Tải bản đầy đủ (.pdf) (510 trang)

Một số vấn đề lý luận - thực tiễn cấp thiết liên quan trực tiếp đến đổi mới nội dung, phương thức lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước: Phần 2

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (3.86 MB, 510 trang )

PHẦN THỨ BA

THỰC TIỄN ĐỔI MỚI NỘI DUNG,
PHƯƠNG THỨC LÃNH ĐẠO
CỦA ĐẢNG, QUẢN LÝ
CỦA NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM



ĐỔI MỚI NỘI DUNG, PHƯƠNG THỨC
LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG ĐỐI VỚI NHÀ NƯỚC
VÀ CÁC TỔ CHỨC KHÁC TRONG HỆ THỐNG
CHÍNH TRỊ QUA HƠN 30 NĂM ĐỔI MỚI
PGS.TS. ĐINH XUÂN THẢO*

Đ

ổi mới nội dung, phương thức lãnh đạo của Đảng là

một trong những nội dung rất quan trọng trong

công tác xây dựng Đảng hiện nay, nhằm giữ vững vai trò
lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội, góp phần xây
dựng Đảng trong sạch, vững mạnh cả về chính trị, tư tưởng,
đạo đức và tổ chức.
Qua hơn 30 năm đổi mới, xây dựng và trưởng thành,
Đảng ta đã không ngừng đổi mới nội dung, phương thức lãnh
đạo Nhà nước và các tổ chức khác trong hệ thống chính trị và
đã đạt được những thành tựu rất đáng khích lệ. Bài viết dưới
đây sẽ tập trung phân tích, làm rõ những thành tựu, hạn chế
trong nội dung và phương thức lãnh đạo của Đảng đối với


Nhà nước và các tổ chức khác trong hệ thống chính trị. Từ
đó, đúc rút những bài học kinh nghiệm cho quá trình củng
cố, xây dựng Đảng trong tình hình mới hiện nay.
_______________
* Ủy viên Hội đồng Lý luận Trung ương.


290

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN - THỰC TIỄN CẤP THIẾT...

1. Thực tiễn đổi mới nội dung, phương thức lãnh
đạo đối với Nhà nước và các tổ chức khác trong hệ
thống chính trị
1.1. Những thành tựu trong việc đổi mới nội dung,
phương thức lãnh đạo đối với Nhà nước và các tổ chức
khác trong hệ thống chính trị
Qua hơn 30 năm đổi mới, Đảng ta rất coi trọng việc đổi
mới nội dung, phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hệ
thống chính trị mà trọng tâm là với Nhà nước. Đảng ta đã
ban hành nhiều nghị quyết về đổi mới nội dung, phương thức
lãnh đạo của Đảng, đặc biệt là Nghị quyết Hội nghị Trung
ương 5 khóa X; các Văn kiện Đại hội của Đảng đều đề cập
đến nhiệm vụ, yêu cầu đổi mới phương thức lãnh đạo của
Đảng. Chẳng hạn, Văn kiện Đại hội XII của Đảng khẳng
định: “Nâng cao hiệu quả thực hiện và tiếp tục đổi mới mạnh
mẽ phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hệ thống chính
trị, đặc biệt là với Nhà nước”1; đã ngày càng nhận thức rõ
hơn mối quan hệ giữa Đảng và Nhà nước, giữa Đảng với các
tổ chức chính trị - xã hội, xác định rõ hơn thẩm quyền, trách

nhiệm của Đảng và thẩm quyền, trách nhiệm của Nhà nước.
Trong thực tiễn, Đảng ta đã đạt được những thành tựu
quan trọng trong đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng
đối với Quốc hội, Chính phủ, các cơ quan tư pháp, với chính
quyền địa phương các cấp; vừa giữ vững vai trị lãnh đạo
của Đảng, vừa phát huy được vai trị, tính chủ động sáng
tạo, chức năng nhiệm vụ các tổ chức này, giảm bớt được sự
_______________
1. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần
thứ XII, Sđd, tr.214.


PHẦN THỨ BA: THỰC TIỄN ĐỔI MỚI NỘI DUNG...

291

chồng chéo, “lấn sân” giữa các tổ chức đảng với các tổ chức
của Nhà nước.
Phương thức lãnh đạo của Đảng được xác lập phù hợp với
đặc điểm, chức năng, nhiệm vụ của từng nhánh quyền lực
(lập pháp - hành pháp - tư pháp); phù hợp với các cấp chính
quyền (Trung ương - địa phương); phù hợp với nguyên tắc
hiệp thương dân chủ của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
Phương thức lãnh đạo của Đảng được đổi mới theo
hướng dân chủ và pháp quyền, nghĩa là Đảng tôn trọng các
cơ quan nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội, tơn trọng
Hiến pháp và pháp luật. Đảng lãnh đạo nhưng không áp đặt
mà trên cơ sở dân chủ, phát huy dân chủ trong thảo luận,
trao đổi nhằm tạo ra sự thống nhất chung. Đảng lãnh đạo
trong khuôn khổ Hiến pháp, pháp luật, như quy định tại

Điều 4 Hiến pháp năm 2013: “Các tổ chức của Đảng và đảng
viên Đảng Cộng sản Việt Nam hoạt động trong khuôn khổ
Hiến pháp, pháp luật”1.
Đảng xây dựng và ban hành quy chế làm việc của Ban
Chấp hành Trung ương, của Bộ Chính trị, Ban Bí thư, của
các cấp ủy; ban hành nhiều quy chế, quy định về quan hệ
giữa cấp ủy, các tổ chức đảng, cơ quan đảng với các tổ chức,
cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội. Xây dựng, tổ
chức ký kết quy chế phối hợp giữa các tổ chức trong hệ thống
chính trị.
Đảng coi trọng, tăng cường cơng tác kiểm tra, giám sát
các tổ chức đảng và đảng viên trong hệ thống chính trị nhằm
chống tiêu cực, quan liêu, tham nhũng, “lợi ích nhóm”, suy
_______________
1. Hiến pháp nước Cộng hịa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Nxb. Chính
trị quốc gia, Hà Nội, 2016, tr.10.


292

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN - THỰC TIỄN CẤP THIẾT...

thối về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự
diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Đảng xác định ngày
càng rõ hơn trách nhiệm tập thể và cá nhân trong lãnh đạo,
nhất là trách nhiệm người đứng đầu cấp ủy, tổ chức đảng và
các cơ quan nhà nước, đồn thể.
Đảng coi trọng xây dựng văn hóa trong các tổ chức đảng,
cơ quan nhà nước, hệ thống chính trị, tiếp tục đẩy mạnh việc
học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức và phong cách Hồ Chí

Minh; đổi mới phương pháp, phong cách, lề lối làm việc của
các cơ quan đảng, đẩy mạnh cải cách hành chính trong Đảng.
Có thể nói, trong thời gian qua, nội dung, phương thức
lãnh đạo của Đảng đối với hệ thống chính trị, mà trọng tâm là
đối với Nhà nước và các bộ phận khác trong hệ thống chính trị
đã có những đổi mới quan trọng. Thông qua các nghị quyết
của Trung ương cũng như thơng qua các tổ chức đảng (Đảng
đồn, Ban Cán sự, cấp ủy) và thông qua các đảng viên hoạt
động trong các tổ chức đó, Ban Chấp hành Trung ương, Bộ
Chính trị, Ban Bí thư, các cấp ủy đã lãnh đạo các tổ chức nhà
nước và đoàn thể chính trị - xã hội hoạt động theo đúng
Cương lĩnh, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của
Nhà nước, phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của từng tổ chức.
Đối với hoạt động của Quốc hội, với mục tiêu xây dựng và
hoàn thiện hệ thống pháp luật đồng bộ, thống nhất, khả thi,
công khai, minh bạch, trọng tâm là hoàn thiện thể chế kinh
tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, xây dựng Nhà
nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân,
do nhân dân và vì nhân dân; đổi mới căn bản cơ chế xây dựng
và thực hiện pháp luật; phát huy vai trò và hiệu lực của pháp
luật để góp phần quản lý xã hội, giữ vững ổn định chính trị,
phát triển kinh tế, hội nhập quốc tế, xây dựng Nhà nước


PHẦN THỨ BA: THỰC TIỄN ĐỔI MỚI NỘI DUNG...

293

trong sạch, vững mạnh, thực hiện quyền con người, quyền tự
do, dân chủ của cơng dân, góp phần sớm đưa nước ta cơ bản

trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại, Đảng đã
ban hành Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24 tháng 5 năm 2005
về “Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật
Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020”. Theo
đó, hoạt động của Quốc hội ngày càng đổi mới, ngày càng dân
chủ, thực quyền hơn, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt
động của Quốc hội và đại biểu Quốc hội trong việc thực hiện
quyền lập hiến, lập pháp, giám sát và quyết định các vấn đề
quan trọng của đất nước, thu hút sự quan tâm rộng rãi của
dư luận xã hội.
Đối với hoạt động của Chính phủ, cùng với các nghị quyết
của Đảng, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 30c/NQ-CP
ngày 08-11-2011 về “Chương trình tổng thể cải cách hành
chính nhà nước giai đoạn 2011-2020”, trọng tâm cải cách
hành chính trong giai đoạn 10 năm tới là: Cải cách thể chế;
xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức,
viên chức, chú trọng cải cách chính sách tiền lương nhằm tạo
động lực thực sự để cán bộ, công chức, viên chức thực thi
cơng vụ có chất lượng và hiệu quả cao; nâng cao chất lượng
dịch vụ hành chính và chất lượng dịch vụ cơng. Theo đó, hoạt
động của Chính phủ ngày càng năng động, hiệu lực quản lý,
điều hành của Chính phủ ngày càng được nâng cao, phát huy
vai trò của một Chính phủ hành động phục vụ nhân dân,
kiến tạo phát triển, giảm bớt tình trạng bao biện, làm thay,
“lấn sân” giữa Đảng và Chính phủ.
Đối với hoạt động của các cơ quan tư pháp, với mục tiêu
xây dựng nền tư pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ,
nghiêm minh, bảo vệ công lý, từng bước hiện đại, phục vụ



294

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN - THỰC TIỄN CẤP THIẾT...

nhân dân, phụng sự Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa;
hoạt động tư pháp mà trọng tâm là hoạt động xét xử được
tiến hành có hiệu quả và hiệu lực cao, Đảng đã ban hành
Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02 tháng 06 năm 2005 về
“Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020”. Triển khai Nghị
quyết này, hoạt động của Tòa án nhân dân và Viện Kiểm sát
nhân dân ngày càng có nhiều đổi mới; góp phần bảo đảm cho
các cơ quan tư pháp thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ theo
quy định của pháp luật nhằm phát huy quyền làm chủ của
nhân dân, bảo vệ lợi ích chính đáng và hợp pháp của người
dân, bảo vệ quyền con người, bảo đảm pháp luật được thực
thi nghiêm chỉnh và thống nhất.
Đối với hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các
đồn thể chính trị - xã hội:
Hiện nay, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể
chính trị - xã hội đã và đang tích cực triển khai thực hiện
Quyết định số 217-QĐ/TW và Quyết định số 218-QĐ/TW
ngày 12 tháng 12 năm 2013 của Bộ Chính trị khóa XI về
giám sát và phản biện xã hội, tham gia góp ý xây dựng
Đảng, xây dựng chính quyền và đạt được nhiều kết quả
tích cực, tăng cường vai trị lãnh đạo của Đảng, tạo đồng
thuận xã hội, góp phần xây dựng Đảng, xây dựng chính
quyền và hệ thống chính trị vững mạnh. Nghị quyết Hội
nghị Trung ương 4 khóa XII về tăng cường xây dựng, chỉnh
đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thối về tư tưởng
chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”,

“tự chuyển hóa” trong nội bộ, tiếp tục đề ra giải pháp về
phát huy vai trò của nhân dân và Mặt trận Tổ quốc, các
đồn thể chính trị - xã hội trong giám sát và phản biện xã
hội, tham gia góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền;


PHẦN THỨ BA: THỰC TIỄN ĐỔI MỚI NỘI DUNG...

295

phát huy vai trò giám sát của Mặt trận Tổ quốc, các đồn
thể chính trị - xã hội, của nhân dân, báo chí và cơng luận
trong đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi suy thối, “tự diễn
biến”, “tự chuyển hóa” trong cán bộ, đảng viên. Dưới sự
lãnh đạo, chỉ đạo sát sao của Đảng, hoạt động của Mặt
trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội ngày càng
đa dạng, năng động, tăng cường công tác tuyên truyền, vận
động, thuyết phục nhân dân nhằm tăng cường khối đại
đoàn kết toàn dân tộc, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp,
chính đáng của hội viên, đoàn viên, tăng cường đồng thuận
xã hội, phát huy chức năng giám sát và phản biện xã hội.
Những thành tựu nêu trên bắt nguồn từ đường lối đổi
mới đúng đắn của Đảng, từ những thành tựu trong cơng cuộc
đổi mới đất nước. Đó chính là cơ sở lý luận và thực tiễn vững
chắc bảo đảm cho quá trình đổi mới đúng hướng, hiệu quả
phương thức lãnh đạo của Đảng. Thành tựu đạt được gắn
liền với tư duy sáng tạo, quyết tâm chính trị cao, nhãn quan
chính trị sắc bén của Đảng, trực tiếp là Ban Chấp hành
Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư.
1.2. Những hạn chế trong việc đổi mới nội dung,

phương thức lãnh đạo đối với Nhà nước và các tổ chức
khác trong hệ thống chính trị
Bên cạnh những thành tựu đạt được như trên thì thời
gian qua “việc đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối
với Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị xã hội cịn chậm, nhất là việc cụ thể hóa phương thức lãnh
đạo của Đảng đã được xác định trong Cương lĩnh bổ sung,
phát triển năm 2011; phương thức lãnh đạo của Đảng đối
với Nhà nước có những nội dung cịn lúng túng... Tình


296

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN - THỰC TIỄN CẤP THIẾT...

trạng nói khơng đi đơi với làm, nói nhiều làm ít chậm được
khắc phục”1.
Vẫn cịn tình trạng cấp ủy bao biện, làm thay hoặc buông
lỏng lãnh đạo đối với hoạt động của hệ thống chính trị trên
một số lĩnh vực. Một số nội dung cơ bản về phương thức lãnh
đạo của Đảng đối với Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các tổ
chức chính trị - xã hội; về mối quan hệ công tác giữa các tổ
chức trong hệ thống chính trị, về quyền làm chủ của nhân
dân, nhất là quyền làm chủ trực tiếp... còn chậm được ban
hành, cụ thể hóa, thể chế hóa và tổ chức thực hiện.
Những hạn chế nêu trên có nhiều nguyên nhân, trước hết
là do bản thân việc đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng
trong điều kiện một Đảng duy nhất cầm quyền, phát triển
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, xây dựng
Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, hội nhập quốc tế... là
vấn đề khó, mới mẻ, chưa có tiền lệ, địi hỏi phải tìm tịi, vừa

làm, vừa rút kinh nghiệm. Mặt khác, phương thức lãnh đạo
của Đảng kéo dài nhiều năm trong thời kỳ chiến tranh chống
ngoại xâm và thời kỳ thực hiện cơ chế kế hoạch hóa tập trung
quan liêu, bao cấp vẫn cịn ảnh hưởng đến nay. Đồng thời còn
do những hạn chế, khuyết điểm trong công tác tổ chức, cán
bộ, trong nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn về hệ thống
chính trị, những chậm trễ trong đổi mới chính trị và hệ thống
chính trị... Bên cạnh đó, bối cảnh quốc tế ngày càng phức tạp,
diễn biến khó lường với nhiều xu hướng và mâu thuẫn mới,
nhiều vấn đề mới nảy sinh. Sự nổi lên của chủ nghĩa dân túy,
chủ nghĩa dân tộc cực đoan, chủ nghĩa bảo hộ, chủ nghĩa
_______________
1. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần
thứ XII, Sđd, tr. 197.


PHẦN THỨ BA: THỰC TIỄN ĐỔI MỚI NỘI DUNG...

297

thực dụng, chủ nghĩa cường quyền áp đặt trong quan hệ quốc
tế. Cục diện thế giới có nhiều thay đổi, quan hệ giữa các nước
lớn có nhiều biểu hiện mới, những xung đột vũ trang, những
điểm nóng trên thế giới chưa được hạ nhiệt. Trong thời gian
gần đây, tình hình thế giới rất khó dự báo, khó đốn định,
gây nhiều bất ổn, lo âu cho các nước; tranh chấp chủ quyền
trên Biển Đơng vẫn diễn biến phức tạp. Kinh tế tồn cầu
phát triển không ổn định, gặp nhiều rủi ro, thị trường tài
chính - tiền tệ biến động khó lường, xu hướng bảo hộ mậu
dịch tăng lên. Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư được

đẩy mạnh, kinh tế tri thức, công nghệ thông tin tiếp tục phát
triển mạnh mẽ. Những yếu tố này đã và đang tác động không
nhỏ đến từng đảng viên, từng tổ chức đảng và Đảng ta. Đây
cũng là một trong những nguyên nhân làm cho quá trình đổi
mới gặp nhiều khó khăn và giới hạn.
2. Một số kiến nghị nhằm tiếp tục đổi mới nội dung,
phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và
các tổ chức khác trong hệ thống chính trị
2.1. Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương thức lãnh
đạo của Đảng đối với hệ thống chính trị, đặc biệt là
đối với Nhà nước
Theo đó, cần tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong đẩy
mạnh cải cách lập pháp, cải cách hành chính, cải cách tư
pháp; xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.
Đảng lãnh đạo xây dựng Nhà nước pháp quyền đồng bộ cả
trong lập pháp, hành pháp, tư pháp và được tiến hành đồng
bộ với đổi mới hệ thống chính trị theo hướng tinh gọn, hiệu
lực, hiệu quả; gắn với đổi mới kinh tế, văn hóa, xã hội.


298

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN - THỰC TIỄN CẤP THIẾT...

Tiếp tục hoàn thiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, tổ
chức của Nhà nước theo quy định của Hiến pháp năm 2013,
bảo đảm cho Nhà nước được tổ chức và hoạt động theo Hiến
pháp và pháp luật, quản lý xã hội bằng Hiến pháp và pháp
luật, thực hiện nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ.
Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong đổi mới tổ chức

và hoạt động của Quốc hội, bảo đảm Quốc hội thực sự là cơ
quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà
nước cao nhất. Lãnh đạo Quốc hội thực hiện tốt chức năng
lập pháp, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và
giám sát tối cao, nhất là đối với việc quản lý, sử dụng các
nguồn nhân lực của đất nước. Gắn kết chặt chẽ giữa hoạt
động giám sát của Quốc hội với công tác kiểm tra, giám sát
của Đảng, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội và
giám sát của nhân dân.
Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong đổi mới, hoàn
thiện cơ cấu tổ chức của Chính phủ, xác định rõ hơn chức
năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Chính phủ, với vai trị là cơ
quan hành chính nhà nước cao nhất, thực hiện quyền hành
pháp, cơ quan chấp hành của Quốc hội. Lãnh đạo, chỉ đạo
đẩy mạnh chương trình cải cách hành chính nhà nước theo
hướng xây dựng nền hành chính kiến tạo, dân chủ, hiện đại,
chuyên nghiệp, năng động, phục vụ nhân dân, hoạt động có
hiệu lực, hiệu quả.
Tiếp tục lãnh đạo đẩy mạnh thực hiện chiến lược cải cách
tư pháp, xây dựng nền tư pháp trong sạch, vững mạnh, dân
chủ, nghiêm minh, từng bước hiện đại; bảo vệ pháp luật,
công lý, quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã
hội chủ nghĩa, lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp
pháp của cơ quan, tổ chức và cá nhân. Đổi mới, kiện toàn, tổ


PHẦN THỨ BA: THỰC TIỄN ĐỔI MỚI NỘI DUNG...

299


chức tòa án theo thẩm quyền xét xử; bảo đảm nguyên tắc độc
lập, nguyên tắc tranh tụng trong xét xử, bảo đảm quyền bào
chữa của bị can, bị cáo, đương sự. Thực hiện đầy đủ quyền
công tố trong hoạt động điều tra của Viện Kiểm sát nhân
dân. Tiếp tục kiện toàn tổ chức, xác định rõ hơn chức năng,
nhiệm vụ, quyền hạn và nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt
động của cơ quan điều tra.
Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác xây
dựng đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước: Đảng tập trung
lãnh đạo bằng đường lối, chủ trương; xây dựng tiêu chí, tiêu
chuẩn, cơ chế, chính sách về cán bộ, cơng chức. Đẩy mạnh dân
chủ hóa cơng tác cán bộ, quy định rõ thẩm quyền, trách nhiệm
của mỗi tổ chức, mỗi cấp trong xây dựng đội ngũ cán bộ, cơng
chức. Thực hiện thí điểm dân trực tiếp bầu một số chức danh ở
cơ sở và cấp huyện; mở rộng đối tượng thi tuyển chức danh
cán bộ quản lý. Tiếp tục hồn thiện tiêu chí đánh giá và cơ chế
kiểm tra, giám sát, kiểm soát việc thực thi công vụ; xác định
rõ thêm trách nhiệm, quyền hạn của người đứng đầu cơ quan
hành chính. Tiếp tục rà sốt, sửa đổi, bổ sung chính sách đối
với cán bộ, cơng chức theo hướng khuyến khích cán bộ, cơng
chức nâng cao trình độ chun mơn nghiệp vụ, đạo đức cơng
vụ, hồn thành tốt nhiệm vụ. Chính phủ sớm xây dựng chính
sách để sử dụng, trọng dụng nhân tài. Đẩy mạnh đấu tranh
phịng, chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu, hách dịch, cửa
quyền, gắn với thực hành tiết kiệm trong cơ quan nhà nước và
trong đội ngũ cán bộ, công chức.
Tiếp tục đổi mới bộ máy của Đảng và hệ thống chính trị
theo hướng tinh gọn, nâng cao hiệu lực, hiệu quả lãnh đạo,
chỉ đạo, điều hành. Hoàn thiện và thực hiện nghiêm cơ chế
kiểm sốt quyền lực, thực hiện thí điểm hợp nhất một số cơ



300

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN - THỰC TIỄN CẤP THIẾT...

quan Đảng và Nhà nước tương đồng về chức năng, nhiệm vụ.
Đẩy mạnh thực hiện chủ trương quản lý biên chế thống nhất
trong tồn bộ hệ thống chính trị. Khẩn trương tinh giản tổ
chức, bộ máy, gắn với tiếp tục phân định rõ chức năng,
nhiệm vụ, phương thức hoạt động của các tổ chức trong hệ
thống chính trị. Thực hiện đồng bộ mơ hình bí thư cấp ủy
đồng thời là chủ tịch hội đồng nhân dân các cấp. Tiếp tục
nghiên cứu, điều chỉnh chức năng, nhiệm vụ của hội đồng
nhân dân, ủy ban nhân dân các cấp phù hợp với tình hình
thực tiễn và yêu cầu nhiệm vụ mới.
2.2. Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với
Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội
Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với việc đổi mới,
hoàn thiện pháp luật, các văn bản quy phạm pháp luật của
Nhà nước về Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã
hội. Xác định rõ hơn và thực hiện đúng tiêu chí, mục đích,
chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Mặt trận Tổ quốc và các
tổ chức chính trị - xã hội. Tiếp tục củng cố, kiện toàn tổ chức,
bộ máy của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã
hội; đào tạo, bồi dưỡng, giới thiệu đội ngũ cán bộ, đảng viên
có đủ phẩm chất, năng lực để Mặt trận Tổ quốc và các tổ
chức chính trị - xã hội bầu giữ các vị trí lãnh đạo chủ chốt
của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội.
Thường xuyên đổi mới phương thức hoạt động của Mặt trận

Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội. Tăng cường lãnh
đạo, định hướng của Bộ Chính trị, Ban Bí thư về nội dung
hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã
hội. Đa dạng hóa hình thức tổ chức và hoạt động; phát huy
tính năng động, sáng tạo của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức


PHẦN THỨ BA: THỰC TIỄN ĐỔI MỚI NỘI DUNG...

301

chính trị - xã hội trong tuyên truyền, vận động nhân dân; đại
diện, chăm lo lợi ích, phát huy quyền làm chủ của nhân dân;
xây dựng, phát huy sức mạnh khối đại đồn kết tồn dân tộc
trong thực hiện đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật
của Nhà nước, tham gia xây dựng, bảo vệ Đảng và hệ thống
chính trị. Tăng cường lãnh đạo xây dựng và thực hiện quy
chế giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc và các
tổ chức chính trị - xã hội đối với các cơ quan Đảng, Nhà nước,
cán bộ, đảng viên, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật
của Nhà nước. Khắc phục tình trạng quan liêu hóa, hành
chính hóa hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức
chính trị - xã hội.
Tiếp tục hoàn thiện, xác định rõ và thực hiện đúng chức
năng, nhiệm vụ, quy chế làm việc của Đảng đoàn Mặt trận
Tổ quốc và đảng đoàn các tổ chức chính trị - xã hội. Thực
hiện tốt quan hệ lãnh đạo, chỉ đạo của Bộ Chính trị, Ban Bí
thư với Đảng đoàn Mặt trận Tổ quốc và đảng đoàn các tổ
chức chính trị - xã hội; quan hệ giữa Đảng đoàn Mặt trận Tổ
quốc với đảng đoàn các tổ chức thành viên. Phân biệt rõ hơn

nguyên tắc hiệp thương chính trị trong hoạt động của Mặt
trận Tổ quốc với nguyên tắc tập trung dân chủ trong hoạt
động của đảng đoàn và sinh hoạt Đảng của đảng viên ở Mặt
trận Tổ quốc. Tăng cường sự lãnh đạo của Bộ Chính trị, Ban
Bí thư, Đảng đồn Mặt trận đối với Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam bằng tuyên truyền, vận động, thuyết phục, giải thích rõ
quan điểm, đường lối của Đảng để tạo sự thống nhất cao
trong Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Đảng lãnh đạo Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam theo nguyên tắc tập trung dân chủ; đồng
thời, tôn trọng nguyên tắc hiệp thương dân chủ trong tổ chức
và hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.


302

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN - THỰC TIỄN CẤP THIẾT...

2.3. Nâng cao chất lượng xây dựng, ban hành đường
lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước
Đảng lãnh đạo xã hội bằng cương lĩnh, chiến lược, các
định hướng về chính sách và chủ trương lớn. Nhà nước quản
lý xã hội bằng pháp luật. Sự đúng đắn về đường lối, chủ
trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước là điều
kiện tiên quyết để giữ vững, tăng cường sự lãnh đạo của
Đảng, hiệu lực quản lý của Nhà nước.
Tiếp tục mở rộng dân chủ trong Đảng và trong xã hội,
phát huy quyền làm chủ của cán bộ, đảng viên, nhân dân
tham gia đóng góp xây dựng đường lối, chính sách của Đảng,
pháp luật của Nhà nước. Phát huy vai trò, trách nhiệm của
các cơ quan nghiên cứu, nhà khoa học trong tham mưu, tư

vấn, đề xuất, cung cấp những luận cứ khoa học cho Đảng, Nhà
nước xây dựng, ban hành đường lối, chính sách, pháp luật.
Đẩy mạnh cơng tác nghiên cứu lý luận, tổng kết thực hiện
công cuộc đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta.
Từng bước làm sáng tỏ thêm mục tiêu, mô hình, con đường đi
lên chủ nghĩa xã hội, cung cấp luận cứ khoa học cho Đảng,
Nhà nước bổ sung, hoàn thiện đường lối, chính sách, pháp
luật. Nâng cao chất lượng sinh hoạt Đảng, phát huy dân chủ,
tập trung trí tuệ của cán bộ, đảng viên trong xây dựng đường
lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước.
Phát huy vai trò, trách nhiệm của Nhà nước trong quán
triệt, cụ thể hóa, thể chế hóa đường lối, chính sách của Đảng
thành pháp luật của Nhà nước. Tăng cường sự lãnh đạo, định
hướng, cho ý kiến chỉ đạo của Đảng đối với việc xây dựng,
ban hành pháp luật của Nhà nước. Nâng cao chất lượng công
tác kiểm tra, giám sát, sơ kết, tổng kết, rút kinh nghiệm thực


PHẦN THỨ BA: THỰC TIỄN ĐỔI MỚI NỘI DUNG...

303

hiện đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà
nước. Thực hiện đúng chức năng giám sát, phản biện xã hội
của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã
hội đối với đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của
Nhà nước.
2.4. Thực hiện đúng nguyên tắc tập trung dân chủ,
tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách; đổi mới phương
pháp, phong cách, lề lối làm việc của các cơ quan lãnh

đạo của Đảng
Trước hết, cần thực hiện đầy đủ, nghiêm túc nguyên tắc
tập trung dân chủ trong xây dựng, hoạt động và đổi mới
phương thức lãnh đạo của Đảng. Tiếp tục nghiên cứu, xây
dựng quy chế thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong
đổi mới và thực hiện phương thức lãnh đạo của Đảng. Phát
huy dân chủ trong Đảng phải luôn gắn liền với giữ vững,
củng cố tập trung, đoàn kết, thống nhất, tăng cường kỷ luật
trong Đảng. Khắc phục tình trạng tập trung quan liêu,
chun quyền, độc đốn, dân chủ hình thức, vơ tổ chức, vô kỷ
luật, phân tán, cục bộ địa phương, lợi ích nhóm.
Thực hiện nghiêm chế độ thiểu số phục tùng đa số, cấp
dưới phục tùng cấp trên, cá nhân phục tùng tổ chức, tập thể
lãnh đạo, cá nhân phụ trách. Tiếp tục xây dựng, hoàn thiện
và thực hiện nghiêm quy chế hoạt động của cơ quan lãnh đạo
các cấp của Đảng. Xác định, thực hiện đúng chức năng,
nhiệm vụ, quyền hạn cơ quan lãnh đạo các cấp của Đảng từ
Trung ương đến cơ sở; chức trách, nhiệm vụ của từng thành
viên trong cơ quan lãnh đạo các cấp của Đảng, đặc biệt là
chức trách, nhiệm vụ, quyền hạn của người đứng đầu cơ
quan, tổ chức. Giải quyết tốt mối quan hệ giữa cấp ủy, tổ


304

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN - THỰC TIỄN CẤP THIẾT...

chức đảng với người đứng đầu cơ quan, tổ chức. Giữ vững và
kết hợp chặt chẽ giữa sự lãnh đạo của tập thể cấp ủy, tổ chức
đảng với cá nhân phụ trách; phát huy vai trị, trách nhiệm,

tính chủ động, sáng tạo, quyết đoán, dám nghĩ, dám làm,
dám chịu trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, tổ chức.
Quy định rõ hơn thẩm quyền và trách nhiệm của ban chấp
hành, ban thường vụ cấp ủy các cấp. Kết hợp chặt chẽ giữa
sự lãnh đạo, quản lý tập trung, thống nhất của Trung ương
với đẩy mạnh việc phân cấp, phân quyền, phát huy quyền
chủ động, sáng tạo gắn liền với đề cao trách nhiệm của địa
phương. Khắc phục tình trạng bng lỏng lãnh đạo, bao biện,
làm thay, trông chờ, ỷ lại, đùn đẩy, trốn tránh trách nhiệm,
tranh công, đổ lỗi, thành tích thuộc về cá nhân, sai lầm,
khuyết điểm thuộc về tập thể.
Cơ quan lãnh đạo, cơ quan tham mưu của Đảng ở tất cả
các cấp đều phải xây dựng và thực hiện nghiêm túc chương
trình, kế hoạch, quy chế làm việc. Thực hiện đúng chức năng,
nhiệm vụ, thẩm quyền, quy chế làm việc của từng cơ quan
lãnh đạo, tham mưu của Đảng. Xác định, lựa chọn chính xác,
kịp thời những nhiệm vụ trọng tâm, trọng điểm trong từng
giai đoạn cụ thể, tập trung lãnh đạo giải quyết dứt điểm
những vấn đề cơ bản, cấp thiết, trọng tâm, trọng điểm. Đẩy
mạnh cải cách hành chính trong Đảng, khắc phục những thủ
tục rườm rà, bất hợp lý, giảm hội họp.
Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện cách ra nghị quyết, chỉ thị và
việc quán triệt, tổ chức thực hiện nghị quyết, chỉ thị của
Đảng. Các cơ quan lãnh đạo của Đảng từ Trung ương đến cơ
sở chỉ ra nghị quyết, chỉ thị khi thật cần thiết, không ra quá
nhiều nghị quyết, chỉ thị ở một nhiệm kỳ và ở một hội nghị
Ban Chấp hành Trung ương. Nghị quyết, chỉ thị của các cơ


PHẦN THỨ BA: THỰC TIỄN ĐỔI MỚI NỘI DUNG...


305

quan lãnh đạo của Đảng cần ngắn gọn, đủ, rõ chủ trương,
quan điểm chỉ đạo, nhiệm vụ, giải pháp cụ thể, phân cơng
thực hiện rõ người, rõ việc, rõ thời gian hồn thành; rút ngắn
thời gian nghiên cứu, quán triệt, cụ thể hóa, thể chế hóa các
nghị quyết, chỉ thị của Đảng.
Đổi mới phương pháp, phong cách, lề lối làm việc của các
cơ quan lãnh đạo của Đảng từ Trung ương tới cơ sở. Các cơ
quan lãnh đạo, đội ngũ cán bộ, đảng viên phải xây dựng
phong cách làm việc khoa học, khách quan, tôn trọng sự thật,
tập thể, dân chủ, gần dân, trọng dân, vì dân, bám sát thực
tiễn, nói đi đôi với làm. Cơ quan lãnh đạo các cấp của Đảng
cần dành nhiều thời gian cho học tập, nghiên cứu lý luận;
đơn đốc, kiểm tra tình hình thực hiện nghị quyết, chỉ thị và
tổng kết thực tiễn, gặp gỡ, đối thoại trực tiếp với đảng viên
và nhân dân.
2.5. Tăng cường tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận về
mơ hình tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị (trong
đó có lý luận về Đảng cầm quyền); về chức năng, nhiệm vụ,
tổ chức, hoạt động của các cơ quan, thiết chế Nhà nước (Quốc
hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, các cơ quan tư pháp, hội đồng
nhân dân và ủy ban nhân dân các cấp); về vấn đề phân công,
phối hợp và kiểm soát quyền lực giữa các cơ quan trong việc
thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp...
2.6. Tiếp tục đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng theo
tinh thần Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XI và Hội
nghị Trung ương 4 khóa XII. Phải kiên quyết đấu tranh,
phòng, chống, đẩy lùi, ngăn chặn sự suy thối về tư tưởng

chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”
trong nội bộ. Đảng viên muốn là người lãnh đạo phải gương
mẫu trước quần chúng, có lập trường chính trị vững vàng, có


306

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN - THỰC TIỄN CẤP THIẾT...

đạo đức trong sáng, có năng lực hồn thành tốt nhiệm vụ,
khơng mắc phải chủ nghĩa cá nhân, “lợi ích nhóm”..., khơng
rơi vào suy thối, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Muốn vậy,
các cấp ủy, tổ chức đảng phải tăng cường giáo dục, rèn luyện,
quản lý đảng viên, tăng cường hoạt động kiểm tra, giám sát
cán bộ, đảng viên.
Tóm lại, đổi mới nội dung, phương thức lãnh đạo của Đảng
là cơng việc hệ trọng, địi hỏi các cấp phải chủ động, tích cực,
có quyết tâm chính trị cao; đồng thời, cần thận trọng, có bước
đi vững chắc, vừa làm vừa tổng kết rút kinh nghiệm, bảo đảm
thiết thực, hiệu quả, sát với đặc điểm, nhiệm vụ lãnh đạo của
từng cấp, từng ngành và từng địa phương.


ĐẢNG LÃNH ĐẠO, NHÀ NƯỚC QUẢN LÝ
TRONG ĐIỀU KIỆN XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC
PHÁP QUYỀN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
PGS.TS. PHẠM MINH TUẤN*

“N


ước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do
nhân dân làm chủ; tất cả quyền lực nhà nước

thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giai cấp công
nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức”1. Trong
Nhà nước ấy, “Đảng Cộng sản Việt Nam là Đảng cầm
quyền, lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Đảng lãnh đạo bằng
cương lĩnh, chiến lược, các định hướng về chính sách và
chủ trương lớn; bằng cơng tác tun truyền, thuyết phục,
vận động, tổ chức, kiểm tra, giám sát và bằng hành động
gương mẫu của đảng viên”2.
Bài viết này tập trung trình bày về thực trạng thực
hiện vai trị lãnh đạo của Đảng, vai trò quản lý của Nhà
nước, mối quan hệ giữa sự lãnh đạo của Đảng và hoạt động
_______________
* Giám đốc Học viện Chính trị khu vực II.
1. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần
thứ XII, Sđd, tr.171.
2. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần
thứ XI, Sđd, tr. 88.


308

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN - THỰC TIỄN CẤP THIẾT...

quản lý của Nhà nước trong hệ thống chính trị, từ đó đề
xuất, kiến nghị giải pháp phát huy vai trò lãnh đạo của
Đảng, quản lý của Nhà nước.
1. Mối quan hệ giữa Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản

lý trong xã hội
Trong thời đại ngày nay, ở bất kỳ quốc gia nào, đứng
đằng sau Nhà nước dường như là một hoặc nhiều đảng chính
trị. Có nghĩa là, trong tất cả các quốc gia đều tồn tại mối
quan hệ giữa Nhà nước với các đảng chính trị, trước hết là
Đảng cầm quyền, Đảng nắm chính quyền, sử dụng chính
quyền để thực thi quyền lực chính trị, hướng tới thỏa mãn
những lợi ích của các lực lượng mà Đảng đại diện; trong mối
quan hệ này, Đảng nắm quyền lãnh đạo Nhà nước. Bản chất
của việc Đảng cầm quyền lãnh đạo Nhà nước thể hiện ở chỗ
Đảng trở thành lực lượng chi phối tồn bộ phương hướng
hoạt động, chính sách của chính quyền nhà nước và đời sống
xã hội. Sự lãnh đạo của Đảng cầm quyền đối với Nhà nước là
lãnh đạo chính trị, quyết định phương hướng chính trị của
Nhà nước. Cách thức lãnh đạo của Đảng cầm quyền đối với
Nhà nước trong thực tiễn thường được thực hiện chủ yếu
thông qua cương lĩnh, đường lối của Đảng cầm quyền cũng
như số lượng, vị trí nhân sự của Đảng trong cơ cấu nhà nước
và đặc biệt là vai trò của các nhà lãnh đạo chính trị trong
Nhà nước là đảng viên của Đảng cầm quyền chịu sự lãnh đạo
của Đảng cầm quyền.
Trong Nhà nước pháp quyền, Nhà nước chịu sự lãnh đạo
của Đảng cầm quyền thơng qua nhiều hình thức và cơ chế
khác nhau. Đảng cầm quyền ở các quốc gia tư sản thực hiện
sự kiểm soát trên các phạm vi quyền lực nhà nước. Chẳng


PHẦN THỨ BA: THỰC TIỄN ĐỔI MỚI NỘI DUNG...

309


hạn, mặc dù tòa án độc lập, xét xử theo luật nhưng ở nơi nào
các thẩm phán được lựa chọn thông qua bầu cử thì Đảng
chính trị quyết định việc chọn ứng cử viên và bảo đảm sự
ủng hộ của các cử tri. Ở nơi nào, các thẩm phán được bổ
nhiệm thì Đảng cầm quyền có thể tác động đến người đứng
đầu hành pháp - người có quyền bổ nhiệm thẩm phán và đạt
được sự phê chuẩn của thượng viện. Việc giành lấy cơ quan
lập pháp và các vị trí bầu cử trong nhánh hành pháp được
thực hiện thông qua hệ thống bầu cử, ở đó Đảng duy trì và
nắm chắc quy trình bổ nhiệm và phương pháp bỏ phiếu kín...
Ở Việt Nam, sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam
đối với sự nghiệp xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ
nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân là một tất
yếu lịch sử và tất yếu khách quan. Sự lãnh đạo của Ðảng
Cộng sản duy nhất cầm quyền đối với xã hội và Nhà nước
không những không mâu thuẫn với bản chất của Nhà nước
pháp quyền, mà nó cịn là điều kiện có ý nghĩa tiên quyết đối
với quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ
nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân ở nước ta.
Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam là Nhà
nước do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, chịu sự giám sát
của nhân dân và sự phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam cũng như các tổ chức thành viên của Mặt trận. Ở
Việt Nam hiện nay, sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt
Nam là điều kiện quan trọng nhất, cơ bản nhất đối với sự
nghiệp xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của
nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân.
Sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà
nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam nhằm mục đích:

(i) Duy trì và bảo đảm bản chất dân chủ của Nhà nước


310

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN - THỰC TIỄN CẤP THIẾT...

Việt Nam, bảo đảm để Nhà nước ta là Nhà nước pháp quyền
xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân;
(ii) Xây dựng được chính quyền vững mạnh, trong sạch, có
hiệu lực và hiệu quả, trong đó có việc xây dựng đội ngũ cán
bộ, cơng chức.
Vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà
nước và xã hội đã được khẳng định trên cơ sở lý luận, thực tế
lịch sử và pháp lý. Hiến pháp năm 2013 ghi rõ: “Đảng Cộng
sản Việt Nam... là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội”.
Đảng lãnh đạo Nhà nước là lãnh đạo về mặt chính trị
(thơng qua đường lối, thể chế hóa đường lối, bằng công tác tổ
chức cán bộ...). Sự lãnh đạo của Đảng với xã hội thực hiện gián
tiếp qua vai trò quản lý của Nhà nước, do đó Đảng khơng có
quyền lực nhà nước, khơng có chức năng cai trị, chức năng của
cơ quan công quyền. Nhà nước quản lý xã hội nhân danh
chính mình, thực hiện quyền lực nhà nước, trực tiếp quản trị,
cai trị xã hội. Thiếu sự phân định giữa chức năng lãnh đạo
của Đảng và chức năng quản lý của Nhà nước là một biểu hiện
của việc thiếu dân chủ (nghĩa là yếu tố nhân dân làm chủ
cũng không được bảo đảm), sẽ dẫn đến những hạn chế lớn
trong hoạt động của tồn hệ thống chính trị. “Sự lẫn lộn, nhập
cục một cách chủ quan giữa chức năng của Đảng và chức năng
của Nhà nước đã làm cho Đảng yếu, Nhà nước non kém, Đảng

không phát huy được chức năng vốn có của mình, cịn Nhà
nước rơi vào tình trạng thụ động, quan liêu, xa rời thực tế,
quyền lợi của nhân dân trở thành hình thức”1.
_______________
1. Nguyễn Thế Kiệt: “Mối quan hệ giữa Đảng và Nhà nước trong xây
dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay”, Tạp
chí Triết học, số 6-2006, tr. 6.


PHẦN THỨ BA: THỰC TIỄN ĐỔI MỚI NỘI DUNG...

311

Ranh giới giữa lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà
nước chỉ là tương đối, có nghĩa rằng trong sự lãnh đạo của
Đảng có yếu tố quản lý và trong quản lý của Nhà nước chứa
đựng cả sự lãnh đạo. Nhưng nội hàm các hoạt động này đối
với Đảng và Nhà nước là khác nhau (cả về nội dung và
phạm vi). “Trong lãnh đạo bao hàm sự quản lý và thông qua
quản lý để lãnh đạo”1. Sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà
nước thể hiện thông qua nội dung và phương thức lãnh đạo.
Nội dung lãnh đạo của Đảng là những vấn đề, những nhiệm
vụ của Đảng cần phải làm và được xác định ở mục tiêu
trong các đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng nhằm
thực hiện nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam là
xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Còn phương thức lãnh đạo của
Đảng là hệ thống những phương pháp, hình thức, cách thức
Đảng tác động vào Nhà nước (đối tượng bị lãnh đạo) để hiện
thực hóa ý chí của Đảng thể hiện trong nội dung lãnh đạo
của Đảng. Hai yếu tố này là biểu hiện của sự lãnh đạo của

Đảng; chúng có liên hệ mật thiết và biện chứng nhau. Nội
dung lãnh đạo tương đối ổn định và quyết định phương thức
lãnh đạo của Đảng; nhưng khi phương thức lãnh đạo khơng
cịn phù hợp, cần thiết phải thay đổi thì chính là xuất phát
từ yêu cầu đổi mới của nội dung lãnh đạo và gắn với điều
kiện, hoàn cảnh lịch sử của mỗi giai đoạn.
Có thể thấy, mối quan hệ giữa Đảng cầm quyền và Nhà
nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là mối quan hệ giữa hai
chủ thể trong hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa, vừa mang
_______________
1. Nguyễn Thế Kiệt: “Mối quan hệ giữa Đảng và Nhà nước trong xây
dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay”, Tạp
chí Triết học, số 6-2006, tr.7.


×