Tải bản đầy đủ (.pdf) (4 trang)

Báo cáo " Về chế độ nuôi con nuôi trong Luật Hôn nhân gia đình " doc

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (78.08 KB, 4 trang )



nghiên cứu - trao đổi
18 - Tạp chí luật học

về chế định nuôi con nuôi trong
Luật hôn nhân và gia đình năm 2000

ThS. Ngô Thị Hờng *
uôi con nuôi là chế định pháp lí quan
trọng trong hệ thống pháp luật của
nhiều quốc gia và trong pháp luật quốc tế.
Công ớc của Liên hợp quốc về quyền trẻ em
khẳng định: "Để phát triển đầy đủ và hài
hòa nhân cách của mình, trẻ em cần đợc
trởng thành trong môi trờng gia đình,
trong bầu không khí hạnh phúc, yêu thơng
và thông cảm". Với trách nhiệm của quốc gia
thành viên Công ớc, Nhà nớc ta đ có
những chính sách lớn nhằm bảo vệ quyền lợi
của trẻ em và luôn quan tâm đặc biệt tới
những trẻ em có hoàn cảnh khó khăn, nhất là
những trẻ em không đợc sống trong gia
đình gốc của mình.
Luật hôn nhân và gia đình (HN&GĐ)
năm 1959 khẳng định: "Con nuôi có quyền
lợi và nghĩa vụ nh con đẻ" (Điều 24) và
"cha mẹ không đợc hành hạ con cái, không
đợc đối xử tàn tệ với con dâu, con nuôi, con
riêng " (Điều 18) đ là cơ sở pháp lí bảo
đảm quyền lợi của ngời con nuôi. Tuy


nhiên, Luật HN&GĐ năm 1959 cha quy
định về điều kiện để làm cha, mẹ nuôi và
điều kiện đối với con nuôi. Luật HN&GĐ
năm 1986 đ quy định tơng đối đầy đủ về
mục đích, điều kiện của việc nuôi con nuôi,
thủ tục công nhận và chấm dứt việc nuôi con
nuôi cũng nh quyền lợi, nghĩa vụ của ngời
con nuôi và cha mẹ nuôi. Tuy vậy, các quy
định này còn rất chung chung. Luật HN&GĐ
năm 2000 dành chơng VIII quy định về vấn
đề nuôi con nuôi. Nhìn chung, những quy
định về vấn đề nuôi con nuôi trong Luật
HN&GĐ năm 2000 đ cụ thể hơn song vẫn
cha dự liệu đợc những trờng hợp có thể
xảy ra trong thực tế. Trong phạm vi bài viết
này, xin đợc đề cập một số vấn đề sau:
1. Về điều kiện đối với ngời nhận
nuôi con nuôi
Điều 69 Luật HN&GĐ năm 2000 quy
định:
"Ngời nhận con nuôi phải có đủ các
điều kiện sau đây:
1. Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ;
2. Hơn con nuôi từ 20 tuổi trở lên;
3. Có t cách đạo đức tốt;
4. Có điều kiện thực tế bảo đảm việc
trông nom, chăm sóc, nuôi dỡng, giáo dục
con nuôi;
5. Không phải là ngời đang bị hạn chế
một số quyền của cha, mẹ đối với con cha

thành niên hoặc bị kết án mà cha đợc xoá
án tích về một trong các tội cố ý xâm phạm
tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự
của ngời khác; ngợc đi hoặc hành hạ
ông, bà, cha, mẹ, vợ, chồng, con, cháu, ngời
có công nuôi dỡng mình; dụ dỗ, ép buộc
hoặc chứa chấp ngời cha thành niên phạm
N

* Giảng viên Khoa t pháp
Trờng đại học luật Hà Nội


nghiên cứu - trao đổi
Tạp chí luật học - 19

pháp; mua bán, đánh tráo, chiếm đoạt trẻ
em; các tội xâm phạm tình dục đối với trẻ
em; có hành vi xúi giục, ép buộc con làm
những việc trái pháp luật, trái đạo đức x
hội".
Quy định trên là hết sức cần thiết nhằm
khẳng định t cách đạo đức, ý thức pháp luật,
điều kiện về thời gian, về kinh tế của ngời
nhận nuôi con nuôi, bảo đảm cho con nuôi
đợc chăm sóc, nuôi dỡng và giáo dục tốt
nhất, đợc lớn lên trong môi trờng gia đình
lành mạnh. Vì vậy, về nguyên tắc, khi nhận
nuôi nuôi con nuôi, ngời nhận nuôi phải có
đầy đủ các điều kiện đó. Nếu vợ chồng cùng

nhận nuôi con nuôi thì cả vợ và chồng đều
phải có đủ các điều kiện trên (Điều 70 Luật
HN&GĐ năm 2000).
Tuy nhiên, trên thực tế có một số trờng
hợp nếu bắt buộc ngời nhận nuôi con nuôi
phải có đầy đủ các điều kiện trên là quá máy
móc. Thiết nghĩ, cần có những quy định
ngoại lệ đối với một số trờng hợp đặc biệt
về một vài điều kiện nào đó về phía ngời
nhận nuôi con nuôi mà nếu thiếu điều kiện
đó thì không ảnh hởng đến lợi ích của con
nuôi.
Chẳng hạn nh điều kiện về tuổi của
ngời nhận nuôi con nuôi. Theo quy định tại
khoản 2 Điều 69 Luật HN&GĐ năm 2000 thì
ngời nuôi phải hơn con nuôi từ 20 tuổi trở
lên nhng nếu vợ chồng cùng nhận nuôi con
nuôi thì nên chăng chỉ cần một trong hai
ngời có đủ điều kiện về độ tuổi. Hoặc
trờng hợp một ngời nhận nuôi con nuôi,
sau đó mới kết hôn thì theo quy định, trong
trờng hợp này không thể khẳng định ngời
vợ (hoặc ngời chồng) của ngời nhận nuôi
con nuôi cũng là mẹ nuôi (hoặc cha nuôi)
của ngời con nuôi đó. Khi ngời vợ (hoặc
chồng) của ngời cha nuôi (mẹ nuôi) mong
muốn trở thành mẹ nuôi (hoặc cha nuôi) của
đứa trẻ nên họ làm đơn xin nhận con nuôi
của chồng (hoặc vợ) mình làm con nuôi. Nếu
xét về sự chênh lệch độ tuổi thì họ lại không

đủ điều kiện để làm mẹ (hoặc cha) nuôi của
đứa trẻ nên việc xin nhận con nuôi không
đợc chấp nhận. Vì vậy, họ tuy là vợ chồng
của nhau nhng lại không cùng là cha mẹ
nuôi của đứa trẻ. Vì thế, quyền lợi của đứa
trẻ sẽ khó có thể đợc bảo đảm. Đối với
trờng hợp ngời vợ (hoặc chồng) nhận con
riêng của chồng (hoặc vợ) mình làm con
nuôi thì nên chăng cũng cần cho phép miễn
điều kiện sự chênh lệch về độ tuổi. Mặc dù,
Luật HN&GĐ năm 2000 quy định cha
dợng, mẹ kế có nghĩa vụ chăm sóc, nuôi
dỡng, giáo dục con riêng của vợ (hoặc
chồng) nh con đẻ (Điều 38) nhng lại
không quy định giữa họ phát sinh quan hệ
cha mẹ và con. Trong khi đó Luật HN&GĐ
lại quy định quan hệ giữa ngời nuôi và con
nuôi là quan hệ giữa cha mẹ và con. Vì vậy,
cha dợng hoặc mẹ kế muốn bằng sự kiện
nuôi con nuôi để khẳng định quan hệ giữa họ
và con riêng của vợ (chồng) mình là quan hệ
giữa cha mẹ và con. Nếu cha dợng hoặc mẹ
kế không đảm bảo sự chênh lệch về độ tuổi
đối với con riêng của vợ (hoặc chồng) mình
mà việc nuôi con nuôi không đợc chấp nhận
thì e rằng không đợc thỏa đáng. Mục đích
của việc nuôi con nuôi là nhằm bảo vệ quyền
lợi cho trẻ em. Vậy trong các trờng hợp
trên, vì lợi ích của trẻ em nên quy định miễn
chấp hành về sự chênh lệch về độ tuổi.



nghiên cứu - trao đổi
20 - Tạp chí luật học

2. Về sự đồng ý của cha mẹ đẻ, ngời
giám hộ và ngời đợc nhận làm con nuôi
Điều 71 Luật HN&GĐ 2000 quy định:
"1. Việc nhận ngời cha thành niên, ngời
đ thành niên mất năng lực hành vi dân sự
làm con nuôi phải đợc sự đồng ý bằng văn
bản của cha mẹ đẻ của ngời đó; nếu cha mẹ
đẻ đ chết, mất năng lực hành vi dân sự hoặc
không xác định đợc cha, mẹ thì phải đợc
sự đồng ý bằng văn bản của ngời giám hộ.
2. Việc nhận trẻ em từ đủ 9 tuổi trở lên
làm con nuôi phải đợc sự đồng ý của trẻ em
đó".
2.1. Sự đồng ý của cha mẹ đẻ hoặc ngời
giám hộ
Theo quy định tại khoản 1 Điều 71 nêu
trên thì có thể dẫn đến hai cách hiểu khác
nhau:
Thứ nhất, việc nhận ngời cha thành
niên, ngời đ thành niên nhng bị mất năng
lực hành vi dân sự làm con nuôi phải đợc sự
đồng ý của cả cha và mẹ đẻ của ngời đó, chỉ
khi nào cả cha và mẹ đẻ đ chết, mất năng
lực hành vi dân sự hoặc không xác định đợc
cha, mẹ thì phải đợc sự đồng ý của ngời

giám hộ. Nếu hiểu theo cách này thì trong
trờng hợp chỉ còn cha hoặc mẹ, chỉ xác
định đợc mẹ hoặc cha hoặc một bên cha
(mẹ) mất năng lực hành vi dân sự thì việc
nuôi con nuôi sẽ không đợc tiến hành do
chỉ có sự đồng ý của một ngời là cha hoặc
(mẹ). Và do vẫn còn cha hoặc mẹ nên không
cần có sự đồng ý của ngời giám hộ (hoặc
thậm chí không có ngời giám hộ). Nh vậy
cũng có nghĩa là ngời cha thành niên hoặc
đ thành niên mất năng lực hành vi dân sự
mà một bên cha (mẹ) đ chết hoặc mất năng
lực hành vi dân sự thì không thể đợc làm
con nuôi. Do đó, có thể khẳng định rằng
cách hiểu này không phù hợp với nguyên tắc
của Luật HN&GĐ cũng nh không phù hợp
với mục đích của việc nuôi con nuôi.
Thứ hai, ngời cha thành niên, ngời đ
thành niên nhng bị mất năng lực hành vi
dân sự làm con nuôi thì phải đợc sự đồng ý
của cha mẹ đẻ, nếu một bên cha (mẹ) đẻ
không còn hoặc mất năng lực hành vi dân sự
thì chỉ cần có sự đồng ý của bên kia. Theo
chúng tôi, hiểu theo cách này là phù hợp với
ý chí của nhà làm luật. Theo quy định tại
Điều 70 và khoản 3 Điều 71 của Bộ luật dân
sự thì ngời cha thành niên, ngời mất năng
lực hành vi dân sự chỉ xác định ngời giám
hộ khi họ không còn cả cha và mẹ, không
xác định đợc cha mẹ hoặc cả cha và mẹ đều

mất năng lực hành vi dân sự, hạn chế năng
lực hành vi dân sự. Nh vậy, trong trờng
hợp vẫn còn cha hoặc mẹ, xác định đợc cha,
mẹ hoặc cha, mẹ có năng lực hành vi dân sự
thì cha hoặc mẹ là ngời đại diện của con, có
quyền thể hiện ý chí của mình trong việc cho
con làm con nuôi ngời khác. Điều đó chứng
tỏ rằng chỉ cần có sự đồng ý của cha hoặc mẹ
(khi ngời kia đ chết hoặc mất năng lực
hành vi dân sự) trong việc nhận con nuôi là
ngời cha thành niên, ngời mất năng lực
hành vi dân sự.
Nh vậy, trong việc nhận con nuôi là
ngời cha thành niên, ngời mất năng lực
hành vi dân sự cần có sự đồng ý của cha mẹ
đẻ, nếu một bên cha hoặc mẹ đ chết hoặc
mất năng lực hành vi dân sự hoặc chỉ xác
định đợc cha hoặc mẹ thì chỉ cần có sự
đồng ý của ngời kia. Thiết nghĩ, cũng cần
coi là trờng hợp ngoại lệ chỉ cần có sự đồng


nghiên cứu - trao đổi
Tạp chí luật học - 21

ý của một bên cha hoặc mẹ trong trờng hợp
cha mẹ đứa trẻ li hôn hoặc đứa trẻ là con
ngoài hôn nhân, đứa trẻ đợc cha hoặc mẹ
trực tiếp nuôi dỡng khi cuộc sống của đứa
trẻ gặp nhiều khó khăn mà ngời kia lại

không có điều kiện giúp đỡ để giảm bớt khó
khăn cho đứa trẻ nếu có ngời nhận nuôi đứa
trẻ thì vì lợi ích của đứa trẻ, tạo điều kiện
thuận lợi để đứa trẻ có thể đợc nhận làm
con nuôi, chỉ cần có sự đồng ý của ngời cha
hoặc mẹ trực tiếp nuôi đứa trẻ là đủ.
2.2. Về sự đồng ý của ngời đợc nhận
làm con nuôi
Theo quy định tại khoản 2 Điều 71 Luật
HN&GĐ thì nếu nhận trẻ em từ 9 tuổi trở lên
làm con nuôi thì phải có sự đồng ý của trẻ
em đó. Từ đó có thể hiểu rằng nếu nhận nuôi
con nuôi là ngời từ 9 tuổi đến dới 18 tuổi
thì đồng thời vừa phải có sự đồng ý của cha
mẹ đẻ hoặc ngời giám hộ, vừa phải có sự
đồng ý của ngời đợc nhận làm con nuôi.
Đây chính là yếu tố cần thiết để có thể tiến
hành đăng kí việc nuôi con nuôi. Nhng qua
Điều 71 Luật HN&GĐ năm 2000 cũng có
thể hiểu rằng trờng hợp ngời đợc nhận
làm con nuôi đ thành niên và có năng lực
hành vi dân sự thì chỉ cần có sự đồng ý của
ngời đó mà không cần có sự đồng ý của
cha, mẹ đẻ hoặc ngời giám hộ. Theo chúng
tôi điều này không thỏa đáng vì có thể ảnh
hởng lớn đến quyền lợi của cha mẹ đẻ của
ngời đó.
3. Trờng hợp ngời đang có vợ (có
chồng) mà nhận nuôi con nuôi
Luật HN&GĐ năm 2000 quy định trờng

hợp vợ chồng cùng nhận nuôi con nuôi (Điều
70) nhng lại không có quy định trờng hợp
một ngời đang có vợ (có chồng) nhận nuôi
con nuôi. Thực tế có trờng hợp một ngời
muốn nuôi con nuôi nhng vợ hoặc chồng họ
lại không muốn nhận con nuôi. Đối với
trờng hợp này họ có quyền nuôi con nuôi
hay không? Xét dới góc độ luật pháp thì họ
không thể nhận nuôi con nuôi. Bởi vì, Nghị
định số 83/1998/NĐ-CP của Chính phủ về
đăng kí hộ tịch, tại Điều 36 quy định về thủ
tục đăng kí nhận nuôi con nuôi ghi rõ:
"Ngời xin nhận nuôi con nuôi phải nộp đơn
xin nhận nuôi con nuôi, đơn xin nhận nuôi
con nuôi phải có xác nhận của cơ quan, đơn
vị nơi ngời nhận nuôi công tác hoặc của uỷ
ban nhân dân cấp x nơi ngời nhận nuôi c
trú. Nếu ngời nhận nuôi con nuôi có vợ
hoặc chồng thì đơn phải có chữ kí của cả vợ
và chồng". Nh vậy, có thể hiểu rằng cả vợ
và chồng cũng phải kí vào đơn xin nhận con
nuôi với t cách là ngời nhận nuôi con nuôi.
Do đó, nếu vợ hoặc chồng không muốn nuôi
con nuôi nên họ không kí vào đơn xin nhận
con nuôi thì việc nuôi con nuôi sẽ không
đợc đăng kí. Điều đó chứng tỏ rằng nếu một
trong hai vợ chồng không mong muốn nuôi
con nuôi thì ngời kia không thể tự mình xin
nhận con nuôi đợc. Đồng thời, xét dới góc
độ tình cảm và lợi ích của ngời con nuôi thì

nếu chỉ có một ngời trong hai vợ chồng là
cha (mẹ) nuôi của đứa trẻ thì việc chăm sóc,
nuôi dỡng, giáo dục đứa trẻ khó đạt hiệu
quả, khó có thể tạo cho đứa trẻ đợc sống
trong môi trờng gia đình đầm ấm. Do vậy,
để bảo vệ quyền lợi cho ngời đợc nhận
làm con nuôi một cách tốt nhất thì cả vợ
chồng cùng nhận nuôi con nuôi.
(Xem tiếp trang 53)

×