểu luận Tài chính – Tiền tệ

IV. Đánh giá chung về chương trình hỗ trợ lãi suất và một số giải
pháp đề xuất:
1. Đánh giá chương trình hỗ trợ lãi suất:
a. Ưu điểm:
Từ việc phân tích bối cảnh kinh tế Việt Nam, nội dung của chương trình, quá trình
thực hiện và những tác động sơ bộ tới nền kinh tế có thể thấy được nhiều ưu điểm của
chương trình hỗ trợ lãi suất của Chính phủ. Trong đó nổi bật những ưu điểm chủ yếu
sau:
Thứ nhất, trong bối cảnh Việt Nam đang lâm vào suy thoái kinh tế với khủng hoảng
chung của kinh tế tồn cầu thì việc Chính phủ quyết định thực hiện kích cầu, tăng đầu
tư, tạo điều kiện đẩy mạnh hoạt động sản xuất kinh doanh là những hành động cần
thiết, phù hợp với nhu cầu thực tiễn và xu hướng chung của thế giới. Đặc biệt, chương
trình hỗ trợ lãi suất là chính sách “cứu sinh” cho nhiều doanh nghiệp Việt Nam vượt
qua khủng hoảng khi đang lâm vào tình trạng thiếu vốn, nợ nhiều và nhiều doanh
nghiệp nhỏ và vừa thậm chí đang đứng trước nguy cơ phá sản vào thời điểm cuối năm
2008 – đầu năm 2009. Có thể nói đây là hành động thức thời của Việt Nam.
Thứ hai, quá trình giải ngân tương đối nhanh, chỉ trong một thời gian ngắn các ngân
hàng thương mại đã cho vay được một khối lượng vốn rất lớn. Đây là tín hiệu rõ rệt
cho sự tăng trưởng tín dụng cho sản xuất kinh doanh ở Việt Nam và bước đầu là dấu
hiệu đáng mừng cho sự khơi phục kinh tế.
Thứ ba, chương trình đã mang lại những tác động ban đầu đến khôi phục kinh tế
được nhiều nhà kinh tế đánh giá cao. Chỉ số giá tiêu dùng đã dần tăng trở lại, sản lượng
sản xuất của đa số ngành tăng nhẹ, nhiều doanh nghiệp đứng trước nguy cơ phá sản đã
tìm được chỗ dựa để đứng dậy, qua đó tạo thêm cơng ăn việc làm cho người lao động,
nức sống của toàn xã hội được cải thiện.


Nguyễn Ngọc Phương Huyền
Phạm Văn Tuấn

Stt: 33
Stt: 38

- Trang 20 -

Lớp: Anh 5 - K46C
Khoa: Kinh tế đối ngoại

LUAN VAN CHAT LUONG download : add


Tiểu luận Tài chính – Tiền tệ

Tăng dư nợ
(Tỷ đồng)
35000
30000
25000
20000
15000
10000
5000
0

Ngày
28/2 7/3 14/3 21/3 28/3 4/4 11/4 18/4 25/4 2/5 9/5 16/5 23/5 30/5 6/6


Biểu đồ: Mức tăng của tín dụng theo chương trình hỗ trợ lãi suất 4% cho vốn vay
sản xuất kinh doanh tính tới 11/06/2009
(Nguồn: Tổng hợp từ Website NHNN VN)
b. Nhược điểm:
Tuy vậy, trong quá trình thực hiện chương trình hỗ trợ lãi suất chúng ta phải nhìn
nhận một số nhược điểm: Tiêu cực trong mục đích sử dụng vốn vay, các ngân hàng
thiếu minh bạch,
Đầu tiên phải kể đến trong các hạn chế của chương trình hỗ trợ là sự vận động có
tính tiêu cực của nhiều khoản vay. Thực tế là nhiều doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân
thực sự cần vốn sản xuất kinh doanh chưa nhận được sự hỗ trợ do không đáp ứng đủ
tiêu chuẩn cho vay của ngân hàng, hoặc khó khăn trong vấn đề thủ tục. Trong khi đó,
nguy cơ đảo nợ hay dòng tiền chảy vào sàn vàng, thị trường chứng khốn lại khá rõ rệt.
Việc đảo nợ có thể xảy ra do các doanh nghiệp dùng nhiều cách để che mắt Ngân hàng
hoặc cũng có thể do Ngân hàng và doanh nghiệp đó thơng đồng với nhau để trục lợi từ
ngân sách nhà nước. Đứng từ góc độ doanh nghiệp, động cơ vay mới với lãi suất thấp
(5 – 6%) để trả các khoản nợ cũ với lãi suất rất cao là một điều dễ hiểu. Hơn thế nữa,
Nguyễn Ngọc Phương Huyền
Phạm Văn Tuấn

Stt: 33
Stt: 38

- Trang 21 -

Lớp: Anh 5 - K46C
Khoa: Kinh tế đối ngoại

LUAN VAN CHAT LUONG download : add



Tiểu luận Tài chính – Tiền tệ
đối với một số doanh nghiệp khó khăn, họ khơng có đủ khả năng trả nợ cũ nên không
thể tiếp cận với khoản vay mới, vì vậy họ tìm mọi cách xoay sở để dùng chính khoản
vay của ngân hàng để trả nợ cũ và đi vay nợ mới. Thực sự việc không cho phép đảo nợ
mang lại khó khăn cho nhiều doanh nghiệp nhưng đây là việc làm phạm pháp, bởi nếu
cho phép đảo nợ tức là nền kinh tế chấp nhận một cách làm ăn khơng hiệu quả, gây thất
thốt tài sản và rối ren trong công tác quản lý. Bên cạnh việc đảo nợ, nguy cơ vốn hỗ
trợ lãi suất chảy vào thị trường bất động sản và chứng khoán cũng có thể đang xảy ra.
Như chúng ta đã biết, từ tháng 3/2009, thị trường bất động sản và chứng khoán trong
nước bắt đầu nóng dần lên. Chỉ số VN-Index từ mốc 246 điểm đã tăng vọt lên gần 460
điểm tính đên phiên ngày 04/06, tức là tăng gần gấp đôi chỉ sau 3 tháng. Ngồi những
ngun nhân như tín hiệu phục hồi của chứng khoán thế giới, sức hấp dẫn nội tại của
thị trường sau hơn 1 năm điều chỉnh sâu một nguyên nhân khác nữa là do vốn mà nhà
nước kỳ vọng đưa vào sản xuất kinh doanh lại bị chảy vào đầu tư, đầu cơ chúng khoán
và bất động sản. Điều này có thể nhận ra khi thấy tiến độ giải ngân của Ngân hàng
thương mại rất nhanh nhưng việc phục hồi trong sản xuất kinh doanh chưa thật sự đạt
hiệu quả.
Thứ hai, nguyên nhân lớn khiến chương trình thực hiện khơng hiệu quả, vốn khơng
đến tay người cần vốn chính là do sự thiếu minh bạch của các NHTM. Theo ông
Nguyễn Văn Tú, Giám đốc Công ty Xuất nhập khẩu Vĩnh Phúc, không chỉ là ngân
hàng gây khó dễ mà thậm chí đã có cả tiêu cực trong việc cho vay vốn của các ngân
hàng. Ông dẫn chứng, cùng một bộ hồ sơ vay vốn với dự án giống nhau nhưng doanh
nghiệp khác thì vay được cịn cơng ty ơng thì lại khơng. Điều này chứng tỏ cơ chế xin
cho vẫn cịn tồn tại một cách có hệ thống ở nước ta. Hay theo một phản ánh khác, cùng
một mặt hàng nhưng có ngân hàng xét “cho” vào diện được hỗ trợ, có ngân hàng lại
khơng… Ngồi ra, các thủ tục để xin cấp hỗ trợ còn rườm rà, khó hiểu. Cho tới thời
điểm này mà cịn rất nhiều doanh nghiệp vẫn loay hoay với các thủ tục xin hỗ trợ trong
khi thời hạn và lượng tiền được dùng cho hỗ trợ lãi suất đang trôi qua từng ngày. Thậm
chí, do các thủ tục rườm rà, một số doanh nghiệp nhỏ cịn nộp đơn khơng cần vay vốn
hỗ trợ. Hầu hết các NHTM trên giấy tờ vay đều đưa ra điều khoản ngay trong đơn xin

vay của khách hàng là phải cam kết mình đủ điều kiện hỗ trợ lãi suất, nếu khơng đủ
điều kiện thì DN phải cam kết sẽ trả đủ cho NH theo lãi suất 8%. Theo quy định đối
Nguyễn Ngọc Phương Huyền
Phạm Văn Tuấn

Stt: 33
Stt: 38

- Trang 22 -

Lớp: Anh 5 - K46C
Khoa: Kinh tế đối ngoại

LUAN VAN CHAT LUONG download : add


Tiểu luận Tài chính – Tiền tệ
với việc cấp bù lãi suất, các NHTM chỉ được NHNN thanh toán hỗ trợ trước mắt 80%
và vẫn bị giữ 20%. Sau này sẽ có thanh tra kiểm tra lại các đối tượng khách hàng được
vay để xem đối tượng khách hàng có thực sự đủ điều kiện hỗ trợ hay không, trong khi
đó các DN lâu nay đều khơng muốn bị thanh- kiểm tra nhất là các doanh nghiệp nhỏ và
vừa. Như thế, các đồng vốn lại chảy vào các doanh nghiệp lớn như “nước chảy chỗ
trũng”.
Thứ ba, các doanh nghiệp cũng cịn thụ động, chưa tìm hiểu kỹ về chương trình.
Nhiều doanh nghiệp còn e ngại những nguy cơ bất ổn, những biến động theo chiều
hướng đi xuống, không dám vay vốn để đầu tư dù doanh nghiệp đang thiếu vốn, sản
xuất bị đình trệ, nhiều lao động khơng có việc làm. Cũng do tâm lý thụ động “chờ
vốn”, nhiều doanh nghiệp khơng được cấp tín dụng đúng mức bởi hồ sơ không phù
hợp, không đủ tiêu chuẩn để cho vay… Sự thiếu quan tâm, thiếu hiểu biết làm các
doanh nghiệp mất đi quyền lợi của mình trong việc xin cấp tín dụng hỗ trợ đồng thời

làm giảm hiệu quả của chương trình.
Nhìn chung, sau hơn 04 tháng thực hiện, chương trình cho vay hỗ trợ lãi suất 4%
của Chính phủ đã đạt được nhiều ưu điểm nhưng cũng còn tồn tại nhiều điểm yếu kém.
Chương trình đã có tác dụng kích thích đầu tư, cùng với gói kích cầu mang lại những
dấu hiệu bước đầu của việc khôi phục kinh tế Việt Nam. Nhưng bên cạnh đó, chương
trình cũng cịn tồn tại những yếu điểm vần khắc phục để có thể phát huy tối đa hiệu
quả, đồng thời nhanh chóng đưa Việt Nam vượt qua khủng hoảng.

2. Một số giải pháp đề xuất nhằm nâng cao hiệu quả của chương trình hỗ trợ
lãi suất:
Gói kích cầu của Chính phủ có phát huy hiệu quả khôi phục sản xuất, tiêu dùng đưa
Việt nam thốt khỏi khủng hoảng hay khơng vẫn cịn là một dấu hỏi lớn đối với Việt
Nam. Để chương trình hỗ trợ lãi suất phát huy tối đa tác dụng phát triển sản xuất kinh
doanh cần có sự phối hợp thực hiện của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, hệ thống các
ngân hàng thương mại và các cơ quan hữu quan cũng như chủ động của các doanh
nghiệp. Nhằm nâng cao hiệu quả của chính sách kích cầu đầu tư thơng qua hỗ trợ lãi
suất, nhóm nghiên cứu đề xuất một số điểm cần quan tâm như sau:
Nguyễn Ngọc Phương Huyền
Phạm Văn Tuấn

Stt: 33
Stt: 38

- Trang 23 -

Lớp: Anh 5 - K46C
Khoa: Kinh tế đối ngoại

LUAN VAN CHAT LUONG download : add



Tiểu luận Tài chính – Tiền tệ
Đối với các ngân hàng thương mại:
Sự tồn vong của các doanh nghiệp quyết định rất lớn tới sự phát triển của các ngân
hàng thương mại. Do đó, trong bối cảnh kinh tế Việt Nam hiện nay, khi các loại hình
trung gian tài chính khác cịn chưa phát triển, các ngân hàng cần tích cực phối hợp
thực hiện gói kích cầu của Chính phủ nhằm khôi phục kinh tế và đảm bảo sự phát triển
bền vững của chính hệ thống ngân hàng. Theo đó các ngân hàng thương mại cần:
- Xác định đây là nhiệm vụ kinh tế-chính trị trọng tâm, vừa làm tốt vai trò cung ứng
vốn cho nền kinh tế, vừa tăng cường cơng tác kiểm tra, giám sát các khoản tín dụng.
- Phân tích và đánh giá chính xác mức sinh lời của doanh nghiệp để từ đó xác định
lãi suất cho vay hợp lý, đảm bảo đơi bên cùng có lợi, kết hợp với lãi suất hỗ trợ tạo
điều kiện tốt nhất cho các doanh nghiệp.
- Đơn giản hoá các thủ tục hành chính nhưng vẫn phải đảm bảo quy trình xét hồ sơ
tín dụng để cho vay đúng đối tượng, hỗ trợ lãi suất theo đúng quy định của nhà nước.
- Tích cực trong khâu tư vấn, hướng dẫn, giải thích các đối tượng vay vốn nhằm tối
ưu hố chủ trương, chính sách của Nhà nước, đảm bảo việc hỗ trợ lãi suất theo đúng
quy định.
- Nâng cao khả năng dự báo và thực hiện tốt vai trò tư vấn về lãi suất cho vay, đầu
tư và sử dụng vốn giúp doanh nghiệp phòng ngừa và hạn chế rủi ro, mạnh dạn đầu tư,
tăng cường sản xuất kinh doanh.
Đối với các doanh nghiệp:
- Mạnh dạn đầu tư cho các dự án sản xuất mới trên cơ sở tính tốn và dự báo đầy
đủ, chính xác về chi phí, đánh giá hiệu quả, lợi nhuận của các phương án.
- Tích cực và chủ động trong quá trình huy động vốn, sử dụng vốn hợp lý hiệu quả
nhằm cứu lấy mình và góp phần chống suy thối kinh tế; nhưng cũng phải giữ cái nhìn
khách quan, chỉ nhận vốn hỗ trợ khi doanh nghiệp thật sự còn cư hội phát triển, tạo
điều kiện phát triển bền vững.
- Sử dụng linh hoạt cơng cụ địn bẩy tài chính trong hoạt động kinh doanh nhằm đạt
được mục tiêu gia tăng lợi nhuận, tối đa hóa sản xuất trong điều kiện được hỗ trợ lãi

suất.

Nguyễn Ngọc Phương Huyền
Phạm Văn Tuấn

Stt: 33
Stt: 38

- Trang 24 -

Lớp: Anh 5 - K46C
Khoa: Kinh tế đối ngoại

LUAN VAN CHAT LUONG download : add


Tiểu luận Tài chính – Tiền tệ
- Tăng cường năng lực tự chủ về tài chính, đa dạng hóa các kênh huy động vốn có
thể, tránh việc phụ thuộc quá lớn vào nguồn vốn vay Ngân hàng.
Đối với các cơ quan quản lý vĩ mô:
- Thực hiện triệt để và kiên trì chương trình trên cơ sở giám sát chặt chẽ, xử lý công
bằng, nghiêm minh đối với các trường hợp vi phạm, tránh việc sử dụng vốn sai mục
đích, dịng tiền chảy khơng đúng chỗ, đề phịng nguy cơ tiêu cực tham nhũng hoặc
nhũng nhiễu, tạo sự bất bình đẳng giữa các loại hình doanh nghiệp.
- Kết hợp với các biện pháp hỗ trợ doanh nghiệp khác như hỗ trợ tìm kiếm thị
trường, quảng bá thương hiệu, cho vay xuất khẩu, bảo lãnh tín dụng xuất khẩu, bảo
lãnh dự thầu, bảo lãnh thực hiện hợp đồng xuất khẩu, thưởng xuất khẩu,…; tránh tình
trạng doanh nghiệp khơng dám vay vốn do khơng tìm được thị trường tiêu thụ (sức
mua trong nước và các thị trường lớn hiện đang bị suy giảm và tập trung vào tiêu dùng
hàng nội địa).

- Điều hành chính sách một cách linh hoạt, xử lý, điều chỉnh kịp thời những tình
huống phát sinh trong thực. Đồng thời thường xuyên tổng kết để đánh giá tác động của
chính sách kích cầu, từ đó có những giải pháp bổ sung hợp lý, sát thực.
- Hạn chế sử dụng các biện pháp hành chính trong điều hành lãi suất, làm biến dạng
sự vận động của lãi suất để đảm bảo lãi suất trong nền kinh tế vận động theo cơ chế thị
trường, giữ thị trường ổn định, giúp cho các doanh nghiệp có thể dự báo, đưa ra các
giải pháp đối phó phù hợp, mạnh dạn đầu tư sản xuất.
Một chính sách muốn thành cơng phải là kết quả của sự tìm hiểu và thống nhất giữa
nhà hoạch định chính sách và người thực hiện. Với chính sách hỗ trợ lãi suất cũng vậy,
muốn đạt được kết quả tốt cần phải có sự phối hợp hành động và hợp tác trong đường
lối giữa cơ quan quản lý vĩ mô, NHTM và các doanh nghiệp.

Nguyễn Ngọc Phương Huyền
Phạm Văn Tuấn

Stt: 33
Stt: 38

- Trang 25 -

Lớp: Anh 5 - K46C
Khoa: Kinh tế đối ngoại

LUAN VAN CHAT LUONG download : add


×