Tải bản đầy đủ (.doc) (47 trang)

Tổ chức TM thế giới WTO và tác động của nó đối với các nước đang phát triển.

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (283.69 KB, 47 trang )

Đề án kinh tế thơng mại
Lời mở đầu
Công cuộc cải cách kinh tế và thực hiện chính sách mở cửa của Việt Nam đã
hơn mời năm năm, đã đạt đợc nhiều kết quả khả quan và rất đáng khích lệ. Tuy
nhiên, Việt Nam đang phải đối mặt với những khó khăn và thách thức không nhỏ,
quyết định đến quá trình phát triển kinh tế của đất nớc, đặc biệt khi đã là thành
viên của ASEAN, APEC và đang cố gắng để trở thành thành viên của WTO. Dù
muốn hay không, Việt Nam vẫn phải mở cửa nền kinh tế, hội nhập vào kinh tế
khu vực và trên thế giới. Vấn đề đặt ra hiện nay là chúng ta áp dụng biện pháp gì?
Nh thế nào để phát huy các lợi thế, tiềm năng của đất nớc, tận dụng một cách hiệu
quả các cơ hội cũng nh giảm thiểu những thách thức do quá trình hội nhập quốc
tế, đạt đợc mục tiêu trở thành nớc công nghiệp vào năm 2002 trong khi nớc ta
nằm trong nhóm nớc nghèo trên thế giới, khả năng cạnh tranh của nền kinh tế còn
yếu. Đây là một khó khăn tất yếu mà Việt Nam phải đơng đầu và vợt qua trong
khi thời gian hội nhập hoàn toàn dành cho chúng ta là rất ngắn. Để giải quyết vấn
đề này, không bằng cách nào khác là chúng ta phải nâng cao năng lực cạnh tranh
của nền kinh tế, nâng cao thứ hạng cạnh tranh ở các nhóm chỉ tiêu còn thấp. Điều
đó đòi hỏi chúng ta phải nâng cao năng lực cạnh tranh của từng ngành hàng cụ thể
trong nền kinh tế quốc dân đảm bảo điều kiện hội nhập kinh tế trong thời đại hiện
nay.
Ngành dệt may đang đợc xem nh là một trong những ngành công nghiệp mũi
nhọn, với những lợi thế mà các ngành công nghiệp khác không có đợc nh: vốn
đầu t không lớn, thời gian thu hồi vốn nhanh, thu hút đợc nhiều lao động. Đặc biệt
đây là ngành có nhiều lợi thế để mở rộng thị trờng trong nớc cũng nh thị trờng n-
ớc ngoài. Tuy nhiên, lịch trình cần giảm thuế quan theo Hiệp định về u đãi thuế
quan có hiệu lực chung (CEPT) cho khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA)
nhiều mặt hàng hiện đang đợc hởng bảo hộ thuế suất cao nh sợi 20%, vải 40%,
may 50% sẽ có sự cắt giảm liên tục và tơng đối nhanh còn 5% vào năm 2006.
Thách thức lớn nhất và cũng là mối quan tâm lớn nhất hiện nay của cả Chính phủ
lẫn các doanh nghiệp (DN) dệt may Việt Nam chính là sự đối mặt không chỉ là sự
cạnh tranh của các DN xuất khẩu sang thị trờng nớc ngoài mà ngay cả trên thị tr-


ờng Việt Nam khi bắt đầu từ 2003 phải bỏ cả hạn ngạch định lợng nhập khẩu và
từ 1.6.2006 bỏ toàn bộ các biện pháp bảo hộ bằng phi thuế quan.
1
Đề án kinh tế thơng mại
Nhận thức rõ tính cấp thiết và tầm quan trọng của vấn đề nghiên cứu em đã
chọn đề tài: Một số biện pháp nhằm nâng cao khả năng cạnh trạnh mặt hàng
dệt may trong hoạt động kinh doanh của các DN Việt Nam.Tuy nhiên do sự
giới hạn về lợng kiến thức và kinh nghiệm thực tế, trong phạm vi đề tài, em chỉ
xin trình bày những vấn đề chính sau đây:
Chơng I: Lý luận cơ bản về cạnh tranh và tầm quan trọng của việc nâng cao
khả năng cạnh tranh của hàng hoá.
Chơng II: Thực trạng về khả năng cạnh tranh của mặt hàng dệt may hiện nay
ở Việt Nam.
Chơng III: Một số biện pháp nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh của mặt
hàng dệt may trong hoạt động sản xuất kinh doanh của các DN Việt Nam.
Để hoàn thành đề tài nghiên cứu này, ngoài sự cố gắng của bản thân, em
đã nhận đợc sự giúp đỡ rất nhiệt tình của thày giáo hớng dẫn Nguyễn Văn Tuấn.
Em xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ quý báu đó. Hơn thế nữa, trong phần trình
bày của em chắc chắn sẽ không tránh khỏi những thiếu sót, do đó em rất mong có
đợc sự góp ý để đề tài này thực sự đợc hoàn thiện.
Em xin chân thành cảm ơn !
Hà Nội ngày 26/11/2001.

2
Đề án kinh tế thơng mại
Nội dung
Chơng I..Những lý luận cơ bản về nâng cao khả
năng cạnh tranh của hàng hoá trong hoạt động
kinh doanh của DN trong nền kinh tế thị tr-
ờng(KTTT)

Khi Việt Nam trở thành thành viên chính thức của ASEAN năm 1995,
ASEM-1996, APEC-1998 và sắp tới là WTO đã đặt ra những thách thức mới đối
với các DN và từng ngành hàng của Việt Nam. Nâng cao năng lực cạnh tranh của
các DN và từng ngành hàng cụ thể để từ đó nâng cao năng lực cạnh tranh và sức
sản xuất của nền kinh tế hiện đang là vấn đề cấp bách đối với các DN và Nhà nớc.
Để nghiên cứu vấn đề phức tạp này, trớc hết ta phải xem xét, hiểu rõ các vấn đề
về cạnh tranh, bản chất và vai trò của nó trong nền kinh tế hiện nay.
1. Cạnh tranh, các vấn đề về cạnh tranh.
1.1. Khái niệm về cạnh tranh.
Cạnh tranh là hiện tợng gắn liền với KTTT. Do đó cạnh tranh chỉ xuất hiện
dới những tiền đề kinh tế và pháp lý cụ thể. Ngày nay, có lẽ không còn ai hoài
nghi về sự phát triển tất yếu của nền KTTT ở nớc ta và vì vậy cạnh tranh đã đợc
nhìn nhận chung nh là động lực phát triển nội tại của nền KTTT. Có nhiều định
nghĩa khác nhau về cạnh tranh, song nhìn chung, cạnh tranh đợc hiểu là sự chạy
đua hay ganh đua của các thành viên của một thị trờng hàng hoá, sản phẩm cụ thể
nhằm mục đích lôi kéo về phía mình ngày càng nhiều khách hàng, thị trờng và thị
phần của một thị trờng. Nh vậy về phơng diện kinh tế, cạnh tranh đợc hình thành
trên cơ sở của tiền đề là: có sự hiện diện của các thành viên thơng trờng, có cuộc
chạy đua vì mục tiêu kinh tế giữa các thành viên và chúng đều diễn ra trên một thị
trờng hàng hóa cụ thể.
1.2. Bản chất và vai trò của cạnh tranh
Bản chất của cạnh tranh
3
Đề án kinh tế thơng mại
Thực chất của cạnh tranh là sự tranh giành về lợi ích kinh tế giữa các chủ thể
tham gia thị trờng. Đối với ngời mua, họ muốn mua đợc hàng hoá có chất lợng
cao, với một mức giá thấp. Còn ngợc lại, các DN bao giờ cũng muốn tối đa hoá
lợi nhuận của mình. Vì mục tiêu lợi nhuận, họ phải giảm chi phí, tìm cách giành
giật khách hàng và thị trờng về phía mình, nh vậy cạnh tranh sẽ xảy ra. Cạnh
tranh là một tất yếu, bất khả kháng trong nền KTTT. Các DN bắt buộc phải chấp

nhận cạnh tranh, ganh đua với nhau phải không ngừng tiến bộ để giành đợc u thế
tơng đối so với đối thủ. Nếu nh lợi nhuận là động lực thúc đẩy các DN tiến hành
các hoạt động sản xuất kinh doanh thì cạnh tranh bắt buộc họ phải tiến hành các
hoạt động sản xuất kinh doanh có hiệu quả nhằm thu lợi nhuận tối đa.
ở Việt Nam, cùng với sự chuyển đổi nền kinh tế, cạnh tranh đợc thừa nhận là
một quy luật kinh tế khách quan và đợc coi là một nguyên tắc ứng xủ cơ bản
trong tổ chức điều hành kinh doanh của từng DN.
Vai trò của cạnh tranh
Trong nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung, khái niệm cạnh tranh hầu nh
không tồn tại, song từ khi nền kinh tế nớc ta chuyển đổi, vận động theo cơ chế thị
trờng, thì cạnh tranh và quy luật cạnh tranh đợc thừa nhận, vai trò của cạnh tranh
ngày càng thể hiện rõ nét hơn.
- Cạnh tranh cho phép sử dụng các nguồn tài nguyên một cách tối u.
- Cạnh tranh khuyến khích áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật.
- Cạnh tranh thoả mãn ngày càng tốt hơn nhu cầu của ngời tiêu dùng.
- Cạnh tranh thúc đẩy sản xuất phát triển, thúc đẩy tăng năng suất lao động và
hiệu quả kinh tế.
Mục tiêu của DN là tối đa hoá lợi nhuận. Lợi nhuận chỉ có đợc khi mà bán đ-
ợc sản phẩm hàng hoá của mình. Lợng bán càng nhiều thì lợi nhuận càng lớn.
Điều này phụ thuộc vào ngời tiêu dùng. Nh vậy cạnh tranh buộc các nhà sản xuất
phải luôn tìm cách nâng cao chất lợng sản phẩm, dịch vụ nhằm thoả mãn nhu cầu
của khách hàng, của thị trờng. Mặt khác, cạnh tranh có khả năng tạo ra một áp lực
liên tục đối với giá cả. Để thu hút khách hàng, bao giờ các đối thủ cạnh tranh
cũng tìm cách đa ra những mức giá thấp nhất có thể, chính điều này đã bắt buộc
các nhà sản xuất phải lựa chọn phơng án sản xuất tối u với mức chi phí nhỏ nhất,
công nghệ hiện đại nhất.
4
Đề án kinh tế thơng mại
Ngày nay, xu thế cạnh tranh về chất lợng sản phẩm ngày càng tăng vì thế các
DN luôn quan tâm đến việc áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất, cải tiến quản

lý và phơng thức sản xuất kinh doanh. Nh vậy là cạnh tranh đã khuyến khích áp
dụng có hiệu quả các nguồn lực trong phạm vi DN để giảm giá thành, giảm giá
bán, nâng cao chất lợng sản phẩm, bảo đảm hoạt động có hiệu quả, giành đợc u
thế trên thị trờng.
Trên thị trờng, các cuộc chạy đua giữa các DN diễn ra ngày càng gay gắt thì
ngời đợc lợi nhiều nhất chính là các khách hàng. Khi có cạnh tranh, các đối thủ
cạnh tranh do phải giành giật thị trờng và khách hàng nên luôn phải tìm cách để
nâng cao chất lợng sản phẩm và hạ giá bán sản phẩm. Khi đó ngời tiêu dùng có
quyền lựa chọn các sản phẩm tốt nhất, phù hợp nhất, giá thấp nhất. Do vậy cạnh
tranh thoả mãn ngày càng tốt hơn nhu cầu của ngời tiêu dùng.
Cạnh tranh loại bỏ các DN có chi phí cao trong sản xuất, điều này buộc các
nhà sản xuất phải lựa chọn phơng án sản xuất có chi phí thấp nhất. Vì vậy, cạnh
tranh tạo ra sự đổi mới, mang lại sự tăng trởng kinh tế. Ngoài ra, cạnh tranh còn là
động lực phát triển cơ bản kết hợp một cách hợp lý giữa lợi ích của DN, lợi ích
của ngời tiêu dùng và lợi ích của xã hội. Nh vậy, cạnh tranh thúc đẩy sản xuất
phát triển, thúc đẩy tăng năng suất lao động và hiệu quả kinh tế.
Tuy nhiên, cạnh tranh không chỉ toàn những u điểm, mà nó còn có những
khuyết tật cố hữu mang tính đặc trng của cơ chế thị trờng. Cơ chế thị trờng bắt
buộc các DN phải thực sự tham gia vào cạnh tranh để tồn tại và phát triển. Trong
quá trình cạnh tranh, các DN phải quan tâm trớc hết là lợi ích bản thân mình,
không chú ý đến các vấn đề xã hội. Từ đó xuất hiện những mâu thuẫn hết sức gay
gắt giữa các DN và sẽ kéo theo những vấn đề về xã hội nh nạn thất nghiệp, tiền
công rẻ mạt, môi trờng sinh thái bị huỷ hoại
Cạnh tranh sẽ một mặt thúc đẩy quá trình sản xuất phát triển, mặt khác nó
cũng dẫn tới tình trạnh độc quyền trên thị trờng. Chính điều này cũng dẫn tới tình
trạng phân hóa ghê gớm, kẻ thắng ngời thua, đòi hỏi phải có sự quản lý của Nhà
nớc đảm bảo cho các DN có thể tự do cạnh tranh một cách lành mạnh.
1.3. Các hình thái của cạnh tranh.
Khi nhận dạng tính chất và mức độ biểu hiện của cạnh tranh trong các hình
thái thị trờng cho thấy tầm quan trọng của việc nhận dạng và xác định đợc các

tiêu chí phân loại hình thái thị trờng để đánh giá tính chất và mức độ biểu hiện
của cạnh tranh theo từng hình thái.
5
Đề án kinh tế thơng mại
- Căn cứ vào tính chất và mức độ can thiệp của công quyền vào đời sống kinh
tế, ngời ta phân chia thị trờng thành hai hình thái: cạnh tranh tự do và cạnh tranh
có điều tiết. Cạnh tranh tự do là hiện tợng không thể có trong thế giới hiện đại vì
KTTT hiện đại luôn có nhu cầu đợc điều tiết và Nhà nớc nào cũng có chính sách
kinh tế riêng và vì thế luôn tìm cách hớng các hoạt động kinh tế vào mục tiêu
kinh tế vĩ mô của mình.
- Căn cứ vào cơ cấu DN và mức độ tập trung trong một ngành, một lĩnh vực
kinh tế, ngời ta phân thị trờng thành các hình thái: cạnh tranh hoàn hảo, cạnh
tranh không hoàn hảo mà biểu hiện cực đoan nhất của nó là độc quyền. Ngày nay,
trên thực tế, cũng không thể có cạnh tranh hoàn hảo vì năng lực thực tế, điều kiện
chủ quan và kể cả cơ may của các DN là không thể đồng nhất.
- Căn cứ vào mục đích, tính chất của phơng thức cạnh tranh, ngời ta phân
nhóm các hành vi cạnh tranh trên các hình thái thị trờng gồm hai loại: cạnh tranh
lành mạnh và cạnh tranh không lành mạnh. Tuy nhiên vì đợc bảo hộ bởi các
nguyên tắc về quyền tự do kinh doanh, tự do khế ớc, tự do lập hội và tự do giục dã
của lợi nhuận, nên thực trạng của thơng trờng luôn diễn ra theo hớng không lành
mạnh. Đây chính là một trong những tiền đề để pháp luật cạnh tranh ra đời.
1.4. Pháp luật về cạnh tranh.
Pháp luật về cạnh tranh là công cụ mạnh mẽ điều tiết thị trờng văn minh và
tiến bộ. Là lĩnh vực trụ cột của Luật kinh tế truyền thống, nó có khả năng:
- Bảo đảm cạnh tranh lành mạnh, trung thực, công bằng.
- Điều tiết cạnh tranh theo mức độ của thị trờng nội địa và quốc tế.
- Bảo vệ lợi ích của ngời sản xuất, tiêu dùng, Nhà nớc và xã hội.
- Tạo thế cạnh tranh trên thị trờng quốc tế.
- Tạo động lực phát triển kinh tế.
- Chống cạnh tranh không lành mạnh và kiểm soát độc quyền, góp phần điều

tiết nền kinh tế theo chính sách kinh tế của Nhà nớc.
- Định hớng chuẩn mực, giữ gìn đạo đức và tập quán trong kinh doanh đã
đuợc thừa nhận.
Nh vậy có thể nói, pháp luật về cạnh tranh có độ bán kính điều chỉnh rất khác
nhau:
6
Đề án kinh tế thơng mại
- Điều chỉnh hoạt động cạnh tranh.
- Điều chỉnh quá trình đấu tranh chống các hành vi cạnh tranh không lành
mạnh.
- Điều chỉnh vào đấu tranh chống độc quyền, hạn chế cạnh tranh.
Nhà nớc ban hành pháp luật về cạnh tranh nhằm đạt đợc mục tiêu hiệu quả
của nền kinh tế chính là biểu hiện vai trò điều tiết cần thiét của nền kinh tế quốc
dân.
2. Nội dung cơ bản về nâng cao khả năng cạnh tranh của sản phẩm
2.1. Các phơng thức cạnh tranh của DN
Các yếu tố ảnh hởng đến khả năng cạnh tranh của hàng hóa
Khi nghiên cứu và đánh giá khả năng cạnh tranh của một ngành hàng, các
nhà kinh tế cho rằng phải xem xét khả năng cạnh tranh trên thơng trờng và phải
theo quan điểm phân tích cạnh tranh động. Nh vậy sẽ có khoảng 17 yếu tố tác
động đến khả năng cạnh tranh của hàng hoá trên thơng trờng nh sau:
Giá, chất lợng sản phẩm, mức độ chuyên môn hoá sản phẩm, năng lực nghiên
cứu và phát triển sản phẩm, năng lực nghiên cứu thị trờng, khả năng giao hàng và
giao đúng thời hạn, mạng lới phân phối, dịch vụ sau bán, liên kết đối với các đối
tác nớc ngoài, sự tin tởng của khách hàng, sự tin cậy của nhà cung cấp, tổ chức
sản xuất, kỹ năng của nhân viên, loại hình DN, sự hỗ trợ của chính phủ, năng lực
tài chính và các yếu tố khác.
Với hệ thống các chỉ tiêu nh đã nêu trên, việc tìm ra lời giải chung cho việc
nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành hàng là rất khó khăn và phức tạp. Tuy
nhiên, chỉ xem xét đến một số yếu tố quan trọng, các DN sẽ đặc biệt quan tâm

đến để nâng cao khả năng cạnh tranh của sản phẩm và của DN, từ đó có các ph-
ơng thức cạnh tranh sau:
Cạnh tranh bằng giá cả
Mặc dù, theo lý thuyết kinh tế, giá cả đợc hình thành bởi sự gặp gỡ của cung
và cầu, nhng DN hoàn toàn có thể định giá cho sản phẩm của mình tuỳ theo mục
đích kinh doanh cụ thể, chỉ cần mức giá đó bù đắp đợc chi phí sản xuất và phải có
lãi. Do vậy, DN có thể chọn giá cả làm công cụ cạnh tranh của mình. Trong hoạt
động thơng mại nói chung, để giành phần thắng trong cuộc chạy đua kinh tế thì
các DN thờng đa ra một mức giá thấp hơn giá của các đối thủ cạnh tranh nhằm lôi
7
Đề án kinh tế thơng mại
cuốn khách hàng, qua đó tiêu thụ nhiều hơn hàng hoá và dịch vụ. Các đối thủ
cũng hoàn toàn có thể phản ứng lại bằng cách hạ giá thấp hơn. Phơng thức cạnh
tranh này khi đã trở nên gay gắt thì nó sẽ biến thành cuộc chiến tranh về giá cả
giữa các DN.
Cạnh tranh bằng chất lợng
Khi thu nhập và đời sống của dân c ngày càng cao thì phơng thức cạnh tranh
bằng giá cả xem ra không có hiệu quả. Chất lợng của sản phẩm và dịch vụ sẽ là
mối quan tâm của khách hàng, nên nếu nh hàng hoá có chất lợng thấp thì dù có
bán giá rẻ cũng không thể tiêu thụ đợc. Để nâng cao khả năng cạnh tranh bằng
hàng hoá và dịch vụ, DN không còn cách nào khác là phải nâng cao chất lợng sản
phẩm và dịch vụ. Đặc biệt, ngày nay với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học và
kỹ thuật cũng nh sự bành trớng của các DN đa quốc gia, thì vấn đề cạnh tranh
bằng chất lợng càng trở nên gay gắt khi các sản phẩm đa ra thị trờng đều đảm bảo
chất lợng cao. Chính vì vậy, đối với các quốc gia có trình độ sản xuất còn nhiều
hạn chế sẽ rất khó có khả năng cạnh tranh trên thị trờng quốc tế.
Cạnh tranh bằng dịch vụ
Đây là phơng thức cạnh tranh hết sức phổ biến trên thị trờng quốc tế. Ngoài
phơng thức cạnh tranh bằng giá cả, cạnh tranh bằng chất lợng thì trên thực tế các
DN còn cạnh tranh với nhau bằng dịch vụ. Đó có thể là dịch vụ bán hàng tận nơi

cho khách, dịch vụ sau khi bán, gồm các công việc nh bảo hành, bảo dỡng, lắp
đặt, chạy thử,... Các phơng thức dịch vụ ngày càng đợc sử dụng rộng rãi và đa
dạng hơn, nhất là khi lĩnh vực dịch vụ đang tăng dần tỷ trọng trong cơ cấu nền
kinh tế. Cạnh tranh bằng dịch vụ có hiệu quả rất cao vì khi đó khách hàng thấy
bản thân mình đợc tôn trọng.
Khi một DN thực hiện một chiến lợc tức là ký một cam kết dài hạn dựa trên
cơ sở những nguồn lực và năng lực nhất định. Nh vậy, một khi các đối thủ cạnh
tranh đã thiết lập những cam kết dài hạn về một phơng thức kinh doanh nào đó,
thì các đối thủ này cũng chậm trong việc sao chép lợi thế cạnh tranh của một DN
đợc đổi mới.
Sự vận động tổng thể của môi trờng ngành thể hiện ở mức độ năng động của
ngành. Những ngành năng động nhất là những ngành có tốc độ đổi mới sản phẩm
nhanh nhất. Khi các hàng rào ngăn cản việc sao chép là thấp thì các đối thủ cạnh
tranh là rất nhiều và môi trờng luôn năng động với các đối thủ luôn thay đổi, do
đó lợi thế cạnh tranh của DN trở nên nhất thời.
8
Đề án kinh tế thơng mại
2.2. Phơng pháp xác định khả năng cạnh tranh của sản phẩm
Để hội nhập có hiệu quả, một trong những phơng hớng chính của Đảng và
Nhà nớc ta đang tiến hành là tích cực thực hiện việc điều chỉnh cơ cấu sản xuất và
đầu t của các ngành kinh tế. Để làm đợc điều này thì việc xác định đợc năng lực
cạnh tranh của các sản phẩm là vô cùng cần thiết để có cơ sở tiến hành điều chỉnh
cơ cấu, đồng thời xây dựng đợc những chính sách hỗ trợ và điều tiết thích hợp đối
với các ngành kinh tế và lựa chọn đợc chiến lợc hội nhập phù hợp với khả năng
của từng ngành. Đây là một số phơng pháp định lợng để xác định tính cạnh tranh
của sản phẩm đợc đánh giá từ khía cạnh nguồn lực trong nớc và khả năng cạnh
tranh nói chung so với các nớc trên thế giới thông qua việc tính các hệ số sau.
Hệ số chi phí nguồn lực trong nớc (DRC)
DRC là hệ số phản ánh chi phí thật sự mà xã hội phải trả để sản xuất ra một
loại hàng hoá nào đó. Hệ số DRC có đặc điểm là thờng chỉ thay đổi theo lợi thế so

sánh dài hạn của quốc gia chứ không bị ảnh hởng bởi những tác động nhất thời,
do vậy nó mang tính ổn định tơng đối và ngày nay nó thờng đợc sử dụng khi đánh
giá khả năng cạnh tranh của các ngành hàng.
Việc tính DRC của một ngành hàng (hay sản phẩm) đợc thực hiện theo
nguyên tắc: giá trị chi phí sản xuất của các đầu vào trung gian đợc tính theo mức
giá thế giới, còn giá trị của các nhân tố sản xuất đợc tính theo chi phí cơ hội.
Hệ số bảo hộ hữu hiệu (EPR)
Để đánh giá mức độ bảo hộ thực tế ngời ta sử dụng mức độ bảo hộ hữu hiệu
(EPR). EPR là mức độ bảo hộ thực tế đối với cả quá trình sản xuất chứ không
dùng hệ số xác định chỉ mức độ bảo hộ đối với sản phẩm đầu ra (thành phẩm) của
quá trình sản xuất nh hệ số bảo hộ danh nghĩa.
Hệ số lợi thế trông thấy (RCA)
RCA của một sản phẩm hay của một quốc gia do nhà kinh tế học Balassa đề
xuất vào năm 1965, nó dùng để chỉ ra khả năng cạnh tranh trong xuất khẩu của
một quốc gia về một sản phẩm trong mối tơng quan với mức xuất khẩu của thế
giới về sản phẩm đó.
Đó là một số hệ số đợc sử dụng để tính toán khả năng cạnh tranh của các sản
phẩm xét từ góc độ cạnh tranh bên trong (giữa các sản phẩm khác nhau đợc sản
xuất trong một nớc) và bên ngoài (giữa các sản phẩm cùng loại của các quốc gia
khác nhau). Công cụ này dùng để xác định khả năng cạnh tranh của một mặt hàng
9
Đề án kinh tế thơng mại
trong nớc. Ngoài ra, ngày nay để xác định đợc chiến lợc cạnh tranh thích hợp, các
DN còn đi tìm hiểu về lợi thế cạnh tranh của mình so với các DN cùng ngành đợc
đề cập dới đây.
2.3 Các chiến lợc cạnh tranh quốc tế
Để xác định đợc chiến lợc cạnh tranh thích hợp, trớc hết DN phải tìm hiểu lợi
thế cạnh tranh của mình so với các DN cùng ngành.
2.3.1. Lợi thế cạnh tranh quốc tế
Lợi thế cạnh tranh là u thế đạt đợc của DN (so với các DN khác cùng ngành)

một cách tơng đối, dựa trên các nguồn lực và năng lực sản xuất của DN đó. DN có
lợi thế cạnh tranh thờng đạt đợc mức lợi nhuận cao hơn mức trung bình. Tỷ suất
lợi nhuận thờng đợc xác định bằng một tỷ số nào đó, ví dụ nh lợi nhuận trên
doanh thu (ROS - return on sales) hoặc lợi nhuận trên tài sản (ROA - return on
assets). Các tỷ suất này càng cao càng thể hiện đợc lợi thế cạnh tranh của DN.
Để có lợi nhuận cao hơn mức trung bình của ngành, DN phải có mức chi phí
đơn vị sản phẩm thấp hơn của đối thủ cạnh tranh (tạo lợi thế cạnh tranh bên
trong), hoặc làm cho sản phẩm của mình khác với sản phẩm của đối thủ cạnh
tranh (khác biệt hoá sản phẩm nhằm định giá sản phẩm cao hơn đối thủ cạnh
tranh - tạo lợi thế cạnh tranh bên ngoài), hoặc thực hiện đồng thời cả hai cách.
Quyết định lợi thế cạnh tranh phụ thuộc vào bốn yếu tố đó là: hiệu quả, chất
lợng, đổi mới và nhạy cảm với khách hàng. Cả bốn yếu tố này cùng góp phần tạo
ra chi phí thấp hoặc lợi thế đa dạng hoá đối với một DN, mang lại cho DN lợi
nhuận cao hơn mức trung bình và giúp cho DN hoạt động tốt hơn các đối thủ cạnh
tranh.

Cơ sở hình thành và duy trì lợi thế cạnh tranh
Lợi thế cạnh tranh của DN cũng nh lợi thế so sánh của một quốc gia, đều đợc
hình thành dựa trên nguồn lực và năng lực của mình.
Nguồn lực của DN đợc chia thành nguồn lực hữu hình (con ngời, đất đai, nhà
xởng, thiết bị) và nguồn lực vô hình (nhãn hiệu hàng hoá, danh tiếng, bản quyền,
bí quyết công nghệ, hay nghệ thuật marketing), nguồn lực hiện có và nguồn lực
mới. Nguồn lực đợc coi là đặc biệt khi các DN khác không thể có hoặc cha thể có
đợc.
10
Đề án kinh tế thơng mại
Năng lực của DN đợc hình thành từ những kỹ năng trong việc khai thác, phối
hợp các nguồn lực và hớng các nguồn lực vào mục đích sản xuất. Những kỹ năng
này thờng trực trong công việc hàng ngày của DN, đợc thể hiện qua cách thức ra
quyết định và quản lý các quá trình nội bộ của DN để đạt mục tiêu đã đề ra. Để có

năng lực riêng biệt, ít nhất DN phải có hoặc nguồn lực độc đáo và kỹ năng cần
thiết để khai thác nguồn lực đó, hoặc một khả năng quản lý hữu hiệu để quản lý
các nguồn lực chung.
Tuy nhiên, khi đã có đợc lợi thế cạnh tranh thì DN sẽ duy trì đợc lợi thế trong
bao lâu, nói cách khác là khi nào các đối thủ cạnh tranh cũng đạt đợc lợi thế đó.
Điều này phụ thuộc vào 3 yếu tố: độ cao của rào cản bắt chớc, khả năng của đổi
mới của đối thủ cạnh tranh và sự vận động tổng thể của môi trờng ngành.
Thờng thì nguồn lực dễ bị sao chép hơn là các kỹ năng, năng lực dựa trên cơ
sở hữu hình thờng dễ bị bắt chớc hơn các năng lực dựa trên cơ sở vô hình. Do đó,
để duy trì đợc lâu lợi thế cạnh tranh, DN phải tích cực nâng cao trình độ quản lý,
nâng cao uy tín của DN, giữ vững các bí quyết công nghệ và chiến lợc marketing.
Khi một DN thực hiện một chiến lợc tức là ký một cam kết dài hạn dựa trên
cơ sở những nguồn lực và năng lực nhất định. Nh vậy, một khi các đối thủ cạnh
tranh đã thiết lập những cam kết dài hạn về một phơng thức kinh doanh nào đó,
thì các đối thủ này cũng chậm trong việc sao chép lợi thế cạnh tranh của một DN
đợc đổi mới.
Sự vận động tổng thể của môi trờng ngành thể hiện ở mức độ năng động của
ngành. Những ngành năng động nhất là những ngành có tốc độ đổi mới sản phẩm
nhanh nhất. Khi các hàng rào ngăn cản việc sao chép là thấp thì các đối thủ cạnh
tranh là rất nhiều và môi trờng luôn năng động với các đối thủ luôn thay đổi, do
đó lợi thế cạnh tranh của DN trở nên nhất thời.
2.3.2. Chiến lợc cạnh tranh
Sau khi tìm hiểu lợi thế cạnh tranh, DN phải phân tích, đánh giá và lựa chọn
chiến lợc cạnh tranh thích hợp, tuỳ từng hoàn cảnh và từng điều kiện cụ thể. Sự
phù hợp của một chiến lợc cạnh tranh có thể đợc xác định thông qua việc kiểm tra
tính nhất quán của các mục tiêu và chính sách đã đề xuất, sự phù hợp với môi tr-
ờng, phù hợp với nguồn lực, việc truyền đạt thông tin và thực hiện.
Mục tiêu chiến lợc cạnh tranh đợc thể hiện ý định của DN trong việc khai
thác lợi thế cạnh tranh của mình trên toàn bộ thị trờng, hoặc trên một số đoạn thị
11

Đề án kinh tế thơng mại
trờng hạn chế. Mục tiêu chiến lợc hình thành dựa trên việc phân tích các yếu tố
ảnh hởng trực tiếp tới hoạt động của DN.
Bằng cách kết hợp lợi thế và mục tiêu chiến lợc, có 3 dạng chiến lợc cạnh
tranh phổ biến là chiến lợc nhấn mạnh chi phí, chiến lợc khác biệt hoá và chiến l-
ợc trọng tâm hoá. Các chiến lợc này có thể đợc sử dụng riêng rẽ hoặc đợc kết hợp
với nhau.
Chiến lợc nhấn mạnh chi phí
Chi phí đợc coi là yếu tố quan trọng nhất trong việc nâng cao hiệu quả sản
xuất kinh doanh của DN. Chi phí càng thấp thì DN có lợi thế cạnh tranh càng cao
so với các đối thủ. Thứ nhất, DN có thể đặt mức giá thấp hơn đối thủ mà vẫn đảm
bảo lợi nhuận bằng của các đối thủ, hoặc đạt mức lợi nhuận cao hơn khi giá trong
ngành là bằng nhau. Thứ hai, khi cạnh tranh trong ngành tăng và các đối thủ bắt
đầu cạnh tranh bằng giá, thì DN sẽ đứng vững hơn trong cạnh tranh vì chi phí thấp
hơn của mình.
Để theo đuổi chiến lợc nhấn mạnh chi phí, DN phải có u thế cạnh tranh bên
trong hay khả năng làm chủ chi phí.
Tuy nhiên, vì nhấn mạnh chi phí nên sản phẩm của DN thờng không có mức
độ khác biệt hoá cao, nó chỉ có thể không quá chênh lệch so với mức của sản
phẩm khác biệt hoá. Vì vậy, chi phí thấp chỉ có u thế cạnh tranh khi sản phẩm của
DN đợc khách hàng chấp nhận.
Trong môi trờng quốc tế, cần đánh giá chiến lợc này theo 2 phơng diện: ph-
ơng diện marketing và phơng diện sản xuất. Về phơng diện marketing, việc tìm
kiếm các thị trờng mới cho phép tăng cầu tiềm năng và đạt đợc mức sản xuất tối u
nhất. Trong trờng hợp đòi hỏi chi phí để thích ứng với điều kiện đặc thù, cần phải
tính toán và so sánh giữa chi phí đầu t đặc biệt và khả năng sinh lời. Về phơng
diện sản xuất, nếu có thể, DN sẽ tổ chức sản xuất ở nớc ngoài để tận dụng nguồn
nhân công sẵn có, hạn chế các chi phí về chuyên chở, giảm chi phí trung bình ở
mức tối thiểu.
Chiến lợc khác biệt hoá sản phẩm

Khác với chiến lợc nhấn mạnh chi phí, chiến lợc khác biệt hoá dựa vào lợi thế
cạnh tranh bên ngoài, tức là tính độc đáo hay mức độ hoàn thiện của sản phẩm về
kỹ thuật, dịch vụ hay hình ảnh. Mục đích của chiến lợc này là tạo ra sản phẩm
hàng hoá hoặc dịch vụ đợc ngời tiêu dùng nhận thức là độc đáo nhất theo nhận xét
12
Đề án kinh tế thơng mại
của họ. Khả năng khác biệt hoá sản phẩm cho phép DN có thể đặt mức giá cao
hơn đáng kể so với mức trung bình của ngành vì đợc khách hàng tin tởng chất l-
ợng của sản phẩm đã đợc khác biệt hoá tơng ứng với chênh lệch giá đó.
Sự khác biệt hoá sản phẩm có thể đạt đợc theo ba cách chủ yếu: chất lợng,
đổi mới và tính thích nghi với khách hàng (nhu cầu, tâm lý). Ngời khác biệt hoá
càng ít bắt chớc đối thủ càng bảo vệ đợc khả năng cạnh tranh của mình, do vậy
mà sự hấp dẫn thị trờng của họ càng mạnh mẽ và rộng khắp. DN chọn chiến lợc
này có thể quyết định hoạt động trên phạm vi thị trờng rộng nhng cũng có thể chỉ
lựa chọn phục vụ một số mảng thị trờng mà ở đó có lợi thế khác biệt hoá đặc biệt.
Khả năng khác biệt hoá mạnh mẽ cho phép DN thoát khỏi áp lực cạnh tranh,
nhất là khi trên thị trờng có rất nhiều sản phẩm tơng tự. Để sự khác biệt hoá về
sản phẩm đợc khách hàng nhận thức một cách rõ ràng và bền vững, DN phải thực
hiện những cố gắng to lớn về giao tiếp, truyền tin.
Chiến lợc tập trung hay trọng tâm hoá
Chiến lợc này chủ yếu định hớng phục vụ nhu cầu của một nhóm hữu hạn ng-
ời tiêu dùng hoặc một mảng thị trờng, dựa trên lợi thế cạnh tranh là tập trung các
nguồn lực cho phép phát huy tối đa năng lực của DN nhỏ để cạnh tranh với các
đối thủ có u thế. Chiến lợc này tạo cơ hội cho nhà kinh doanh tìm cách lấp đầy
khoảng trống nhu cầu cần thiết của khách hàng. Về bản chất, chiến lợc tập trung
hoá là chiến lợc cạnh tranh theo đuổi một khả năng riêng biệt nào đó (hiệu quả,
chất lợng, đổi mới, tính thích nghi với khách hàng) dựa trên một loạt lợi thế chi
phí thấp hoặc khác biệt hoá sản phẩm, hoặc cả hai.
Khi DN tấn công thị trờng thế giới, điều quan trọng trớc tiên là phải tiến hành
phân đoạn thị trờng để tìm kiếm thị trờng thích hợp - là thị trờng mà DN có mức

độ làm chủ hoàn toàn, để có thể tránh sự cạnh tranh bởi DN dẫn đầu về chi phí
hoặc DN khác biệt hoá. Về phơng diện sản xuất, chiến lợc trọng tâm hoá vẫn theo
đuổi logic chi phí tối thiểu. Ràng buộc quan trọng nhất là phải đảm bảo giữ vững
hình ảnh chuyên môn hoá và hình ảnh nhãn hiệu của DN ở nớc ngoài.
2.4. Tầm quan trọng của việc nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm
Cạnh tranh thơng mại đòi hỏi các DN phải điều chỉnh chiến lợc hoạt động
của mình thông qua các hoạt động nh: tập trung và huy động nguồn lực, phát huy
các lợi thế cạnh tranh, đảm bảo cạnh tranh có hiệu quả trong tình hình mới. Điều
đó đòi hỏi các DN hiện nay phải luôn chuẩn bị và đoán trớc xu hớng cạnh tranh,
sẵn sàng linh hoạt sử dụng vũ khí cạnh tranh hữu hiệu.
13
Đề án kinh tế thơng mại
Sức cạnh tranh của sản phẩm thể hiện qua nhiều khía cạnh, có thể là bởi thế
mạnh của chất lợng, bởi sự hấp dẫn của hình thức, bởi giá cả phải chăng, hoặc vì
thoả mãn nhu cầu tâm lý, địa vị của khách hàng... Đặc biệt nếu sản phẩm có tính
cạnh tranh quốc tế cao, trong trờng hợp DN tiến hành kinh doanh tiêu thụ trên thị
trờng quốc tế, trớc hết sẽ đem lại nhiều lợi nhuận cho DN vì sản phẩm đã giành đ-
ợc sự quan tâm, u ái của khách hàng, sau là nâng cao mặt bằng chất lợng của sản
phẩm, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao và những đòi hỏi ngày càng khắt khe của
ngời tiêu dùng. Khi tiến hành kinh doanh trên thị trờng ngoài nớc, DN phải đối
mặt với rất nhiều vấn đề phức tạp. Không đơn giản nh sản xuất kinh doanh trong
nớc, việc sản xuất nếu không có điều kiện tổ chức tại nớc ngoài, DN phải chịu rất
nhiều khoản chi phí chuyên chở cũng nh những rủi ro có thể gặp trên đờng. Hơn
nữa, DN có thể không có điều kiện tiếp xúc trực tiếp với khách hàng nớc ngoài,
nh vậy họ không thể nắm bắt đợc kịp thời nhu cầu của khách hàng. Để thu đợc
nhiều lợi nhuận trong kinh doanh, nhà kinh doanh quốc tế không còn cách nào
khác là phải tìm mọi cách để hoàn thiện sản phẩm của mình, nâng cao sức cạnh
tranh của sản phẩm giữa muôn ngàn sản phẩm cùng loại khác cũng đang tràn
ngập trên thị trờng thế giới.
Nh đã nói, DN có thể tăng khả năng cạnh tranh của mình qua các biện pháp

nhấn mạnh chi phí, hoặc khác biệt hoá sản phẩm, hoặc kết hợp cả hai trong phạm
vi có thể. Tuy nhiên, mỗi loại chiến lợc cạnh tranh đều có những u nhợc điểm
nhất định, phù hợp với từng hoàn cảnh cụ thể. DN phải đánh giá đúng tiềm lực
của mình và xu hớng tiêu dùng sản phẩm để sử dụng hợp lý và một cách có hiệu
quả chiến lợc cạnh tranh.
3 . Các nhân tố ảnh hởng đến sức cạnh tranh của sản phẩm và tình hình
cạnh tranh hiện nay ở Việt Nam
3.1. Các nhân tố ảnh hởng đến khả năng cạnh tranh
Theo Micheal Porter, chiến lợc cạnh tranh đợc xây dựng qua câu trả lời các
câu hỏi sau :
- DN hiện đang làm gì ?
- Những gì đang diễn ra trong môi trờng hoạt động ?
- DN nên làm gì ?
14
Đề án kinh tế thơng mại
Nh vậy, việc nghiên cứu và đánh giá mức độ ảnh hởng của môi trờng kinh
doanh có tác dụng trực tiếp tới hoạt động hoạch định chiến lợc kinh doanh nói
chung và chiến lợc cạnh tranh nói riêng.
Môi trờng kinh doanh là tổng thể các yếu tố bên trong và bên ngoài DN, có
tác động và chi phối mạnh mẽ đến các hoạt động của DN, buộc DN phải điều
chỉnh linh hoạt mục đích, hình thức, biện pháp và chức năng hoạt động của mình
cho phù hợp, nhằm tận dụng đợc tối đa cơ hội, giảm tối thiểu thách thức, đạt lợi
nhuận cao nhất có thể. Môi trờng kinh doanh là tất cả những vấn đề hiện hữu
trong nền kinh tế thị trờng, nên có ảnh hởng rất lớn tới sức cạnh tranh của sản
phẩm. Điều này càng có ý nghĩa khi DN kinh doanh trên thị trờng quốc tế. Các
vấn đề chính trị, luật pháp, văn hoá, tâm lý tiêu dùng ở các nớc là khác nhau. DN
không thể áp đặt t tởng kinh doanh của mình cho thị trờng nớc ngoài, mà phải biết
chấp nhận nhng không thụ động hiện trạng của từng môi trờng. Thứ nhất, nếu DN
không tuân theo sự vận động của môi trờng chính trị, luật pháp, văn hoá, cạnh
tranh... tức là đi ngợc lại xu hớng vận động chung, thì sản phẩm của DN chỉ tồn

tại một cách vô nghĩa giữa thị trờng. Thứ hai, dựa vào các kết quả phân tích, đánh
giá môi trờng kinh doanh, DN có thể tìm ra khả năng cạnh tranh mới của sản
phẩm, bởi mọi sự thích hợp chỉ mang tính nhất thời và điểm mạnh, điểm yếu của
sản phẩm là khác nhau qua thời gian.
DN cần phân tích môi trờng bên ngoài và nắm bắt sự thay đổi của môi trờng
để đánh giá cơ hội và rủi ro đối với sản phẩm, từ đó xác định một cách đúng đắn
phơng pháp nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm.
3.1.1. Môi trờng vĩ mô
Môi trờng kinh tế
Các vấn đề về tài chính tiền tệ (tỷ lệ lạm phát, tỷ giá hối đoái, lãi suất), cơ cấu
sản xuất và tiêu dùng, nguồn lực của nền kinh tế, các chính sách kinh tế, thơng
mại ... của các quốc gia là khác nhau nên có ảnh hởng khác nhau đến mức độ
cạnh tranh trên thị trờng. Phân tích môi trờng này cần lu ý đến sức mua và cơ cấu
chi tiêu của khách hàng, các vấn đề liên quan đến mức tiền công địa phơng.
Môi trờng chính trị - luật pháp
Vấn đề cần quan tâm là vấn đề điều tiết và chi phối mối quan hệ giữa các DN
trong và ngoài nớc, các chính sách và biện pháp khuyến khích hay hạn chế một
lĩnh vực sản xuất nào đó. Trong những năm gần đây, một trong những khuynh h-
ớng cơ bản nhất là sự chuyển dịch hớng tới việc loại bỏ các quy tắc. Việc loại bỏ
15
Đề án kinh tế thơng mại
các lệnh cấm, các quy định đã làm cho hàng rào gia nhập thấp và tạo ra cạnh
tranh khốc liệt ở một số ngành.
Môi trờng văn hoá - xã hội
Các yếu tố văn hoá - xã hội có ảnh hởng trực tiếp đến sở thích, thói quen, thái
độ, niềm tin, phong tục tập quán của ngời tiêu dùng trong việc mua sắm và sử
dụng sản phẩm. Sự thay đổi môi trờng văn hoá - xã hội cũng tạo ra các cơ hội
cũng nh các nguy cơ đe doạ.
Môi trờng công nghệ
Công nghệ thay đổi có thể tạo ra sự làm chủ các sản phẩm mới. Nh vậy, nó có

khả năng làm xuất hiện hay mất đi của thị trờng một số loại sản phẩm và các vấn
đề liên quan đến chất lợng sản phẩm. Một trong những nhân tố quan trọng nhất
của thay đổi công nghệ là nó có thể ảnh hởng tới hàng rào gia nhập và kết quả là
sự định hình lại một cách triệt để cấu trúc ngành.
Môi trờng cạnh tranh
Xem xét khả năng cạnh tranh không chỉ giữa các DN cùng ngành trong cùng
quốc gia mà còn giữa các DN thuộc các quốc gia, các DN thuộc quốc gia sở tại và
các DN có tổ chức đa quốc gia, xuyên quốc gia... dựa trên những điểm khác nhau
trong quan niệm sản xuất kinh doanh, nguồn lực, công nghệ và kỹ thuật sản xuất.
3.1. 2 .Môi trờng vi mô - Mô hình 5 sức mạnh của Michael Porter
So với môi trờng vĩ mô, môi trờng vi mô có phạm vi nhỏ hơn nhng lại có ảnh
hởng trực tiếp đến hoạt động của DN. Do vậy, việc phân tích môi trờng này mang
tính quyết định cho sự phù hợp của chiến lợc cạnh tranh mà DN sử dụng.
Mô hình 5 sức mạnh của Michael Porter là một mô hình đợc nhiều nhà phân
tích vận dụng để đánh giá khả năng cạnh tranh của một DN hoặc một ngành công
nghiệp. Hiện trạng của cuộc cạnh tranh trong ngành phụ thuộc vào 5 lực lợng
cạnh tranh cơ bản
Nguy cơ đe doạ từ những ngời mới vào cuộc
Là sự xuất hiện của các DN mới tham gia vào thị trờng nhng có khả năng mở
rộng sản xuất, chiếm lĩnh thị trờng (thị phần) của các DN khác. Để hạn chế mối
đe doạ này, các nhà quản lý thờng dựng lên các hàng rào nh :
- Mở rộng khối lợng sản xuất của DN để giảm chi phí.
16
Đề án kinh tế thơng mại
- Khác biệt hoá sản phẩm .
- Mở rộng khả năng cung cấp vốn.
- Đổi mới công nghệ, đổi mới hệ thống phân phối.
- Mở rộng các dịch vụ bổ sung.
Ngoài ra có thể lựa chọn địa điểm thích hợp nhằm khai thác sự hỗ trợ của
Chính phủ và lựa chọn đúng đắn thị trờng nguyên liệu, thị trờng sản phẩm.

Quyền lực thơng lợng của ngời cung ứng
Ngời cung ứng có thể chi phối đến DN là do sự thống trị hoặc khả năng độc
quyền của một số ít nhà cung ứng. Nhà cung ứng có thể đe doạ tới nhà sản xuất
do tầm quan trọng của sản phẩm đợc cung ứng; do đặc tính khác biệt hoá cao độ
của ngời cung ứng với ngời sản xuất, do sự thay đổi chi phí của sản phẩm mà nhà
sản xuất phải chấp nhận và tiến hành; do liên kết của những ngời cung ứng gây
ra ...
Trong buôn bán quốc tế, nhà cung ứng có vai trò là nhà xuất khẩu nguyên vật
liệu. Khi DN không thể khai thác nguồn nguyên vật liệu nội địa, nhà cung ứng
quốc tế có vị trí càng quan trọng. Mặc dù, có thể có sự cạnh tranh giữa các nhà
cung ứng và DN có quyền lựa chọn nhà cung ứng tốt nhất, thì quyền lực thơng l-
ợng của nhà cung ứng bị hạn chế vẫn không đáng kể. Trong mối quan hệ này, để
đảm bảo lợi nhuận cho DN trớc khả năng tăng cao chi phí đầu vào, đảm bảo sức
cạnh tranh của sản phẩm, DN phải biến đợc quyền lực thơng lợng của ngời cung
ứng trở thành quyền lực của mình.
Quyền lực thơng lợng của ngời mua
Ngời mua có quyền lực thơng lợng với DN (ngời bán) thông qua sức ép giảm
giá, giảm khối lợng hàng mua từ DN, hoặc đa ra yêu cầu chất lợng phải tốt hơn
với cùng một mức giá ...
Các nhân tố tạo nên quyền lực thơng lợng của ngời mua gồm: khối lợng mua
lớn, sự đe doạ của quá trình liên kết những ngời mua khi tiến hành thơng lợng với
DN, do sự tập trung lớn của ngời mua đối với các sản phẩm cha đợc dị biệt hoá
hoặc các dịch vụ...
Quyền lực thơng lợng của ngời mua sẽ rất lớn nếu DN không nắm bắt kịp
thời những thay đổi về nhu cầu của thị trờng, hoặc khi DN thiếu khá nhiều thông
tin về thị trờng (đầu vào và đầu ra). Các DN khác sẽ tìm cách lợi dụng điểm yếu
17
Đề án kinh tế thơng mại
này của DN, để tung ra thị trờng những sản phẩm thích hợp hơn, với giá cả phải
chăng hơn và bằng những phơng thức dịch vụ độc đáo hơn.

Nguy cơ đe doạ từ các sản phẩm và dịch vụ thay thế
Khi giá cả của sản phẩm, dịch vụ hiện tại tăng lên thì khách hàng có xu hớng
sử dụng sản phẩm, dịch vụ thay thế. Đây là nhân tố đe doạ sự mất mát về thị trờng
của DN. Các đối thủ cạnh tranh đa ra thị trờng những sản phẩm thay thế có khả
năng khác biệt hoá cao độ so với sản phẩm của DN, hoặc tạo các điều kiện u đãi
hơn về dịch vụ hay các điều kiện về tài chính.
Nếu sản phẩm thay thế càng giống sản phẩm của DN, thì mối đe doạ đối với
DN càng lớn. Điều này sẽ hạn chế giá cả, số lợng hàng bán và ảnh hởng đến lợi
nhuận của DN. Nếu có ít sản phẩm tơng tự sản phẩm của DN, DN sẽ có cơ hội
tăng giá và thu thêm lợi nhuận.
Cạnh tranh giữa các đối thủ trong ngành
Các hãng trong ngành cạnh tranh khốc liệt với nhau về giá cả, sự khác biệt
hoá về sản phẩm, hoặc sự đổi mới sản phẩm giữa các hãng hiện đang cùng tồn tại
trong thị trờng. Sự cạnh tranh càng gay gắt khi đối thủ đông đảo và gần nh cân
bằng nhau, khi tăng trởng của ngành là thấp, khi các loại chi phí ngày càng tăng,
khi các đối thủ cạnh tranh có chiến lợc đa dạng...
Có một điều thuận lợi và cũng là bất lợi cho các đối thủ trong cùng ngành là
khả năng nắm bắt kịp thời những thay đổi, cải tiến trong sản xuất - kinh doanh,
hoặc các thông tin về thị trờng. Từ đó, các DN có thể có hoặc mất lợi thế cạnh
tranh bất cứ lúc nào họ tỏ ra thiếu thận trọng và nhạy bén.
DN ở các quốc gia khác nhau (trừ DN của nớc sở tại) khi cùng tiến hành hoạt
động kinh doanh trên thị trờng nớc ngoài sẽ có một phần bất lợi nh nhau do các
quy định hạn chế của chính phủ nớc sở tại. Chính vì thế, DN nào mạnh về tài
chính, hoặc kỹ thuật, hoặc trên cả hai phơng diện sẽ có đợc lợi thế rất lớn. Khác
với hoạt động sản xuất kinh doanh trong nớc, DN khi tham gia thị trờng nớc ngoài
cần có sự trợ giúp của các DN khác trong ngành cùng quốc gia, để có thêm khả
năng chống đỡ trớc sự cạnh tranh của các DN thuộc quốc gia khác. Lúc đó, có thể
coi sự cạnh tranh trong ngành là cạnh tranh giữa các quốc gia.
Sức ép cạnh tranh của các đối thủ này đối với DN đã làm cho giá cả các yếu
tố đầu vào và yếu tố đầu ra biến động theo những xu hớng khác nhau. Tình hình

này đòi hỏi DN phải linh hoạt điều chỉnh các hoạt động của mình nhằm giảm
18
Đề án kinh tế thơng mại
thách thức, tăng thời cơ giành thắng lợi trong cạnh tranh. Muốn vậy, DN cần
nhanh chóng chiếm lĩnh thị trờng, đa nhanh ra thị trờng những sản phẩm mới chất
lợng cao, mẫu mã và giá cả phù hợp ...
3.2. Đánh giá khả năng cạnh tranh hiện nay ở Việt Nam
Một thực tế hiện nay của chúng ta là năng lực cạnh tranh hiện nay của hàng
hóa Việt Nam, của DN Việt Nam và khả năng cạnh tranh của nền kinh tế nói
chung của ta còn rất yếu kém so với nhiều nớc trong khu vực và trên thế giới.
Tình trạng này thể hiện trên nhiều mặt, nhiều lĩnh vực. Hàng hóa mang nhãn hiệu
Việt Nam hiện nay tuy đã có một số mặt hàng (cha nhiều) đạt chất lợng tốt, nhng
nói chung chất lợng cha cao, trong khi đó giá thành lại cao hơn một số nớc trong
khu vực (Thái Lan, Trung Quốc, ) do nhiều nguyên nhân nh giá đầu vào của sản
xuất nói chung cao, lại phải gánh nhiều loại thuế, phí dịch vụ và các loại phí bất
hợp lý khác; máy móc, thiết bị cũ kỹ, lạc hậu, hiểu biết về thị trờng, kinh nghiệm
về kinh doanh, quản lý công tác tiếp thị, Marketing của các DN còn hạn chế,
Mặt khác, về phía quản lý Nhà nớc, một số chính sách thuế, quản lý, thủ tục hành
chính còn nhiều điều cha hợp lý góp phần làm cho các loại phí của các DN phải
gánh chịu tăng lên đáng kể, giá thành một số sản phẩm của ta cao hơn giá nhập
khẩu từ các nớc khác. Việc sắp xếp các DNNN, cổ phần hóa một bộ phận DNNN
triển khai khá chậm chạp và hầu nh cha đạt đợc mục đích mà rơi vào tình trạng
bình mới, rợu cũ vì tuy đã sắp xếp lại những tình trạng yếu kém về tài chính,
công nợ dây da, những yếu kém về quản lý kinh doanh, nhân sự vẫn ch a đợc
giải quyết một cách cơ bản nên vẫn không mạnh hơn, thậm chí có trờng hợp lại
yếu hơn trớc. Thêm vào đó, tệ nạn quan liêu tham nhũng trong bộ máy hành chính
quản lý của Nhà nớc đã gây ra không ít phiền hà, cản trở đối với DN, giảm thu hút
vốn đầu t của nớc ngoài và làm giảm mất tính khả thi, vô hiệu quả chủ trơng
chính sách đúng đắn của Nhà nớc
19

Đề án kinh tế thơng mại
Chơng II. Thực trạng về khả năng cạnh
tranh mặt hàng dệt may hiện nay ở Việt
Nam
1. Những đặc điểm chủ yếu của thị trờng dệt may thế giới
1.1. Đặc điểm của cạnh tranh trên thị trờng dệt may
Sản phẩm dệt may là loại sản phẩm mang tính thời vụ, có nhu cầu rất phong
phú, đa dạng tuỳ theo đối tợng tiêu dùng. Ngời tiêu dùng khác nhau về văn hoá,
phong tục tập quán, tôn giáo, giới tính, tuổi tác, khác nhau về khu vực địa lý, khí
hậu... sẽ có nhu cầu rất khác nhau về trang phục. Để đáp ứng đợc tâm lý thích đổi
mới, độc đáo và gây ấn tợng của ngời tiêu dùng, sản phẩm may phải có tính thời
20
Đề án kinh tế thơng mại
trang cao, phải thờng xuyên thay đổi mẫu mã, kiểu dáng, màu sắc, chất liệu... Sức
cạnh tranh của hàng dệt may thể hiện qua nhiều khía cạnh, có thể là ở giá thấp,
hay chất lợng cao, mẫu mã đẹp, hoặc hình thức dịch vụ phong phú, đầy đủ...
Thuộc dạng thị trờng cạnh tranh không hoàn hảo, do thoả mãn các đặc điểm
nh: sản phẩm không có tính duy nhất, số các đối thủ không quá nhiều, DN đôi khi
có đợc khả năng điều chỉnh giá... , nên trên thị trờng này tập hợp khá đầy đủ các
hình thức và phơng thức cạnh tranh.
Tính cạnh tranh của sản phẩm dệt may là khá cao do đây là sản phẩm nằm
trong số những mặt hàng đợc bảo hộ chặt chẽ. Trớc khi có Hiệp định về hàng dệt
may - kết quả quan trọng của Vòng đàm phán Uruguay - việc buôn bán các sản
phẩm dệt may đợc điều chỉnh theo những thể chế thơng mại đặc biệt, mà nhờ đó
phần lớn các nớc nhập khẩu thiết lập các hạn chế số lợng (quy định hạn ngạch)
hàng may nhập khẩu. Mức thuế phổ biến đánh vào hàng may và hàng dệt lại cao
hơn so với các hàng hoá công nghiệp khác. Hơn nữa, từng nớc nhập khẩu còn đề
ra những điều kiện đối với hàng may nhập khẩu. Tất cả những hàng rào đó ảnh h-
ởng rất lớn đến sản xuất và buôn bán hàng dệt may trên thế giới.
1.2. Các thị trờng dệt may trong khu vực và trên thế giới hiện nay.

Khối lợng buôn bán hàng hàng dệt may trên thế giới hiện nay khoảng 350 tỷ
USD. Trong đó 150 tỷ là hàng dệt và 200 tỷ là hàng may mặc.
Các thị trờng nhập khẩu chủ yếu.
- EU: 140,5 tỷ USD, Trong đó hàng dệt 58 tỷ USD, hàng may sẵn 84 tỷ USD.
Nhập ngoài EU hàng dệt 18 tỷ USD, hàng may sẵn 48 tỷ USD.
- Mỹ: 70 tỷ USD, trong đó hàng may sẵn 56 tỷ.
- Hồng Kông: 27,7 tỷ USD, trong đó hàng dệt 13,4 tỷ, hàng may sẵn 14,3 tỷ.
- Nhật: 19 tỷ USD, trong đó hàng dệt 14,3 tỷ USD, hàng may sẵn 14,7 tỷ.
- Trung Quốc: 12 tỷ USD, trong đó hàng dệt 11 tỷ USD, hàng may sẵn 1 tỷ.
- Canada: 7 tỷ USD, trong đó dệt 4 tỷ, may sẵn 3 tỷ.
- Mêhicô: 7tỷ USD, trong đó dệt 4 tỷ, may sẵn 3 tỷ.
- ThuỵSỹ: 5 tỷ USD, trong đó hàng dệt 1,5 tỷ USD, hàng may sẵn 3,5 tỷ USD.
- Các nớc nhập khẩu trên 3 tỷ USD là Nga, Balan, áo.
21
Đề án kinh tế thơng mại
- Các nớc nhập khẩu trên 2 tỷ USD là: Tiểu vơng quốc A-rập, Hàn Quốc, Thổ
Nhĩ Kỳ, Singapo, Đài Loan, NaUy, Tuynidi.
Các nớc xuất khẩu chính:
- Trung Quốc: khoảng 47 tỷ USD.
- Hồng Kông: 25 tỷ USD.
- Hàn Quốc: 17 tỷ USD.
- Đài Loan: 14,2 tỷ USD.
- ấn Độ: 11,2 tỷ USD.
- Mê hi cô: khoảng 8 tỷ USD.
- Inđônêxia trên 7 tỷ USD.
- Thái Lan trên 5 tỷ USD.
- Pakitxtan trên 5 tỷ USD.
- Bănglađet: 5 tỷ USD.
- Philipin, singapo, Malaixia: mỗi nớc trên dới 3 tỷ USD.
Qua các số liệu trên chúng ta thấy rằng, các nớc phát triển nhập khẩu hàng

may sẵn là chính: Nhật trên 77%, Mỹ 80%, EU 60%, Thuỵ Sỹ 70% Các n ớc
đang phát triển ở trình độ cao nh Hàn Quốc, Đài Loan xuất khẩu vải, sợi là chính,
vẫn mở thị trờng cho hàng dệt may sẵn. Xu hớng chuyển dịch ngành dệt may từ
các nớc phát triển và các nớc đang phát triển ở trình độ cao sang các nớc đang
phát triển ở trình độ thấp vì ở các nớc này, giá lao động ngày càng cao, mặt khác
họ tập trung phát triển những ngành có công nghệ tiên tiến mang lại hiệu quả kinh
tế cao. Nhiều nớc xuất khẩu trớc đây đã trở thành nớc nhập khẩu nh Singapo,
Braxin, Achentina.
2.Thực trạng về khả năng cạch tranh của ngành công nghiệp dệt
may ở Việt Nam hiện nay
2.1. Khái quát chung về ngành dệt may Việt Nam
Sản phẩm dệt may là một ngành hàng có truyền thống lâu đời ở Việt Nam và
là một ngành công nghiệp mũi nhọn đóng một vai trò quan trọng trong nền kinh
tế nớc ta, sản xuất tăng trởng nhanh, kim ngạch xuất khẩu không ngừng gia tăng
22
Đề án kinh tế thơng mại
với nhịp độ cao, thị trờng luôn đợc mở rộng; tạo điều kiện cho kinh tế phát triển
góp phần cân bằng cán cân xuất nhập khẩu, thu hút ngày càng nhiều cho ngân
sách Nhà nớc.
Trong những năm qua, mặc dù gặp nhiều khó khăn về mọi lĩnh vực, lại bị
cạnh tranh gay gắt trên thị trờng quốc tế và trong nớc, toàn ngành dệt may đã đẩy
mạnh sản xuất và có mức tăng trởng bình quân 11%, xuất khẩu hàng dệt may
bình quân hàng năm 20%, chiếm khoảng 13-16% trong tổng giá trị xuất khẩu cả
nớc.
Ngành công nghiệp dệt may đang có những cơ hội phát triển:
- Việt Nam đã ký kết với liên minh Châu Âu (EU) hiệp định mua bán hàng
dệt may từ năm 1982 (cho kế hoạch 5 năm) và năm 1997 (cho 3 năm 1998, 1999,
2000).
- Ngành dệt may Việt Nam đã trở thành thành viên của hiệp hội Đông Nam á
(AFTEX).

- Việt Nam đã là thành viên chính thức của hiệp hội các quốc gia Đông Nam
á (ASEAN) vào ngày 28-7-1995 và gia nhập khu vực mậu dịch tự do ASEAN
(AFTA) kể từ ngày 1-1-1996.
- Tháng 11-1998 Việt Nam chính thức là thành viên của diễn đàn hợp tác
kinh tế Châu á - Thái Bình Dơng (AFTEX).
- Việt Nam đã có quan hệ ngoại giao và thơng mại với hầu hết các nớc trên
thế giới sau khi quan hệ giữa Mỹ và Việt Nam bình thờng hóa (ngày 12-7-1995).
Hiện Việt Nam đang chuẩn bị các điều kiện để gia nhập WTO.
Sau hơn 10 năm thực hiện cải cách nền kinh tế cùng với chính sách mở cửa,
Việt Nam đang bắt đầu giai đoạn CNH-HĐH đất nớc, chủ trơng chú trọng xây
dựng cơ sở hạ tầng và xuất hiện ngày càng nhiều khu công nghiệp trong cả nớc
góp phần tăng trởng kinh tế và thu nhập quốc dân, cố gắng đạt tốc độ tăng trởng
khoảng 5-6% trong những năm tới và có khả năng nhu cầu hàng dệt may của hơn
80 triệu ngời dân Việt Nam cũng sẽ tăng theo.
Những yếu tố trên bớc đầu tạo điều kiện cho công nghiệp dệt may thay đổi
nhiều mặt, thị trờng tiêu dùng sẽ có dịp phát triển với tốc độ nhanh hơn, nhiều DN
dệt may ra đời trong đó ngày càng có nhiều DN thuộc các thành phần kinh tế cổ
phần, TNHH, DNTN, liên doanh và 100% vốn đầu t nớc ngoài. Các chủng loại
sản phẩm dệt may ngày càng phong phú hơn, đa dạng hơn, chất lợng đợc nâng
23
Đề án kinh tế thơng mại
cao, giá cả cạnh tranh nên ngời tiêu dùng dễ dàng chấp nhận sản phẩm dệt may đ-
ợc sản xuất trong nớc. Các khách hàng nớc ngoài cũng mong muốn mua sản
phẩm dệt may xuất khẩu của nớc ta với yêu cầu sử dụng và sản xuất trong nớc với
giá thành hạ.
2.2. Thực trạng về khả năng cạch tranh của ngành công nghiệp dệt may
ở Việt Nam hiện nay
Cạnh tranh là một trong những quy luật kinh tế cơ bản của KTTT. DN muốn
tồn tại và phát triển phải có khả năng cạnh tranh cao. Đặc biệt với ngành sản xuất
dệt may, do đó đặc điểm là không đòi hỏi vốn lớn, lại thu hồi vốn nhanh và sử

dụng nhiều lao động, là ngành đợc hầu hết các nớc đang phát triển tham gia, nên
mức độ cạnh tranh càng cao.

Phân tích khả năng cạnh tranh của ngành dệt may theo lợi thế và
bất lợi thế vĩ mô
Lợi thế vĩ mô ở đây đợc hiểu là lợi thế cạnh tranh của cả ngành dệt may Việt
Nam so với ngành dệt may thế giới. Đây là lợi thế dựa trên lợi thế so sánh của
Việt Nam trong thơng mại quốc tế, chịu ảnh hởng của các định chế quốc tế có
liên quan và mức độ ổn định của các môi trờng kinh doanh quốc tế.
Ngành dệt may Việt Nam có lợi thế do vị trí địa lý của đất nớc nằm trong khu
vực địa lý thuận lợi cho hoạt động giao dịch thơng mại quốc tế. Nguồn nhân lực
của Việt Nam cũng là một nhân tố tạo nên lợi thế cạnh tranh cho các ngành sản
xuất, khi đợc coi là dồi dào, cần mẫn, tỉ mỉ, sáng tạo, giá nhân công rẻ... Những
đặc điểm đó rất phù hợp với yêu cầu về lao động cho ngành dệt may, đã hấp dẫn
và thu hút đợc nhiều hợp đồng gia công dệt may của các nớc phát triển cũng nh
các nớc NIE
S
.
Tuy vậy, phải nói rằng sức cạnh tranh của sản phẩm dệt may Việt Nam còn
rất yếu trên thị trờng thế giới. Giá lao động rẻ chỉ là lợi thế nhất thời, không ổn
định trong cạnh tranh, và sẽ mất đi khi công nghệ kỹ thuật thay thế sức lao động
của con ngời. Hiện nay, tơng quan lợi thế về nhân công đã có sự thay đổi giữa các
nớc trong khu vực ASEAN do ảnh hởng của cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ
vừa qua, do đó ngành dệt may Việt Nam mất đi phần nào lợi thế của mình.
Là lĩnh vực sản xuất có mức độ hiện đại của công nghệ không cao, nên tạm
thời ngành dệt may Việt Nam chỉ đáp ứng nhu cầu tiêu dùng bình thờng, mà cha
đáp ứng nhu cầu về mốt, thời trang hay các sản phẩm dệt may cao cấp khác.
Ngành mốt của Việt Nam lại quá non trẻ nên không đủ sức nâng khả năng phát
24
Đề án kinh tế thơng mại

triển cho ngành may. Kết quả là lợi ích thu đợc từ xuất khẩu thấp, chủ yếu là lấy
công làm lãi do không có mấy chênh lệch giữa giá thành và giá bán. Sự không
phát triển về công nghệ và thời trang đã làm giảm sức cạnh tranh của sản phẩm
dệt may Việt Nam đi rất nhiều, nhất là trên thị trờng EU. Theo thống kê, trong
tổng số 63 tỷ USD quần áo nhập khẩu vào thị trờng này hàng năm, chỉ có khoảng
9 tỷ USD quần áo tiêu dùng bình thờng, số còn lại (khoảng 87%) là sử dụng theo
mốt. Điều đó có nghĩa, giá trị hàm lợng chất xám trong sản phẩm đợc quan tâm
hơn giá trị vật liệu cấu thành nên nó.
Sự phát triển khập khiễng giữa ngành dệt và ngành may trong nớc cũng ảnh
hởng lớn tới khả năng cạnh tranh của ngành dệt may. Hàng năm, để đảm bảo hoạt
động xuất khẩu, ngành may phải nhập khẩu khoảng 80% nguyên phụ liệu mà chủ
yếu là các loại vải. Nguyên nhân là do máy móc thiết bị của ngành dệt nớc ta đã
cũ kỹ, lạc hậu mà tiềm lực trong nớc cha có điều kiện để hiện đại hoá một cách
đồng bộ, dẫn đến việc các nguyên liệu do ngành dệt trong nớc cung cấp không
đáp ứng đợc những yêu cầu về thông số kỹ thuật của bên đặt hàng xuất khẩu; các
công ty dệt thờng không đảm bảo thời hạn giao hàng, gây ảnh hởng tới tiến độ sản
xuất của ngành may xuất khẩu. Thực tế là do ngành dệt và may trong nớc cha có
sự gắn kết giữa các khâu và thiếu sự hợp tác vì mục tiêu chung - mục tiêu hớng
về xuất khẩu, thay thế nhập khẩu. Việc liên tục phải nhập khẩu nguyên phụ liệu
của nớc ngoài dẫn đến tăng giá thành sản phẩm may, sức cạnh tranh của sản phẩm
vì thế mà giảm đi trên thị trờng quốc tế.
Cơ chế quản lý kinh tế nói chung và quản lý XNK của nớc ta nói riêng còn
nhiều bất cập, nhng bất lợi lớn hơn của các DN Việt Nam là sự bất bình đẳng so
với DN thuộc các nớc cùng khối ASEAN. Chẳng hạn, EU đã cho các DN Việt
Nam đợc hởng quy chế tối huệ quốc (MFN) và chế độ u đãi thuế quan phổ cập
(GSP), nhng những điều kiện về xuất xứ hàng hoá mà EU áp dụng đối với hàng
hoá của Việt Nam rất chặt chẽ, nên tỷ lệ hàng Việt Nam đợc giảm thuế nhập khẩu
theo GSP thực tế rất thấp. Còn trên thị trờng Mỹ, hàng dệt may Việt Nam cũng
cha đợc hởng quy chế MFN cũng nh GSP, nên hàng may xuất khẩu của Việt Nam
sang Mỹ phải chịu nhiều loại thuế cao làm cho khả năng cạnh tranh của sản phẩm

vốn đã yếu lại càng yếu hơn.
Sức cạnh tranh của hàng may Việt Nam chịu áp lực của nhiều quy định, quy
chế, hàng rào kỹ thuật nên đã rất thấp, lại phải đối đầu với hàng dệt may của
Trung Quốc có giá rẻ hơn, đa dạng hơn về màu sắc, mẫu mã sản phẩm, phí vận
chuyển thấp lại đợc trợ cấp xuất khẩu. Hơn nữa, xu hớng tăng cờng trao đổi nội
bộ trong NAFTA, EU hay việc xếp Việt Nam vào cùng nhóm các nớc nh
25

×