Tải bản đầy đủ (.pdf) (30 trang)

Tiểu luận: TÁI CẤU TRÚC ĐẦU TƯ CÔNG VÀ NỢ CÔNG Ở VN pot

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (356.52 KB, 30 trang )

1






Tiểu luận
TÁI CẤU TRÚC ĐẦU TƯ CÔNG
VÀ NỢ CÔNG Ở VN










2






I. TÁI CẤU TRÚC ĐẦU TƯ CÔNG VÀ NỢ CÔNG Ở VN
1. Nguồn vốn, đối tượng và vai trò của đầu tư công
1.1. Nguồn vốn cho đầu tư công:
Nguồn vốn cho đầu tư công bắt nguồn từ các khoản thu của ngân sách nhà nước:


Ngân sách nhà nước là hệ thống quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình phân
phối các nguồng tài chính của xã hội để tạo lập và sử dụng quỹ tiền tệ của nhà nước
nhằm thực hiện các chức năng của Nhà nước
Tín dụng nhà nước: là khoản nợ phát sinh từ các khoản vay trong nước, nước
ngoài, được ký kết, phát hành nhân danh Nhà nước, nhân danh Chính phủ hoặc các
khoản vay khác do Bộ Tài chính ký kết, phát hành, uỷ quyền phát hành theo quy
định của pháp luật.
ODA là nguồn vốn hổ trợ chính thức từ bên ngoài bao gồm các khoảng viện trợ
và cho vay với điều kiện ưu đãi. ODA được hiểu là nguồn vốn dành cho các nước
đang và kém phát triển được các cơ quan chính thức và cơ quan thừa hành của chính
phủ hoặc các tổ chức liên chính phủ, các tổ chức phi chính phủ tài trợ.
Thu thuế: Thuế là khoản thu chiếm tỷ trọng lớn nhất tại hầu hết các quốc gia
trên thế giới , không phân biệt chế độ chính trị. Khoản thu này được xây dựng trên
cơ sở trao đổi nghĩa vụ giữa công dân với nhà nước.
Phí và lệ phí là một nguồn thu thường được đề cập đầu tiên trong các nguồn thu
vốn có của NSNN vì nó trực tiếp gắn với chức năng cung cấp hàng hóa công.
3

1.2. Đối tượng của đầu tư công:
Chương trình mục tiêu, dự án phát triển kết cấu hạ tầng kỹ thuật, kinh tế, xã hội,
môi trường, quốc phòng, an ninh;
Chương trình mục tiêu, dự án phục vụ hoạt động của các cơ quan nhà nước, đơn
vị sự nghiệp, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, kể cả việc mua sắm, sửa
chữa tài sản cố định bằng vốn sự nghiệp.
Các dự án đầu tư của cộng đồng dân cư, tổ chức chính trị - xã hội - nghề nghiệp
được hỗ trợ từ vốn nhà nước theo quy định của pháp luật.
Chương trình mục tiêu, dự án đầu tư công khác theo quyết định của Chính phủ.
1.3. Vai trò của đầu tư công:
Vai trò đầu tư công ở Việt Nam gắn liền với quan niệm về vai trò chủ đạo của
kinh tế nhà nước nói chung và vai trò bà đỡ của bàn tay nhà nước nói riêng trong

quá trình CNH-HĐH theo yêu cầu phát triển bền vững và bảo đảm an sinh xã hội.
Thúc đẩy quá trình CNH-HĐH, phát triển kinh tế và đảm bảo an sinh xã hội:
Đầu tư công vốn rất quan trọng do đóng góp lớn vào tăng trưởng, chuyển dịch cơ
cấu kinh tế, tạo công ăn việc làm; Trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế toàn cầu thì
đầu tư công càng nổi bật vai trò duy trì động lực tăng trưởng kinh tế và góp phần
bảo đảm việc làm và an sinh xã hội thông qua các gói kích cầu của Chính phủ.
Định hình và phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội quốc gia
Gia tăng tổng cầu của xã hội: Đầu tư công chiếm tỷ trọng lớn trong tổng đầu tư
của toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Khi mà tổng cung chưa thay đổi, sự tăng lên của
đầu tư làm cho tổng cầu tăng kéo sản lượng cân bằng và giá cân bằng cũng tăng.
Gia tăng tổng cung và năng lực kinh tế: Đầu tư công làm tăng năng lực sản
xuất làm tổng cung tăng và sản lượng tăng, giá giảm xuống cho phép tiêu dùng tăng.
Tăng tiêu dùng lại kích thích sản xuất phát triển và làm kinh tế- xã hội phát triển.
4

Đầu tư mồi, tạo cú huých và duy trì động lực tăng trưởng: Đầu tư công định vị
và củng cố nền kinh tế của VN trong mối quan hệ của khu vực và quốc tế. Tạo niềm
tin và động lực cho các nguồn đầu tư khác vào VN góp phần tăng trưởng kinh tế.
Tạo việc làm cho xã hội



2. Hạn chế của đầu tư công và những nguyên nhân gây kém hiệu quả:
2.1. Hạn chế của đầu tư công:
Điểm lại từ ngày triển khai công cuộc đổi mới tới nay, nền kinh tế nước ta đã trải
qua nhiều đợt đầu tư "theo phong trào", nhiều "hội chứng đầu tư" đã xuất hiện. Nào
là đua nhau đầu tư xây dựng nhà máy bia, thuốc lá, tiếp đến là xi măng lò đứng, mía
đường, lắp ráp xe máy, sản xuất bột sắn, đánh bắt xa bờ, xây dựng cảng biển, khu
công nghiệp và khu kinh tế, kể cả kinh tế cửa khẩu. Kế đến là bột giấy, cán thép,
thủy điện nhỏ và vừa, khu nghỉ dưỡng, khu đô thị, "tận thu" khoáng sản, trường đại

học, sân golf rồi sân bay
2.1.1. Hiệu quả đầu tư thấp
Với hệ số hiệu quả vốn đầu tư (ICOR) cho khu vực nhà nước giai đoạn 2000-
2007 lên tới 7,8 - cao hơn nhiều so với mức trung bình 5,2 của nền kinh tế, đầu tư
công chẳng những chưa hoàn thành được vai trò “bã đỡ “ cho nền kinh tế mà còn trở
thành “gánh nặng” khiến nợ công gia tăng và kéo theo lạm phát.
Nghiên cứu thực nghiệm của Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương cho
thấy, chỉ số ICOR khu vực Nhà nước cao gấp đôi so với khu vực kinh tế ngoài Nhà
nước. Một ví dụ rõ nét là năm 2007, để tạo thêm một đồng GDP, khu vực kinh tế
Nhà nước, trong đó có đầu tư công và đầu tư của doanh nghiệp Nhà nước phải mất
tới 8,1 đồng vốn trong khi khu vực kinh tế ngoài Nhà nước chỉ tốn 3,7 đồng vốn.
5

Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư (KHĐT) công bố, 6 tháng đầu năm 2011 cả nước
đã có thêm 6.731 dự án sử dụng 30% vốn nhà nước trở lên được khởi công, tăng gần
1.000 dự án so với cùng kỳ năm ngoái. Trong khi đó, số dự án hoàn tất và đưa vào
khai thác chỉ là 4.693. Còn theo số liệu của Tổng cục Thống kê, vốn đầu tư thực
hiện từ nguồn ngân sách nhà nước trong 9 tháng đầu năm 2011 là 131.364 tỉ đồng,
tăng gần 24% so với cùng kỳ năm trước. Những con số này cho thấy: Mặc dù Chính
phủ quyết tâm thực hiện chủ trương cắt giảm đầu tư công để chống lạm phát, nhưng
số dự án đầu tư công mới được triển khai thực hiện trong những tháng đầu năm nay
vẫn tăng mạnh.
Theo Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương, trong 10 năm qua, đầu tư của
Nhà nước chiếm gần 46% tổng vốn đầu tư toàn xã hội. Cơ cấu đó cho thấy, vốn đầu
tư của Nhà nước là quan trọng nhất. Tài trợ cho đầu tư công là ngân sách. Theo
thống kê của Bộ Kế hoạch và Đầu tư: Tính cả trái phiếu Chính phủ thì bội chi ngân
sách lên tới 9,7% GDP và 8,7% GDP trong hai năm 2009 và 2010, cao hơn rất nhiều
so với con số chính thức khoảng 5% GDP. Trong khi đó, hiệu quả đầu tư nhà nước
lại không cao so với các loại hình đầu tư khác.
2.1.2. Đầu tư dàn trải

Thời gian vừa qua, do tình trạng đầu tư dàn trải, sai đối tượng hay cùng lúc triển
khai quá nhiều các dự án vượt quá khả năng cân đối của nền kinh tế nên rất nhiều
công trình đầu tư dở dang, thời gian hoàn thành và đưa vào sử dụng bị kéo dài. Hệ
quả là nhu cầu đầu tư từ nguồn vốn trái phiếu Chính phủ trong 4 năm tới phải ở mức
trên 500 ngàn tỷ đồng, trong khi Quốc hội chỉ cho phép mỗi năm phát hành 45 ngàn
tỷ đồng. Như vậy, sẽ có rất nhiều dự án bị “treo” lại trong những năm tới.
Tổng hợp số liệu từ 63 tỉnh thành cho thấy có tới 638 dự án có sử dụng vốn ngân
sách không thuộc đối tượng được khởi công mới trong năm 2011 nhưng vẫn được
bố trí 1.763 tỷ đồng để thực hiện. Ngoài ra, có đến 2000 dự án khác sử dụng vốn của
6

ngân sách địa phương không thuộc đối tượng được khởi công mới trong năm 2011
vẫn chưa được cắt giảm. Thậm chí, nhiều dự án đáng lẽ phải cắt giảm nhưng kho
bạc nhà nước tại tỉnh, thành đã tiến hành giải ngân sớm hoặc địa phương cố tình xin
không cắt giảm đối với các dự án đã khởi công.
Chính vì sự đầu tư dàn trải, cùng một lúc triển khai thực hiện quá nhiều dự án,
tổng nhu cầu vốn đầu tư cho các dự án đang triển khai xây dựng vượt quá khả năng
cấp vốn của nền kinh tế dẫn đến tình trạng đầu tư công kém hiệu quả.
2.1.3. Chất lượng công trình thấp, tiến độ chậm, kéo dài
Qua kết quả giám sát, đánh giá tổng thể về đầu tư năm 2010 của Bộ KHĐT công
bố mới đây, thì tình trạng chậm tiến độ thực hiện dự án sử dụng vốn nhà nước còn
khá lớn, dù so với các năm trước đã giảm nhiều. Cụ thể, trong số 34.607 dự án đang
thực hiện đầu tư, thì có tới 3.386 dự án chậm tiến độ, chiếm 9,78% số dự án thực
hiện trong kỳ.
Điều đáng nói là trong số này có nhiều dự án phát triển kết cấu hạ tầng quan
trọng, có xu hướng tăng dần trong các năm gần đây (tỉ lệ dự án chậm tiến độ năm
2009 là 16,9%, năm 2008 là 16,6% và 2007 là 14,8%).
2.1.4. Lợi ích nhóm, cục bộ, tư duy nhiệm kỳ
Do cơ chế và lợi ích cục bộ địa phương, tỉnh nào cũng muốn trở thành một thực
thể kinh tế "hoàn chỉnh" nông - công nghiệp - dịch vụ, kèm theo là trường đại học,

bến cảng, sân bay, khu kinh tế mặc dầu không hội đủ điều kiện.
Công nghiệp hóa đất nước không có nghĩa là tỉnh nào, huyện nào cũng công
nghiệp hóa mà cần có sự phân công lao động hợp lý phù hợp với lợi thế của từng
vùng. Trong khi đó, sự liên kết và quy hoạch vùng còn xa mới đáp ứng yêu cầu làm
cho nguồn lực bị phân tán, trùng chéo, hiệu quả thấp, nền kinh tế nước nhà đã yếu
càng yếu thêm. Sở dĩ có tình trạng này một phần do sự lẫn lộn khái niệm, một phần
khác do tâm lý địa phương chủ nghĩa, căn bệnh nhiệm kỳ và nhất là cách đánh giá
7

thành tích, phân bổ ngân sách và vốn đầu tư từ trung ương đã thúc đẩy cuộc chạy
đua về dự án, công trình, tốc độ tăng trưởng "GDP tỉnh-thành".
2.2 . Nguyên nhân của những hạn chế:
2.2.1. Về cơ chế chính sách và thủ tục:
Việc ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến công tác quản lý
đầu tư xây dựng cơ bản, nhằm tạo cơ sở pháp lý trong điều hành và quản lý dự án.
Tuy nhiên, các văn bản hướng dẫn còn chồng chéo, chưa có sự thống nhất, chưa phù
hợp với tình hình thực tế, dẫn đến việc áp dụng rất khác nhau, gây khó khăn cho
việc hoàn chỉnh các thủ tục để triển khai dự án, ảnh hưởng đến tiến độ thực hiện dự
án: Công tác chỉ định thầu đơn vị tư vấn thực hiện các bước (Giám sát thi công, lập
hồ sơ mời thầu, kiểm toán, ) phải thực hiện đúng quy trình quy định của Luật, mất
nhiều thời gian.
Việc phân cấp, phân quyền đầu tư cho các địa phương, cơ sở kinh tế mà thiếu sự
kiểm soát lại gây ra tình trạng đầu tư dàn trải trầm trọng hơn, đôi khi đầu tư không
vì mục đích kinh tế. Địa phương đua nhau xây dựng công nghiệp tràn lan (xây dựng
nhà máy đường, luyện cán thép, xi măng, cảng biển, ), phá vỡ quy hoạch và cơ cấu
của nền kinh tế.
Việc phân bổ vốn đầu tư cho các dự án vẫn chưa hợp lý: Việc phân bổ vốn cho
công trình chưa tính đến công tác bồi thường, tái định cư đến khi khai triển đầu tư
xây dựng bị vướng thì mới bắt đầu tính đến; đa số các dự án đều vượt thời gian cân
đối vốn theo quy định. Từ đó làm ảnh hưởng đến tiến độ thi công, tiến độ giải ngân

vốn đầu tư, đều kéo dài thời gian đầu tư của dự án gây lãng phí và kém hiệu quả.
Công tác quy hoạch: Triển khai chưa kịp thời, chưa theo kịp với quá trình thay
đổi của các yếu tố khách quan. Một số quy hoạch ngành, sản phẩm quan trọng còn
chưa được tiến hành xây dựng hoặc đang trong quá trình nghiên cứu; chất lượng một
8

số dự án quy hoạch chưa cao chưa có tầm nhìn xa, một số công trình đề ra trong quy
hoạch còn mang tính giải quyết tình thế.
Chính sách đầu tư chỉ quan tâm đến các dự án đầu tư mới, không quan tâm đến
công tác bảo dưỡng, vận hành để khai thác có hiệu quả các dự án đầu tư công. Các
công trình được đầu tư luôn cần một lượng chi phí thường xuyên để vận hành và bảo
dưỡng. Thế nhưng thời gian qua, Việt Nam chưa chú trọng đúng mực cho chi vận
hành và bảo dưỡng. Ngân sách chi thường xuyên và ngân sách chi đầu tư phát triển
được soạn lập một cách riêng rẽ làm giảm hiệu quả sử dụng nguồn lực công. Hậu
quả là trong một số ngành, phần lớn các công trình qui mô lớn không mang lại hiệu
quả do thiếu duy tu, bảo dưỡng.
2.2.2. Về phía đơn vị đầu tư:
Điều kiện năng lực hoạt động, năng lực quản lý của một số chủ đầu tư, Ban quản
lý, đơn vị tư vấn chưa phù hợp với các quy định của nhà nước, còn hạn chế, việc
quản lý chưa thường xuyên, chưa kiên quyết, còn nể nang, chưa cập nhật hoặc nắm
bắt hết các quy định mới của nhà nước về quản lý đầu tư xây dựng, sự kiểm tra giám
sát của các ngành chức năng chưa được thường xuyên liên tục, dẫn đến công tác
tham mưu, điều hành chưa sát với thực tế, chưa phát hiện những sai sốt trong quá
trình đầu tư để có biện pháp xử lý kịp thời.
Ngoài ra còn phải kể đến hiện tượng tham nhũng đã xà xẻo nguồn vốn đầu tư. Có
nhiều ý kiến phản ảnh, tham nhũng, lãng phí trong đầu tư công, thường tập trung ở
giai đoạn thực hiện đầu tư. Đối với giai đoạn lập và phê duyêt kế hoạch đầu tư chưa
được phát hiện nhiều, tuy nhiên đây lại là then chốt. Giám sát đầu tư công phải được
thực hiện trên cơ sở qui định của pháp luật, tuy nhiên, vấn đề là ý chí của nhà quản
lý có quyết tâm thực hiện việc giám sát để đảm bảo đầu tư công một cách hiệu quả,

chống tham nhũng, lãng phí hay không.
3. Tình hình nợ công và quản lý nợ công ở Việt Nam
9

3.1. Tình hình nợ công ở Việt Nam
Việt Nam mở cửa kinh tế được 25 năm và đã đạt được những bước phát triển
vượt bậc. Chỉ trong vòng 10 năm, GDP của Việt Nam đã tăng lên gấp 3 lần, từ 32.7
tỷ USD năm 2001 lên 201 tỷ USD năm 2010. Tuy nhiên, Việt Nam vẫn thuộc nhóm
các nước đang phát triển, quy mô nền kinh tế của Việt Nam vẫn là nhỏ so với mặt
bằng chung của thế giới; nền kinh tế phụ thuộc nhiều vào xuất khẩu nông nghiệp thô
và công nghiệp nhẹ là chủ yếu. Do đó, hiện tại và trong tương lai gần, việc tăng vay
nợ chính phủ nói riêng và nợ công nói chung la một nhu cầu tất yếu vì Việt Nam vẫn
rất cần sự hỗ trợ về mặt tài chính (tức là vay nợ và viện trợ phát triển chính thức) từ
các tổ chức đơn phương, đa phương trên thế giới để phát triển nề kinh tế hơn nữa.
Quy mô nợ công
Theo The Economist Intelligence Unit, nợ công của Việt Nam năm 2001 mới là
11,5 tỷ USD, tương đương 36% GDP, bình quân mỗi người gánh số nợ công xấp xỉ
144 USD. Nhưng tính đến hết năm 2010, nợ công đã tăng lên 55,2 tỷ USD, tương
đương 54,3% GDP và hiện tại, Việt Nam được xếp vào nhóm nước có mức nợ công
trên trung bình. Như vậy, trong vòng 10 năm từ 2001 đến nay, quy mô nợ công đã
tăng gấp gần 5 lần với tốc độ tăng trưởng nợ trên 15% mỗi năm. Nếu tiếp tục với tốc
độ này thì chỉ trong vòng 5 năm nữa, đến năm 2016, nợ công của Việt Nam sẽ vượt
quá 100% GDP như hai nước thành viên EU mới lâm vào khủng hoảng nợ công gần
đây là Hy Lạp (133,6%), Ailen (129,2%). Nợ công đạt trên 100% GDP là một con
số không nhỏ đối với một nền kinh tế đang phát triển và quy mô nhỏ, phụ thuộc
nhiều vào xuất khẩu sản phẩm nông nghiệp thô và công nghiệp nhẹ như Việt Nam
Cơ cấu nợ công
Theo khoản 2 Điều 1 Luật Quản lý nợ công của Việt Nam, nợ công bao gồm tất
cả các khoản nợ chính phủ, nợ được chính phủ bảo lãnh và nợ chính quyền địa
phương. Cơ cấu nợ công của Việt Nam năm 2006 - 2010 gồm nợ chính phủ chiếm

10

78,1%, còn lại là nợ được chính phủ bảo lãnh và nợ chính quyền địa phương. Trong
nợ chính phủ, nợ nước ngoài chiếm 61,9%; nợ trong nước chiếm 38,1%. Trong nợ
nước ngoài, ODA chiếm tỷ trọng lớn. Cụ thể, năm 2009, nợ công của Việt Nam gồm
nợ chính phủ chiếm 79,2%, nợ được chính phủ bảo lãnh chiếm 17,6% và nợ chính
quyền địa phương chiếm 3,1%; trong nợ chính phủ, nợ nước ngoài chiếm 60%,
trong đó có 85% là ODA.
Tình hình nợ công
Từ năm 2006 đến nay, tình hình trả nợ công của Việt Nam không ổn định và hầu
như không có sự gia tăng đáng kể về giá trị, trung bình hàng năm Việt Nam dành ra
trên 3,5% GDP để chi trả nợ và viện trợ. Tỷ lệ trả nợ/tổng nợ công giảm dần qua
các năm, từ 9,09% năm 2006 xuống còn 6,53% năm 2010. Trong khi đó, quy mô
của các khoản nợ công ngày càng tăng lên với tốc độ chóng mặt với gần 20%/năm;
mặt khác, tình hình sử dụng nợ công ở Việt Nam còn đang tồn tại nhiều bất cập như
chậm trễ trong giải ngân và sự kém hiệu quả trong sử dụng vốn vay vào các dự án
đầu tư. Điều này tác động tiêu cực tới khả năng trả nợ của Việt Nam trong tương lai.
3.2. Một số đề xuất nhằm quản lý có hiệu quả nợ công ở Việt Nam
Phát triển nội lực nền kinh tế
Phát triển nội lực nền kinh tế cần tập trung vào vấn đề gia tăng hàm lượng
giá trị gia tăng trong xuất khẩu bằng cách: Giảm nhập khẩu nguyên phụ liệu
cho sản xuất hàng xuất khẩu thông qua việc đầu tư phát triển các ngành công
nghiệp hỗ trợ; tăng hàm lượng công nghệ cao trong sản xuất để xuất khẩu được
nhiều sản phẩm tinh và ít sản phẩm thô hơn; đẩy mạnh hơn nữa hoạt động xúc tiến
thương mại, nâng cao nhận biết và thực hành về vấn đề thương hiệu cho các sản
phẩm của Việt Nam trên thị trường thế giới.
Xây dựng môi trường tài chính hiệu quả
- Công khai, minh bạch về tài chính
11


Đây là một nguyên tắc căn bản hàng đầu và phổ biến trên thế giới trong quản
trị công nói chung, quản trị tài khóa và đặc biệt là trong quản trị nợ công. Theo
hướng dẫn quản lý nợ công của IMF (2003) cũng như Cẩm nang minh bạch tài
khóa (2007), cần đặc biệt nhấn mạnh một số yêu cầu cơ bản như sau:
Thứ nhất, xác định rõ vai trò và trách nhiệm tài khóa của các cơ quan của Chính
phủ. Đây là yêu cầu thiết yếu để đảm bảo trách nhiệm giải trình trong việc hoạch
định và thực thi chính sách tài khóa.
Thứ hai, khu vực chính phủ phải được tách bạch rõ ràng ra khỏi phần còn lại của
khu vực công và phần còn lại của nền kinh tế; chính sách và vai trò quản lý của khu
vực công phải rõ ràng và được công bố công khai.
Thứ ba, về quản lý nợ, pháp luật quản lý nợ nên giao trách nhiệm rõ ràng
cho một cá nhân, thường là Bộ trưởng Tài chính trong việc: Lựa chọncác công cụ
cần thiết cho việc vay nợ; xây dựng chiến lược quản lý nợ; xác định giới hạn nợ
(nếu luật không quy định rõ) - thường là dựa vào chiến lược nợ bền vững; thiết
lập và kiểm soát cơ quan/tổ chức có trách nhiệm quản lý nợ (thuộc quyền hoặc
nằm ngoài) và thiết lập quy chế quản lý nợ.
Thứ tư, luật phải quy định cụ thể tất cả các khoản chính phủ bảo lãnh. Luật cũng
phải xác định rõ vai trò của Ngân hàng Trung ương sao cho việc phát hành quỹ
chứng khoán không bị lẫn với các biện pháp nghiệp vụ thuộc chính sách tiền tệ. Tất
cả các khoản vay phải được ghi có tại một tài khoản ngân hàng dưới sự kiểm tra
của Bộ Tài chính, và nghĩa vụ nợ và các điều khoản vay nợ phải được công
bố đầy đủ cho công chúng. Minh bạch tài khóa đòi hỏi cơ quan lập pháp phải
xác định rõ các yêu cầu trong báo cáo hàng năm về dư nợ và dòng chu chuyển
nợ, kể cả số liệu về bảo lãnh nợ của chính phủ trình cơ quan lập pháp và công khai
cho công chúng.
Ngoài ra, cần đảm bảo rằng thông tin về nợ công phải bao quát cả quá khứ, hiện
12

tại và dự tính cho tương lai. Điều này hết sức cần thiết vì thông tin công khai về nợ
còn nhằm tăng cường khả năng can thiệp và phòng ngừa tình huống xấu xảy ra.

- Cải cách hành chính
Việc cải cách hành chính nhà nước cần được thực hiện trên tất cả các nội dung:
Thể chế; tổ chức bộ máy; xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ,
công chức, Trong đó, cần tăng cường cơ chế giám sát của nhân dân đối với
hoạt động của cơ quan nhà nước, làm rõ thẩm quyền, trách nhiệm của cơ quan hành
chính trong giải quyết khiếu nại của nhân dân; thực hiện tốt việc tiếp nhận ý kiến,
phản hồi của người dân. Bên cạnh đó, thủ tục hành chính cần phải được đơn giản
hóa và thông tin đầy đủ trên cổng thông tin điện tử của bộ, địa phương để tạo
thuận lợi tối đa cho người dân, cơ quan, tổ chức nhằm tiết kiệm chi phí, đồng
thời nâng cao trách nhiệm của cán bộ, công chức trong cải cách thủ tục hành
chính. Đặc biệt, cần chú trọng nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức,
trong đó có yếu tố hết sức quan trọng là cải cách chế độ, chính sách tiền lương nhằm
tạo động lực thực sự để cán bộ, công chức làm việc, nâng cao chất lượng dịch vụ
hành chính và chất lượng dịch vụ sự nghiệp công.
- Nâng cao hiệu quả hoạt động kiểm toán và hoạt động ngân hàng, cụ thể:
+ Về hoạt động kiểm toán: Tiến hành kiểm toán độc lập các hoạt động quản lý
nợ hàng năm.
+ Về hoạt động ngân hàng: Đặc biệt tập trung vào nâng cao chất lượng cán
bộ tín dụng. Cần phải hướng dẫn tổ chức tập huấn, bồi dưỡng kiến thức về chuyên
môn nghiệp vụ, chú trọng nghiệp vụ marketing, kỹ năng bán hàng, thương thảo
hợp đồng và văn hoá kinh doanh. Đồng thời phải thực hiện tiêu chuẩn
hoá cán bộ tín dụng và kiên quyết loại bỏ, thuyên chuyển sang bộ phận khác
những cán bộ yếu về tư cách đạo đức, thiếu trung thực, những cán bộ tín dụng thiếu
kiến thức chuyên môn nghiệp vụ.
13

Thay đổi cơ cấu nợ công
Việt Nam thực sự thay đổi cơ cấu nợ công theo hướng tăng tỷ trọng nợ
trong nước nhiều hơn nữa. Để thay đổi cơ cấu nợ công, Chính phủ Việt Nam nên
phát hành trái phiếu chính phủ ghi bằng nội tệ nhiều hơn. Để nâng cao chất lượng

các đợt đấu thầu mua trái phiếu chính phủ, chính phủ nên đưa ra một mức lãi suất
phù hợp hơn với lãi suất thị trường và yêu cầu của nhà đầu tư.
Kiểm soát nợ công ở mức an toàn
Để kiểm soát nợ công ở mức an toàn, cần phải xác định được đâu là mức an
toàn (ví dụ: cần phải xác định các tỷ lệ nợ công/GDP và nợ nước ngoài/GDP).
Tuy nhiên, bên cạnh đó, cần chú ý phân tích bản chất của nợ công. Đó là: nợ
chính phủ là vay nợ trong nước hay vay nợ nước ngoài; tốc độ tăng trưởng của nền
kinh tế, hay lượng dự trữ quốc gia Thực tế xảy ra trên thế giới cho thấy những
nước rơi vào khủng hoảng tài chính đều có tỷ lệ nợ trên GDP khá thấp. Ví dụ:
Argentina năm 2001, tỷ lệ đó chỉ ở mức 45%; Ukraine (2007) chỉ 13%; Thái Lan
(1996) chỉ có 15%; Venezuela (1981) chỉ có 15%; Rumania (2007) chỉ có 20%
Sử dụng hiệu quả nợ công
Để sử dụng hiệu quả nợ công, cần phải chú trọng vào các vấn đề sau:
- Chi tiêu công phải minh bạch, hợp lý. Vay nợ công phải được chi cho
đầu tư phát triển thay vì chi tiêu dùng chính phủ. Chỉ những dự án thực sự đem lại
hiệu quả kinh tế mới được xét duyệt và đầu tư thực hiện. Tăng cường thanh tra,
giám sát quá trình thực hiện dự án đầu tư; tránh tình trạng tham nhũng, quan liêu.
- Đấu thầu các dự án một cách công khai, minh bạch nhằm chọn lựa được
những nhà thầu có năng lực nhất. Để doanh nghiệp ngoài quốc doanh chịu trách
nhiệm thầu các dự án đầu tư nhiều hơn, thay cho các doanh nghiệp nhà nước.
- Tập huấn và nâng cao trình độ quản lý cũng như trình độ nghiệp vụ cho các cán
bộ trong các doanh nghiệp nhà nước.
14

4. Khó khăn khi cắt giảm đầu tư công:
Tính đến ngày 26.8.2011, tất cả các bộ, ngành ở Trung ương và các địa phương
đều đã thực hiện và có báo cáo về kết quả cắt giảm, điều chuyển vốn đầu tư trong kế
hoạch năm 2011. Cả nước đã thực hiện ngừng khởi công mới, cắt giảm, điều chuyển
vốn của 2.103 dự án với tổng số vốn là 6.532,7 tỷ đồng. Điểm mới đáng lưu ý là,
theo Tổng cục Thống kê, những ước tính ban đầu về hiệu quả đầu tư sau loạt chính

sách cắt giảm, đình hoãn, giãn tiến độ nhiều dự án đầu tư công đã cho thấy dấu hiệu
tốt hơn. Nếu loại trừ yếu tố giá, khối lượng đầu tư thực chất là giảm, trong khi hiệu
quả đầu tư thông qua tỷ lệ đầu tư so với GDP và tốc độ tăng trưởng GDP có sự cải
thiện. Tuy nhiên, trong khi nhiều bộ, ngành, địa phương thực hiện nghiêm túc chủ
trương cắt giảm đầu tư công, thì đến nay, vẫn còn một số bộ, ngành, tỉnh, thành phố
chần chừ không thực hiện cắt giảm, thậm chí vẫn bố trí vốn cho cả những dự án khởi
công mới không thuộc đối tượng Nghị quyết 11.
Tuy nhiên, cần chú ý tới mặt trái phát sinh khi cắt giảm đầu tư công không nên
cứng nhắc quá trong cắt giảm, nhất là với các dự án đã hoàn thành tới 70 - 80%,
thậm chí 90%. Trường hợp dự án dở dang chưa thể làm tiếp, cần chọn điểm dừng thi
công thích hợp, tiện cho việc nghiệm thu, thanh toán, hạn chế chi phí phát sinh và
khó khăn đối với dân cư trên địa bàn, nhất là các dự án giao thông. Người lao động
xây dựng, các doanh nghiệp và nhà thầu chia sẻ khó khăn chung, lên phương án tìm
thêm việc làm, bảo toàn đội ngũ, nhất là thợ lành nghề, để khi có điều kiện, tiếp tục
phát huy tay nghề theo đúng sở trường. Cắt giảm đầu tư công có ảnh hưởng nhất
định đến mức tăng trưởng và lợi ích của ngành, địa phương, doanh nghiệp. Do đó,
phải thực hiện một cách khách quan và triệt để trên cơ sở lợi ích chung, không để
các biểu hiện chạy vạy, xin - cho, tư tưởng cục bộ chi phối và tránh làm phong trào.
Như vậy, việc cắt giảm đầu tư công không hề dễ dàng do: thứ nhất, nhu cầu thực
tế cao về vốn đầu tư phát triển ở nhiều địa phương và đơn vị là có thực; thứ hai, sự
15

phân cấp mạnh quản lý nhà nước cho các địa phương và việc cắt giảm lại do chính
các địa phương thực hiện theo hướng dẫn chung của cơ quan chức năng; thứ ba,
việc phân cấp đầu tư cho các bộ, ngành, địa phương và doanh nghiệp nhà nước đã
không đi kèm với một cơ chế kiểm tra, giám sát hiệu quả; thứ tư, các tiêu chí
hướng dẫn cắt giảm đầu tư công chưa thật cụ thể, nhất là tiêu chí về hiệu quả của dự
án đầu tư. Hơn nữa, việc đánh giá hiệu quả lại giao cho chính chủ đầu tư, là các bộ,
địa phương, tập đoàn và tổng công ty nhà nước thực hiện, không có sự tham gia của
các tổ chức độc lập và sự giám sát xã hội.

5. Các biện pháp tái cấu trúc đầu tư công và nợ công:
Các giải pháp khắc phục tình trạng yếu kém hiện nay của đầu tư công tại VN:
Thứ nhất, giảm quy mô đầu tư và đầu tư công cho phù hợp với sức của nền kinh tế,
từ bỏ mô hình tăng trưởng “nóng”, dựa chủ yếu vào tăng vốn đầu tư và gia công sản
xuất, chuyển sang mô hình phát triển theo chiều sâu.
Thứ hai, giảm thu, giảm chi, tái cơ cấu thu chi ngân sách, thay đổi cơ cấu chi tiêu
ngân sách theo hướng giảm bớt chức năng “nhà nước kinh doanh” và đồng thời tăng
cường chức năng “nhà nước phúc lợi”.
Thứ ba, đổi mới phân bổ đầu tư công, gắn với tài chính công, và tái cấu trúc nền
kinh tế bắt đầu với chính sách tài khóa, quan trọng nhất là kỷ luật tài khóa.
Thứ tư, sửa Luật Ngân sách 2002, ban hành và hoàn thiện Luật Đầu tư công, tiến tới
Luật Ngân sách hàng năm, cải cách thể chế để khắc phục tình trạng thể chế đi sau
tăng trưởng kinh tế.
Thứ năm, nâng cao chất lượng công tác quy hoạch. Quy hoạch cần tôn trọng tính tự
phát triển của địa phương nhưng cũng cần phải hướng về sự phát triển tổng thể nền
kinh tế.
Thứ sáu, cần sửa đổi cơ chế phân cấp ngân sách, phân cấp đầu tư, tăng cường hơn
vai trò tổng cân đối chung của Chính phủ.
16

Thứ bảy, đổi mới doanh nghiệp nhà nước, bằng cách giảm quy mô và tăng hiệu quả
của khu vực doanh nghiệp nhà nước (DNNN), cần xác định lại vai trò kinh tế của
Nhà nước, giới hạn hoạt động của DNNN, buộc các doanh nghiệp này phải cạnh
tranh bình đẳng thông qua đẩy mạnh cổ phần hóa, chấm dứt tình trạng đầu tư ngoài
ngành…
Thứ tám, đổi mới cơ chế tín dụng, kể cả vay nước ngoài để cho vay lại, kết hợp với
đổi mới hệ thống ngân hàng thương mại.
Thứ chín, thông tin và cơ chế cần minh bạch để có sự giám sát từ cộng đồng, phối
hợp với cơ quan nhà nước nhằm đảm bảo hiệu quả hoạt động của các dự án.
Thứ mười, ứng dụng mạnh mẽ khoa học công nghệ trong đầu tư công, đồng thời

tăng cường chất lượng nguồn nhân lực trên cơ sở cạnh tranh.
II. Khủng hoảng nợ công của khu vực sử dụng đồng Euro
Trong 2 năm vừa qua, bên cạnh cuộc khủng hoảng nợ dưới chuẩn tại Mỹ là
nguồn gốc của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu thì khủng hoảng nợ công ở
Châu Âu cũng là một điểm tối trong bức tranh kinh tế thế giới. Đây là một trong
những yếu tố khiến cho cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu trở nên phức tạp và
biến động khó lường hơn.
Khủng hoảng nợ công ở châu Âu bùng nổ đầu tiên là Hy Lạp vào đầu năm 2010
khi chi phí cho các khoản nợ chính phủ liên tục tăng lên; cụ thể lãi suất trái phiếu
Chính phủ kỳ hạn 2 năm của Hy Lạp liên tục tăng cao từ 3,47% vào tháng 01 năm
2010, lên 9,73% tháng 07 năm 2010, và nhảy vọt lên 26,65%/năm ở tháng 07 năm
2011. Cuộc khủng hoảng sau đó đã lan sang Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha và tiếp theo
là Italia trong khu vực euro. Pháp đang là quốc gia có nhiều nguy cơ tụt hạng tín
dụng. Cộng hòa Sip cũng đã bị đẩy tới bờ vực để nhận gói cứu trợ.
1. Diễn biến của cuộc khủng hoảng nợ công ở Châu Âu
17

Những diễn biến quan trọng trong khủng hoảng nợ châu Âu tính từ tháng
11/2009 khi chính phủ mới của Hy Lạp tuyên bố nâng gấp đôi ước tính về thâm hụt
ngân sách năm 2009 cho đến thời điểm hiện nay:
- 11/2009. Thủ tướng Hy Lạp cho biết thâm hụt ngân sách năm 2009 sẽ ở mức
12,7% GDP, gấp đôi con số công bố trước đó và sẽ cố gắng cứu Hy Lạp khỏi khả
năng vỡ nợ.
- 11/4/2010, Bộ trưởng tài chính các nước thuộc khu vực đồng tiền chung châu
Âu (Eurozone) chấp thuận kế hoạch 30 tỷ euro cho Hy lạp, nhưng Hy Lạp tuyên bố
không cần.
- 23/4/2010, Hy Lạp cầu cứu Liên minh Châu Âu (EU) và Quỹ tiền tệ quốc tế
(IMF).
- 02/5/2010, Thủ tướng Hy Lạp cho biết, chính phủ nước này đã đạt được thỏa
thuận với EU và IMF để nhận được gói giải cứu, đổi lại nước này phải giảm chi tiêu

30 tỷ euro trong 3 năm tới.
- 10/5/2010, các nhà hoạch định chính sách kinh tế toàn cầu đưa ra kế hoạch
khẩn cấp trị giá 750 tỷ euro để hỗ trợ thị trường tài chính và vực dậy đồng euro,
ngăn đồng tiền này chịu ảnh hưởng tệ hại từ khủng hoảng nợ Hy Lạp.
- 07/08/2010: Quỹ bình ổn tài chính của EU với số tiền tối đa lên tới 440 tỷ euro
tương đương 580 tỷ USD để hỗ trợ cho các nước châu Âu ứng phó với khủng hoảng
nợ hiện đã có thể hoạt động.
- 08/09/2010: Các nước thành viên EU đã thống nhất về việc tạo ra khung giám
sát tài chính mới để ngăn khủng hoảng nợ chính phủ đã đẩy Hy Lạp đến sát bờ vực
phá sản và khiến hệ thống ngân hàng châu Âu chấn động.
- 27/11/2010: EU, IMF đồng thuận về gói giải cứu 85 tỷ euro dành cho Ireland.
- 15/12/2010: Quốc hội Ireland đã chính thức thông qua dự luật yêu cầu các tổ
chức tài chính nước này bán tài sản và buộc một số chủ nợ chịu thiệt hại như một
18

phần trong kế hoạch tái cơ cấu hệ thống ngân hàng., đồng thời, quốc hội Ireland
cũng bỏ phiếu chấp thuận nhận 67,5 tỷ euro khoản vay từ EU và IMF như một phần
trong gói hỗ trợ 85 tỷ euro để vực dậy ngân hàng Ireland và lĩnh vực tài chính công
của nước này. Ireland sẽ đóng 17,5 tỷ euro vào gói giải cứu.
- 04/02/2011: Các nhà lãnh đạo khu vực Eurozone đã nhất trí trên nguyên tắc về
"lộ trình" giải quyết khủng hoảng nợ.
- 15/02/2011: Bộ trưởng Tài chính các nước châu Âu đã đồng ý lập quỹ mới cho
khu vực với trị giá khoảng 500 tỷ euro tương đương khoảng 673,2 tỷ USD. Quỹ này
sẽ có tên Kênh bình ổn châu Âu (ESM) thay cho quỹ 440 tỷ euro cũ với tên Kênh
bình ổn tài chính châu Âu (EFSF).
- 11/03/2011: 17 nhà lãnh đạo của khu vực Eurozone đã có những bước tiến về
cơ cấu các gói trợ giúp cho các thành viên của EU đồng thời đưa ra những luật lệ
mới để phối hợp các chính sách kinh tế của mình. Tại hội nghị thượng đỉnh, các nhà
lãnh đạo đã đồng ý mở rộng phạm vi và quy mô của quỹ các gói trợ giúp, tăng mức
độ cho vay từ 250 tỷ Euro (350 tỷ USD) lên 440 tỷ Euro (615 tỷ USD) cho các quốc

gia đang trong khủng hoảng.
- 05/04/2011: Cơ quan xếp hạng tín dụng Moody đã hạ xếp hạng tín dụng của Bồ
Đào Nha lần thứ 2 trong 3 tuần bởi lo lắng nước này không thể tránh được việc phải
nhận tiền giải cứu từ EU. Moody hạ 1 bậc xếp hạng trái phiếu chính phủ dài hạn của
Bồ Đào Nha xuống mức Baa1 từ mức A3
- 07/04/2011: Thủ tướng Bồ Đào Nha đã chính thức xin châu Âu giải cứu với gói
hỗ trợ được dự báo khoảng 80 tỷ euro.
- 16/05/2011: Bộ trưởng Tài chính Châu Âu nhất trí về gói giải cứu 78 tỷ euro
tương đương khoảng 111 tỷ USD dành cho Bồ Đào Nha trong 3 năm dưới sự kiểm
soát của EU và IMF. Lãi suất áp dụng với khoản vay dành cho Bồ Đào Nha khoảng
19

trên 5,5% nhưng thấp hơn mức 6%. Hy Lạp đang bị hối thúc thực hiện chương trình
tư hữu hóa 50 tỷ euro trước khi nhận được gói giải cứu thứ 2.
- 12/06/2011: Nhóm Khu vực Eurozone ủng hộ đề xuất của Đức về việc tái cơ
cấu "mềm" nợ công của Hy Lạp, với sự đóng góp tự nguyện từ các nhà tín dụng khu
vực tư nhân.
- 25/07/2011: Cơ quan xếp hạng tín dụng Moody đã hạ 3 bậc xếp hạng tín dụng
của Hy Lạp xuống mức Ca trong ngày thứ Hai, xếp hạng mới chỉ cao hơn 1 bậc so
với mức vỡ nợ và khẳng định khả năng nước này vỡ nợ lên tới 100%.
- 20/09/2011: Standard & Poor’s (S&P) thì hạ một bậc tín nhiệm nợ công Italy,
xuống mức A từ mức A+ và giữ triển vọng tín dụng của nước này ở mức tiêu cực.
- 01/11/2011: số lượng người thất nghiệp tại Châu Âu đạt mức cao kỷ lục,
khoảng 16,37 triệu người thất nghiệp
- 07/11/2011: Thủ tướng Hy Lạp George Papandreou đồng ý từ chức để cho
phép sự thành lập một chính phủ thống nhất nhằm đảm bảo nguồn vốn từ quốc tế và
ngăn kinh tế Hy Lạp sụp đổ.
- 26/11/2011: Tổ chức xếp hạng tín dụng S&P đã hạ xếp hạng tín dụng của Bỉ
xuống mức AA từ AA+ với lý do nước này thiếu các biện pháp chính sách đảm bảo
cho ngân hàng, đồng thuận chính sách và việc kinh tế tăng trưởng chậm sẽ khiến

mục tiêu giảm nợ khó thực hiện được. Nợ công của Bỉ cao thứ 5 tại khu vực đồng
tiền chung châu Âu.
- 01/2012: Hy Lạp dự tính rời bỏ khỏi thị trường chung và chấm dứt sử dụng
đồng Euro
- 14/01/2012: S&P hạ xếp hạng tín dụng 9 nước châu Âu: Xếp hạng tín dụng của
Pháp và Áo bị hạ 1 bậc xuống mức AA+ từ mức AAA; Tây Ban Nha và Italy cũng
bị hạ xếp hạng tín dụng.
- 17/01/2012: Lạm phát của Eurozone giảm mạnh; Fitch tin Hy Lạp sẽ vỡ nợ
20

2. Nguyên nhân của cuộc khủng hoảng nợ công
Cuộc khủng hoảng nợ công ở Châu Âu là kết quả của rất nhiều nguyên nhân khác
nhau, được bắt nguồn từ nhiều năm trước khi khu vực Eurozone được hình thành.
2.1. Nguyên nhân chủ quan
- Sự thiếu minh bạch trong việc công bố số liệu kinh tế trong nhiều năm.
Điều này được thể hiện rõ tại Hy Lạp - quốc gia bắt nguồn cho cuộc khủng
hoảng nợ công ở Châu Âu. Tại thời điểm khi xin gia nhập vào Eurozone, Hy Lạp đã
có những dấu hiệu của việc đánh bóng số liệu kinh tế của mình. Năm 2000, Ngân
hàng Trung ương châu Âu (ECB) đã bày tỏ sự quan ngại về tình hình nợ của Hy Lạp
và nhấn mạnh rằng, mức nợ này đã vượt xa trần quy định của Eurozone. Tuy nhiên,
trên giấy tờ, Hy Lạp cho thấy họ đã cắt giảm được thâm hụt ngân sách. Và dù chưa
giảm được nợ tới mức chuẩn, Athens đã nhấn mạnh vào tiền lệ là một số quốc gia
khác như Italy và Bỉ vẫn được gia nhập Eurozone khi chưa đáp ứng được đỏi hỏi về
mức nợ chính phủ để buộc Eurozone đồng ý cho phép Hy Lạp gia nhập các quốc gia
sử dụng đồng Euro
Và giáo sư kinh tế học Jürgen von Hagen thuộc Đại học Bonn, Đức cho rằng: “Ở
thời điểm đó, đã có những bằng chứng rõ ràng cho thấy, Hy Lạp đưa ra những số
liệu không trung thực, đặc biệt là về thâm hụt ngân sách, nhằm đưa ra hình ảnh về
tình hình tài chính công của họ ‘đẹp’ hơn thực tế. Nhưng các nhà lãnh đạo châu Âu
đã không phản đối. Vì lý do chính trị, họ phải cho Hy Lạp tham gia đồng Euro”,

- Sự quản lý lỏng lẻo, yếu kém của các chính phủ châu Âu
Trong vấn đề này, Hy Lạp lại là một dẫn chứng tiêu biểu. Hy Lạp được coi là
một trong những quốc gia có nguồn thu thuế “bèo” nhất châu Âu. Chỉ khoảng
15.000 cá nhân trên tổng số 11 triệu công dân Hy Lạp khai báo có thu nhập trên
100.000 euro/năm với mức thuế phải đóng là 4%. Số thuế bị trốn trong 10 năm qua
21

ở Hy Lạp ước tính lên tới 35 tỉ euro. Đây là một yếu tố quan trọng dẫn đến vấn đề
thâm hụt ngân sách nặng của Hy Lạp.
Ngoài ra, ở Hy Lạp còn tồn tại sự yếu kém trong bộ máy quản lý của chính phủ,
sự nhũng nhiễu, tham ô, tham nhũng có hệ thống của bộ máy nhà nước. Theo cựu
Bộ trưởng tài chính Diomidis Spinellis, nhà nước thường chỉ thu được 20% tiền phạt
từ hành vi trốn thuế; 40% bị thất thu và 40% còn lại bị các quan chức ngành thuế bỏ
túi. Khi được kêu gọi nộp lại số tiền gian lận, 10% lại bị các quan chức tham nhũng
lại biển thủ. Thủ tướng Hy Lạp George Papandreou thừa nhận “tham nhũng mang
tính hệ thống” là vấn đề cơ bản nhất dẫn đến tình trạng nợ công Hy Lạp. Thiệt hại
mà tham nhũng gây ra cho Hy Lạp ước tính vào khoảng 8% GDP.
- Tình trạng thâm hụt ngân sách lớn và kéo dài:
Đây được coi là nguyên nhân chính và chủ đạo mà các nhà kinh tế coi là gốc rễ
của cuộc khủng hoảng nợ công ở Châu Âu. Sự chi tiêu của các chính phủ châu Âu là
quá lớn, thậm chí nhiều nhà phân tích kinh tế còn cho rằng, những chính phủ châu
Âu đã không có trách nhiệm khi quyết định chi tiêu quá lớn so với nền kinh tế và
tăng trưởng kinh tế của chính nước mình. Việc chi tiêu quá lớn đã tạo ra thâm hụt
ngân sách và khủng hoảng nợ công (lương cao cho các nhà chính trị, công chức, hệ
thống an sinh xã hội và lao động, chế độ nghỉ hưu sớm).
Bảng so sánh rủi ro nợ công các nước
Quốc gia
Thâm hụt
ngân sách
2010

(%GDP)
Nợ GDP
2010
Nợ nước ngoài
(% tổng nợ)
Nợ ngắn hạn
(% GDP)
Tài khoản
vãng lai 2010
(% GDP)
Hy Lạp -12.2 124.9 77.5 20.8 -10.0
Bồ Đào Nha -8.0 84.6 73.8 22.8 -9.9
Ireland -14.7 82.6 57.2 47.3 -1.7
22

Italy -5.3 116.7 49.0 5.7 -2.5
Tây Ban Nha -10.1 66.3 37.0 5.8 -6.0
Anh -12.9 80.3 22.1 3.3 -2.0
Mỹ -12.5 93.6 26.4 8.3 -2.6
Nguồn: European Commission, World Bank IMF
- Vấn đề tổ chức tài chính và điều hành kinh tế của EU:
Điều này bắt nguồn từ cơ cấu thành viên và sự chênh lệch về trình độ phát triển
giữa các nước trong khu vực Eurozone. Việc sử dụng một đồng tiền và tuân thủ
chung một tiêu chuẩn giữa các nền kinh tế lớn nhỏ khác nhau đã làm nảy sinh nhiều
vấn đề. Châu Âu duy trì lãi suất thấp đã khuyến khích nhiều nhà nước và người dân
trong khu vực Eurozone đi vay, chi tiêu vượt quá khả năng của mình. Hậu quả là sau
Hy Lạp, nhiều nước khác đã cần sự giúp đỡ của quốc tế để thanh toán các khoản nợ
đáo hạn.
Việc thực thi các điều kiện gia nhập của khu vực Eurozone lại không được thực
hiện nghiêm ngặt. Theo qui định của Eurozone, tỷ lệ nợ công tối đa đối với một

quốc gia thành viên là 60% GDP, thâm hụt ngân sách hàng năm không được vượt
quá 3% GDP và lạm phát phải dưới mức 3% (còn gọi là Hiệp ước tăng trưởng và ổn
định (SGP)). Tuy nhiên, trên thực tế, chỉ có 2 trong số 16 quốc gia đáp ứng đầy đủ
những tiêu chí này là Phần Lan và Luxembourg. Chính sự vượt rào “tập thể” này là
một nguyên nhân quan trọng khiến châu Âu rơi vào cuộc khủng hoảng nợ hiện nay.
Điều này bắt nguồn từ áp lực chính trị hơn là về quản lý kinh tế và chính sách tiền tệ
và nó đã gây ra những tiền lệ xấu sau này.
EU và ECB cũng phản ứng chậm với các nền kinh tế khi gặp khủng hoảng. Ở
đây đã có những bất đồng về nhận diện nguyên nhân, sự chưa thống nhất về quan
điểm, chính sách giải cứu và lo ngại về nợ công và triển vọng khu vực Eurozone
giữa các chính phủ, các chuyên gia kinh tế, trong nội bộ các quốc gia…. Điều này đã
23

khiến khả năng đối phó và tìm ra giải pháp với cuộc khủng hoảng nợ công ở châu
Âu thiếu hiệu quả. Sự phản ứng thiếu hiệu quả của EU và ECB đã khiến tình hình
diễn biến phức tạp hơn, xếp hạng tín dụng của các quốc gia như Hy Lạp, Ireland,
Italy, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha sụt giảm liên tục, thủ tướng hàng loạt nước phải từ
chức để mở đường cho việc thành lập chính phủ mới,… và khiến chi phí giải cứu trị
giá hàng trăm tỷ euro ngày càng phình to hơn
2.2. Nguyên nhân khách quan
- Những hệ quả của cuộc khủng hoảng tài chính vào năm 2008 tại Mỹ và cuộc
khủng hoảng nợ tại Dubai
Cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008 bắt nguồn từ Mỹ đã tác động sâu sắc đến
nền kinh tế toàn cầu từ khi nó bắt đầu diễn ra cho đến thời điểm hiện nay. Không chỉ
Mỹ mà các quốc gia trên thế giới, đặc biệt là các quốc gia châu Âu đều tung ra
những gói cứu trợ khổng lồ nhằm mục đích kích thích kinh tế phát triển và cứu các
ngân hàng không bị sụp đổ, bảo vệ các khoản tiết kiệm, đồng thời ổn định và khôi
phục lòng tin vào thị trường tài chính bằng các gói cứu trợ tài chính bao gồm tiền
mua cổ phiếu, tiền bảo lãnh, tiền cho vay và các kế hoạch bảo hiểm. Điều này đã
làm gia tăng chi ngân sách và nợ công của các chính phủ châu Âu một cách đáng kể.

Ngoài ra, cuộc khủng hoảng nợ công ở châu Âu còn chịu tác động không nhỏ từ
cuộc khủng hoảng nợ tại Dubai diễn ra vào tháng 11/2009. Cuộc khủng hoảng được
bắt đầu bằng việc Dubai - một phần của Cộng đồng các tiểu vương quốc gia Arập
thống nhất (UAE) - đề nghị gia hạn thanh toán thêm ít nhất sáu tháng đối với khoản
nợ khoảng 60-80 tỉ USD của nghiệp đoàn Dubai World. Thực chất đây là cuộc
khủng hoảng nợ chỉ liên quan đến một tập đoàn hoặc một khu vực nhưng đã bị
phóng đại thành vấn đề lớn do cách thức khắc phục hậu quả không được cân nhắc
kỹ, các phương tiện thông tin đưa tin một cách vội vàng và không đầy đủ. Đặc biệt
là khi chính phủ UAE nói là không chịu trách nhiệm về các khoản nợ của Dubai
24

World đã làm tăng sự lo lắng của các chủ nợ về khả năng bảo lãnh của UAE, các
nhà tài chính và đầu tư quốc tế chú ý hơn tới việc bảo lãnh cho các doanh nghiệp
nhà nước và có thể làm tăng việc đánh giá lại rủi ro thương mại và tài sản. Sau cuộc
khủng hoảng nợ tại Dubai, các nhà đầu tư trở lên nhạy cảm hơn và có thái độ nghi
ngờ với những biến động về xếp hạng tín nhiệm và khả năng thanh toán nợ của các
quốc gia này
- Niềm tin thái quá của nhà đầu tư với chính phủ các nước thuộc Eurozone:
Trong những năm vừa qua, các nhà đầu tư đã đặt niềm tin thái quá về sự phát
triển bền vững và ổn định của các quốc gia thành viên khu vực Eurozone. Họ đã cho
các quốc gia này vay với mức lãi suất cực kỳ thấp trong một thời gian dài chính vì
niềm tin thông qua việc mua tích trữ rất nhiều trái phiếu chính phủ dưới dạng tài sản
bảo toàn vốn. Tuy nhiên, khi cuộc khủng hoảng nợ công ở châu Âu xảy ra, niềm tin
thái quá của nhà đầu tư cũng nhanh chóng sụp đổ theo. Điều này dẫn tới, sự bán tháo
ồ ạt các trái phiếu chính phủ khiến cho lãi suất huy động vốn thông qua trái phiếu
chính phủ các nước thuộc Eurozone tăng vọt khiến cho việc huy động vốn và việc
cân đối ngân sách của các quốc gia này trở nên khó khăn hơn rất nhiều.
Nhìn chung, cuộc khủng hoảng nợ công tại châu Âu là tổng hòa của nhiều
nguyên nhân khác nhau. Trong đó có nhiều nguyên nhân đã được các nhà phân tích
kinh tế, các chính phủ chỉ ra như các cuộc tấn công tiền tệ nhằm mục đích làm suy

yếu đồng Euro, hoạt động đầu cơ tài chính, tính đúng đắn trong việc xác định xếp
hạng tín nhiệm của các công ty xếp hạng tín nhiệm đối với các quốc gia châu Âu,…
3. Các biện pháp đã và đang được thực hiện nhằm giải quyết cuộc khủng
hoảng nợ công tại châu Âu
Như phân tích ở trên, mặc dù EU và ECB đã có những phản ứng chậm chạp
trong việc đối phó cuộc khủng hoảng nợ công đang diễn ra trong khu vực của mình
nhưng đã rất tích cực trong việc cố gắng tìm ra giải pháp cứu cả châu Âu thoát khỏi
25

cuộc khủng hoảng. Hy Lạp chỉ là một quốc gia nhỏ bé trên bản đồ thế giới cũng như
là Châu Âu nhưng đây là thành viên đầu tiên của EU và khu vực Eurozone lâm vào
cuộc khủng hoảng nợ công và chịu thiệt hại lớn nhất, khả năng vỡ nợ rất cao. Điều
này khiến EU và ECB không thể làm ngơ, bởi lẽ sự phá sản của chính phủ Hy Lạp
trong việc thanh toán nợ công sẽ gây ra hiệu ứng Domino tài chính, nó sẽ lan ra toàn
bộ châu Âu thậm chí là cả thế giới.
Chính tác động tiêu cực lâu dài mà cuộc khủng hoảng nợ công tại châu Âu có thể
gây ra là rất lớn, ngày 10/5/2010, EU và IMF đã nhất trí thiết lập “Quỹ chống khủng
hoảng” trị giá 750 tỷ euro (1000 tỷ USD). Theo đó, các nước châu Âu đưa ra 572 tỷ
USD (440 tỷ euro) khoản vay mới và bơm thêm 778 tỷ USD (60 tỷ euro) cho
chương trình vay đang thực hiện. IMF cũng sẽ đóng góp 325 tỷ USD (250 tỷ EUR)
cho gói cứu trợ. Tiếp theo đó là gói cứu trợ trị giá 85 tỷ euro cho Ireland vào tháng
11/2010 và 78 tỷ euro cho Bồ Đào Nha vào tháng 5/2011. Mới đây nhất, vào tháng
8/2011, ECB đã tung ra số tiền khá lớn để mua lại trái phiếu Chính phủ của Ý và
Tây Ban Nha, với điều kiện các nước này phải cắt giảm chi tiêu mạnh mẽ hơn và để
đổi lấy gói cứu trợ khẩn cấp, một vài nước như Hy Lạp, Ireland và Bồ Đào Nha đã
thông qua các biện pháp cắt giảm chi tiêu mạnh mẽ.
Nhìn chung, giải pháp cung cấp các gói cứu trợ cho các quốc gia có nguy cơ vỡ
nợ cao như Hy Lạp, Ireland, Bồ Đảo Nha, Tây Ban Nha cùng với việc các quốc gia
này phải áp dụng chương trình cắt giảm chi tiêu mạnh mẽ vẫn là giải pháp chủ đạo
mà EU và ECB kết hợp với IMF tiến hành cho đến thời điểm hiện nay. Tuy nhiên,

việc thực hiện cắt giảm chi tiêu công mạnh mẽ có nguy cơ đưa nền kinh tế các quốc
gia áp dụng sẽ rơi vào vòng xoáy suy thoái, đồng thời sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến
phúc lợi xã hội và tình hình tài chính cá nhân của người dân.
Ngoài ra, hiện nay cũng có một số giải pháp khác được bàn tới như thiết lập một
hệ thống xếp hạng tín nhiệm mới phù hợp với đặc thù của các quốc gia châu Âu

×