Tải bản đầy đủ (.doc) (91 trang)

Nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh nhập khẩu của công ty dược phẩm trung ương 1.

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (561.6 KB, 91 trang )

Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ
CHUYÊN NGÀNH QUẢN TRỊ KINH DOANH QUỐC TẾ
 & 
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP TỐT NGHIỆP
Đề tài :

NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH NHẬP KHẨU CỦA
CÔNG TY DƯỢC PHẨM TRUNG ƯƠNG 1
Giáo viên hướng dẫn : PGS.TS.NGUYỄN THỊ HƯỜNG
Sinh viên thực hiện : NGUYỄN MAI ANH
Lớp : KDQT A
Khóa : 46
Hệ :CHÍNH QUY
Hà Nội - 2008
Sinh viên thực hiện:Nguyễn Mai Anh, lớp KDQTA – K46, ĐH Kinh Tế Quốc Dân
1
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
MỤC LỤC
Doanh lợi theo chi phí kinh doanh nhập khẩu ......................................... 18
Doanh lợi của doanh thu bán hàng nhập khẩu .......................................... 19
Hiệu quả sử dụng toàn bộ vốn đầu tư vào hoạt động kinh doanh nhập khẩu
.................................................................................................................... 20
Năng suất lao động bình quân ................................................................... 20
Sinh viên thực hiện:Nguyễn Mai Anh, lớp KDQTA – K46, ĐH Kinh Tế Quốc Dân
2
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
LỜI MỞ ĐẦU
I. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Hội nhập kinh tế quốc tế là một xu hướng tất yếu. Quá trình ấy đang diễn


ra mạnh mẽ trên nhiều lĩnh vực. Hòa vào xu thế ấy, Việt Nam đang cố gắng
chuyển mình, nỗ lực đi lên để cùng bước chung nhịp đập của thế giới. Trong
những năm qua, nhiều ngành kinh tế, nhiều lĩnh vực kinh tế đã có những bước
thay đổi đáng kể trong hoạt động kinh doanh của mình, trong đó cóuh ngành
Dược. Trong quá trình hội nhập, nhiều công ty dược phẩm đã và đang cải tiến
hoạt động kinh doanh của mình cho phù hợp hơn với nhu cầu khách hàng và tiêu
chuẩn quốc tế. Công ty Dược Phẩm Trung Ương 1 cũng không nằm ngoài quy
luật ấy.
Một trong hai hoạt động ngoại thương cơ bản mà Công ty Dược Phẩm
Trung Ương 1 đang tìm cách khai thác có hiệu quả là hoạt động nhập khẩu.
Hoạt động này hiện nay đang diễn ra dưới các hình thức: nhập khẩu nguyên liệu,
nhập khẩu thành phẩm và nhập khẩu hang ủy thác cho các đơn vị khác để thu phí
ủy thác. Trong xu thế quốc tế hoá nền kinh tế, đặc biệt là khi Việt Nam đã trở
thành thành viên của WTO thì việc nâng cao năng lực chuyên môn của cán bộ,
tìm hiểu những nguồn cung ở các thị trường mới, lựa chọn nhà cung cấp, đảm
bảo chất lượng hàng hóa, lựa chọn hình thức thanh toán nhanh và giảm thiểu
được rủi ro ở mức tối đa…,, là những công việc nên làm để nâng cao hiệu quả
hoạt động kinh doanh nhập khẩu của Công ty Dược Phẩm Trung Ương 1 đồng
thời giúp Công ty tránh được các rủi ro từ những biến động của thị trường dược
trong nước và thị trường dược phẩm quốc tế, tăng khả năng cạnh tranh của Công
ty trong nền kinh tế mở. Chính vì vậy em đã chọn đề tài chuyên đề thực tập tốt
nghiệp là: “Nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh nhập khẩu của Công ty
Dược Phẩm Trung Ương 1 ” nhằm đưa ra một số giải pháp để nâng cao hoạt
động kinh doanh nhập khẩu của Công ty Dược Phẩm Trung Ương 1 .
II. MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
Sinh viên thực hiện:Nguyễn Mai Anh, lớp KDQTA – K46, ĐH Kinh Tế Quốc Dân
3
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
1 Mục đích nghiên cứu đề tài
Dựa trên việc phát hiện ra các điểm tồn tại và nguyên nhân của các tồn tại

để đề xuất ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh nhập khẩu của
Công ty Dược Phẩm Trung Ương 1 .
2 Nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
Để thực hiện mục đích trên, đề tài cần phải được khảo sát, nghiên cứu qua
một số nội dung sau:
- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận về hiệu quả kinh doanh nhập khẩu của
Công ty Dược Phẩm Trung Ương 1 .
- Tập hợp số liệu kinh doanh nhập khẩu của Công ty Dược Phẩm Trung Ương 1
qua các năm từ 2005 – 2007.
- Phân tích thực trạng nâng cao hiệu quả kinh doanh nhập khẩu của Công ty
Dược Phẩm Trung Ương 1 trong thời gian qua. Từ đó rút ra những ưu điểm, tồn
tại trong việc nâng cao hiệu quả kinh doanh nhập khẩu của Công ty Dược Phẩm
Trung Ương 1 .
- Dự kiến phương hướng nâng cao hiệu quả kinh doanh nhập khẩu của Công ty
Dược Phẩm Trung Ương 1 trong xu thế hội nhập. Trên cơ sở đó, đề xuất những
giải pháp và kiến nghị để nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh nhập khẩu của
Công ty Dược Phẩm Trung Ương 1 .
III. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của chuyên đề thực tập tốt nghiệp là vấn đề hiệu
quả kinh doanh nhập khẩu của Công ty Dược Phẩm Trung Ương 1 .
2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của chuyên đề thực tập tốt nghiệp là hiệu quả kinh
doanh của Công ty Dược Phẩm Trung Ương 1 với các số liệu cụ thể sử dụng để
phân tích tập trung chủ yếu từ năm 2005 cho đến năm 2007.
Sinh viên thực hiện:Nguyễn Mai Anh, lớp KDQTA – K46, ĐH Kinh Tế Quốc Dân
4
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
IV. KẾT CẤU CỦA CHUYÊN ĐỀ
Ngoài phần mở đầu, kết luận, chuyên đề gồm 3 chương:

Chương 1: Khái luận chung về hoạt động kinh doanh nhập khẩu và nâng cao
hiệu quả kinh doanh nhập khẩu của các Doanh nghiệp Dược phẩm.
Chương 2: Thực trạng hiệu quả kinh doanh nhập khẩu và nâng cao hiệu quả
kinh doanh nhập khẩu của Công ty Dược Phẩm Trung Ương 1 .
Chương 3: Phương hướng và một số biện pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh
nhập khẩu của Công ty Dược Phẩm Trung Ương 1 .
Để hoàn thành tốt chuyên đề này, em xin chân thành cám ơn
PGS.TS.Nguyễn Thị Hường – Trưởng bộ môn Kinh doanh quốc tế, Khoa Kinh tế
và Kinh doanh quốc tế trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân Hà Nội đã tận tình
giúp đỡ em trong quá trình làm chuyên đề. Em cũng xin cám ơn Công ty Dược
Phẩm Trung Ương 1 đặc biệt là các cô, các bác, các anh, các chị, phòng Xuất
nhập khẩu đã tạo điều kiện cho em thực tập và tìm hiểu các số liệu của phòng.





CHƯƠNG 1
Sinh viên thực hiện:Nguyễn Mai Anh, lớp KDQTA – K46, ĐH Kinh Tế Quốc Dân
5
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
KHÁI LUẬN CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH NHẬP
KHẨU VÀ HIỆU QUẢ KINH DOANH NHẬP KHẨU CỦA CÁC
DOANH NGHIỆP DƯỢC PHẨM
1.1. TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH NHẬP KHẨU
1.1.1. Thế nào là hoạt động kinh doanh nhập khẩu
Nhập khẩu là một hoạt động kinh doanh quốc tế vượt ra khỏi phạm vi một
quốc gia. Có thể nói, hoạt động kinh doanh nhập khảu là hoạt động mua bán
hàng hóa hoặc dịch vụ từ nước ngòai để tái sản xuất hoặc phục vụ nhu cầu trong
nước nhằm mục đích thu lợi.

Như vậy, nhập khẩu là việc mua bán hàng hóa hoặc dịch vụ từ các tổ chức
kinh tế, các công ty nước ngoài để tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ nhập khẩu đó trên
thị trường nội địa hoặc tái xuất khẩu nhằm thu lợi nhuận và nối liền sản xuất với
tiêu dùng.
1.1.2. Tác động của hoạt động kinh doanh nhập khẩu
Ta xem xét tác động của hoạt động kinh doanh nhập nhẩu với 3 đối tượng
đó là với nền kinh tế quốc dân, với doanh nghiệp và với người tiêu dùng để thấy
rõ hơn những tác động tích cực và các tác động tiêu cực của hoạt động kinh
doanh nhập khẩu.
1.1.2.1. Đối với nền kinh tế quốc dân
1.1.2.1.1. Tác động tích cực
Nhập khẩu hàng hóa nhằm thỏa mãn nhu cầu của xã hội. Nhu cầu xã
hội hiện nay rất đa dạng vì thế chất lượng, mẫu mã, giá cả, … của các sản phẩm
càng đa dạng bao nhiêu càng đáp ứng tốt hơn nhu cầu của xã hội bấy nhiêu.
Hoạt động nhập khẩu đã là cách tốt nhất hiện nay để tăng mức thỏa mãn nhu cầu
của người tiêu dùng do hàng hóa được nhập về nhiều và trên thị trường hiện nay
có đa dạng hơn về chủng loại các mặt hàng.
Sinh viên thực hiện:Nguyễn Mai Anh, lớp KDQTA – K46, ĐH Kinh Tế Quốc Dân
6
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Hoạt động kinh doanh nhập khẩu là nhân tố tác động tích cực đến quá
trình sản xuất, kinh doanh dịch vụ của cả nền kinh tế. Tại sao lại có thể nói
như vậy là do nhập khẩu tăng sẽ làm cho hàng hóa tự sản xuất trong nước buộc
phải cải tiến kỹ thuật, sử dụng mẫu mã hình thức ưu mắt hơn thì mới có thể cạnh
tranh được với hàng hóa nhập ngoại. Đồng thời, hoạt động kinh doanh dịch vụ
trong nước cũng sẽ phát triển hơn do những sản phẩm phục vụ cho kinh doanh
dịch vụ được cung cấp đầy đủ, tiện nghi và hiện đại hơn.
Hoạt động này còn làm tăng nguồn thu cho ngân sách nhà nước thông
qua việc đóng thuế nhập khẩu. Theo số liệu thống kê, nguồn thu thuế nhập khẩu
luôn chiếm tỷ trọng cao trong tổng thu ngân sách nhà nước. Giai đoạn từ 1992

đến 1998, có những năm tỷ lệ đạt 26% tổng thu. Giai đoạn 1999 – 2004, do phải
cắt giảm để thực hiện cam kết quốc tế trong quá trình hội nhập, tỷ trọng có giảm
đi những vẫn chiếm 15,9%. Nếu tính cả thuế giá trị gia tăng và thuế tiêu thụ đặc
biệt từ hàng nhập khẩu thì tỷ trọng thu từ hàng hóa nhập khẩu giai đoạn này đạt
rất cao (31,1%).
Góp phần tạo việc làm cho một bộ phận người lao động, giảm gánh nặng
thất nghiệp cho xã hội. Hiện nay, một bộ phận lớn người lao động đang làm việc
trong lịnh vực nhập khẩu và các lĩnh vực liên quan khác như thuế quan, ngân
hàng, …
1.1.2.1.2. Tác động tiêu cực
Nếu các doanh nghiệp kinh doanh nhập khẩu định hướng không rõ ràng
có thể gây nên khủng hoảng thừa hoặc thiếu cho nền kinh tế. Khủng hoảng
thừa trong trường hợp doanh nghiệp dự đoán nhiều hơn sức mua của thị trường
và hàng hóa nhập về ồ ạt sẽ làm cho hàng hóa không tiêu thụ được do cung lớn
hơn cầu. Như trường hợp của Trung Quốc vào năm 2005 đã bị lâm vào tình
trạng khủng hoảng thừa khi mà lượng xe hơi tồn kho của Trung Quốc lên tới
600 nghìn chiếc, điện thoại di động tồn kho hơn 20 triệu chiếc cùng với 900 mặt
hàng khác có nguy cơ khủng hoảng thừa. Như vậy, khủng hoảng thừa sẽ làm
cho nền kinh tế giảm sút và hiệu quả kinh doanh không được như mong muốn.
Sinh viên thực hiện:Nguyễn Mai Anh, lớp KDQTA – K46, ĐH Kinh Tế Quốc Dân
7
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Bên cạnh đó, tác động của khủng hoảng thiếu cũng mang lại nhiều mặt tiêu cực
cho nền kinh tế. Khi mà các nhà kinh doanh nhập khẩu không tính toán đúng
nhu cầu của thị trường, hàng hóa nhập về quá ít sẽ làm cho giá cả leo thang rất
nhanh do cung không đáp ứng nổi cầu. Một trường hợp điển hình đó là ở Ai Cập
thời gian từ đầu tháng 3/2008 đến nay đang có hiện tượng khủng hoảng thiếu
bánh mỳ nghiêm trọng. Chính phủ đã phải cho nhập khẩu thêm bộ mỳ và trợ giá
các lò bánh giảm bớt tình trạng thường xuyên xảy ra chen lấn, tranh chấp, giành
giật nhau để mua được bánh. Như vậy, hoạt động kinh doanh nhập khẩu nếu

không đựơc định hướng đúng sẽ rất dễ gây ra khủng hoảng thừa hoặc khủng
hoảng thiếu làm thiệt hại cho nền kinh tế.
1.1.2.2. Đối với doanh nghiệp
1.1.2.2.1. Tác động tích cực
Hoạt động kinh doanh nhập khẩu giúp cho các doanh nghiệp tăng doanh
thu, tăng lợi nhuận, tăng thu nhập và đảm bảo được việc làm cho cán bộ công
nhân viên. Hàng hóa nhập về và được tiêu thụ sẽ làm tăng doanh thu cho doanh
nghiệp và với việc tính toán hợp lý giữa chi phí bỏ ra và doanh thu đạt được sẽ
tạo ra mức lợi nhuận đáng kể cho doanh nghiệp và từ đó doanh nghiệp sẽ có
thêm một khoản dôi dư để trả lương cho cán bộ, tăng lương giúp cho người lao
động đảm bảo hơn được chất lượng cuộc sống.
Để đáp ứng được nhu cầu nhập khẩu thì các cán bộ phải thay đổi tư duy
theo hướng chuyên môn hóa để đáp ứng được quan hệ quốc tế mới có hiệu quả
trong vấn đề kinh doanh nhập khẩu. Các doanh nghiệp cần chú trọng vấn đề tạo
chữ tín. Các phòng ban phải tự vận động để nâng cao nghiệp vụ kinh doanh
nhập khẩu, tăng thêm sự hiểu biết về luật pháp, thông lệ trong thương mại quốc
tế. Chính những yếu tố bắt buộc đó đã làm cho trình độ của các cán bộ được
nâng cao.
Cơ sở vật chất cũng phải thay đổi với điều kiện của hoạt động kinh
doanh nhập khẩu theo hướng tốt hơn. Để doanh nghiệp được cấp giấy phép
Sinh viên thực hiện:Nguyễn Mai Anh, lớp KDQTA – K46, ĐH Kinh Tế Quốc Dân
8
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
nhập khẩu nhất là đối với các mặt hàng dược phẩm, thì buộc các doanh nghiệp
phải có các xưởng đạt tiêu chuẩn GMP, các máy tính nối mạng, … Như vậy, để
có hoạt động nhập khẩu buộc các doanh nghiệp phải có cơ sở vật chất hiện đại
hơn từ đó doanh nghiệp sẽ có hướng sản xuất hàng hóa với tiêu chuẩn tốt hơn.
1.1.2.2.2. Tác động tiêu cực
Nếu doanh nghiệp không xác định được nhu cầu, chủng loại, số lượng
hàng hóa thì dễ gây thua lỗ. Lúc này hoạt động nhập khẩu nghiễm nhiên trở

thành gánh nặng đối với doanh nghiệp. Nguyên nhân có thể do thuốc quá hạn sử
dụng, bị tồn kho quá lâu mà không tiêu thụ được hoặc việc nhập những loại
nguyên liệu không phù hợp với năng lực sản xuất của các doanh nghiệp trong
nước.
Các doanh nghiệp không nhạy bén với xu thế phát triển của toàn cầu sẽ
gây thất thoát về tài chính. Ví dụ trong trường hợp điển hình đó là giá trị hàng
hóa đang tăng lên thì doanh nghiệp nhập vào và khi giá hàng hóa đang xuống thì
lại không nhập. Hoặc trong trường hợp có sự biến động tỷ giá, khi đồng ngoại tệ
tăng, đồng nội tệ giảm giá là lúc doanh nghiệp không nên nhập khẩu hàng hóa
nhưng nếu không nắm được rõ quá trình tăng giảm của tỷ giá thì doanh nghiệp
rất dễ bị thất thoát về mặt tài chính ngay ở khâu đầu tiên.
Nếu doanh nghiệp không xác định tốt được nhu cầu của thị trường thì sẽ
làm giảm sức cạnh tranh của doanh nghiệp . Cụ thể là trong trường hợp tháng
11/2007 khi mà thị trường đang rất cần thuốc để … dịch tiêu chảy nhưng đến tận
tháng 1/2008 doanh nghiệp mới nhập khẩu hàng về trong khi đó các doanh
nghiệp khác đã tung thuốc ra tiêu thụ trên thị trường. Lúc này doanh nghiệp đã
nhập khẩu chậm hơn các doanh nghiệp khác và việc nhập khẩu thuốc chậm bỗng
nhiên trở thành gánh nặng cho doanh nghiệp khi mà lượng thuốc nhập về không
còn tiêu thụ được nhiều trên thị trường.
1.1.2.3. Đối với người tiêu dùng
1.1.2.3.1. Tác động tích cực
Sinh viên thực hiện:Nguyễn Mai Anh, lớp KDQTA – K46, ĐH Kinh Tế Quốc Dân
9
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Hoạt động kinh doanh nhập khẩu giúp đảm bảo được quyền lợi của
người tiêu dùng. Người tiêu dùng có thể lựa chọn mặt hàng theo ý muốn. Họ có
thêm nhiều sự lựa chọn, có thể dùng mặt hàng tốt nhất với cùng một giá thành.
Người tiêu dùng được đáp ứng nhu cầu nhanh và cấp thiết. Điều này
càng thể hiện rõ hơn ở lĩnh vưc y tế. Lượng thuốc sản xuất trong nước hiện nay
chưa đủ để đáp ứng cho người tiêu dùng. Một con số rõ nhất đấy là hiện nay

trong các bệnh viện lượng thuốc ngoại chiếm tới 65% các chỉ định của bác sĩ,
nhiều nhất là đối với những bệnh nhân ngoại trú. Như vậy, nếu không có lượng
thuốc lớn từ hoạt động nhập khẩu sẽ không thể đáp ứng được ngay nhu cầu của
các bệnh nhân đặc biệt trong các trường hợp cấp cứu.
1.1.2.3.2. Tác động tiêu cực
Có thể người tiêu dùng phải chịu giá cả quá cao nếu đó là hình thức nhập
khẩu độc quyền tương đối. Một ví dụ để nói về hiện tượng độc quyền tương đối
trong hoạt động kinh doanh nhập khẩu đó là: nếu có dịch SAT thì doanh nghiệp
nào nhập khẩu về trước thì có thể nâng giá thành lên cao, trong trường hợp này
cung < cầu, cung không đáp ứng nổi cho cầu sẽ gây nên việc tăng giá đột ngột.
Người tiêu dùng khi đó sẽ phải bỏ ra lượng tiền lớn hơn so với giá trị thực tế họ
phải bỏ ra để nhận được các lợi ích mà họ cần.
1.2. KHÁI LUẬN CHUNG VỀ HIỆU QUẢ KINH DOANH CỦA DOANH
NGHIỆP
1.2.1. Khái niệm và bản chất của HQKD
Mục đích chung của các công ty, doanh nghiệp khi tham gia vào hoạt
động kinh doanh thì họ đều có mục đích chung là tối đa hoá lợi nhuận. Vậy, với
những nguồn lực hạn chế như: Trình độ nguồn nhân lực, khả năng vốn và công
nghệ,… làm sao có thể mang lại lợi nhuận cao nhất? Để lý giải điều này, người
ta thường sử dụng thuật ngữ “HQKD”.
Để hiểu rõ khái niệm và bản chất HQKD, chúng ta có thể xem xét sâu hơn
một số quan niệm trong số đó.
Sinh viên thực hiện:Nguyễn Mai Anh, lớp KDQTA – K46, ĐH Kinh Tế Quốc Dân
10
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
HQKD là kết quả thu được trong hoạt động kinh doanh, là doanh thu tiêu
thụ hàng hoá.
Theo đó, HQKD đã được đồng nhất với kết quả kinh doanh. Nghĩa là: chỉ
cần các hoạt động kinh doanh khác nhau mang lại kết quả như nhau đã có thể
kết luận rằng HQKD của các hoạt động đó là bằng nhau, mà không cần xem xét

đến các mức chi phí, thời gian bỏ ra để đạt được kết quả đó có thể là khác nhau.
Rõ rang, quan niệm này đã thể hiện sự không hợp lý về HQKD.
HQKD là quan hệ tỷ lệ giữa phần tăng thêm của kết quả và phần tăng
thêm của chi phí
Quan niệm này phản ánh mối quan hệ so sánh tương đối giữa kết quả đạt
được và chi phí phải bỏ ra để đạt được kết quả đó. Việc xem xét mối quan hệ đó
cho biết một đơn vị chi phí tăng them tạo ra được bao nhiêu đơn vị kết quả. Tuy
nhiên, quan niệm này còn nhiều bất cập, đó là chỉ xét tới phần kết quả và chi phí
tăng them mà không đề cập đến kết quả và chi phí ban đầu. Do vậy quan niệm
này chỉ đánh giá được hiệu quả của hoạt động bổ sung mà không đánh giá được
toàn bộ hiệu quả của hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. HQKD được so
sánh giữa kết quả thu được và chi phí bỏ ra
Quan niệm này phản ánh HQKD chính là lợi nhuận thu được từ hoạt động
kinh doanh của doanh nghiệp. Mối quan hệ bản chất của HQKD đã được đề cập
đến, có cả kết quả và chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó. Tuy nhiên, quan niệm
này chưa thể hiện được tương quan về lượngvà về chất giữa kết quả và chi phí.
Điều đó thể hiện khi các hoạt động kinh doanh cùng tạo ra một mức lợi nhuận,
nhưng thời gian để đạt mức lợi nhuận đó, quy mô của các hoạt động kinh doanh
là khác nhau, như vậy chưa thể nói được rằng HQKD giữa các hoạt động đố là
giống nhau được.
HQKD là mối quan hệ giữa sự vận động của kết quả với sự vận động của
chi phí đồng thời phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực sản xuất
Sinh viên thực hiện:Nguyễn Mai Anh, lớp KDQTA – K46, ĐH Kinh Tế Quốc Dân
11
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Quan niệm này đã phản ảnh được trình độ sử dụng các nguồn lực sản xuất
của doanh nghiệp thông qua mối tương quan về lượng và về chất giữa kết quả và
chi phí, sự vận động của kết quả và sự vận động của chi phí.
Như vậy, quan niệm thứ tư là quan niệm đúng đắn và đầy đủ hơn cả. Tóm
lại, ta có thể đưa ra khái niệm HQKD như sau: HQKD là phạm trù phản ánh mối

quan hệ giữa sự vận động của kết quả của hoạt động kinh doanh với sự vận động
của chi phí tạo ra kết quả đó, phản ảnh trình độ sử dụng các nguồn lực sản xuất,
trình độ tổ chức bộ máy quản lý của doanh nghiệp để thực hiện ở mức cao nhất
các mục tiêu kinh tế - xã hội với chi phí thấp nhất.
Mặt định tính: Mức độ hiệu quả kinh doanh là những nỗ lực của doanh
nghiệp và phản ánh trình độ quản lý của doanh nghiệp đồng thời gắn những nỗ
lực đó với việc đáp ứng các mực tiêu và yêu cầu của doanh nghiệp và của xã hội
về kinh tế, chính trị và xã hội.
Mặt định lượng: hiệu quả kinh doanh biểu hiện tương quan so sánh giữa
kết quả thu được với chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó. Hiệu quả kinh doanh
chỉ có được khi kết quả thu được lớn hơn chi phí bỏ ra.
1.2.2. Phân loại hiệu quả kinh doanh
1.2.2.1. Căn cứ vào phương pháp tính hiệu quả
Hiệu quả kinh doanh tuyệt đối: phạm trù chỉ lượng hiệu quả của từng
phương án, từng thời kỳ kinh doanh, từng doanh nghiệp bằng cách lấy chênh
lệch giữa kết quả kinh doanh và chi phí tạo ra kết quả đó.
Tổng lợi nhuận = Tổng kết quả - Tổng chi phí
Hiệu quả kinh doanh tương đối: phạm trù phản ánh trình độ sử dụng các
nguồn lực sản xuất của doanh nghiệp
H
1

= KQ/CP hoặc H
2
= CP/KQ
1.2.2.2. Căn cứ vào phạm vi tính toán hiệu quả
Sinh viên thực hiện:Nguyễn Mai Anh, lớp KDQTA – K46, ĐH Kinh Tế Quốc Dân
12
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Hiệu quả kinh doanh tổng hợp: Hiệu quả kinh doanh được tính chung cho

toàn doanh nghiệp, chó các bộ phận trong doanh nghiệp.
Hiệu quả kinh doanh bộ phận: là hiệu quả kinh doanh tính riêng cho từng
bộ phận của doanh nghiệp hoặc từng yếu tố sản xuất.
1.2.2.3. Căn cứ vào thời gian mang lại hiệu quả
Hiệu quả trước mắt: là hiệu quả kinh doanh được xét trong khoảng thời
gian ngắn, mang lại ngay khi thực hiện hoạt động kinh doanh
Hiệu quả lâu dài: là hiệu quả được xét trong khoảng thời gian dài, mang
lại sau khi thực hiện hoạt động kinh doanh trong một thời gian nhất định
1.2.2.4. Căn cứ vào đối tượng xem xét hiệu quả
Hiệu quả kinh doanh trực tiếp: hiệu quả do chính việc thực hiện hoạt động
kinh doanh đó mang lại.
Hiệu quả kinh doanh gián tiếp: hiệu quả do một hoạt động kinh doanh
khác mang lại.
1.2.2.5. Căn cứ vào khía cạnh khác của hiệu quả
Hiệu quả tài chính: hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp về mặt kinh tế
tài chính được biểu hiện qua các chỉ tiêu thu chi trực tiếp của doanh nghiệp.
Hiệu quả chính trị - xã hội: hiệu quả kinh doanh về khía cạnh chính trị -
xã hội.
1.2.2.6. Căn cứ vào phạm vi của hoạt động thương mại
Hiệu quả kinh doanh nội thương: hiệu quả do hoạt động kinh doanh nội
địa mang lại.
Hiệu quả kinh doanh ngoại thương: hiệu quả do hoạt động kinh doanh
quốc tế mang lại
1.2.3. Các chỉ tiêu hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp
1.2.3.1. Chỉ tiêu lợi nhuận và tỷ suất lợi nhuận
Sinh viên thực hiện:Nguyễn Mai Anh, lớp KDQTA – K46, ĐH Kinh Tế Quốc Dân
13
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Chỉ tiêu lợi nhuận:
Trong cơ chế thị trường, lợi nhuận (P) vừa được coi là nhân tố để tính toán hiệu

quả kinh tế, vừa được coi là một chỉ tiêu kinh tế tổng hợp của doanh nghiệp. Chỉ
tiêu này được tính theo công thức:
P = D – ( Z + th + TT)
Trong đó:
P: Lợi nhuận của doanh nghiệp trong kỳ kinh doanh.
D: Doanh thu tiêu thụ trong 1 kỳ kinh doanh.
Z: Giá thành sản phẩm trong 1 kỳ kinh doanh.
Th: Các loại thuế phải nộp sau mỗi kỳ
TT: Các tổn thất sau mỗi kỳ kinh doanh.
Chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận: Chỉ tiêu này được tính theo hai cách:
P
dt
= Tổng P/Tổng D
hoặc P
cp
= Tổng P/Tổng CP
1.2.3.2. Chỉ tiêu mức vốn hao phí cho 1 đơn vị sản phẩm
Chỉ tiêu này được tính theo công thức
S = V/Q ( Tổng vốn/sản lượng)
Trong đó:
S
v
: Suất hao phí vốn.
V: Tổng vốn.
Q: Sản lượng (sản phẩm)
Chỉ tiêu này cho ta biết được hiệu quả sử dụng các loại vốn bằng tiền của
doanh nghiệp. Lượng vốn sử dụng trong quá trình kinh doanh của doanh nghiệp
gồm: Vốn đầu tư cơ bản, vốn cố định, vốn lưu động…
1.2.3.3. Thời hạn thu hồi vốn đầu tư
Sinh viên thực hiện:Nguyễn Mai Anh, lớp KDQTA – K46, ĐH Kinh Tế Quốc Dân

14
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Chỉ tiêu này được tính toán căn cứ vào mức lợi nhuận thu được sau mỗi
kỳ kinh doanh và do đó, nó cho biết rõ hiệu quả của việc sử dụng vốn đầu tư sau
khi đã được vật hoá. Thời hạn thu hồi vốn đầu tư phản ảnh khoảng thời gian mà
vốn đầu tư dần dần được thu hồi lại sau mỗi kỳ kinh doanh và được xác định
theo công thức sau:
T
v
= V
đt
/P ( tổng vốn đầu tư trong thời kỳ kinh doanh/lợi nhuận sau mỗi
kỳ kinh doanh)
Trong đó:
T
v
: Thời hạn thu hồi vốn đầu tư.
P: Lợi nhuận thu được sau mỗi kỳ kinh doanh.
V
đt
: Tổng số vốn đầu tư chu kỳ kinh doanh đó.
Chỉ tiêu này cho thấy thời hạn thu hồi vốn đầu tư mà càng ngắn thì hiệu
quả sử dụng vốn đầu tư sẽ càng cao và ngược lại.
1.2.3.4. Chỉ tiêu hiệu quả sử dụng vốn đầu tư
Để đánh giá hiệu quả sử dụng vốn đầu tư của doanh nghiệp, người ta còn
dùng chỉ tiêu hệ số hiệu quả sử dụng vốn đầu tư (E).
E = P/V
đt
Chỉ tiêu này nói lên khả năng sinh lời của một đồng vốn đầu tư
1.2.3.5. Chỉ tiêu năng suất lao động

Chỉ tiêu này được tính bằng công thức:
W=Q/L ( khối lượng sản phẩm hàng hóa/số lượng lao động bình quân)
Trong đó:
W: Năng suất lao động bình quân của kỳ kinh doanh.
Q: Khối lượng sản phẩm hàng hoá được tạo ra trong kỳ kinh doanh.
Sinh viên thực hiện:Nguyễn Mai Anh, lớp KDQTA – K46, ĐH Kinh Tế Quốc Dân
15
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
L: Số lượng lao động bình quân của kỳ kinh doanh hoặc lượng thời gian
lao động bình quân của kỳ kinh doanh.
Chỉ tiêu cho ta biết khối lượng sản phẩm hàng hoá được tạo ra trên đầu
người. Chỉ tiêu này càng cao thị hiệu quả kinh doanh cũng càng lớn.
1.2.4. Ý nghĩa của việc nâng cao hiệu quả kinh doanh nhập khẩu của doanh
nghiệp
1.2.4.1. Đối với người lao động
Việc nâng cao hiệu quả kinh doanh nhập khẩu của doanh nghiệp có ý
nghĩa quan trọng đối với người lao động. Thông qua việc kinh doanh nhập khẩu
có hiệu quả sẽ nâng cao được mức lương của người lao động trong doanh nghiệp
từ đó giúp họ thỏa mãn được các nhu cầu về vật chất cũng như tinh thần. Bên
cạnh đó, nâng cao hiệu quả kinh doanh luôn đòi hỏi người lao động phải học tập
và nâng cao kiến thức về xuất nhập khẩu, sự biến động tỷ giá , … từ đó làm tăng
kiến thức về nghiệp vụ xuất nhập khẩu cho người lao động.
1.2.4.2. Đối với doanh nghiệp
Vấn đề nâng cao hiệu quả kinh doanh nhập khẩu góp phần tạo ra lợi
nhuận cho doanh nghiệp từ đó có thể tái đầu tư sản xuất, mở rộng quy mô hoạt
động của doanh nghiệp, nâng cao trình độ sản xuất, trình độ quản lý cho người
lao động. Thêm nữa, nâng cao hiệu quả kinh doanh đồng nghĩa với nâng cao
thương hiệu của doanh nghiệp đối với khách hàng trong nước cũng như bạn
hàng quốc tế. Như vậy có thể nói việc nâng cao hiệu quả kinh doanh nhập khẩu
có ý nghĩa rất quan trọng đối với mỗi doanh nghiệp.

1.2.4.3. Đối với xã hội
Nâng cao hiệu quả kinh doanh nhập khẩu của doanh nghiệp có ý nghĩa
quan trọng đối với xã hội. Một mặt hoạt động này đóng góp thêm vào ngân sách
Nhà nước, giúp nền kinh tế phát triển theo hướng tích cực. Mặt khác, nó tạo
thêm việc làm mới cho người lao động, việc làm ở đây không chỉ bó hẹp trong
Sinh viên thực hiện:Nguyễn Mai Anh, lớp KDQTA – K46, ĐH Kinh Tế Quốc Dân
16
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
hoạt động kinh doanh nhập khẩu mà còn các công việc khác liên quan đến hoạt
động kinh doanh nhập khẩu như vận tải, luật, thuế quan, ngân hàng,…
1.3. HIỆU QUẢ KINH DOANH NHẬP KHẨU CỦA DOANH NGHIỆP
1.3.1. Khái niệm hiệu quả kinh doanh nhập khẩu của doanh nghiệp
Hiệu quả kinh doanh nhập khẩu của doanh nghiệp là một phạm trù phản
ánh chất lượng của hoạt động kinh doanh nhập khẩu trong phạm vi doanh
nghiệp. Hiệu quả kinh doanh nhập khẩu là phạm trù phản ánh mối quan hệ giữa
sự vận động của kết quả của hoạt động kinh doanh nhập khẩu với chi phí tạo ra
kết quả đó.
Kết quả của hoạt động kinh doanh nhập khẩu là toàn bộ những thành quả
mà doanh nghiệp thu được sau một quá trình kinh doanh như: sản lượng, giá trị
hàng hóa, doanh thu tiêu thụ hàng nhập khẩu, …
Còn chi phí của hoạt động kinh doanh nhập khẩu là biểu hiện bằng tiền
của tất cả các khoản chi cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp như: chi
phí tiền lương, thuê mặt bằng kinh doanh, chi phí bán hàng, chi phí giao dịch.
Do đó, hoạt động kinh doanh nhập khẩu của doanh nghiệp đạt được hiệu
quả cao nhất khi kết quả đạt được là tối đa với chi phí bỏ ra là tối thiểu.
1.3.2. Các chỉ tiêu đo lường hiệu quả kinh doanh nhập khẩu của doanh
nghiệp
1.3.2.1. Các chỉ tiêu hiệu quả kinh doanh nhập khẩu tổng hợp
1.3.2.1.1. Chỉ tiêu hiệu quả kinh doanh nhập khẩu tổng hợp tuyệt đối
Trong thực tế, để xem xét đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh, trước

tiên người ta thường chú ý đến lợi nhuận. Lợi nhuận là chỉ tiêu hiệu quả kinh tế
có tính tổng hợp phản ảnh kết quả kinh doanh của doanh nghiệp. Lợi nhuận giúp
cho doanh nghiệp có thể tồn tại trên thị trường và tái sản xuất mở rộng hoạt
động kinh doanh. Tối đa hoá lợi nhuận luôn là mục tiêu cuối cùng của mỗi
Sinh viên thực hiện:Nguyễn Mai Anh, lớp KDQTA – K46, ĐH Kinh Tế Quốc Dân
17
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
doanh nghiệp. Chỉ tiêu lợi nhuận của hoạt động kinh doanh nhập khẩu được
tính toán như sau:
LN
nk
= DT
nk
– CP
nk
Trong đó:
LN
nk
: Lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh nhập khẩu.
DT
nk
: Doanh thu từ hoạt động kinh doanh nhập khẩu.
CP
nk
: Chi phí hoạt động kinh doanh nhập khẩu.
Tuy nhiên, lợi nhuận mới chỉ phản ánh đựơc lượng hiệu quả thu đựơc từ
hoạt động kinh doanh mà chưa phản ánh được trình độ sử dụng các chi phí,
nguồn lực sản xuất để tạo ra hiệu quả đó.
1.3.2.1.2. Chỉ tiêu hiệu quả kinh doanh nhập khẩu tương đối
Các chỉ tiêu kinh doanh nhập khẩu tương đối bao gồm các chỉ tiêu về

doanh lợi của vốn kinh doanh nhập khẩu, doanh lợi theo chi phí kinh doanh
nhập khẩu, doanh lợi của doanh thu bán hàng nhập khẩu.
Doanh lợi của vốn kinh doanh nhập khẩu
D
VKD
(%) = (Lợi nhuận từ hoạt động nhập khẩu / Vốn kinh doanh nhập khẩu)
x 100%
Chỉ tiêu này cho biết cứ một đơn vị chi phí được bỏ vào hoạt động kinh
doanh nhập khẩu thì sẽ thu được bao nhiêu đơn vị lợi nhuận từ hoạt động đó.
Dựa vào chỉ tiêu này doanh nghiệp có thể đánh giá được sức sinh lợi của mỗi
đơn vị vốn kinh doanh. Chỉ tiêu này được sử dụng kết hợp với các chỉ tiêu khác
để doanh nghiệp có thể đưa ra quyết định có nên bỏ thêm vốn vào hoạt động
kinh doanh nhập khẩu nữa hay không.
Doanh lợi theo chi phí kinh doanh nhập khẩu
D
CP
(%) = (Lợi nhuận từ hoạt động nhập khẩu / Tổng chi phí nhập khẩu)
x 100%
Sinh viên thực hiện:Nguyễn Mai Anh, lớp KDQTA – K46, ĐH Kinh Tế Quốc Dân
18
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Chỉ tiêu này cho biết cứ một đơn vị chi phí được bỏ vào hoạt động kinh
doanh nhập khẩu thì sẽ thu được bao nhiêu đơn vị lợi nhuận từ hoạt động đó.
Dựa vào chỉ tiêu này có thể biết được trình độ sử dụng chi phí của doanh nghiệp
ở mức nào. Việc tính toán chỉ tiêu này kết hợp so sánh với chỉ tiêu của các kỳ
kinh doanh trước sẽ cho biết doanh nghiệp nên tăng thêm hay giảm bớt chi phí
cho hoạt động kinh doanh nhập khẩu.
Doanh lợi của doanh thu bán hàng nhập khẩu
D
DT

( %) = (Lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh nhập khẩu / Tổng doanh thu
từ hoạt động kinh doanh nhập khẩu) x 100%
Chỉ tiêu này phản ánh trong một đơn vị doanh thu từ hoạt động kinh
doanh nhập khẩu có bao nhiêu đơn vị lợi nhuận. Việc nghiên cứu chỉ tiêu này
cho biết khi doanh thu tăng lên hoặc giảm đi thì lợi nhuận sẽ thay đổi theo chiều
hướng nào để có biện pháp thích hợp nhằm nâng cao mức doanh lợi cho doanh
thu, từ đó nâng cao hiệu quả kinh doanh cho doanh nghiệp.
1.3.2.2. Chỉ tiêu hiệu quả kinh doanh nhập khẩu bộ phận
1.3.2.2.1. Hiệu quả sử dụng vốn
Hiệu quả sử dụng vốn cố định nhập khẩu
H
VCĐ
= Lợi nhuận thu được từ hoạt động kinh doanh nhập khẩu / Vốn cố định
đầu tư vào hoạt động kinh doanh nhập khẩu
Chỉ tiêu này phản ánh cứ một đơn vị vốn cố định bỏ vào hoạt động
kinh doanh nhập khẩu thì sẽ thu được bao nhiêu đơn vị lợi nhuận. Chỉ tiêu
này cho biết việc sử dụng vốn cố định trong hoạt động kinh doanh nhập khẩu
của doanh nghiệp đã hợp lý và mang lại hiệu quả hay chưa.
Hiệu quả sử dụng vốn lưu động nhập khẩu.
- Sức sinh lợi của vốn lưu động nhập khẩu
E
VLĐ
= Lợi nhuận từ hoạt động nhập khẩu / Vốn lưu động bình quân
Sinh viên thực hiện:Nguyễn Mai Anh, lớp KDQTA – K46, ĐH Kinh Tế Quốc Dân
19
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Chỉ tiêu này cho biết cứ một đơn vị vốn lưu động được đầu tư vào hoạt động
kinh doanh nhập khẩu thì sẽ thu được bao nhiêu đơn vị lợi nhuận.
- Số vòng quay của vốn lưu động nhập khẩu
L

VLĐ
= Tổng doanh thu thuần từ hoạt động nhập khẩu / Vốn lưu động bình quân
Chỉ tiêu này cho biết cứ một đơn vị vốn lưu động đầu tư vào hoạt động
kinh doanh nhập khẩu thì sẽ thu được bao nhiêu đơn vị doanh thu hoặc thể hiện
số vòn luẩn chuyển vốn lưu động trong một kỳ kinh doanh nhất định. Nếu số
vòng quay càng nhiều thì hiệu quả sử dụng vốn lưu động càng tăng lên.
Hiệu quả sử dụng toàn bộ vốn đầu tư vào hoạt động kinh doanh nhập khẩu
Để phản ánh hiệu quả sử dụng toàn bộ vốn đầu tư vào hoạt động kinh doanh
nhập khẩu, người ta thường dùng chỉ tiêu số vòng quay của toàn bộ vốn kinh
doanh nhập khẩu.
L
VKD
= Doanh thu từ hoạt động kinh doanh nhập khẩu / Vốn đầu tư vào hoạt
động kinh doanh nhập khẩu
Chỉ tiêu này phản ánh cứ một đơn vị vốn đầu tư vào hoạt động kinh doanh
nhập khẩu thì sẽ thu được bao nhiêu đơn vị doanh thu, thể hiện số vòng luân
chuyển của vốn nhập khẩu.
1.3.2.2.2. Hiệu quả sử dụng lao động nhập khẩu
Năng suất lao động bình quân
W= Doanh thu thuần từ hoạt động nhập khẩu / Số lượng lao động bình quân
của kỳ kinh doanh
Chỉ tiêu này cho biết bất cứ bình quân một người lao động tham gia vào hoạt
động kinh doanh nhập khẩu sẽ tạo ra bao nhiêu đơn vị doanh thu cho doanh
nghiệp. Chỉ tiêu này càng lớn thì hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp càng
cao.
Mức sinh lợi của lao động bình quân
Sinh viên thực hiện:Nguyễn Mai Anh, lớp KDQTA – K46, ĐH Kinh Tế Quốc Dân
20
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
E


= Lợi nhuận thu được từ hoạt động kinh doanh nhập khẩu / Số lượng lao
động bình quân tham gia vào hoạt động kinh doanh nhập khẩu
Chỉ tiêu này cho biết bình quân một người lao động tham gia vào hoạt động
kinh doanh nhập khẩu sẽ tạo ra được bao nhiêu đơn vị lợi nhuận cho doanh
nghiệp.
1.3.3. Các nhân tố tác động đến hiệu quả kinh doanh nhập khẩu
Ta xem xét các nhân tố tác động đến hiệu quả kinh doanh nhập khẩu dựa
vào hai đối tượng đó là nhân tố bên ngoài doanh nghiệp và nhân tố bên trong
doanh nghiệp.
1.3.3.1. Nhân tố bên ngoài doanh nghiệp
Các nhân tố bên ngoài doanh nghiệp được xét đến đó là môi trường quốc
gia và môi trường quốc tế.
1.3.3.1.1. Môi trường quốc gia
Trong môi trường quốc gia sẽ phân tích các yếu tố pháp luật, kinh tế, văn hóa
có tác động thuận lợi và bất lợi nào đối với hiệu quả kinh doanh nhập khẩu
Yếu tố pháp luật phải nói đến đầu tiên đó là sự ổn định. Luật pháp ổn định là
cơ sở để thực hiện tốt các hợp đồng kinh tế ví dụ nếu các chính sách thuế ổn
định thì sẽ giúp cho các doanh nghiệp có thể dự toán được chính xác các chi phí
phải bỏ ra. Ngược lại, nếu các chính sách thuế không ổn định ví dụ như nhà
nước tăng mức thuế đối với các hàng nhập khẩu từ 0% lên 10% sẽ dễ gây ra
hiện tượng các doanh nghiệp tìm cách trốn thuế, một cách ngẫu nhiên nhà nước
đã bị mất đi một nguồn thu ngân sách đồng thời gây ra các hiện tượng tiêu cực
đối với những người thi hành luật pháp. Bên cạnh đó, việc thay đổi các quy định
mặt hàng nào được phép nhập khẩu, mặt hàng nào không được phép nhập khẩu
hoặc thay đổi các cửa khẩu sẽ làm gián đoạn việc kinh doanh nhập khẩu của các
doanh nghiệp và làm giảm hiệu quả kinh doanh nhập khẩu.
Sinh viên thực hiện:Nguyễn Mai Anh, lớp KDQTA – K46, ĐH Kinh Tế Quốc Dân
21
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp

Yếu tố kinh tế có tác động rất lớn đối với hoạt động kinh doanh nhập
khẩu. Nếu các chính sách kinh tế ổn định, nền kinh tế lành mạnh, giá cả trong
nước ổn định, mức tăng trưởng ổn định, mức lãi suất cho vay ở các ngân hàng
không bị giao động nhiều hoặc có thể dự đoán trước tỷ giá, … thì việc kinh
doanh nhập khẩu sẽ thuận lợi hơn do chiến lược hoạch định giá và các hoạt động
dễ dàng hơn. Ngược lại, nếu yếu tố kinh tế của một quốc gia luôn luôn trong
tình trạng bất ổn thì các nhà nhập khẩu có thể bị thua lỗ do không tính toán
trước được các chi phí phải bỏ ra. Lúc này, doanh nghiệp có thể bị lâm vào tình
trạng khủng hoảng thừa hoặc thiếu. Nếu là khủng hoảng thừa hàng hóa sẽ không
tiêu thụ được hết và gây thua lỗ, nếu khủng hoảng thiếu thì gây ra tình trạng
khan hiếm hàng, cầu có mà cung không đáp ứng đủ cũng sẽ làm giảm đi hiệu
quả kinh doanh nhập khẩu đánh ra phải có.
Ngoài yếu tổ luật pháp, yếu tổ kinh tế, yếu tổ văn hóa cũng đóng vai trò
rất quan trọng đối với hoạt động kinh doanh nhập khẩu. Yếu tổ văn hóa ở đây
chính là thói quen tiêu dùng, sự hiểu biết của người dân và sở thích tiêu dùng.
Nếu người tiêu dùng có hiểu biết, họ sẽ dễ dàng chấp nhận hàng hóa tốt hơn do
biết được lợi ích mà chúng mang lại, bên cạnh đó, việc dễ dàng sử dụng các sản
phẩm mới cũng tác động giúp cho việc tiêu thụ các mặt hàng nhập khẩu dễ dàng
hơn, điều này tác động không nhỏ tới hiệu quả kinh doanh nhập khẩu. Ngược
lại, nếu người dân không có sự hiểu biết họ sẽ khó chấp nhận việc thay đổi các
thói quen tiêu dùng cũ của họ và từ đó làm cho việc kinh doanh các mặt hàng
nhập khẩu trở nên khó khăn hơn do không được sự chấp nhận của người tiêu
dùng.
1.3.3.1.2. Môi trường quốc tế
Trong môi trường quốc tế, ta sẽ xem xét các nhân tố sự biến động của các
ngoại tệ mạnh, tình hình chính trị trên thế giới, sự biến động về giá cả trên thế
giới sẽ tác động như thế nào đến hiệu quả kinh doanh nhập khẩu.
Trước hết, nói đến sự biến động của các ngoại tệ mạnh. Các doanh nghiệp
đặc biệt là doanh nghiệp nhập khẩu có nhu cầu ngoại tệ rất lớn để phục vụ cho
Sinh viên thực hiện:Nguyễn Mai Anh, lớp KDQTA – K46, ĐH Kinh Tế Quốc Dân

22
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
hoạt động kinh doanh nhập khẩu của mình vì vậy sự biến động của các ngoại tệ
mạnh ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp. Các ngoại
tệ mạnh chủ yếu hiện nay là USD, EUR, NDT, JPY. Cuối năm 2006, ở các trung
tâm tài chính Mỹ, người ta đứng ngồi không yên bở những chỉ số cho thấy USD
ngày càng trượt xa khỏi vị trí độc tôn của mình. Theo đánh giá của thời báo tài
chính nổi tiếng thế giới, tờ Financial Times, thì tính tới đầu năm 2007 tổng giá
trị EUR lưu thông đã vượt qua giá trị của USD. Các doanh nghiệp nhập khẩu sẽ
phải tính toán xem tỷ giá giữa các đồng ngoại tệ so với đồng nội tệ để quyết
định sẽ sử dụng đồng ngoại tệ nào trong việc thanh toán cho các doanh nghiệp
sản xuất nước ngoài. Trong trường hợp tỷ giá cao tức đồng ngoại tệ nhiều hơn
nội tệ, nếu doanh nghiệp nhập khẩu sẽ làm giảm hiệu quả kinh doanh. Còn nếu
tỷ giá thấp, doanh nghiệp sẽ có lợi nếu nhập khẩu hàng hóa vì khi đó một đồng
nội tệ đổi được nhiều ngoại tệ hơn.
Tiếp theo, ta nói đến sự ảnh hưởng của yếu tố tình hình chính trị trên thế
giới tới hiệu quả kinh doanh nhập khẩu của doanh nghiệp. Theo hai khía cạnh
tích cực và tiêu cực thì nếu tình hình chính trị thế giới ổn định sẽ tạo điều kiện
thuận lợi cho hoạt động kinh doanh nhập khẩu như hàng sẽ về đúng lịch trình,
không bị chậm do những nguyên nhân khách quan như lánh nạn hoặc không bị
thu để đóng góp cho chiến tranh… những điều này giúp cho hiệu quả kinh
doanh nhập khẩu không bị giảm thiểu do tác động bên ngoài. Ngược lại, nếu
tình hình chính trị bất ổn sẽ góp phần làm giảm hiệu quả kinh doanh nhập khẩu.
Hàng về không đúng lịch trình sẽ gây nên tình trạng khan hiếm hàng hóa kéo
theo giá nhập khẩu sẽ tăng cao gây khó khăn cho các doanh nghiệp, giảm thiểu
hiệu quả kinh doanh nhập khẩu của các doanh nghiệp.
Yếu tố có tác động cuối cùng cần nói đến trong các yếu tố thuộc môi trường
quốc tế đó sự biến động của giá cả các mặt hàng trên thế giới. Nếu giá cả trên
thế giới tăng sẽ làm cho những yếu tố cấu tạo nên mặt hàng nhập khẩu cũng tăng
theo, vô hình chung sẽ làm cho giá của mặt hàng nhập khẩu tăng làm cho việc

nhập khẩu trở nên khó khăn hơn do lượng vốn mà các doanh nghiệp trong nước
Sinh viên thực hiện:Nguyễn Mai Anh, lớp KDQTA – K46, ĐH Kinh Tế Quốc Dân
23
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
dành cho hoạt động nhập khẩu có hạn. Từ đó mà hiệu quả kinh doanh nhập khẩu
cũng giảm theo. Ngược lại, nếu giá cả thế giới giảm thì các yếu tố cấu thành nên
mặt hàng nhập khẩu cũng sẽ có giá thấp hơn dẫn đến giá thành các mặt hàng
nhập khẩu giảm hơn khiến cho việc nhập khẩu được nhiều hơn từ đó tăng hiệu
quả kinh doanh nhập khẩu lên xét về khía cạnh số lượng hàng nhập.
1.3.3.2. Nhân tố bên trong doanh nghiệp
Các nhân tố bên trong bao gồm nguồn nhân lực, nguồn vốn, cơ sở vật chất kỹ
thuật sẽ tác động như thế nào đến hiệu quả kinh doanh nhập khẩu của doanh
nghiệp? Ta tiếp tục xem xét những tác động tích cực và tiêu cực của các yếu tố
này.
1.3.3.2.1. Nguồn nhân lực
Nói đến nguồn nhân lực, điều trước tiên nghĩ đến đó là trình độ chuyên môn
nghiệp vụ của người lao động. Nếu người lao động có kiến thức tốt về hoạt động
nhập khẩu thì sẽ làm hoạt động nhanh hơn, hiệu quả hơn. Nhưng nếu không có
kiến thức nghiệp vụ tốt sẽ làm cho các bước tiến hành chậm hơn, có nhiều sai
sót xảy ra dẫn đến việc làm giảm thiểu hiệu quả kinh doanh nhập khẩu.
Mức độ nhạy bén trong việc xử lý các thông tin cũng có tác động lớn đến
hiệu quả kinh doanh nhập khẩu của doanh nghiệp. Nhạy bén trong kinh doanh
được coi là điều kiện tiên quyết cho thành công của bất kỳ doanh nghiệp nào.
Điều này bao gồm khả năng hiểu và nắm bắt tình hình ngành, hoạt động kinh
doanh và trai trò trách nhiệm của từng bộ phận. Để đạt được điều này, nhà quản
lý cần có kiến thức và chuyên môn phân tích, hiểu biết sâu sắc mang tính chiến
lược về xu thế ngành và khả năng biến động của những xu thế đó, có khả năng
nhận thức xử lý thông tin. Một cán bộ có mức độ nhạy bén trong công việc cao
sẽ khiến cho tốc độ làm việc nhanh, hiệu quả kinh doanh sớm được thể hiện.
Ngược lại, một cán bộ không nhạy bén trong kinh doanh sẽ thể hiện rằng kết quả

kinh doanh và hiệu quả kinh doanh tạo ra chậm hoặc thậm chí là không có.
Sinh viên thực hiện:Nguyễn Mai Anh, lớp KDQTA – K46, ĐH Kinh Tế Quốc Dân
24
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Nói đến nguồn nhân lực ta không thể không nói đến sự nhạy cảm về văn hóa
của mỗi cá nhân. Đó chính là khả năng hiểu bản thân mình trong mối quan hệ
với những người xung quanh. Nếu một người có sự nhạy cảm về văn hóa tốt họ
sẽ thích nghi được với những người xung quanh nhiều hơn, tạo nên mối quan hệ
tốt hơn và cảm thấy thoải mái hơn trong môi trường làm việc trong đó họ là một
thành viên. Cũng từ đó, họ có thêm động lực làm việc và hiệu quả kinh doanh
cũng vì thế mà tốt hơn. Ngược lại, nếu một người không có sự nhạy cảm về văn
hóa, họ khó thích nghi với môi trường xung quanh thì bản thân họ luôn cảm thấy
chán nản, không có hứng thú trong công việc sẽ dẫn đến hoạt động kinh doanh
nhập khẩu không thể hoàn thành như mong muốn và tất nhiên hiệu quả kinh
doanh nhập khẩu cũng vì thế mà giảm sút.
1.3.3.2.2. Nguồn vốn
Nguồn vốn là một yếu tố quan trọng trong hoạt động kinh doanh nhập khẩu
nhất là khi tham gia vào thị trường quốc tế, nguồn vốn mà mỗi doanh nghiệp cần
để có thể nhập khẩu được các mặt hàng là rất lớn. Nguồn vốn đó được giành để
mua hàng, thanh toán các khoản phí, đóng thuế nhập khẩu, ... Nếu một doanh
nghiệp có nguồn vốn ban đầu lớn sẽ rất thuận tiện trong hoạt động kinh doanh
nhập khẩu, doanh nghiệp có thể sử dụng lợi thế quy mô về vốn để nâng cao hiệu
quả kinh doanh nhập khẩu và nếu có rủi ro nhỏ xảy ra nó cũng không ảnh hưởng
nhiều đến hiệu quả kinh doanh nhập khẩu chung. Nhưng ngược lại, một doanh
nghiệp nếu chỉ có nguồn vốn giới hạn sẽ rất khó để tăng được quy mô nhập khẩu
và khó chống đỡ lại được với các rủi ro trong quá trình nhập khẩu vì thế mà hiệu
quả kinh doanh sẽ không nhiều.
1.3.3.2.3. Cơ sở vật chất kỹ thuật
Cơ sở vật chất kỹ thuật là yếu tố quan trọng tác động đến hiệu quả kinh
doanh nhập khẩu. Nếu một doanh nghiệp không có cơ sở vật chất kỹ thuật tốt

cũng như cho riêng mình thì họ phải mất một khoản chi phí đáng kể để đi thuê
các điểm đủ tiêu chuẩn làm nơi chứa hàng, gom hàng, … điều này trực tiếp làm
giảm hiệu quả kinh doanh nhập khẩu của mỗi doanh nghiệp. Ngược lại, nếu
Sinh viên thực hiện:Nguyễn Mai Anh, lớp KDQTA – K46, ĐH Kinh Tế Quốc Dân
25

×