Tải bản đầy đủ (.pdf) (3 trang)

Tiếp nhận từ của ngoại ngữ trong quá trình tiếp xúc ngôn ngữ pptx

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (114.47 KB, 3 trang )

Tiếp nhận từ của ngoại ngữ trong quá trình tiếp
xúc ngôn ngữ
Chất liệu ngôn ngữ bao gồm chất liệu hình thức và chất liệu nội dung.
Chất liệu nội dung là những sự vật, những khái niệm, những tư tưởng, tình
cảm… Những cái đó, làm nên văn hoá vật chất và tinh thần của mỗi dân tộc,
không phải và không thể là do mỗi dân tộc tạo ra tất cả. Có những cái, có cả những
bộ phận, do tiếp nhận tự ngoài vào mà có, và cùng với sự tiếp nhận chất liệu nội
dung là sự tiếp nhận chất liệu hình thức. Đó là lí do chính vì sao trong một ngôn
ngữ có thể có những từ vốn của ngoại ngữ. Yêu cầu chuẩn mực hoá thường được
đặt ra chủ yếu đối với những từ này. Vì thế, thiết tưởng cần phải tìm hiểu hiện
tượng tiếp nhận từ của ngoại ngữ, phân loại những trường hợp khác nhau, mới có
thể xác định giới hạn đối với yêu cầu nói trên.
Sự thực, tiếp nhận từ của ngoại ngữ vào bản ngữ là một quá trình và ý thức của
người bản ngữ là một nhân tố rất quan trọng đối với quá trình ấy. Cho nên có thể
căn cứ vào ý thức đó mà phân thành những trường hợp khác nhau.
Trước tiên, có thể nhận thấy hai trường hợp đối lập thành hai cực.
Thứ nhất là trường hợp những từ vốn tự ngoài vào và đã đồng hoá về nội dung
cũng như về hình thức, tới mức người bản ngữ không còn ý thức về nguồn gốc
ngoại của chúng nữa. Như vậy, không còn có xung đột bản ngữ – ngoại ngữ. Thí
dụ, trong một câu tục ngữ tiếng Việt như: “coi gió bỏ buồm”, thì không ai trong
chúng ta còn chú ý tới gốc ngoại của từ buồm khi gặp nó hay dùng nó trong câu;
chỉ nhà khoa học chuyên trị lịch sử tiếng Việt mới biết đến cái tiền thân xa xưa của
nó trong tiếng Hán cổ, cái tiền thân đó còn xưah ơn cả từ phàm, là từ thuộc loại
quen gọi Hán – Việt. Từ lò xo cũng là một thí dụ về từ đã đồng hoá nhưng lại là
gốc ở từ ressort của tiếng Pháp… Hiện tượng đồng hoá thực đáng chú ý và cần
được chú ý – như sẽ nói ở sau – ở những tiêu chuẩn mà theo đó một từ vốn của
ngoại ngữ được coi là đã đồng hoá.
Thứ hai là trường hợp, những từ có thể gọi là từ ngoại, vốn tự ngoại vào, và
không có khả năng đồng hoá, mà trái lại sẽ được dùng trong bản ngữ với yêu cầu
mãi mãi là ngoại. Ở trường hợp này, nói chung, cũng không nảy sinh xung đột bản
ngữ – ngoại ngữ.


Về trường hợp này, nên kể trước hết những tên riêng – tên của những người,
những sông núi, thành phố không phải ở nước mình mà ở nước ngoài, và tên của
những nước đó. Nội dung và hình thức của những tên riêng này là ngoại trong ý
thức của người bản ngữ, và giá trị thông tin văn hoá của chúng chính là ở bản chất
ngoại đó. Cho nên, trong sự chuẩn mực hoá, cái ý muốn duy trì những tên riêng ấy
ở hình thức vốn có của chúng ở trong ngoại ngữ là, về nguyên tắc, một điều hợp lí.
Ngoài những tên riêng đó, còn có thể coi là từ ngoại, những từ mà người bản
ngữ muốn dùng với hình thức ngoại của chúng để thông tin về những nội dung,
mặc dù không phải là ngoại, nhưng có sắc thái ngoại độc đáo. Thí dụ, trong một
tiểu thuyết dịch, nếu không dịch nghĩa mà cứ để nguyên những từ của tiếng Mĩ
như: “gangster”, “blue-jean”, “hold-up”… nguyên cả cách viết, là không muốn
làm mất đi những nét riêng của xã hội nước Mĩ, mặc dù có thể có những từ để đáp
ứng những nội dung ấy, vì ở đâu mà chẳng có những loại người, loại quần và loại
hành động giống như vậy!
Những từ ngoại này có thể gọi là từ ngoại gợi cảm. Thực ra, chúng không khác
mấy, về hình thức, với từ mượn sắp nói tới dưới đây. Nhưng cái khác quan trọng
nhất là ở chỗ: đã là từ ngoại thì người bản ngữ dùng nó với ý thức về nguồn gốc và
cả về chức năng của nó; cho nên, ở đây, cũng có thể coi là không có xung đột bản
ngữ – ngoại ngữ.
Giữa hai thái cực trên – từ đống hoá và từ ngoại #8211; là trường hợp của
những từ mượn. Đây là trường hợp có tính chất trung gian, nhưng vẫn nhận ra
được ranh giới.
Trước tiên, nội dung của từ mượn không phải ngoại, mà chung hay, đã trở
thành chung. Đó là cái khác cơ bản giữa từ ngoại và từ mượn. Thí dụ, xét về nội
dung thì “Chicago”, “gangster”… là từ ngoại, còn công-tây-nơ, a-xít… là từ
mượn. Nhưng về hình thức, từ mượn vẫn giống từ ngoại. Và người bản ngữ thế
nào cũng nhận ra được hình thức ngoại của từ ngoại và từ mượn qua các đặc điểm
về âm, hay về cách dùng, từ là về khả năng hành chức của chúng trong bản ngữ.
Chính sự đối lập giữa hình thức và nội dung như vừa nói là sự xung đột bản
ngữ – ngoại ngữ tập trung ở từ mượn và làm thành vấn đề của nó. Có thể phát biểu

vấn đề ấy như sau: tại sao nội dung không phải hay không còn là ngoại mà hình
thức lại vẫn là ngoại? Trước vấn đề ấy, nếu cách xử lí của người bản ngữ là vẫn cứ
chấp nhận, cứ hoan nghênh hình thức ngoại, mặc dù nội dung không là ngoại, thì
cách xử lí ấy là hành động mượn từ và những từ xuất hiện trong bản ngữ do hành
động ấy là từ mượn. Như vậy, mỗi hành động mượn từ là một giải pháp có ý thức
của người bản ngữ đối với một trường hợp xung đột bản ngữ – ngoại ngữ.

×