Tải bản đầy đủ (.doc) (82 trang)

ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN HUYỆN TAM NÔNG THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP.DOC

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (501.07 KB, 82 trang )

MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU
1.1.3.1 Về công tác tài chính ngân sách.............................................................................4
1.1.3.2. Về công tác đăng ký kinh doanh- công tác kế hoạch và đầu tư...........................5
Bảng 1.1 Tình hình sử dụng đất đai của giai đoạn 2001 - 2007 ........................................... 9
(ĐV: Ha) .......................................................................................................................................... 9
Bảng 1.7 Quy mô và tốc độ tăng một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu .................................. 17
Bảng 1.12 Bảng quy mô và tốc độ tăng GTSX 2001-2007 ........................................................ 35
Đồ thị 1.2 Quy mô và tốc độ tăng GTSX 2001-2007 .................................................................. 36
Bảng 1.13 Bảng cơ cấu GTSX huyện Tam Nông 2001-2007 ................................................... 36
Bảng 1.14 Quy mô GTSX nông, lâm, thuỷ sản 2001-2007 ........................................................ 37
Bảng 1.15 Cơ cấu các lĩnh vực nông, lâm, thuỷ sản 2001-2007 ................................................ 38
ĐVT: % ....................................................................................................................................... 38
Bảng 1.16 Quy mô và tốc độ tăng GTSX ngành công nghiệp 2001-2007 ................................. 39
Bảng 1.17 Quy mô và tốc độ tăng GTSX các ngành dịch vụ 2001-2007 ................................... 40
ĐVT: Tỷ đồng, giá 1994, tốc độ tăng BQ: % ........... 40
Biểu 1.22 Tổng hợp tình hình phân công và sử dụng lao động qua 2001-2007 .......................... 51
2.1.2.1 Lĩnh vực giáo dục và đào tạo...............................................................................60
Bảng 2.2 Dự kiến nhu cầu vốn đầu tư từ 2008 - 2020 ................................................................ 67
Đơn vị: Tỷ đồng .......................................................................................................................... 67
KẾT LUẬN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Đặng Quốc Việt - Đầu tư 47
C
LỜI MỞ ĐẦU
Tam Nông là huyện miền núi nằm ở phía Đông nam tỉnh Phú Thọ. Huyện Tam
Nông có một vị trí địa kinh tế rất quan trọng của tỉnh Phú Thọ gần các trung tâm động
lực phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, gần thủ đô Hà Nội. Trong những năm đổi mới
hoạt động ĐTPT của huyện tuy đã đem lại nhiều hiệu quả KT - XH. Tuy nhiên, nhìn
chung kinh tế Tam Nông còn chậm phát triển, đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn, ở
một số xã tỷ lệ hộ đói nghèo còn cao. Tình hình kinh tế - xã hội của huyện phát triển


chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế. Do đó việc nghiên cứu, phân tích đánh giá thực
trạng ĐTPT của huyện Tam Nông trong thời gian qua là một đòi hỏi khách quan và cấp
thiết.
Nhận thức được vấn đề này trong thời gian thực tập tại phòng tài chính kế hoạch
huyện Tam Nông em đã quyết định đi sâu nghiên cứu đề tài : "ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN
HUYỆN TAM NÔNG: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP " . Nội dung của đề tài tài tập trung
nghiên cứu thực trạng phát triển KT - XH huyện và hoạt động ĐTPT huyện từ đó nêu ra
một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả ĐTPT góp phần phát triển KT - XH.
Em xin chân thành cảm ơn Ts. Nguyễn Hồng Minh đã giúp đỡ em trong quá trình
xây dựng và hoàn thành đề tài./.
Đặng Quốc Việt - Đầu tư 47
C
Chương 1 : THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN
HUYỆN TAM NÔNG GIAI ĐOẠN 2001-2007
1.1 GIỚI THIỆU KHÁI QUÁT ĐƠN VỊ THỰC TẬP
1.1.1 Vị trí, chức năng phòng TC - KH huyện Tam Nông
Phòng tài chính kế hoạch huyện Tam Nông là cơ quan chuyên môn thuộc UBND
huyện Tam Nông, có chức năng tham mưu giúp UBND huyện thực hiện chức năng
quản lý Nhà nước về lĩnh vực: Tài chính, tài sản, kế hoạch và đầu tư, đăng ký kinh
doanh, tổng hợp thống nhất quản lý về kinh tế hợp tác xã, kinh tế tập thể, kinh tế tư
nhân và thực hiện 1 số nhiệm vụ khác theo sự phân công của UBND huyện. Phòng tài
chính kế hoạch chịu sự chỉ đạo, quản lý về tổ chức biên chế và công tác của UBND
huyện, đồng thời chịu sự chỉ đạo kiểm tra về chuyên môn nghiệp vụ của sở tài chính và
sở kế hoạch đầu tư.
1.1.2 Nhiệm vụ, quyền hạn của phòng TC - KH huyện Tam Nông
Hàng năm căn cứ vào quyết định giao dự toán của UBND tỉnh, phòng TC - KH
tham mưu cho UBND huyện lập dự toán thu ngân sách Nhà nước trên địa bàn, dự toán
thu, chi ngân sách huyện ( bao gồm ngân sách cấp huyện và ngân sách cấp xã, thị trấn)
trình HĐND huyện phê duyệt. Trên cơ sở nghị quyết của HĐND phòng TC - KH tham
mưu cho UBND huyện ban hành quyết định giao nhiệm vụ thu chi ngân sách cho từng

cơ quan, đơn vị, xã, thị trấn. Phối hợp với các ngành liên quan để tham mưu cho UBND
huyện xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội hàng năm, 5 năm trình HĐND
huyện phê duyệt. Tham mưu cho UBND huyện ban hành quyết định giao chỉ tiêu kế
hoạch Nhà nước cho các xã, thị trấn, các cơ quan đơn vị trên địa bàn huyện.
Trình UBND huyện về chủ trương, biện pháp tổ chức thực hiện các nhiệm vụ cải
cách hành chính Nhà nước về công tác tài chính ngân sách, kế hoạch, đầu tư, đăng ký
kinh doanh, kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân… Tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm
pháp luật về công tác tài chính, kế hoạch đầu tư và các kế hoạch sau khi được phê
duyệt. Tổ chức thông tin, tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về lĩnh vực tài
chính, đầu tư.
Thực hiện và chịu trách nhiệm về thẩm định, đăng ký cấp giấy phép kinh doanh
trong phạm vi trách nhiệm và thẩm quyền của phòng theo qui định của pháp luật.
Đặng Quốc Việt - Đầu tư 47
C
Hướng dẫn chuyên môn nghiệp vụ về công tác tài chính kế hoạch, kế toán, công tác đầu
tư đối với cơ quan, đơn vị xã, thị trấn trên địa bàn quản lý.
Tổ chức ứng dụng tiến bộ khoa học, công nghệ, xây dựng hệ thống thông tin lưu trữ
phục vụ cho công tác chuyên môn nghiệp vụ của phòng nhằm nâng cao năng suất lao
động, hiệu quả công tác. Thực hiện công tác thông tin, báo cáo định kỳ và đột xuất về
tình hình thực hiện nhiệm vụ được giao với UBND huyện, sở tài chính, sở kế hoạch và
đầu tư.
Tổ chức kiểm tra về công tác tài chính, kế hoạch, đầu tư và kinh doanh đối với các
tổ chức và cá nhân trong việc thực hiện các quy định của pháp luật. Giải quyết kịp thời
những khiếu nại và tố cáo liên quan đến công tác tài chính, tài sản, đầu tư và kinh doanh
theo quy định của pháp luật và phân công của UBND huyện.
Bảo quản và quản lý chặt chẽ tài sản do UBND huyện giao; thực hiện các nhiệm vụ
khác theo sự phân công của UBND huyện.
1.1.3. Công tác – hoạt động chính của phòng TC - KH
1.1.3.1 Về công tác tài chính ngân sách
Phòng đã tham mưu cho UBND huyện thực hiện tốt chức năng quản lý Nhà nước về

công tác tài chính ngân sách. Chấp hành nghiêm luật ngân sách, luật thực hành tiết kiệm
chống lãng phí từ khâu lập dự toán, phân bổ dự toán, giao dự toán, công khai dự toán và
thực hiện điều hành dự toán. Do vậy kết quả thực hiện dự toán ngân sách các năm đều
thu được kết quả tốt.
Phối hợp với các cơ quan liên quan và UBND các xã, thị trấn thường xuyên kiểm
tra, đôn đốc các xã, thị trấn quản lý chặt chẽ, khai thác triệt để các nguồn thu trên địa
bàn và đôn đốc các doanh nghiệp và các đối tượng nộp thuế thu nộp vào ngân sách kịp
thời, nên kết quả thu ngân sách Nhà nước trên địa bàn qua các năm luôn cao hơn so với
dự toán được giao. Một số chỉ tiêu thu đạt tỷ lệ cao so với dự toán được giao như: lệ phí
trước bạ, thuế sử dụng đất nông nghiệp, thuế nhà đất, thuế chuyển quyền sử dụng đất,
thu tiền sử dụng đất, thu từ quỹ đất công ích và quỹ đất công tại xã…vv.
Thường xuyên phối hợp với sở Tài chính để cấp bổ sung kịp thời kinh phí cho ngân
sách huyện đảm bảo nguồn kinh phí duy trì hoạt động của các cơ quan đơn vị, các xã,
thị trấn cũng như phục vụ cho sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của huyện và các
nhiệm vụ đột xuất khác. Trong quá trình điều hành chi ngân sách huyện cơ bản điều
Đặng Quốc Việt - Đầu tư 47
C
hành theo dự toán đã được duyệt đáp ứng nhu cầu hoạt động của các đơn vị dự toán và
các xã, thị trấn.
Tổ chức công tác thẩm định và xét duyệt quyết toán quý, năm cho các đơn vị và các
xã, thị trấn theo đúng quy định của luật ngân sách. Duy trì chế độ giao ban quý đối với
các xã, thị trấn. Phối hợp với sở Tài chính tổ chức tập huấn chuyên môn, nghiệp vụ kế
toán máy các xã, thị trấn.
Phối hợp với Thanh tra sở Tài chính thanh tra công tác ngân sách xã Quang Húc,
Hùng Đô, Dị Nậu, Hương Nộn, Hùng Đô; thanh tra ngân sách các đơn vị dự toán sự
nghiệp giáo dục và các đơn vị dự toán trên địa bàn huyện.
Phối hợp với Uỷ ban kiểm tra Huyện uỷ kiểm tra việc thanh lý tài sản và tiền thu
hoa lợi công sản tại các xã.
Phối hợp với Thanh tra huyện thanh tra công tác ngân sách xã , giải quyết đơn khiếu
nại , thanh tra ngân sách các đơn vị dự toán sự nghiệp giáo dục

1.1.3.2. Về công tác đăng ký kinh doanh- công tác kế hoạch và đầu tư
Thẩm định và cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh cho các tổ chức và cá nhân đảm
bảo đúng quy định, kịp thời.
Tham mưu cho UBND huyện trong công tác xây dựng kế hoạch, giao kế hoạch và
tổ chức chỉ đạo triển khai thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế -xã hội theo Nghị quyết
của HĐND huyện và tỉnh giao.
Thường xuyên theo dõi tình hình thực hiện các chỉ tiêu kế hoạch về phát triển kinh
tế - xã hội của các xã, thị trấn các cơ quan đơn vị để tham mưu cho UBND huyện trong
việc chỉ đạo điều hành và tổ chức thực hiện do đó các chỉ tiêu KT - XH đều đảm bảo
hoàn thành và hoàn thành vượt mức so với kế hoạch.
Tổ chức thực hiện tốt công tác tham mưu cho UBND huyện trong công tác đầu tư
xây dựng. Thẩm định và trình duyệt các hạng mục công trình đầu tư XDCB trên địa
bàn.
Đánh giá, giám sát đầu tư, hướng dẫn các chủ đầu tư thực hiện đầy đủ các trình tự
thủ tục theo quy định về đầu tư XDCB.Thẩm định nguồn vốn đầu tư trước khi có chủ
trương đầu tư các công trình trên địa bàn, do đó các công trình đầu tư trên địa bàn đều
đảm bảo nguồn vốn thanh toán.
Đặng Quốc Việt - Đầu tư 47
C
Thẩm định quyết toán vốn đầu tư các công trình XDCB hoàn thành trình UBND
huyện phê duyệt kịp thời theo đúng quy định của Nhà nước.
Thực hành tiết kiệm, tránh lãng phí trong đầu tư XDCB. Tranh thủ các nguồn vốn
đầu tư của cấp trên, tiết kiệm chi thường xuyên để đầu tư xây dựng cơ sở vật chất do
vậy cơ sở vật chất trên địa bàn huyện ngày càng được tăng cường.
Phối hợp với các phòng liên quan và UBND các xã, thị trấn đẩy mạnh công tác đấu
giá quyền sử dụng đất để tạo vốn xây dựng cơ sở hạ tầng. Trong năm đã tổ chức 8
phiên đấu giá tại các xã, thị trấn.
Tham gia Hội đồng định giá tài sản theo yêu cầu của UBND huyện và các ngành
liên quan theo chức năng và nhiệm vụ của phòng.
Tham gia thực hiện công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng xây dựng các công

trình đảm bảo đúng trình tự, thủ tục quy định. Thực hiện công tác thẩm định và trình
duyệt kinh phí bồi thường giải phóng mặt bằng đảm bảo đúng chế độ, chính sách, tổ
chức chi trả đầy đủ, kịp thời. Tham mưu cho UBND huyện giải quyết kịp những kiến
nghị, thắc mắc của dân trong công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng do vậy trong
năm không có khiếu kiện phức tạp về công tác BTGPMB.
1.1.3.3. Công tác giám sát, đánh giá đầu tư
Về cơ chế quản lý đầu tư: tổ chức quản lý tăng cường phân cấp, ủy quyền trong
quản lý đầu tư, giám sát trực tiếp hoạt động của chủ đầu tư, các cơ quan, đơn vị, xã, thị
trấn, gắn với việc quản lý, sử dụng tài sản sau đầu tư. Về bố trí kế hoạch: tiến hành xây
dựng kế hoạch, danh mục đầu tư từ các nguồn vốn tập trung , các dự án, công trình thiết
yếu; bố trí các dự án quan trọng như xây dựng cơ sở hạ tầng trường học, trạm y tế, nhà
trẻ, nhà mẫu giáo. Việc bố trí danh mục đầu tư đảm bảo yêu cầu, không dàn trải.
Công tác chuẩn bị đầu tư: đóng góp xây dựng quy hoạch ngành, quy hoạch địa
phương, trực tiếp lập những dự án cần thiết.
Công tác thực hiện đầu tư: tổng hợp báo cáo các đơn vị thực hiện đầu tư, thực hiện
đánh giá tiến độ, phát hiện những sai phạm vướng mắc trong quá trình đầu tư, tổ chức
các đoàn giám sát hoạt động đầu tư, kịp thời trình lên UBND huyện. Tiến hành đánh giá
hiệu quả các dự án sau khi được đưa vào hoạt động; tiến hành tổng kết rút kinh
nghiệm.
Đặng Quốc Việt - Đầu tư 47
C
Nhìn chung dưới sự chỉ đạo, giám sát quản lý của UBND huyện công tác giám sát,
đánh giá đầu tư đã được thủ trưởng các cơ quan, đơn vị, Chủ tịch UBND xã, thị trấn
quan tâm hơn, do vậy công tác giám sát, đánh giá đầu tư đã có những chuyển biến tích
cực. Tại các cơ quan, đơn vị xã, thị trấn đã thành lập các đơn vị đầu mối hoặc giao
nhiệm vụ cho các bộ phận thực hiện công tác này. Một số đơn vị đã ban hành các quy
định cụ thể về việc thực hiện công tác giám sát, đánh giá đầu tư ở địa phương mình.
Hoạt động giám sát, đánh giá đầu tư của các cơ quan, đơn vị, xã, thị trấn đang dần đi
vào nề nếp.
Tiến hành công tác bồi dưỡng cán bộ ở các đơn vị, các xã. Đối với cấp huyện, ngoài

việc cử cán bộ tham dự các lớp tập huấn do tỉnh tổ chức; huyện còn tự tổ chức các lớp
bồi dưỡng nghiệp vụ và phổ biến kịp thời các quy định mới về quản lý đầu tư và xây
dựng.
1.2 ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN HUYỆN TAM NÔNG - TỈNH PHÚ THỌ
1.2.1 Vị trí địa lý
Tam Nông là một huyện miền núi, nằm ở phía Đông Nam của tỉnh Phú Thọ; có toạ
độ địa lý 21013’ đến 21024’ vĩ Bắc và từ 105009’ đến 105021’ kinh Đông. Địa giới
hành chính của huyện như sau:
Phía Bắc giáp Thị xã Phú Thọ, với ranh giới tự nhiên là phân thuỷ giữa sông Thao.
Phía Tây Bắc giáp huyện Thanh Ba, với ranh giới tự nhiên là sông Thao.
Phía Nam giáp huyện Thanh Thuỷ và Thanh Sơn.
Phía Đông Nam giáp huyện Ba Vì (nay là Hà Nội) ranh giới tự nhiên là sông Đà
Phía Đông Bắc giáp huyện Lâm Thao với ranh giới là phân thuỷ giữa sông Thao.
Phía Tây giáp huyện Cẩm Khê và huyện Yên Lập.
Huyện có vị trí khá thuận lợi trong phát triển kinh tế - xã hội vì gần tỉnh Việt Trì, thị
xã Phú Thọ; Có hệ thống giao thông đường bộ, đường thuỷ thuận tiện nối liền với các
tỉnh miền núi phía Bắc và Thủ đô Tỉnh, là đầu mối giao thông quan trọng trong việc
trung chuyển hàng hoá và nối liền hệ thống kinh tế giữa các tỉnh Trung du miền núi Bắc
Bộ với Tỉnh Tỉnh.
Huyện có diện tích tự nhiên 15.596,92 ha, chiếm 4,43% diện tích tự nhiên của tỉnh
Phú Thọ. Huyện lỵ đặt tại Thị trấn Hưng Hoá. Toàn huyện có 20 đơn vị hành chính,
trong đó có 19 xã và 1 thị trấn: Vực Trường, Hiền Quan, Hương Nha, Xuân Quang,
Đặng Quốc Việt - Đầu tư 47
C
Thanh Uyên, Tam Cường, Văn Lương, Tứ Mỹ, Phương Thịnh, Hùng Đô, Quang Húc,
Tề Lễ, Cổ Tiết, Hương Nộn, Dị Nậu, Thọ Văn, Dậu Dương, Thượng Nông, Hồng Đà
và thị trấn Hưng Hoá.
1.2.2 Tài nguyên thiên nhiên
1.2.2.1 Tài nguyên đất
Địa hình của huyện Tam Nông tương đối đa dạng, thể hiện những nét đặc trưng của

một vùng bán sơn địa. Đất đai có núi, đồi, ruộng, đồng, sông, ngòi, hồ, đầm. Dạng địa
hình chính của huyện Tam Nông theo hướng nghiêng dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam.
Nhìn chung địa hình, địa mạo của huyện chia làm 2 dạng chính.
Địa hình đồng bằng phù sa: Đây là dải đất tương đối bằng phẳng được bồi đắp bởi
sông Hồng, sông Đà và sông Bứa; Tập trung ở ven sông gồm các xã, thị trấn: Vực
Trường, Hiền Quan, Hương Nha, Thanh Uyên, Tam Cường, Hương Nộn, thị trấn Hưng
Hoá, Dậu Dương, Thượng Nông, Hồng Đà, Quang Húc, Hùng Đô và Tứ Mỹ. Độ dốc
thường dưới 30, còn một phần là dải đất phù sa cổ có địa hình lượn sóng, ruộng dộc có
độ dốc từ 3 - 50
Địa hình đồi, núi thấp: Tập trung ở các xã: Dị Nậu, Thọ Văn, Phương Thịnh, Văn
Lương, Xuân Quang, Cổ Tiết và Tề Lễ. Địa hình, chủ yếu là đồi núi, độ dốc thấp có độ
cao trung bình từ 30 - 40 m so với mặt nước biển
Tổng diện tích tự nhiên của huyện là 15.596,92 ha. Trong đó: Diện tích đất nông
nghiệp là 11.315,24 ha, chiếm 72,55%; đất phi nông nghiệp là 3.888,40 ha, chiếm
24,93%; đất chưa sử dụng là 393,28 ha, chiếm 2,52%. Do đặc điểm vị trí là nơi tiếp
giáp giữa miền núi và đồng bằng nên đất đai của huyện Tam Nông tương đối phong phú
và đa dạng, bao gồm một số loại đất chính như: Đất vàng đỏ phát triển trên nền đá sa
thạch và phiến thạch, đất đỏ vàng phát triển trên nền đá phiến Mica và Gnai, đất xám
vàng phát triển trên nền phù sa cổ, đất phù sa không được bồi hàng năm và đất phù sa
được bồi hàng năm của sông Hồng, sông Đà, sông Bứa, đất thung lũng dốc tụ, đất đồi
núi bậc thang bạc mầu và đất lầy thụt.
Hiện trạng sử dụng đất năm 2007 của huyện: Tổng diện tích tự nhiên 15.596,92 ha.
Trong đó đất nông nghiệp 11.319,32 ha, chiếm 72,5%; đất phi nông nghiệp 3.884,32 ha,
chiếm 24,91%; đất chưa sử dụng 393,28 ha, chiếm 2,52%.
Đặng Quốc Việt - Đầu tư 47
C
Bảng 1.1 Tình hình sử dụng đất đai của giai đoạn 2001 - 2007
(ĐV: Ha)
STT Mục đích sử dụng đất Năm 2001 Năm 2007 2007 - 2001
1 2 4 5 (6) = (4)-(5)

Tổng diện tích đất tự nhiên 15.551,34 15.596,92 45,58
1 Đất nông nghiệp 9.313,25 11.315,24 2.001,99
1.1 Đất sản xuất nông nghiệp 6.239,58 7.133,50 893,92
1.1.1 Đất trồng cây hàng năm 4.686,50 4.966,27 279,77
1.1.1.1 Đất trồng lúa 3.562,73 3.680,70 117,97
1.1.1.2
Đất cỏ dùng vào chăn nuôi 28,32 28,76
0,44
1.1.1.3
Đất trồng cây hàng năm khác 1.095,45 1.256,81
161,36
1.1.2 Đất trồng cây lâu năm 1.553,08 2.167,23 614,15
1.2 Đất lâm nghiệp 2.933,56 3.604,47 670,91
1.2.1 Đất rừng sản xuất 2.535,57 2.877,97 342,40
1.2.2 Đất rừng phòng hộ 397,99 726,50 328,51
1.3 Đất nuôi trồng thuỷ sản 139,38 576,54 437,16
1.4 Đất nông nghiệp khác 0,73 0,73 0,00
2 Đất phi nông nghiệp 4.446,00 3.888,40 -557,60
3 Đất chưa sử dụng 1.792,09 393,28 -1.398,81
Nguồn: Phòng tài nguyên và môi trường
1.2.2.2 Tài nguyên nước
Trên địa bàn huyện có 3 dòng sông chảy qua là: sông Hồng, sông Đà và sông Bứa.
Sông Thao chảy qua 11 xã với chiều dài 34km. Lưu lượng dòng chảy vào mùa mưa rất
lớn, tháng 8 có lưu lượng lớn nhất là 2.960m3/s và ngược lại mùa khô rất thấp, tháng 3
có lưu lượng là 296m3/s. Do chảy qua hầu hết các xã trên địa bàn huyện nên sông Thao
có vai trò rất quan trọng trong việc cung cấp nước cho sản xuất và sinh hoạt của nhân
dân; đồng thời cũng cung cấp một lượng phù sa mới cho đồng ruộng góp phần vào việc
cải thiện độ phì của đất. Sông Đà có chiều dài 4,1km, đây cũng chính là đoạn hợp lưu
của sông Đà vào sông Thao thành sông Hồng; Sông Bứa có chiều dài 12km. Lưu lượng
dòng chảy trong mùa mưa cao nhất vào tháng 9 là 89,4m3/s và trong mùa khô thấp nhất

là tháng 3 có 9,88m3/s. Sông Bứa cũng góp phần tích cực vào việc tưới, tiêu và bồi đắp
phù sa cho đồng ruộng. Tuy nhiên, do dòng sông hẹp và chảy qua địa hình đồi núi, độ
dốc cao nên vào mùa mưa lũ lớn xảy ra từ 2 - 3 lần/năm. Tam Nông còn có rất nhiều
suối, ao, hồ, đập. Đây là những nguồn nước tự nhiên phục vụ cho sản xuất nông nghiệp
Nhìn chung các nguồn nước cung cấp đủ để nuôi trồng thuỷ sản, nước tưới phục vụ
sản xuất nông nghiệp và nước sinh hoạt cho nhân dân. Ngoài nguồn nước được cung
Đặng Quốc Việt - Đầu tư 47
C
cấp bởi các dòng sông thì các ao hồ, kênh mương cũng góp phần tích cực trong việc
phục vụ sản xuất và điều tiết nguồn nước vào mùa mưa cũng như mùa khô trên địa bàn.
1.2.2.3 Tài nguyên khoáng sản
Hiện nay, trên địa bàn huyện có 9 loại mỏ khoáng sản và điểm quặng trong đó có 2
mỏ lớn vừa, 3 mỏ nhỏ và 4 điểm quặng gồm có: Than bùn tại Cổ Tiết 2 mỏ, trữ lượng
khoảng 456.000 tấn. Mica tại Thọ Văn 01 mỏ, trữ lượng khoảng 5.000 tấn. Ngoài ra
còn có 01 mỏ khác tại xã Dị Nậu, nhưng chưa được thăm dò trữ lượng của mỏ. Caolin -
Fenpats tại Dị Nậu có trữ lượng Caolin khoảng 3.319.000 tấn, Fenpats khoảng
2.991.000 tấn. Cát xây dựng tại các dòng sông trữ lượng khoảng 3,5 triệu m3. Cuội Sỏi
tại Cổ Tiết, có trữ lượng khoảng 12.748.800 m3.
Khoáng sản ở của huyện Tam Nông về số lượng và chủng loại không nhiều, nhưng
khá tập trung và trữ lượng cao, lộ thiên dễ khai thác.
1.2.2.4 Tài nguyên rừng
Tài nguyên rừng của huyện Tam Nông hiện nay đang được phục hồi và ngày càng
phát triển. Theo số liệu thống kê đất đai năm 2007, tổng diện tích đất rừng là 3.604,47
ha chiếm 23,11% tổng diện tích tự nhiên của huyện. Trong đó: Rừng trồng sản xuất
2.877,97ha, chiếm 18,45%; Rừng trồng phòng hộ chiếm 4,66%. Tài nguyên rừng đã
góp phần giữ nước đầu nguồn, hạn chế quá trình xô lũ, cải thiện cảnh quan môi trường
và cung cấp các loại gỗ nguyên liệu cho công nghiệp và chất đốt cho nhân dân.
1.2.3 Dân số
Người Kinh chiếm 99% dân số, cư trú ở hầu hết các xã, thị trấn. Nhân dân có kinh
nghiệm canh tác trên đồi, núi, ruộng trũng, đất phù xa, kết hợp sản xuất nông nghiệp

với lâm nghiệp, chăn nuôi gia súc, trồng cây bản địa và cây công nghiệp, nuôi trồng
thuỷ sản, trồng rau quả vùng nhiệt đới. Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên có xu hướng giảm,
năm 2001 là 0,92% và năm 2007 còn 0,89%. Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên bình quân hàng
năm thấp hơn 1%.
Tình hình phân bố dân cư giữa các xã, thị trấn không đều, đông nhất là xã Hương Nộn,
Hiền Quan, Thị trấn Hưng Hoá, xã Hồng Đà, thưa dân cư nhất là xã Tề Lễ, Dị Nậu, Thọ Văn.
Mật độ dân số trung bình là 527 người/km2.
Bảng 1.2 Thực trạng phát triển dân số qua các năm 2001 - 2007
Chỉ tiêu Đơn vị 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007
1. Tổng số dân người 79.522 79.201 80.187 80.838 81.525 81.908 82.183
Đặng Quốc Việt - Đầu tư 47
C
2. Tỷ lệ tăng tự nhiên % 0,92 0,72 0,87 0,77 0,78 0,73 0,89
3. Theo giới tính % 100,0 100,0 100,0 100,0 100,0 100,0 100,0
Nam giới % 48,5 48 48,2 48,3 48,5 48,5 48,5
Nữ giới % 51,2 52 51,8 51,7 51,5 51,5 51,5
4. Theo khu vực % 100,0 100,0 100,0 100,0 100,0 100,0 100,0
Khu vực đô thị % 5 5,1 5 5,4 5,3 5,3 5,3
Khu vực nông thôn % 95 94,9 95 94,6 94,7 94,7 94,7
1.3 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ HUYỆN TAM NÔNG
Trong phát triển kinh tế huyện thì nông nghiệp vẫn đóng vai trò chủ đạo, cơ cấu
kinh tế ngày càng được chuyển biến. Các ngành tiểu thủ công nghiệp cũng được chú
trọng đầu tư và phát triển. Từ năm 2001-2007, nền kinh tế của huyện tiếp tục ổn định
và phát triển đồng đều ở tất cả các ngành, các lĩnh vực. Sản xuất nông, lâm, thuỷ sản
tiếp tục phát triển theo hướng sản xuất hàng hoá, từng bước nâng cao chất lượng, giá trị
và hiệu quả kinh tế. Nông nghiệp - nông thôn có sự chuyển dịch cơ cấu các loại hình,
các thành phần kinh tế; công nghiệp - xây dựng tiếp tục duy trì được tốc độ tăng
trưởng; năng lực sản xuất của nhiều ngành, nhiều lĩnh vực tăng cao. Các ngành dịch vụ
tiếp tục có chuyển biến, quy mô thị trường tiếp tục được mở rộng; Cơ cấu kinh tế của
huyện đã có sự chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp - xây dựng, dịch vụ

giảm tỷ trọng ngành nông nghiệp. Nhìn chung: hiện nay kinh tế của huyện chủ yếu vẫn
là kinh tế nông nghiệp, việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế tuy chưa đạt mức theo yêu cầu
nhưng đã có dấu hiệu chuyển đổi tích cực.
1.3.1 Thực trạng phát triển ngành nông, lâm nghiệp và thuỷ sản
Giai đoạn 2001-2007 sản xuất nông, lâm, thuỷ sản của huyện đã có những bước
phát triển khá toàn diện, hiệu quả, đã đảm bảo an ninh lương thực, thực phẩm, ngoài ra
còn sản xuất hàng hoá cung cấp cho thị trường trong nước và xuất khẩu. Nhiều mô hình
sản xuất mới trong nông nghiệp cho năng suất cao, hiệu quả cao đã được đưa vào áp
dụng và nhân rộng. Nông nghiệp ngày càng phát triển theo hướng sản xuất hàng hoá, cơ
cấu kinh tế nông nghiệp có sự chuyển dịch mạnh, từ độc canh cây lúa sang phát triển đa
dạng hoá các sản phẩm, việc chuyển đổi diện tích trồng trọt kém hiệu quả sang nuôi
trồng thuỷ sản đang được tích cực triển khai, phát triển chăn nuôi đã đem lại hiệu quả
kinh tế cao cho sản xuất.
1.3.1.1 Ngành trồng trọt
Đặng Quốc Việt - Đầu tư 47
C
Việc sản xuất trong ngành trồng trọt hiện nay diễn ra chủ yếu trên qui mô cá thể hộ
gia đình do đó việc áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất, cơ giới hoá gặp rất nhiều
khó khăn. Trong cơ cấu ngành trồng trọt vẫn tập trung chủ yếu vào các cây lương thực.
Về sản xuất lương thực: Diện tích đất sản xuất lương thực tăng 5,22% trong khi mặt
bằng đất canh tác giảm 146 ha, diện tích tăng chủ yếu là do tăng vụ. Do trong sản xuất
nông nghiệp đã tích cực triển khai đưa nhiều giống cây trồng mới có năng suất cao vào
sản xuất, nên đã đưa năng suất lúa từ 41,5 tạ/ ha năm 2001, lên 44,0 tạ/ ha năm 2007.
Lương thực bình quân đầu người từ 321 kg năm 2001 lên 355 kg vào năm 2007, so với
năm 2001 đã tăng 34,0 kg và gấp 1,1 lần.
Đối với sản xuất lúa: đã chuyển dịch mạnh cơ cấu các trà lúa, giống lúa. Ở vụ Đông
xuân, trà xuân muộn đã chiếm trên 56% diện tích sản xuất lúa toàn huyện. Vụ đông
được chú trọng chỉ đạo mở rộng qua các năm, đến nay đã là vụ sản xuất chính, diện tích
cây vụ đông từ 1.389,5 ha năm 2001 lên 1.490,1 ha năm 2007, góp phần nâng cao thu
nhập trên đơn vị diện tích. Sự chuyển dịch cơ cấu sản xuất trong nông nghiệp đã xuất

hiện nhiều mô hình sản xuất đạt hiệu quả kinh tế cao. (theo số liệu điều tra năm 2007
huyện đã xây dựng 43 mô hình, trong đó có 33 mô hình đạt tiêu chí thu nhập cao).
Cây công nghiệp dài ngày như cây sơn, diện tích trồng sơn năm 2007 là 445 ha, tăng
317,9 ha so với năm 2001, sản lượng nhựa sơn tăng 3,5 lần (tăng bình quân mỗi năm
21%), giá trị tăng 3,1 lần (tăng bình quân mỗi năm 21%), đặc biệt là giai đoạn 2004 -
2006 mỗi năm tăng bình quân 34,7% giá trị. Diện tích trồng sơn tăng mạnh: năm 2001
là 127,1 ha tới năm 2007 đã đạt tới 450 ha, GTSX cây sơn đạt 9,11 tỷ đồng. Tính trên
mỗi ha trồng sơn cho hiệu quả kinh tế gấp 1,2 lần trồng lúa. So với các cây trồng khác
cây sơn mang lại hiệu quả rất cao. Trồng một ha sơn trên đất đồi trung bình hàng năm
chỉ cần cho thu 300 kg nhựa đã tương đương với 8 - 8,5 tấn thóc trong khi đó trồng sắn,
cây ăn quả, trồng bạch đàn hiện nay mới đạt 4-5 tấn thóc/ha/năm, nhưng không ổn định.
Đây là hướng đi phát triển mới ngành trồng trọt huyện. Nhằm chuyển đổi cơ cấu sản
xuất trong nông nghiệp trên địa bàn, phát triển theo hướng sản xuất tập trung, tạo ra
khối lượng sản xuất hàng hoá lớn có giá trị kinh tế huyện đang triển khai dự án ĐTPT
cây sơn nhựa trên địa bàn từ 2004 - 2010. Với ưu thế về điều kiện tự nhiên thiên nhiên
rất thuận lợi cho việc trồng, sản xuất sơn trên diện rộng, dự án được triển khai hiệu quả,
bước đầu đã đem lại hiệu quả kinh tế cho người dân trồng sơn.
Đặng Quốc Việt - Đầu tư 47
C
Cây công nghiệp ngắn ngày chủ yếu là lạc, đậu tương: diện tích trồng tương đối ổn
định khoảng 900 ha, tuy nhiên do có sự đầu tư thâm canh và áp dụng các tiến bộ kỹ
thuật nên sản lượng năm 2007 so với năm 2001 tăng 1,37 lần, giá trị sản lượng tăng 3,7
lần.
Bảng 1.3 GTSX ngành trồng trọt năm 2007
Các chỉ tiêu
Sản lượng
(tấn )
Đơn giá
(nghìn đồng)
GTSX

(tỷ đồng)
Giá CĐ Giá TT Giá CĐ Giá TT
A) Cây lương thực 46,516 93,460
1) Lúa 19545,0 1.600 3.200 31,272 62,544
2) Ngô hạt khô 7477,9 1.570 3.200 11,740 23,929
3) Khoai lang tươi 814,9 500 1.200 0,407 0,977
4) Sắn tươi 5859,0 520 1.000 3,046 5,859
5) Cây chất bột khác 100,0 500 1.500 0,05 0,150
B) Rau đậu các loại 5344,6 940 2000 5,023 10,689
C) Cây CN hàng năm 4,475 13,864
1) Đỗ tương 140,6 3.500 10.000 0,492 1,406
2) Lạc vỏ khô 1203,2 3.200 10.000 3,850 12,032
3) Mía 360,0 210 900 0,075 0,324
4) Cây CN hàng năm khác 57,120 0,102
D) Cây CN lâu năm 2,003 10,772
1) Cây chè 376,8 1.500 2.800 0,565 1,656
2) Cây sơn 115,4 9.000 79.000 1,438 9,116
E) Cây ăn quả lâu năm 28,311 31,668
1) Cây cam, quýt 81,4 3.400 9.000 0,276 0,732
2) Cây dứa 157,3 1.000 1.200 0,157 0,189
3) Cây chuối 3150 1.300 1.000 4,095 3,150
4) Cây bưởi 206,4 1.600 3.000 0,330 0,619
5) Nhãn, vải, xoài 1402,4 11.000 9.200 15,426 12,902
6) Cây chanh 120,1 2.500 11.000 0,300 1,321
7) Cây táo 144,9 1.300 2.000 0,188 0,290
8) Cây ăn quả khác 2261 2.830 4.500 6,398 10,174
9) Các loại cây khác 1,138 2,290
G) Sản phẩm phụ trồng trọt 1,296 1,832
Tổng cộng 87,626 162,285
Phân tích cơ cấu ngành trồng trọt năm 2007 ta có thể thấy rõ cây lương thực vẫn

chiếm tỷ trọng chính trong cơ cấu GTSX (57,4% ), riêng sản xuất lúa chiếm tới 38,2 %
trong GTSX ngành trồng trọt. Các cây công nghiệp hàng năm và cây công nghiệp lâu
năm vẫn chiếm tỷ trọng thấp.
1.3.1.2 Ngành chăn nuôi
Đặng Quốc Việt - Đầu tư 47
C
Năm 2007 tổng GTSX lĩnh vực chăn nuôi đạt 48,95 tỷ đồng (giá cố định). Trong cơ
cấu ngành nông nghiệp, lĩnh vực chăn nuôi chiếm tỷ trọng 33,2%. Trong đó: Chăn nuôi
gia súc chiếm tỷ trọng 59% toàn lĩnh vực chăn nuôi, chăn nuôi gia cầm chiếm 16% và
sản phẩm chăn nuôi khác chiếm 14%. Tổng đàn bò là 18.216 con, so với năm 2001 tăng
1,73 lần, đàn trâu có xu hướng giảm, với tổng đàn là 3.212 con giảm 0,102 lần; Sản
lượng thịt lợn hơi xuất chuồng tăng 1,16 lần, sản lượng trứng gia cầm tăng 1,04 lần so
với năm 2001, riêng chăn nuôi gia cầm biến động không lớn về tổng đàn, nhưng có xu
hướng giảm số hộ nuôi và tăng qui mô chăn nuôi trong mỗi nông hộ.
Trong cơ cấu vật nuôi : chăn nuôi lợn chiếm tỷ trọng chính trong GTSX ngành chăn
nuôi (56,3%). Qui mô chăn nuôi nhỏ lẻ, chủ yếu là tận dụng các sản phẩm từ ngành
trồng trọt do đó nên hiệu quả kinh tế không cao. Ngành chăn nuôi trong những năm vừa
qua chưa được chú trọng đầu tư đúng mức nên tốc độ phát triển chậm. Về chuyển đổi
cơ cấu giống: Tỷ lệ lợn ngoại và lợn lai hướng nạc đạt 14% tổng đàn (năm 2007); đàn
lợn nái ngoại chiếm 14,3% tổng đàn lợn nái (năm 2007); tỷ lệ đàn bò lai sind đến năm
2007 đạt 18% tăng 3 lần so với năm 2001.
Bảng 1.4 GTSX ngành chăn nuôi năm 2007
Các chỉ tiêu
Sản lượng
(tấn )
Đơn giá
(nghìn đồng)
GTSX
(tỷ đồng)
Giá CĐ Giá TT Giá CĐ Giá TT

A) Gia súc gia cầm 38,753 87,724
1) Lợn 2756,9 8.000 18.000 22,055 49,424
2) Trâu 200 6.330 25.000 1,266 5,000
3) Bò 634 8.300 25.000 5,262 15,850
4) Gà, vịt, ngan ngỗng 590 13.000 25.000 7,670 14,750
5) Chăn nuôi khác 2,500 2,500
B) S.phẩm không qua giết
mổ
5,690 10,800
1) Trứng các loại (1000 quả) 8114,0 670 1.200 5,436 9,736
2) Mật ong 19,0 13.400 56.000 0,254 1,064
C) Săn bắt thuần dưỡng 3,500 3,500
D) Các s.phẩm phụ 1,009 3,107
Tổng số 48,954 101,623
Nhìn chung việc phát triển ngành chăn nuôi trong những năm qua gặp rất nhiều khó
khăn, từ năm 2005 - 2007 GTSX ngành chăn nuôi không có xu hướng tăng. Sản xuất
chăn nuôi ở địa bàn đều ở qui mô cá thể hộ gia đình, tuy qui mô chăn nuôi mỗi hộ trong
những năm gần đây có xu hướng tăng nhưng đây thực sự là một rào cản đối với sự phát
triển của ngành chăn nuôi trong những năm qua. Trên địa bàn không có cơ sở sản xuất
Đặng Quốc Việt - Đầu tư 47
C
chăn nuôi qui mô lớn, tập trung, mô hình trang trại, chăn nuôi tập trung chưa được phát
triển, nhân rộng. Việc sản xuất chăn nuôi ở qui mô nhỏ gây khó khăn rất lớn trong việc
áp dụng khoa học công nghệ vào sản xuất nâng cao năng suất hiệu quả kinh tế trong
chăn nuôi, đặc biệt là việc phòng dịch bệnh. Năm 2007 GTSX sản xuất ngành chăn nuôi
sụt giảm so với năm 2006 nguyên nhân chính do việc bùng phát dịch cúm gia cầm và
dịch lợn tai xanh gây thiệt hại ở diện rộng, ảnh hưởng lớn tới sản xuất chăn nuôi.
1.3.1.3 Ngành lâm nghiệp
GTSX lâm nghiệp năm 2007 đạt 7,08 tỷ đồng, tăng bình quân 11,3%/năm ở giai
đoạn 2001 - 2007. Trồng rừng tập trung mới hàng năm đạt 251,5 ha (năm 2007), trồng

cây phân tán bình quân 60.000 -:- 80.000 cây/ năm, nâng tỷ lệ che phủ của rừng lên
24% năm 2007. Năm 2007 diện tích rừng sản xuất trên địa bàn là 2,87 nghìn ha, tăng
342 ha so với năm 2001 tuy nhiên GTSX ngành lâm nghiệp chỉ đạt 7,08 tỷ đồng.
Bảng 1.5 GTSX ngành lâm nghiệp năm 2007
Các chỉ tiêu
Sản lượng
(tấn )
Đơn giá
(nghìn đồng)
GTSX
(tỷ đồng)
Giá CĐ Giá TT Giá CĐ Giá TT
A) Trồng và nuôi rừng 1,200 2,433
1) Trồng rừng tập trung 251,5 2.350 5.600 0,591 1,408
2) Trồng cây phân tán 73,2 2.350 3.500 0,172 0,256
3) Chăm sóc rừng 946,0 450 800 0,425 0,756
4) Khoanh nuôi tái sinh 152,0 80 80 0,012 0,012
B) Khai thác lâm sản 5,800 10,138
1) Gỗ (m
3
) 4.350,0 450 750 1,957 3,262
2) Tre, luồng (1000cây) 60,8 6.500 10.000 0,395 0,608
3) Lá cọ (1000lá) 2.450,0 128 300 0,313 0,735
4) Củi (m
3
) 45.080,0 54 95 2,434 4,282
5) Nguyên liệu giấy 2.500,0 280 500 0,700 1,250
C) Thu nhặt s.phẩm từ rừng 0,077 0,077
D) Các dịch vụ lâm nghiệp 0,25 0,25
Tổng cộng 7,329 12,899

Diện tích rừng sản xuất chủ yếu trồng bạch đàn để lấy gỗ phục vụ sản xuất giấy và
làm nhiên liệu. Do không được đầu tư, không có chiến lược phát triển cụ thể, sản xuất
rừng mang tính tự phát trên qui mô nhỏ lẻ, cá thể nên hiệu quả kinh tế trong rừng sản
xuất đạt rất thấp, so với ngành trồng trọt thì hiệu quả kinh tế tính trên mỗi ha ngành lâm
nghiệp chỉ bằng 1/7. Trong cơ cấu ngành lâm nghiệp khai thác lâm sản chiếm tỷ trọng
chính chiếm 78,1 % GTSX ngành lâm nghiệp. 42 % GTSX trong việc khai thác rừng là
khai thác rừng làm củi nên hiệu quả kinh tế trong trồng và khai thác rừng là rất thấp.
Đặng Quốc Việt - Đầu tư 47
C
1.3.1.4 Ngành thuỷ sản
Tốc độ tăng trưởng ngành thuỷ sản giai đoạn 2001-2007 đạt trung bình
17,2%/năm. Những năm gần đây phát triển thuỷ sản vẫn giữ được mức tăng trưởng cao.
Do hình thức sản xuất và nuôi trồng thuỷ sản đã được chuyển từ quảng canh, phân tán
sang tập trung và thâm canh, bước đầu đưa các giống có năng suất, chất lượng cao vào
sản xuất. Đã có 27 trang trại nuôi trồng thuỷ sản chiếm 49% tổng số trang trại trên địa
bàn, trong đó khoảng 19 trang trại có doanh thu trên 50 triệu đồng/năm. Tuy qui mô các
trang trại còn nhỏ nhưng sản xuất đã đạt được hiệu quả kinh tế cao. Năm 2007, sản
lượng ngành thuỷ sản đạt 1.678,8 tấn (trong đó nuôi trồng 1.366,8 tấn), GTSX lĩnh vực
thuỷ sản đạt 12,82 tỷ đồng (giá cố định 1994), tăng bình quân 15,49%/năm. Trong cơ
cấu GTSX thuỷ sản, tỷ trọng nuôi trồng chiếm 90,6%, tỷ trọng khai thác tự nhiên giảm
xuống còn 9,4%. Diện tích nuôi trồng thuỷ sản tăng nhanh năm 2007 đã đạt diện tích
nuôi trồng đạt 998,5 ha, có thể thấy ngành thuỷ sản huyện còn rất nhiều tiềm năng để
phát triển tăng năng suất, hiệu quả kinh tế. Diện tích ao hồ tuy lớn nhưng chưa được sử
dụng khai thác triệt để. Năm 2005 huyện triển khai chương trình phát triển thủy sản
trong đó tập trung vào công tác nghiên cứu triển khai ứng dụng TBKT vào sản xuất
bước đầu đã đạt kết quả tốt. Các giống thuỷ sản mới có giá trị được nuôi thử nghiệm và
từng bước mở rộng sản xuất như Tôm càng xanh nuôi trên ruộng, Cá chép lai 3 máu, rô
phi đơn tính và đang đã được triển khai nhân rộng trên địa bàn huyện.
Bảng 1.6 GTSX ngành thuỷ sản năm 2007
Các chỉ tiêu

Sản lượng
(tấn )
Đơn giá
(nghìn đồng)
GTSX
(tỷ đồng)
Giá CĐ Giá TT Giá CĐ Giá TT
A) Giá trị thuỷ sản khai thác 312,0 1,450 1,871
B) Giá trị nuôi trồng thuỷ sản 1366,8 8.000 17.000 10,935 23,235
C) Giá trị dịch vụ thuỷ sản 0,440 0,531
Tổng cộng 12,825 25,637
Những năm tới huyện cần xây dựng qui hoạch phát triển ngành thuỷ sản cụ thể, từ
đó từng bước đầu tư, đưa các giống thuỷ sản mới vào sản xuất nâng cao hiệu quả kinh
tế ngành thuỷ sản. Vấn đề nổi bật hiện nay mà ngành thuỷ sản đang phải giải quyết là
tình trạng ô nhiễm ao hồ sông ngòi. Một phần do không có sự quản lý giám sát của nhà
nước, ý thức người dân chưa cao nên chất thải của dân cư và các nhà máy xí nghiệp đã
được thải trực tiếp ra sông hồ, ao ngòi. Một phần ô nhiễm cũng do quá trính chăn nuôi
thuỷ sản chưa chú trọng đúng mức tới vấn đề sử lý chất thải trong chăn nuôi. Ô nhiễm
Đặng Quốc Việt - Đầu tư 47
C
môi trường bước đầu đã có ảnh hưởng trực tiếp tới việc sản xuất thuỷ sản trên địa bàn,
nếu tình trạng này không được giải quyết triệt để và kịp thời thì sẽ rất khó để phát triển
ngành thuỷ sản 1 cách bền vững và hiệu quả.
1.3.2 Thực trạng phát triển ngành công nghiệp và xây dựng:
1.3.2.1 Ngành công nghiệp - TTCN
Ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và xây dựng đã có bước phát triển khá.
Tuy nhiên, tốc độ tăng trưởng chưa thật sự đảm bảo ổn định và bền vững, hiệu quả sản
xuất thấp, giá trị gia tăng công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp chưa cao, cơ sở hạ tầng
công nghiệp thiếu và chưa đồng bộ, chưa khai thác được lợi thế về địa kinh tế của
huyện.

Phát triển sản xuất công nghiệp là vấn đề hàng đầu mà huyện đang phải đối mặt
trong việc phát triển KT - XH. Tuy có mức tăng trưởng cao trong giai đoạn 2001 - 2007
nhưng mức tăng này có đóng góp phần lớn của ngành xây dựng do những năm gần đây
huyện được tỉnh và trung ương đầu tư rất lớn trong việc xây dựng cơ sở hạ tầng. Năm
2007 ngành xây dựng có mức tăng đột biến do chương trình xây dựng bê tông hoá
đường giao thông nôn thôn với sự đóng góp phần lớn của người dân. Hiện trạng phát
triển sản xuất công nghiệp của huyện là không tìm được hướng phát triển chính. Sự gia
tăng sản xuất ngành công nghiệp trong giai đoạn 2001-2007 chủ yếu trên diện mở rộng
qui mô các ngành sản xuất thủ công, kém hiệu quả. Trong ngành công nghiệp thì ngành
khai khoáng, sản xuất vật liệu xây dựng như cát sỏi và chế biến đồ gỗ da dụng, chiếm tỷ
trọng chính nhưng hầu hết đều ở qui mô nhỏ. Sản phẩm được sản xuất ra đều là những
sản phẩm đơn giản, thủ công chủ yếu đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của người dân địa
phương. Năm 2007, còn 1.129 cơ sở sản xuất CN, TTCN, trong đó hộ sản xuất tư nhân
và gia đình có 1.105 cơ sở tham gia sản xuất chủ yếu là sản xuất vật liệu xây dựng, khai
thác cát, làm đồ mộc, xay sát lương, may mặc, rèn, sửa chữa phương tiện vận tải, chiếm
93,38%. Về sản phẩm công nghiệp, có 11 nhóm sản phẩm chính
Bảng 1.7 Quy mô và tốc độ tăng một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu
Loại sản phẩm Đơn vị 2001 2003 2005 2007 Tăng BQ
1. Khai thác cát 1.000 m3 60 77 87 94 7,77
2. Khai thác Caolin thô Tấn 50 80 1.200 4.000 107,58
3. Gạch ngói 1.000v 10.121 18.789 17.532 24.640 15,99
4. Xay xát lương thực Tấn
21.000 24.500 32.253 38.730 10,74
Đặng Quốc Việt - Đầu tư 47
C
5. SX đậu phụ Tấn 450 835 940 956 13,38
6. Nấu rượu 1.000 lít
350 551 620 970 18,52
7. May đo quần áo 1.000 c 7,4 17,3 20 22 19,91
8. Công cụ cầm tay 1.000 c 28 34 40 42,5 7,20

9. Giường, tủ, bàn, ghế SP 1.100 4.377 4.950 6.285 33,71
10. Gỗ xẻ M3 339 631 1.125 2.925 43,21
11. Đan sọt, rổ, rá SP
12.000 25.000 47.000 40.245 22,35
Nguồn: Phòng Thống kê huyện Tam Nông
Công nghiệp chế biến phát triển nhanh trong những năm qua, trong đó tập trung chủ
yếu là chế biến gỗ, sản phẩm làm từ gỗ, tre, nứa... Công nghiệp chế biến chủ yếu mang
tính chất gia công, không có cơ sở lớn, sản phẩm không có tính cạnh tranh.
Công nghiệp khai thác khoáng sản, mỏ đã và đang được đầu tư khai thác. Hiện nay,
đã có 2 cơ sở khai thác Caolin, Fenpats với diện tích 15,32 ha và nhà xưởng tuyển
quặng với diện tích 1.620 m2 nhà xưởng tại xã Dị Nậu, khai khác Thạch Anh tại xã Thọ
Văn.
Về phát triển làng nghề, làng có nghề: Phát triển làng nghề và làng có nghề là một
chủ trương lớn của Nhà nước và một trong những hướng đi quan trọng giúp tạo công ăn
việc làm và thu nhập cho người dân. Năm 2004, UBND tỉnh đã công nhận làng nghề
mộc Minh Đức - xã Thanh Uyên. Đồng thời hỗ trợ vốn để phát triển nghề mây tre đan
tại xã Tam Cường, Dậu Dương, Thượng Nông và thị trấn Hưng Hoá, phát triển nghề
sơn mài truyền thống tại xã Thọ Văn. Nhưng do đây là ngành nghề mới nên việc triển
khai nhân rộng còn gặp nhiều khó khăn.
Khu công nghiệp Tam Nông thuộc địa bàn các xã Cổ Tiết, Tam Cường, Văn Lương,
Thanh Uyên với quy mô 450 ha hiện đang hoàn thiện các thủ tục quy hoạch, trình
Chính phủ phê duyệt. Khu công nghiệp Tam Nông đã thu hút được 3 dự án đầu tư là
xây dựng Nhà máy sản xuất cồn, rượu, Nhà máy may và Nhà máy sản xuất gốm xây
dựng vốn đầu tư ước đạt trên 100 tỷ VNĐ. Tuy nhiên, hiện nay việc quy hoạch, đầu tư
xây dựng hạ tầng khu công nghiệp mới chỉ thực hiện tại khu công nghiệp Trung Hà.
Còn khu công nghiệp Tam Nông và Khu đô thị, du lịch sinh thái và thể thao Tam Nông
đang trong quá trình quy hoạch, cơ sở hạ tầng đang từng bước được đầu tư.
Công nghiệp không tìm được hướng đi, không thu hút được lao động phổ thông gây
áp lực lao động trở lại đối với ngành nông nghiệp. Năm 2007 số lao động trong khu vực
nông nghiệp là 26,9 nghìn người, số lao động trong khu vực công nghiệp là 3,5 nghìn

người và trong khu vực dịch vụ là 6,8 nghìn người.
Đặng Quốc Việt - Đầu tư 47
C
Thực hiện chủ trương CNH - HĐH của Đảng và Nhà nước, huyện chủ trương phát
triển công nghiệp trong đó lấy ngành công nghiệp chế các sản phẩm nông nghiệp và các
ngành tiểu thủ công nghiệp làm mũi nhọn. Nhưng việc qui hoạch và phát triển gặp rất
nhiều khó khăn do không huy động thu hút được nguồn vốn. Các dự án công nghiệp
triển khai chính trong những năm qua như dự án mây tre đan xuất khẩu, dự án sản xuất
chế biến sơn của tỉnh … tuy đạt được 1 số hiệu quả ở tầm dự án nhưng không tạo được
sự phát triển bền vững, hiệu quả. Công nghiệp không được quan tâm đầu tư đúng mức,
qui hoạch phát triển các ngành công nghiệp của huyện chưa được xây dựng, dẫn tới tình
trạng phát triển công nghiệp vừa thiếu vốn, thiếu qui hoạch, thiếu sự quản lý.
1.3.2.2 Ngành xây dựng
Trong những năm gần đây, do điều kiện phát triển kinh tế, thu nhập và mức sống
của người dân được nâng lên là cơ sở thúc đẩy nhu cầu xây dựng ngày càng cao. Số
lượng các doanh nghiệp, đội xây dựng trên địa bàn huyện tăng mạnh, thu hút 1.144 lao
động năm 2007. Sự phát triển của ngành xây dựng mang tính tự phát nhằm đáp ứng nhu
cầu xây dựng của nhân dân, chưa có sự tổ chức khoa học, đầu tư đúng mức. Các công
trình xây dựng đều là những công trình dân dụng, lao động mang nặng tính phổ thông.
Tốc độ tăng trưởng GTSX ngành xây dựng giai đoạn 2001 - 2007 là 24,14%. Cũng nhờ
sự phát triển vượt bậc này đã giúp cho tỷ trọng ngành xây dựng trong GTSX trên địa
bàn huyện ổn định và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của huyện, góp phần giải quyết việc
làm cho người lao động địa phương, tăng thu nhập cho người dân và góp phần ngày
càng lớn trong phát triển kinh tế của huyện. Nhưng do hạn chế về nhiều mặt các công ty
xây dựng trên địa bàn chỉ có thể thi công được những công trình đơn giản, phổ thông do
đó rất khó có thể duy trì được tốc độ tăng trưởng cao như trong thời gian qua. Những
năm gần đây cùng với sự sụt giảm về nhu cầu xây dựng của người dân và hạn chế vốn
đầu tư xây dựng đường xá trong khu vực đầu tư công ngành xây dựng đang gặp nhiều
khó khăn.
1.3.3 Thực trạng phát triển các ngành dịch vụ - thương mại:

Số cơ sở dịch vụ và lao động kinh doanh dịch vụ năm 2007 có 2.229 cơ sở, trong đó
số hộ kinh doanh cá thể là 1.964 hộ, chiếm 88,11%. Số lao động kinh doanh dịch vụ là
6.844 lao động.
Đặng Quốc Việt - Đầu tư 47
C
Lĩnh vực thương mại của huyện mới chỉ dừng lại ở mức phát triển mạng lưới chợ,
hệ thống cửa hàng lớn, nhỏ phân bố đều trong các xã, thị trấn đã đảm bảo được lưu
thông hàng hoá, cung cấp các mặt hàng tiêu dùng thiết yếu cho nhân dân. Bước đầu đã
hình thành các điểm bán hàng hoá tập trung như Thị trấn Hưng Hoá, xã Cổ Tiết, xã Tứ
Mỹ và dần hình thành điểm trung chuyển hàng hoá đến các xã, thị trấn trong toàn
huyện. Các hoạt động xúc tiến thương mại, đầu tư, quảng bá, giới thiệu tiềm năng của
huyện đã được quan tâm.
Hoạt động của hệ thống nhà hàng, khách sạn bước đầu đã có hiệu quả. Hệ thống các
cửa hàng ăn tập trung chủ yếu ở điểm đông người và trung tâm xã, thị trấn. Các khách
sạn đã được đầu tư xây dựng, nhưng hiện nay mới có 2 khách sạn quy mô nhỏ tại xã Cổ
Tiết.
Hoạt động vận tải hàng hoá, vận tải hành khách trong những năm qua đã đạt được
những kết quả tốt, năm 2007, số cơ sở tham gia hoạt động vận tải là 265 cơ sở, với 384
lao động. Khối lượng hàng hoá vận chuyển là 650.000 tấn, vận tải hành khách đạt
600.000 khách, GTSX ngành vận tải đạt 12,29 tỷ đồng, tốc độ tăng trưởng bình quân
giai đoạn 2001 - 2007 đạt 22,77%.
Dịch vụ bưu chính viễn thông phát triển tương đối nhanh, đến năm 2007 đã có 7,2
máy điện thoại/ 100 dân, tăng 6 lần so với năm 2001, thông tin liên lạc trong và ngoài
huyện nhanh chóng thuận tiện. Việc xây dựng hệ thống mạng lưới thông tin nội bộ
được chú trọng, tích cực góp phần thực hiện công tác cải cách hành chính trong các cơ
quan đơn vị.
Cơ sở vật chất cho ngành thương mại, dịch vụ đã được đầu tư, hệ thống chợ nông
thôn, chợ đầu mối đã được đầu tư tốt về cơ sở hạ tầng như chợ Trung tâm thị trấn Hưng
Hoá, chợ Cổ Tiết, mạng lưới giao thông được cải tạo, nâng cấp tạo điều kiện thuận lợi
cho việc thông thương hàng hoá.

Dịch vụ tài chính, ngân hàng phát triển đã góp phần thúc đẩy sản xuất - kinh doanh
phát triển. Ngân hàng, tín dụng đã bám sát chương trình, dự án phát triển KT - XH, mở
rộng diện cho vay hộ tạo điều kiện cho nhân dân, doanh nghiệp có nhu cầu vốn được
vay vốn để ĐTPT.
1.4 THỰC TRẠNG ĐTPT HUYỆN TAM NÔNG
1.4.1 Thực trạng lập kế hoạch ĐTPT của huyện
Đặng Quốc Việt - Đầu tư 47
C
1.4.1.1 Qui trình xác định ngân sách đầu tư
Nguồn chi của ngân sách nhà nước cho ĐTPT là một phần trong chi ngân sách hàng
năm. Do là một huyện miền núi nghèo chi cho ĐTPT hàng năm chỉ chiếm trung bình
10% chi ngân sách huyện, còn lại là chi thường xuyên cho các hoạt động của bộ máy
chính quyền. Ngân sách cho ĐTPT hàng năm chủ yếu dựa vào nguồn vốn của tỉnh và
trung ương. Trình tự xác định, quản lý thu chi phân bổ ngân sách huyện (bao gồm cả
ngân sách chi thường xuyên và ĐTPT hàng năm cho các đơn vị, xã thị trấn) gồm 11
bước như sau :
Bảng 1.8 Sơ đồ quản lý thu chi ngân sách
Đơn vị thực hiện Nội dung công việc thực hiện
Bước 1
- UBND huyện
- Phòng tài chính kế hoạch
Hướng dẫn lập dự toán thu chi ngân
sách
Bước 2
- Các đơn vị sử dụng NS
- UBND các xã, thị trấn
Lập dự toán thu chi của đơn vị
Bước 3
- Phòng tài chính kế hoạch
- Chi cục thuế huyện

- UBND tỉnh
- Tổng hợp dự toán thu chi ngân sách
- Tỉnh giao dự toán thu chi ngân sách
Bước 4
- UBND huyện
- Phòng tài chính kế hoạch
- Chi cục thuế huyện
- HĐND huyện
- Dự kiến phân bổ thu chi ngân sách
- Phê chuẩn phân bổ dự toán thu chi
ngân sách huyện
Bước 5 - UBND huyện
Giao dự toán thu chi ngân sách cho
các huyện, các đơn vị sử dụng, chi cục
thuế
Bước 6
- Các đơn vị sử dụng ngân sách,
UBND xã… (HĐND phê duyệt)
- UBND huyện
- Phòng tài chính kế hoạch
- Lập dự toán chi tiết theo
dự toán được giao
- Thẩm định
Bước 7
- Các đơn vị sử dụng ngân sách
- UBND các xã, thị trấn
- Kho bạc nhà nước
Thực hiện thu chi theo dự toán
và báo cáo quyết toán định kỳ
Bước 8 - Chi cục thuế tỉnh

- Đăng ký nộp thuế
- Quản lý người nộp thuế
Đặng Quốc Việt - Đầu tư 47
C
- Chi cục thuế huyện
- Người nộp thuế
- kho bạc nhà nước
- Thanh tra kiểm tra thuế
- Theo dõi người nộp thuế
Bước 9
- Phòng tài chính kế hoạch
- Chi cục thuế huyện
- UBND huyện
- Kho bạc nhà nước huyện
Tổng hợp báo cáo thu chi
ngân sách địa phương năm
Bước 10
- HĐND huyện phê duyệt
- Sở tài chính tỉnh thẩm định
Phê duyệt
Bước 11
- Phòng tài chính kế hoạch
- UBND huyện
- Các đơn vị sử dụng NS
- UBND các xã, thị trấn
Lưu hồ sơ
Diễn giải sơ đồ quản lý thu, chi ngân sách :
Bước 1. Tổ chức hướng dẫn, chỉ đạo lập dự toán thu, chi NSNN:
- Thời gian tháng 7 năm trước, UBND huyện chỉ đạo Phòng Tài chính hướng dẫn cụ
thể cho các đơn vị sử dụng NS và UBND các xã, thị trấn về việc lập dự toán NS năm

sau, chi NS theo khung hướng dẫn kế hoạch của Tỉnh.
- Các đơn vị lập dự toán thu, chi NS theo các Biểu mẫu quy định của Bộ Tài chính,
của UBND tỉnh và của Sở Tài chính, Sở Kế hoạch và Đầu tư.
- Chi cục thuế lập dự toán thu NSNN.
Bước 2. Lập dự toán thu, chi NSNN:
Tháng 8 năm trước, các đơn vị sử dụng NS Huyện và UBND các xã, thị trấn tiến
hành lập dự toán thu, chi NS thuộc nhiệm vụ thu, chi được phân cấp, nhiệm vụ chuyên
môn được giao.
- Chi cục thuế lập dự toán thu NSNN trên địa bàn và thuyết minh cơ sở tính toán
cho từng nguồn thu báo cáo cho UBND Huyện, Phòng TC và phòng KH-KT.
Bước 3. Tổng hợp các báo cáo dự toán thu, chi NSNN:
Phòng TC tổng hợp dự toán thu, chi NSNN trên địa bàn Huyện, báo cáo UBND
Huyện, HĐND Huyện, UBNDTỉnh , Sở Tài chính, Sở KH-ĐT.
Bước 4. Dự kiến phân bổ dự toán thu, chi NSNN:
Khi có dự toán thu, chi NS được UBND Tỉnh giao, căn cứ định mức, chỉ tiêu theo
dự toán do các đơn vị lập, Phòng Tài chính tham mưu cho UBND Huyện phân bổ dự
Đặng Quốc Việt - Đầu tư 47
C
toán thu, chi năm kế hoạch cho Chi cục thuế, UBND các xã, thị trấn, các đơn vị sử dụng
NS trình HĐND Huyện phê chuẩn tại kỳ họp tháng 12 của năm báo cáo.
Xây dựng kế hoạch thu thuế: Trên cơ sở dự toán được giao, căn cứ vào tài liệu theo
dõi số thu nộp ngân sách các năm trước, dự báo tốc độ phát triển trên địa bàn từng xã,
thị trấn, từng khu vực sản xuất kinh doanh theo từng sắc thuế; tham mưu cho UBND
Huyện ra quyết định giao dự toán thu cho các đơn vị quản lý thu và các đơn vị được ủy
nhiệm thu trước 31/12 trước năm kế hoạch. Chi cục Thuế báo cáo về việc xây dựng chi
tiết dự toán thu và đăng ký mức phấn đấu với Cục Thuế Tỉnh Tỉnh và báo cáo với
HĐND Huyện phê duyệt.
Bước 5 Giao dự toán thu, chi Ngân sách cho các xã, thị trấn, các đơn vị sử dụng,
Chi cục Thuế
Sau khi được HĐND Huyện phê chuẩn việc phân bổ dự toán thu, chi NSNN, UBND

Huyện giao dự toán thu, chi NSNN cho Chi cục thuế, các đơn vị sử dụng NS, UBND
các xã, thị trấn chậm nhất sau 10 ngày kể từ khi có quyết định giao dự toán của tỉnh.
Phòng Tài chính tham mưu cho UBND huyện thực hiện việc công khai phân bổ dự
toán ngân sách theo quy định của Bộ Tài chính.
Bước 6 Lập dự toán chi tiết theo dự toán đã được giao
Lập dự toán: Tháng 1 các đơn vị sử dụng NS và UBND các xã, thị trấn sẽ tiến hành
lập dự toán chi tiết thu, chi kinh phí tại đơn vị chuyển phòng Tài chính thẩm định, Kho
bạc Nhà nước huyện Tam Nông làm cơ sở thực hiện dự toán giao.
Đối với UBND các xã, thị trấn căn cứ dự toán thu, chi được UBND huyện giao thực
hiện phân bổ dự toán chi theo các nhiệm vụ chi được phân cấp trình HĐND xã, thị
trấn phê chuẩn; sau khi được phê chuẩn UBND xã, thị trấn có Quyết định phân bổ dự
toán thu, chi ngân sách báo cáo UBND huyện, gửi cho cơ quan tài chính và kho bạc nhà
nước làm cơ sở thực hiện dự toán.
Bước 7 Thực hiện thu, chi theo dự toán và báo cáo quyết toán định kỳ
Căn cứ dự toán chi tiết, hàng quý đơn vị rút dự toán về chi thường xuyên, chi không
thường xuyên; cuối quý lập báo cáo quyết toán thu, chi kinh phí theo các chế dộ định
mức chi quy định của Nhà nước và Bộ Tài chính.
Bước 8 Thực hiện thu thuế, quản lý thu thuế
* Đăng ký nộp thuế:
Đặng Quốc Việt - Đầu tư 47
C
Chi cục thuế căn cứ hồ sơ đăng ký thuế của các tổ chức, cá nhân kinh doanh tiến
hành đăng ký mã số thuế cho đối tượng nộp thuế theo Thông tư 85/2007/TT-BTC ngày
18/7/2007 của Bộ TC hướng dẫn việc đăng ký thuế theo Luật Quản lý thuế.
* Quản lý người nộp thuế:
Sau khi thực hiện đăng ký mã số thuế, các tổ chức, cá nhân kinh doanh sẽ thực hiện
kê khai nộp thuế theo qui định của Luật quản lý thuế, các Luật thuế hiện hành;
Chi cục thuế phối hợp với chính quyền cơ sở, các cơ quan chức năng, các tổ chức đoàn
thể để quản lý , giám sát, theo dõi, kiểm tra việc thực hiện kê khai nộp thuế của các đối
tượng này.

Trên cơ sở hồ sơ kê khai thuế của các tổ chức, các nhân kinh doanh, bằng nghiệp vụ
thuế, Chi cục thuế đấu tranh ấn định mức thuế phải nộp đối với các trường hợp chưa kê
khai sát với thực tế kinh doanh.
* Thanh tra, kiểm tra thuế:
Chi cục thuế thông qua việc quản lý kê khai đăng ký thuế, nộp thuế của các tổ chức,
cá nhân kinh doanh phát hiện những dấu hiệu vi phạm về thuế (làm giảm số thuế phải
nộp, tăng số thuế được hoàn) sẽ thực hiện việc thanh tra , kiểm tra thuế đối với các đối
tượng vi phạm theo Luật quản lý thuế, Quyết định 898/QĐ-TCT ban hành Quy trình
thanh tra, kiểm tra chấp hành nhiệm vụ công vụ của cơ quan thuế.
Chi cục thuế thông qua việc quản lý kê khai đăng ký thuế, nộp thuế của các tổ chức,
cá nhân kinh doanh nếu có vi phạm xử lý theo Luật quản lý thuế, Nghị định
98/2007/NĐ-CP, Thông tư 61/2007/TT-BTC hướng dẫn thực hiện xử lý vi phạm pháp
luật về thuế .
Chi cục thuế phối hợp với kho bạc nhà nước trong việc theo dõi thu nộp tiền thuế
của các tổ chức, cá nhân kinh doanh trên địa bàn Huyện thông qua Quy chế phối hợp
giữa Thuế, Kho bạc và Tài chính; Kết nối mạng thông tin theo dõi số thu từng ngày ,
từng tháng .
Hàng tháng Chi cục thuế phải đối chiếu số thu NS trên địa bàn huyện với kho bạc
nhà nước , làm cơ sở để lập các báo cáo thu NS theo biểu mẫu quy định gửi Cục thuế
Tỉnh .
Bước 9. Tổng hợp, báo cáo chi NSNN:
Đặng Quốc Việt - Đầu tư 47
C
Sau khi thực hiện xong công tác khóa sổ cuối ngày 31/12 hàng năm, số liệu trên sổ
sách kế toán phải đảm bảo cân đối và khớp đúng với số liệu của KBNN về tổng số và
chi tiết, các đơn vị dự toán tiến hành lập báo cáo quyết toán năm.
Vào tháng 1 năm sau, các đơn vị được sử dụng NS và UBND các xã, thị trấn lập báo
cáo quyết toán thu, chi kinh phí năm trước gửi Phòng TC để thẩm định, tổng hợp quyết
toán thu, chi NSNN trên địa bàn.
Cơ quan Tài chính căn cứ quyết toán thu, chi của các đơn vị lập và căn cứ báo cáo

quyết toán thu, chi NSNN trên địa bàn của Kho bạc nhà nước , thực hiện tổng hợp
quyết toán NSNN trên địa bàn huyện báo cáo UBND huyện trước ngày 30/4 .
Bước 10 Phê duyệt quyết toán NSNN:
Cơ quan Tài chính gửi báo cáo quyết toán thu, chi NSNN địa phương đến Sở Tài
chính Tỉnh để thẩm định quyết toán theo thẩm quyền, HĐND Huyện; HĐND huyện phê
chuẩn quyết toán NSNN địa phương vào kỳ họp tháng 7 hàng năm.
Sau khi được HĐND phê chuẩn, Sở Tài chính thẩm định bằng văn bản, phòng Tài
chính tham mưu cho UBND huyện thực hiện việc công khai quyết toán ngân sách theo
quy định của Bộ Tài chính.
Bước 11. Lưu hồ sơ
Sau khi quyết toán ngân sách năm báo cáo được HĐND Huyện phê chuẩn, Phòng
TC-KH và Văn phòng UBND Huyện có trách nhiệm lưu hồ sơ quyết toán NSNN theo
đúng qui định của Pháp luật.
1.1.4.2 Xác định nội dung ĐTPT
Chi ĐTPT là một phần trong dự toán chi ngân sách hàng năm của huyện. Do nguồn
vốn chi cho ĐTPT của huyện hàng năm dựa phần lớn vào nguồn vốn của tỉnh và trung
ương (chiếm trên 60% tổng nguồn vốn chi cho ĐTPT của cả huyện) nên công tác xác
định nội dung phần lớn cũng căn cứ vào chỉ tiêu KT - XH và chỉ tiêu đầu tư mà tỉnh
giao cho huyện. Trong quá trình lập thu chi ngân sách hàng năm, tỉnh tiến hành phân bố
vốn ĐTPT cho huyện kèm theo các chỉ tiêu về ĐTPT. Huyện căn cứ vào các chỉ tiêu
này tiến hành xác định nội dung đầu tư và phân bổ nguồn vốn xuống cấp xã. Hàng năm
các phòng ban thuộc UBND huyện tuỳ vào lĩnh vực chuyên môn mình phụ trách lập
báo cáo tổng kết năm và phương hướng nhiệm vụ năm tới. Đây cũng là một căn cứ để
tiến hành xác định nội dung đầu tư hàng năm. Phòng tài chính kế hoạch với chức năng
Đặng Quốc Việt - Đầu tư 47
C

×