Tải bản đầy đủ (.pdf) (11 trang)

Quyền sở hữu bất động sản của người Việt Nam định cư ở nước ngoài tại Việt Nam

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (433.43 KB, 11 trang )

QUYỀN SỞ HỮU BẤT ĐỘNG SẢN
CỦA NGƯỜI VIỆT NAM ĐỊNH CƯ Ở NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM
Bùi Văn Huy1
1. Lớp CH21LK01. Email:
TĨM TẮT
Trong hồn cảnh hội nhập kinh tế, nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp kèm theo đó có
một quy định pháp lý rõ ràng hơn và một định nghĩa cụ thể đối với người Việt Nam định cư ở nước
ngoài về quyền sở hữu bất động sản của họ tại Việt Nam. Để khuyến khích đầu tư tại Việt Nam thì
bên cạnh chính sách ưu đãi của Luật Đầu tư thì Luật Đất đai cần mở rộng cho họ những điều kiện
để được sử dụng đất một cách hợp pháp như là nhận chuyển giao từ Nhà nước hoặc nhận chuyển
quyền sử dụng đất từ một cá nhân khác mà vẫn nằm trong khuôn khổ quản lý và tuân thủ các quy
định pháp luật tại nơi có bất động sản. Trong bài viết này đã sử dụng các phương pháp phân tích
để làm rõ nội dung cơ bản trong các văn bản quy phạm pháp luật quy định về quyền sở hữu bất
động sản của người Việt Nam định cư ở nước ngoài tại Việt Nam và dùng phương pháp so sánh
để thấy rõ được sự thay đổi, hoàn thiện của pháp luật đối với đối tượng nêu trên.
Từ khoá: Người Việt Nam định cư ở nước ngoài, quyền sở hữu bất động sản, quyền sử
dụng đất.
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Với quan điểm thực hiện nhất quán chính sách đại đoàn kết dân tộc trong mọi giai đoạn
cách mạng, người Việt Nam định cư nước ngoài từ lâu đã được xem là một bộ phận không thể
tách rời của dân tộc Việt Nam. Bên cạnh đó họ cịn là những người có đầy đủ tiềm lực lớn mạnh
về kinh tế và chất xám, là những nhà đầu tư góp phần khơng nhỏ vào sự phát triển của kinh tế
đất nước. Nhận thức được tầm quan trọng của đối tượng này, Đảng và Nhà nước không ngừng
mở rộng các chính sách kinh tế, xã hội nhằm tạo điều kiện thuận lợi nhất để họ có thể trở về
quê hương, đem tiềm lực tài chính và trí tuệ của mình góp phần vào sự phát triển của nước nhà.
Thời điểm hiện tại, xu thế đang phát triển rầm rộ và ai cũng có mong muốn làm giàu lên nhờ
bất động sản cụ thể là các giao dịch về quyền sở hữu đất. Trong khi đó những quy định cụ thể,
những định nghĩa để xác định quyền và nghĩa vụ của người Việt Nam định cư ở nước ngoài
được sử dụng, sở hữu đất vẫn chưa được Luật Đất đai 2013 làm sáng tỏ chỉ có viện dẫn từ các
quy định của luật khác rồi tự đúc kết lại.
Bên cạnh các chính sách xã hội như ban hành quy chế miễn thị thực cho kiều bào thì các


chính sách pháp luật là cơng cụ hữu hiệu và nhanh chóng thúc đẩy người Việt Nam định cư ở
nước ngoài trở về xây dựng đất nước, đặc biệt là các chính sách pháp luật về kinh tế. Có thể
thấy với sự ra đời của Luật Đầu tư 2014, pháp luật đã dành nhiều ưu đãi cho đối tượng người
Việt Nam định cư ở nước ngoài khi đầu tư tại Việt Nam, rút ngắn khoảng cách về sự phân biệt
đối xử so với các tổ chức, cá nhân trong nước, để họ thấy được mình là một bộ phận khơng thể
179


tách rời của dân tộc. Để khuyến khích đầu tư tại Việt Nam thì bên cạnh chính sách ưu đãi của
Luật Đầu tư thì Luật Đất đai cần trao cho họ những điều kiện thơng thống để được sử dụng
đất một cách hợp pháp mà vẫn trong sự quản lý của nhà nước.
Tuy nhiên, các quy định của pháp luật đất đai khi áp dụng vào thực tiễn lại bộc lộ khơng
ít những bất cập làm hạn chế cơ hội để người Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất đầu
tư tại Việt Nam. Dặc biệt là đối với các dự án không nằm trong khu công nghiệp, cụm công
nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế thì người Việt Nam định cư ở nước ngồi
khơng được nhận chuyển nhượng? Những bất cập này vơ hình trung đã làm giảm tỷ trọng đầu
tư của người Việt Nam định cư ở nước ngoài vào thị trường trong nước, ảnh hưởng đến sự phát
triển bền vững của nền kinh tế. Pháp luật cần có sự nhìn nhận và điều chỉnh kịp thời để khắc
phục những bất cập còn tồn tại, quy định khung pháp lý rõ ràng về quyền sở hữu bất động sản
của người Việt Nam định cư ở nước ngoài cũng như mở rộng cơ hội để họ có thể tiếp cận quyền
sử dụng đất một cách dễ dàng hơn, loại bỏ những hạn chế không cần thiết.
2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Phương pháp luận mang tính chất nền tảng và được sử dụng trong tồn bộ khóa luận là
phương pháp duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác – Lênin. Phương pháp duy vật biện chứng
của chủ nghĩa Mác - Lênin quan niệm mọi sự vật hiện tượng phải được nghiên cứu trong mối quan
hệ biện chứng của nó. Pháp luật là một bộ phận thuộc về kiến trúc thượng tầng của mỗi quốc gia,
phản ánh ý chí của Nhà nước và nội dung, tính chất của nó được quyết định bởi cơ sở hạ tầng là
các yếu tố kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội của quốc gia đó. Các nguyên lý về mối quan hệ giữa
cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng được áp dụng khi nghiên cứu nhằm hoàn thiện các quy định
của pháp luật về quyền sở hữu bất động sản của người Việt Nam định cư ở nước ngồi. Theo đó,

phải đặt các quy định của pháp luật đất đai hiện hành trong mối quan hệ với các điều kiện kinh tế,
chính trị xã hội của đất nước thì mới có được cái nhìn khách quan và tồn diện. Đồng thời, bài viết
cịn được nghiên cứu dựa trên nền tảng các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước trong
mối tương quan với các quy định của pháp luật đất đai về quyền sở hữu bất động sản của người
Việt Nam định cư ở nước ngoài để có thể nhìn nhận các quy định của pháp luật một cách đúng
đắn, tránh tình trạng hiểu sai lệch, xa rời đường lối, chủ trương của Đảng và Nhà nước.
Trong quá trình nghiên cứu tác giả kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu, cụ thể như sau:
Để nhìn nhận một cách sơ lược quá trình hình thành và phát triển các quy định của pháp
luật đất đai qua các thời kỳ về quyền sở hữu bất động sản của người Việt Nam định cư ở nước
ngoài, tác giả đã sử dụng phương pháp nghiên cứu và phân tích, đánh giá các quy định của pháp
luật trong từng giai đoạn cụ thể. Phương pháp nghiên cứu được vận dụng nhằm thu thập các
kiến thức chung nhất, khái quát nhất, trên cơ sở đó phân tích và đánh giá các quy định của pháp
luật. Đồng thời tác giả cũng sử dụng phương pháp so sánh đối chiếu các quy định của Luật Đất
đai hiện hành so với Luật cũ để có thể thấy được những điểm tiến bộ cũng như những hạn chế
còn tồn đọng trong quy định của Luật Đất đai 2013.
Phương pháp phân tích - tổng hợp là phương pháp cơ bản được sử dụng trong tồn bộ
khóa luận khi nghiên cứu các vấn đề lý luận về quyền sở hữu bất động sản của người Việt Nam
định cư ở nước ngoài tại bài viết này.
180


3. NỘI DUNG
3.1. Một số quy định của pháp luật về quyền sử dụng đất của người Việt Nam định cư
ở nước ngoài tại Việt Nam
3.1.1. Quyền tiếp cận đất đai
“Tiếp cận đất đai và sự ổn định trong sử dụng đất” là một trong 10 chỉ số để đánh giá
năng lực cạnh tranh (PCI) của các địa phương trong việc thu hút đầu tư46. Thuật ngữ “tiếp cận
đất đai” hay “tiếp cận quyền sử dụng đất” tuy đã được sử dụng phổ biến trong khoa học pháp
lý cũng như được các cơ quan nhà nước, các tổ chức kinh tế sử dụng trong các nghiên cứu kinh
tế, pháp luật nhưng trong các văn bản pháp luật đất đai lại khơng có bất cứ quy định nào về

thuật ngữ này. “Tiếp cận đất đai” hiểu một cách khái quát là khả năng của các chủ thể có thể có
được quyền sử dụng đất và sử dụng, hưởng lợi từ quyền sử dụng đất đó. Quyền tiếp cận đất đai
(hay quyền tiếp cận quyền sử dụng đất) có thể coi là quyền (khả năng) mà pháp luật quy định
cho các chủ thể nhất định để trở thành người sử dụng đất theo pháp luật đất đai hoặc ít nhất có
thể trực tiếp sử dụng đất phục vụ cho lợi ích của mình một cách hợp pháp47. Theo quy định của
pháp luật đất đai hiện hành, người Việt Nam định cư ở nước ngoài khi thực hiện dự án đầu tư
tại Việt Nam có quyền tiếp cận đất đai qua hai con đường:
Được nhận quyền sử dụng đất từ Nhà nước theo hình thức giao đất hoặc thuê đất. Giao
đất, cho thuê đất là hoạt động điều phối đất đai nhằm thực hiện quyền sở hữu nhà nước, thực
hiện chức năng quản lý nhà nước về đất đai. Thông qua hoạt động này, người Việt Nam định
cư ở nước ngồi có quyền sử dụng đất hợp pháp, tham gia vào quan hệ đất đai với tư cách là
người sử dụng đất.
Nhận quyền sử dụng đất từ một chủ thể sử dụng đất khác đã có quyền sử dụng đất hợp
pháp thơng qua các hình thức chuyển quyền sử dụng đất.
- Được Nhà nước giao đất, cho thuê đất:
Trong một số tài liệu thì hoạt động giao đất, cho thuê đất của Nhà nước được xem là hoạt
động chủ yếu của thị trường quyền sử dụng đất sơ cấp. Quyền sử dụng đất là một loại hàng hóa
đặc biệt được Nhà nước (chủ sở hữu duy nhất) độc quyền cung ứng trên thị trường này. Trong thị
trường quyền sử dụng đất sơ cấp có sự tham gia của hai chủ thể là Nhà nước với tư cách là chủ
sở hữu đất đai và người sử dụng đất. Quan hệ giữa Nhà nước và người sử dụng đất là quan hệ
vừa mang tính tài sản (các chủ thể khi được giao đất, cho thuê đất phải trả tiền cho Nhà nước),
vừa mang tính hành chính (quyền sử dụng đất của người sử dụng đất được xác lập và chấm dứt
bởi chính Nhà nước, được thực hiện thông qua quyết định giao đất, hợp đồng thuê đất).
Theo quy định tại khoản 7 Điều 3 Luật Đất đai 2013 thì “Nhà nước giao quyền sử dụng
đất (sau đây gọi là Nhà nước giao đất) là việc Nhà nước ban hành quyết định giao đất để trao
quyền sử dụng đất cho đối tượng có nhu cầu sử dụng đất”. Giao đất gồm hai hình thức là giao
đất khơng thu tiền sử dụng đất và giao đất có thu tiền sử dụng đất. Khoản 8 Điều 3 Luật Đất đai
2013 quy định “Nhà nước cho thuê đất là việc Nhà nước quyết định trao quyền sử dụng đất
Các chỉ số còn lại bao gồm: chi phí gia nhập thị trường, tính minh bạch, chi phí thời gian, chi phí không chính
thức, tính năng động của lãnh đạo tỉnh, đào tạo lao động, dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp, thiết chế pháp lý, thủ tục

giải quyết tranh chấp công bằng, hiệu quả.
47
Lưu Quốc Thái (2015), Quyền tiếp cận đất đai của nhà đầu tư thông qua các giao dịch quyền sử dụng đất, Tạp
chí Khoa học pháp lý, số 1 (86)/2015, tr. 31
46

181


cho đối tượng có nhu cầu sử dụng đất thơng qua hợp đồng cho thuê quyền sử dụng đất”. Cho
thuê đất gồm hai hình thức là thuê đất trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê và thuê đất
trả tiền thuê đất hàng năm. Khi thực hiện dự án đầu tư tại Việt Nam, người Việt Nam định cư
ở nước ngồi có nhu cầu sử dụng đất vào các mục đích khác nhau. Tùy theo mục đích sử dụng
đất để thực hiện dự án đầu tư, họ được Nhà nước giao đất hoặc cho thuê đất.
Giao đất không thu tiền sử dụng đất là các trường hợp sử dụng đất khơng mang tính chất sản
x́t, kinh doanh thu lợi nhuận. Theo quy định của Luật Đất đai 2013, người Việt Nam định cư ở
nước ngoài khi sử dụng đất để xây dựng các cơng trình ngầm khơng nhằm mục đích kinh doanh thì
có thể được Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất48. Đây là ưu đãi mà Nhà nước dành cho
các chủ đầu tư nói chung và người Việt Nam định cư ở nước ngồi nói riêng nhằm khuyến khích
họ đầu tư, phát triển các dự án an sinh xã hội, góp phần vào sự phát triển bền vững của đất nước.
Như vậy, theo quy định của Luật Đất đai 2013, người Việt Nam định cư ở nước ngồi khi
có nhu cầu sử dụng đất để thực hiện dự án đầu tư tại Việt Nam có thể được Nhà nước giao đất,
cho thuê đất tùy thuộc vào mục đích sử dụng đất của họ. Để được giao đất, cho thuê đất họ phải
đáp ứng các căn cứ luật định và các điều kiện nhằm đảm bảo khả năng triển khai thực hiện dự
án đầu tư trên thực tế. Luật Đất đai 2013 đã được sửa đổi theo hướng hợp lý, quy định các căn
cứ giao đất, cho thuê đất rõ ràng, không phụ thuộc vào chủ thể sử dụng đất mà căn cứ vào mục
đích sử dụng đất. Quyền tiếp cận đất đai của người Việt Nam định cư ở nước ngồi thơng qua
con đường hành chính nhà nước – được Nhà nước giao đất, cho thuê đất dần được mở rộng. Để
thu hút sự đầu tư của nhóm chủ thể này cần khắc phục những hạn chế về các điều kiện ràng
buộc năng lực tài chính, bất cập trong vấn đề chuyển dịch đất tự nguyện cũng như xem xét việc

giao đất có thu tiền sử dụng đất để họ được kinh doanh hạ tầng nghĩa trang, nghĩa địa để chuyển
nhượng quyền sử dụng đất gắn với hạ tầng.
- Được nhận chuyển quyền sử dụng đất: Người Việt Nam định cư ở nước ngoài thực hiện
dự án đầu tư tại Việt Nam bên cạnh việc được Nhà nước giao đất, cho thuê đất thì có thể tiếp
cận đất đai thơng qua con đường nhận quyền sử dụng đất từ một chủ thể sử dụng đất đã có
quyền sử dụng đất hợp pháp. Đây là hoạt động diễn ra trên thị trường quyền sử dụng đất thứ
cấp, giữa người sử dụng đất với những người có nhu cầu sử dụng đất. Yếu tố thị trường của
hàng hóa quyền sử dụng đất được thể hiện rõ nét trong thị trường này. Chuyển quyền sử dụng
đất là những giao dịch làm thay đổi (dịch chuyển) quyền sử dụng đất từ chủ thể này sang chủ
thể khác, bao gồm các hình thức chuyển đổi, chuyển nhượng, thừa kế, tặng cho quyền sử dụng
đất và góp vốn bằng quyền sử dụng đất49. Chuyển quyền sử dụng đất sẽ chấm dứt tư cách người
sử dụng đất của bên chuyển quyền, làm phát sinh tư cách người sử dụng đất của bên nhận
chuyển quyền. Giao dịch cho thuê quyền sử dụng đất không được xem là chuyển quyền sử dụng
đất bởi nó chỉ là việc người sử dụng đất chuyển giao tạm thời quyền sử dụng đất của mình cho
chủ thể khác để sử dụng trong một thời gian nhất định, mặc dù đây là giao dịch có thể đem lại
quyền sử dụng đất thực tế cho người có nhu cầu, cho phép họ trực tiếp khai thác, sử dụng đất
trong thời gian thuê. Về cơ bản bên thuê không được xem là chủ thể sử dụng đất, không được
cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Tuy nhiên, có một trường hợp ngoại lệ mà Luật Đất
đai 2013 ghi nhận nhằm khuyến khích việc đầu tư vào khu vực này đó là trường hợp thuê lại
48
49

Khoản 2 Điều 57 Nghị định 43/2014/NĐ-CP
Khoản 10 Điều 3 Luật Đất đai 2013

182


quyền sử dụng đất của nhà đầu tư kinh doanh kết cấu hạ tầng trong khu công nghiệp, cụm công
nghiệp, khu chế xuất thì người thuê, thuê lại cũng trở thành chủ thể sử dụng đất (Khoản 3 Điều

149 Luật Đất đai 2013) và được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (khoản 3 Điều 49
Nghị định 43/2014/NĐ-CP). Theo quy định của Luật Đất đai 2013, người Việt Nam định cư ở
nước ngoài sử dụng đất thực hiện dự án đầu tư không được tiếp cận đất đai thông qua nhận
chuyển quyền sử dụng đất trong tất cả các giao dịch nói trên mà chủ yếu được tiếp cận quyền
sử dụng đất thông qua hai loại giao dịch: thứ nhất, thuê lại quyền sử dụng đất gắn liền với kết
cấu hạ tầng trong khu công nghiệp, cụm công nghiệp, khu chế xuất (khoản 3 Điều 149 Luật Đất
đai 2013). Đồng thời người Việt Nam định cư ở nước ngoài khi thực hiện dự án đầu tư cũng có
thể thuê quyền sử dụng đất của hộ gia đình, cá nhân (điểm d khoản 1 Điều 179 Luật Đất đai
2013); thứ 2, nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất trong khu công nghiệp, cụm công nghiệp,
khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế (điểm b khoản 1 Điều 169 Luật Đất đai 2013).
Ngoài ra, nhà đầu tư là người Việt Nam định cư ở nước ngồi có thể tiếp cận đất đai thông
qua việc mua tài sản gắn liền với đất thuê trả tiền hàng năm (Điều 189 Luật Đất đai năm 2013).
Hoặc thông qua việc nhận chuyển nhượng một phần hoặc toàn bộ dự án đầu tư gắn liền với
quyền sử dụng đất (Điều 194 Luật Đất đai 2013, Điều 41 Nghị định 43/2014/NĐ-CP).
Nhìn chung qua các quy định của pháp luật đất đai hiện hành thì quyền tiếp cận đất đai của
người Việt Nam định cư ở nước ngoài khi thực hiện dự án đầu tư đã được mở rộng và quy định
cụ thể hơn so với các Luật Đất đai trước. Tuy nhiên trong quá trình áp dụng vẫn còn tồn tại những
bất cập xuất phát từ sự bất ổn trong kỹ thuật lập pháp cũng như Luật Đất đai 2013 vẫn còn khá
dè dặt khi trao quyền tiếp cận đất đai cho chủ thể này, chưa tạo ra một mặt bằng pháp lý thật sự
bình đẳng giữa các chủ thể. Khó khăn trong việc tiếp cận đất đai vẫn là một trong những rào cản
để cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.
3.1.2. Quyền giao dịch quyền sử dụng đất
Quy định quyền sử dụng đất không phải là một chế định mang tính cào bằng. Bên cạnh
những quyền chung mà tất cả người sử dụng đất đều được hưởng thì những giao dịch mang tính
tài sản đối với quyền sử dụng đất không phải ai cũng được thực hiện mà được xác định căn cứ
vào loại chủ thể, hình thức sử dụng đất, mục đích sử dụng đất và nghĩa vụ tài chính mà người sử
dụng đất thực hiện cho Nhà nước. Người Việt Nam định cư ở nước ngồi khi thực hiện dự án đầu
tư thì tùy vào hình thức sử dụng đất họ có các quyền giao dịch quyền sử dụng đất khác nhau.
Hiện nay khái niệm giao dịch quyền sử dụng đất chưa được quy định trong Luật Đất đai
2013, chỉ được đề cập một cách thoáng qua tại khoản 6 Điều 12 của Luật. Giao dịch quyền sử

dụng đất có thể hiểu “là việc người sử dụng đất tiến hành dịch chuyển quyền sử dụng đất của
mình theo nội dung và hình thức nhất định phù hợp quy định của pháp luật đất đai nhằm thực
hiện quyền tài sản của mình đối với quyền sử dụng đất50”. Nói cách khác đó là hành vi pháp lý
của người sử dụng đất và của các chủ thể có liên quan trong việc xác lập, thay đổi, chấm dứt
các quyền, nghĩa vụ pháp lý đối với quyền sử dụng đất. Giao dịch quyền sử dụng đất có thể dẫn
đến hai khả năng là làm chuyển quyền sử dụng đất hoặc không. Chuyển quyền sử dụng đất là
việc chuyển giao quyền sử dụng đất từ người này sang người khác thơng qua các hình thức
chuyển đổi, chuyển nhượng, tặng cho, thừa kế quyền sử dụng đất và góp vốn bằng quyền sử
Trường đại học Luật Tp. Hồ Chí Minh (2018), Giáo trình Luật Đất đai, Nhà xuất bản Hồng Đức – Hội luật gia
Việt Nam, tr. 234
50

183


dụng đất. Thế chấp và cho thuê quyền sử dụng đất là hai hình thức khơng làm chuyển quyền sử
dụng đất. Theo quy định của Luật Đất đai 2013 thì người Việt Nam định cư ở nước ngoài sử
dụng đất để thực hiện dự án đầu tư không được thực hiện tất cả các giao dịch quyền sử dụng
đất nói trên mà chỉ được thực hiện các giao dịch sau: chuyển nhượng, tặng cho, thế chấp, cho
thuê quyền sử dụng đất và góp vốn bằng quyền sử dụng đất. Tuy là quyền mà pháp luật quy
định cho họ nhưng để thực hiện quyền này họ phải đáp ứng các điều kiện được quy định tại
khoản 1 Điều 188 Luật Đất đai 2013. Ngồi những điều kiện này thì tùy từng giao dịch họ tham
gia họ phải đáp ứng các điều kiện riêng khác thì mới có quyền giao dịch.
- Điều kiện thực hiện giao dịch quyền sử dụng đất:
Thứ nhất, có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền
với đất (sau đây gọi là Giấy chứng nhận). Giấy chứng nhận là chứng thư pháp lý mà Nhà nước
cấp nhằm xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất. Thông qua việc cấp Giấy
chứng nhận Nhà nước xác lập đầy đủ các căn cứ pháp lý để thực hiện chức năng quản lý nhà nước
về đất đai. Đồng thời cấp Giấy chứng nhận tạo cơ sở pháp lý để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp
của người sử dụng đất. Giấy chứng nhận là cơ sở và tiền đề để người sử dụng đất chứng minh

mình có quyền định đoạt đối với quyền sử dụng đất thuộc sở hữu của mình. Việc quy định điều
kiện này đối với giao dịch quyền sử dụng đất là cần thiết nhằm kiểm tra tính hợp pháp của đối
tượng giao dịch cũng như tư cách của chủ thể có quyền sử dụng đất, đảm bảo lợi ích của các bên
tham gia giao dịch và phục vụ công tác quản lý các giao dịch quyền sử dụng đất. Tuy nhiên việc
cấp Giấy chứng nhận là hoạt động hành chính của Nhà nước, việc có Giấy chứng nhận hay khơng
khơng phụ thuộc vào ý chí của người sử dụng đất mà do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền
cấp Giấy chứng nhận quyết định. Tình trạng thiếu hụt cán bộ thực hiện thủ tục đăng ký và cấp
Giấy chứng nhận, hệ thống lưu trữ thơng tin đất đai cịn mang nặng tính giấy tờ, những tiêu cực
từ cán bộ trong quá trình cấp giấy đã khơng đáp ứng đầy đủ, nhanh chóng nhu cầu cấp Giấy chứng
nhận cho người sử dụng đất. Sự phiền hà và phức tạp trong việc cấp Giấy chứng nhận đã ảnh
hưởng không nhỏ đến việc thực hiện các giao dịch của người sử dụng đất. Theo quy định thì thời
hạn cấp giấy là khơng q 30 ngày51 nhưng thực tế thì người sử dụng đất phải mất từ 1 đến 2
tháng mới có được Giấy chứng nhận. Giá trị của quyền sử dụng đất phụ thuộc vào yếu tố cung
cầu trên thị trường cho nên “tính đúng thời điểm” trong giao dịch quyền sử dụng đất rất quan
trọng. Không nên để mất đi một khoản lợi nhuận lớn chỉ vì khơng có Giấy chứng nhận mà đơi
khi lỗi không ở người sử dụng đất mà là do sự chậm trễ của cơ quan nhà nước.
Thứ hai, đất khơng có tranh chấp. Quy định này đặt ra nhằm xác định rõ tư cách pháp lý
của chủ thể thực hiện quyền giao dịch cũng như đối tượng tham gia giao dịch. Một chủ thể chỉ
được hưởng và thực hiện các giao dịch quyền sử dụng đất đối với diện tích đất đã được pháp
luật công nhận quyền sử dụng hợp pháp. Khi phát sinh tranh chấp đất đai, nghĩa là chưa xác
định chính xác ai là người có quyền sử dụng đất hợp pháp mà phải chờ kết luận cuối cùng của
cơ quan nhà nước. Quy định này cũng nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bên còn lại
khi tham gia giao dịch quyền sử dụng đất, hạn chế thấp nhất những rắc rối xảy ra trong và sau
khi chuyển quyền sử dụng đất. Quyền sử dụng đất chỉ được phép tham gia giao dịch khi đã giải
quyết xong tranh chấp. Tuy nhiên, pháp luật đất đai hiện nay chưa có quy định rõ thế nào là
“đất khơng có tranh chấp”. Chính từ sự khơng rõ ràng của pháp luật nên hầu như chỉ có thể xem
51

Khoản 2 Điều 61 Nghị định 43/2014/NĐ-CP


184


xét dựa trên khái niệm “tranh chấp đất đai” được quy định tại khoản 24 Điều 3 Luật Đất đai
2013. Theo đó “tranh chấp đất đai là tranh chấp về quyền, nghĩa vụ giữa hai hoặc nhiều bên
trong quan hệ đất đai”. Khái niệm tranh chấp đất đai này lại có nội hàm quá rộng đến mức bất
hợp lý. “Tranh chấp” hiểu một cách đơn giản là sự tranh giành một lợi ích nào đó giữa hai hoặc
nhiều chủ thể nhưng ở đây Luật lại quy định tranh chấp đất đai bao gồm cả tranh chấp về nghĩa
vụ của người sử dụng đất, tức những ràng buộc pháp lý mà người sử dụng đất phải thực hiện
để có quyền khai thác, sử dụng quyền sử dụng đất. Một cách hợp lý, tranh chấp đất đai chỉ nên
được hiểu là tranh chấp quyền sử dụng đất. Khi dựa vào khái niệm này để xác định đất khơng
có tranh chấp vơ hình trung đã gây hạn chế việc thực hiện giao dịch quyền sử dụng đất của
người sử dụng đất. Để đảm bảo việc áp dụng pháp luật được thống nhất, tránh việc quy định
các điều kiện cứng nhắc làm hạn chế quyền của người sử dụng đất (đặc biệt đối với các nhà đầu
tư) pháp luật nên quy định rõ khái niệm, các dấu hiệu để được xem là đất không có tranh chấp.
Theo quy định của pháp luật về thủ tục giải quyết tranh chấp đất đai thì hồ giải tại Ủy ban
nhân dân cấp xã là một thủ tục tiền tố tụng mang tính chất bắt buộc, được thực hiện đầu tiên
trong trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp đất đai. Thực tế trong điều kiện chưa có hướng dẫn
rõ ràng thì nên trao cho Uỷ ban nhân dân cấp xã quyền xác nhận việc có tồn tại tranh chấp đất
đai hay không (căn cứ vào việc đã nhận được đơn yêu cầu hòa giải của một trong các bên hay
chưa) và xác nhận quyền sử dụng đất có hay khơng đáp ứng điều kiện giao dịch này.
Thứ ba, quyền sử dụng đất không bị kê biên để đảm bảo thi hành án. Điều kiện này được
pháp luật đặt ra nhằm tránh sự tẩu tán tài sản và lẩn tránh thực hiện nghĩa vụ của người sử dụng
đất. Kê biên để đảm bảo thi hành án là việc quyền sử dụng đất được dùng để đảm bảo nghĩa vụ
tài sản của người sử dụng đất đặt dưới sự cưỡng chế bằng quyền lực nhà nước. Khi quyền sử
dụng đất bị kê biên thì quyền của người sử dụng đất bị hạn chế nhất định. Do đó quyền sử dụng
đất đã bị kê biên để đảm bảo thi hành án không được tham gia giao dịch nhằm đảm bảo lợi ích
của Nhà nước, lợi ích của các bên tham gia giao dịch còn lại.
Thứ tư, trong thời hạn sử dụng đất. Theo quy định tại khoản 3 Điều 126 của Luật Đất đai
2013 về thời hạn sử dụng đất thì người Việt Nam định cư ở nước ngồi khi thực hiện dự án đầu

tư tại Việt Nam được xem xét, quyết định thời hạn sử dụng đất trên cơ sở dự án đầu tư hoặc
đơn xin giao đất, cho thuê đất nhưng không quá 50 năm, trong trường hợp đặc biệt là không
quá 70 năm. Quy định này đặt ra là hoàn toàn phù hợp bởi người sử dụng đất chỉ có các quyền
trong thời hạn sử dụng đất mà Nhà nước quy định cho họ. Hết thời gian quy định nếu không
được gia hạn Nhà nước sẽ tiến hành thu hồi đất đồng nghĩa với việc chấm dứt tư cách người sử
dụng đất của họ. Và lẽ đương nhiên khi khơng cịn là người sử dụng đất hợp pháp họ khơng có
quyền đối với quyền sử dụng đất đó, bao gồm cả quyền giao dịch quyền sử dụng đất.
- Điều kiện có quyền giao dịch quyền sử dụng đất: Các hình thức giao dịch quyền sử dụng
đất của người Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất để thực hiện dự án đầu tư như chuyển
nhượng quyền sử dụng đất; được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất; cho thuê đất thu tiền
thuê đất một lần cho cả thời gian thuê; nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất trong khu công
nghiệp, cụm công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế; thuê đất, thuê lại đất trong
khu công nghiệp, cụm công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế trả tiền thuê đất,
thuê lại đất một lần cho cả thời gian thuê.
Như vậy, theo quy định của Luật Đất đai 2013 thì chỉ có người Việt Nam định cư ở nước
185


ngồi sử dụng đất dưới hình thức giao đất có thu tiền sử dụng đất và thuê đất trả tiền thuê đất một
lần cho cả thời gian thuê mới được thực hiện giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất nói riêng
và các giao dịch quyền sử dụng đất nói chung. Người Việt Nam định cư ở nước ngoài được Nhà
nước cho thuê đất trả tiền thuê đất hàng năm để thực hiện dự án đầu tư chỉ được giao dịch đối với
tài sản gắn liền với đất chứ không được giao dịch quyền sử dụng đất. Quy định này là không hợp
lý bởi quyền sử dụng đất thuê trả tiền hàng năm cũng là tài sản của người sử dụng đất52. Giá trị
quyền sử dụng đất thuê không chỉ được tạo lập nên bởi khoản tiền thuê đất trả trước mà nó cịn
được tạo nên bởi nhiều giá trị khác như giá trị đất tăng do người sử dụng đất đầu tư sau khi nhận
quyền sử dụng đất (chi phí cải tạo đất, san lắp mặt bằng,…), giá trị đất tăng do hình thành các khu
quy hoạch mới sau khi đã đầu tư xong cơ sở hạ tầng, giá trị đất tăng từ yếu tố cung cầu trên thị
trường. Việc người Việt Nam định cư ở nước ngoài lựa chọn cách thức trả tiền thuê đất một lần
hay hàng năm chỉ phụ thuộc vào khả năng tài chính của họ. Nếu như Nhà nước chỉ dựa vào sự lựa

chọn đó mà tước đi quyền tài sản mà họ đáng được hưởng là thiếu sự bình đẳng giữa Nhà nước và
người sử dụng đất53. Ngồi ra, việc khơng cho phép giao dịch quyền sử dụng đất nhưng lại cho
phép họ giao dịch đối với tài sản gắn liền với đất sẽ dẫn đến thực tế các giao dịch quyền sử dụng
đất “trá hình” dưới hình thức giao dịch tài sản có trên đất, tạo ra một thị trường quyền sử dụng đất
thiếu minh bạch. Nhà nước thất thu vì khơng điều tiết được khoản thu nhập từ việc chuyển quyền
sử dụng đất cũng như làm phức tạp hơn thủ tục hành chính của Nhà nước khi mà phải đồng thời
thu hồi quyền sử dụng đất của người bán tài sản trên đất vừa phải cho thuê đối với người mua tài
sản. Pháp luật nên cho phép người Việt Nam định cư ở nước ngoài thuê đất trả tiền hàng năm cũng
được giao dịch quyền sử dụng đất nhằm tạo sự công bằng đối với chủ thể này.
+ Việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất phải gắn với tài sản thuộc sở hữu của họ đã xây
dựng trên đất. Tuy nhiên điều kiện này chưa thực sự rõ ràng. Tại điểm a khoản 2 Điều 174 Luật
Đất đai 2013 chỉ quy định “chuyển nhượng quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất”. Quy
định này gây ra hai cách hiểu khác nhau: Một là khi chuyển nhượng bắt buộc phải có tài sản
gắn liền với đất, hai là chỉ mang tính dự trù nếu có tài sản thì sẽ được chuyển nhượng cùng với
quyền sử dụng đất, nếu khơng có thì cũng khơng bắt buộc. Cách hiểu thứ nhất có vẻ hợp lý hơn.
Bởi việc bắt buộc các chủ thể phải có tài sản gắn liền với đất khi chuyển nhượng quyền sử dụng
đất là cách thức tốt nhất để đảm bảo họ đã triển khai thực hiện dự án trên thực tế, tránh tình
trạng “đầu cơ” đất đai nhằm mục đích chuyển nhượng kiếm lời, các nhà đầu tư không muốn
đầu tư sản xuất thực sự mà chỉ mong có đất chuyển nhượng để thu được lợi nhuận nhanh chóng,
đơn giản, làm méo mó thị trường quyền sử dụng đất. Bên cạnh đó tài sản được tạo lập trên đất
cũng được coi là thành quả lao động, kết quả đầu tư trên đất nên đây cũng là tài sản thuộc sở
hữu của người sử dụng đất, họ có quyền được hưởng và định đoạt đối với nó54.
3.2. Kiến nghị để hoàn thiện pháp luật về quyền sử dụng đất của người Việt Nam định
cư ở nước ngoài tại Việt Nam
Thứ nhất, Luật Đất đai cần quy định khái niệm mang tính học thuật về “người Việt Nam
định cư ở nước ngồi” chứ khơng đơn thuần chỉ là một khái niệm mang tính dẫn chiếu như trong
Lưu Quốc Thái (2014), Hoàn thiện pháp luật về chuyển nhượng quyền sử dụng đất trong điều kiện kinh tế thị
trường, Tạp chí Khoa học pháp lý, số 4 (83)/2014, tr. 15
53
Nguyễn Thị Cam (2005), Một vài suy nghĩ về quyền sử dụng đất – một loại tài sản đặc thù, Tạp chí Khoa học

pháp lý , số 1(26)/2005, tr. 5
54
Lưu Quốc Thái (2016), Những vấn đề pháp lý về thị trường quyền sử dụng đất Việt Nam , tr. 174
52

186


pháp luật hiện hành. Với cách quy định này sẽ tạo ra một địa vị pháp lý vững vàng cho chủ thể
này, bên cạnh đó sẽ giúp cho hoạt động áp dụng pháp luật thống nhất, rõ ràng. Định nghĩa được
đưa ra phải mang tính khái quát, tránh trường hợp quy định quá cụ thể sẽ hạn chế cơ hội để những
người Việt xa xứ đem nguồn lực về phát triển đất nước. Để làm được điều đó có thể xây dựng một
khái niệm là sự tổng hợp các đặc điểm trong quy định của Luật Đất đai và Luật Quốc tịch. Theo
quan điểm của tác giả có thể được định nghĩa như sau “Người Việt Nam định cư ở nước ngồi sử
dụng đất tại Việt Nam là cơng dân Việt Nam hoặc người gốc Việt Nam, cư trú, sinh sống lâu dài
ở nước ngồi, có quyền sử dụng đất hợp pháp thông qua được Nhà nước giao đất, cho thuê đất
hoặc nhận chuyển quyền sử dụng đất từ người sử dụng đất khác để đầu tư hoặc để ở”.
Thứ hai, mở rộng quyền tiếp cận đất đai của chủ thể này qua cả hai con đường từ Nhà
nước và từ nhận chuyển quyền sử dụng đất.
Để tạo sự bình đẳng với tổ chức kinh tế trong việc thực hiện các dự án đầu tư, nâng cao ý
nghĩa họ là một bộ phận không thể tách rời của dân tộc, họ cũng nên là đối tượng được Nhà nước
giao đất có thu tiền sử dụng đất để thực hiện dự án đầu tư hạ tầng nghĩa trang, nghĩa địa để chuyển
nhượng quyền sử dụng đất gắn với hạ tầng. Đồng thời với những thành tựu khoa học và những
mơ hình hiện đại họ đã được tiếp cận ở những nước phát triển họ sẽ đem về áp dụng vào thị
trường trong nước, phát triển mơ hình này ngày một lớn mạnh đáp ứng được nhu cầu của xã hội.
Cho phép người Việt Nam định cư ở nước ngoài được nhận chuyển nhượng quyền sử
dụng đất ngồi khu cơng nghiệp, cụm công nghiệp, khu công nghệ cao, khu chế xuất để thực
hiện dự án đầu tư. Với việc mở rộng này sẽ giúp nhà đầu tư dễ dàng tiếp cận đất đai, thực hiện
các dự án phát triển trong các lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản.
Quy định rõ ràng về việc cho phép người Việt Nam định cư ở nước ngồi cũng được nhận

góp vốn bằng quyền sử dụng đất. Quy định này sẽ chấm dứt sự chồng chéo, mâu thuẫn trong
các quy định của pháp luật hiện hành, vừa tạo ra sự bình đẳng giữa nhà đầu tư là người Việt
Nam định cư ở nước ngoài với tổ chức kinh tế, doanh nghiệp liên doanh.
Thứ ba, tạo điều kiện và mở rộng quyền giao dịch quyền sử dụng đất của chủ thể này
trong quá trình giao dịch và thực hiện các thủ tục hành chính.
Thứ tư, tăng cường vai trò của tổ chức tư vấn giá đất trong việc xác định giá đất khi tính
nghĩa vụ tài chính. Theo quy định của pháp luật đất đai hiện hành, tổ chức tư vấn giá đất là một
đơn vị sự nghiệp, được thành lập khi đáp ứng các điều kiện do pháp luật quy định và chỉ tham gia
xác định giá đất khi cơ quan nhà nước có thẩm quyền có yêu cầu. Đồng thời giá đất do tổ chức tư
vấn giá đất xác định chỉ có giá trị tham khảo, là căn cứ để Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quyết định
nên thực tế vai trò của tổ chức này khá mờ nhạt, khơng phát huy đúng vai trị mang lại sự khách
quan cho việc xác định giá đất. Pháp luật đất đai hiện hành dường như trao cho Uỷ ban nhân dân
cấp tỉnh quá nhiều quyền năng, từ việc làm phát sinh tư cách người sử dụng đất thông qua quyết
định giao đất, cho thuê đất, đến việc chấm dứt quyền sử dụng đất của họ thông qua quyết định
thu hồi đất và cả trong việc xác định giá đất để tính nghĩa vụ tài chính của người sử dụng đất.
Việc cùng lúc có nhiều quyền như vậy sẽ dẫn đến những tiêu cực trong quản lý như khơng đảm
bảo sự cơng bằng, khách quan, tình trạng lạm quyền, tham nhũng và khơng phát huy hiệu quả vai
trị của mình. Do đó, việc tăng cường vai trị của tổ chức tư vấn giá đất trong xác định giá đất thu
nghĩa vụ tài chính là yêu cầu cần thiết. Pháp luật cần quy định sự tham gia thường trực của tổ
187


chức tư vấn giá đất trong việc xác định giá đất chứ không phải phụ thuộc vào yêu cầu của cơ quan
nhà nước có thẩm quyền như quy định hiện nay. Để giá đất được xác định bởi tổ chức tư vấn giá
đất có giá trị pháp lý cao cần quy định rõ điều kiện về nhân sự trong tổ chức này phải bao gồm
những chun gia có chun mơn trong việc xác định giá đất và kết quả được xác định bởi tổ
chức tư vấn giá đất nếu đáp ứng các nguyên tắc định giá đất thì phải được Uỷ ban nhân dân cấp
tỉnh sử dụng làm giá đất chính thức để ban hành. Với hướng quy định này không tạo ra thêm sự
cồng kềnh cho bộ máy nhà nước nhưng có thể đáp ứng được nhu cầu khách quan trong việc xác
định giá đất, trao quyền cho một cơ quan có chun mơn độc lập, hạn chế quyền hạn và sự chi

phối của Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh trong thu các nghĩa vụ tài chính của người Việt Nam định cư
ở nước ngoài. Như vậy việc thu nghĩa vụ tài chính sẽ thực hiện tốt chức năng điều tiết hành vi sử
dụng đất của chủ thể này, vừa đem lại nguồn thu cho ngân sách nhà nước. Tuy nhiên cần đề cao
chức năng điều tiết bởi đây không phải là nguồn thu quan trọng của ngân sách nhà nước nên
không cần tạo quá nhiều áp lực cho người sử dụng đất. Đặc biệt đối với chủ thể là người Việt
Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất để thực hiện dự án đầu tư nên dành nhiều ưu tiên về nghĩa
vụ tài chính, khuyến khích họ về nước đầu tư. Chẳng hạn, khi được Nhà nước cho thuê đất thực
hiện các dự án phát triển nông nghiệp áp dụng kỹ thuật công nghệ cao, Nhà nước xem xét giảm
tiền thuê đất cho họ để tiết kiệm chi phí phục vụ việc triển khai dự án.
4. KẾT LUẬN
Người Việt Nam định cư ở nước ngoài với nguồn lực to lớn về kinh tế và chất xám ngày
càng giữ vai trò quan trọng đối với sự phát triển của kinh tế đất nước. Do đó, việc làm sao để thu
hút họ về đầu tư trong nước là vấn đề mà Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm. Đất đai với ý nghĩa
là lĩnh vực pháp luật liên quan trực tiếp đến hoạt động đầu tư của họ cần thiết phải có những chính
sách điều chỉnh tích cực. Nhận thức rõ nhiệm vụ của mình, Luật Đất đai 2013 đã có những điểm
tiến bộ trong quy định về quyền và nghĩa vụ nhằm nâng cao quyền và lợi ích về quyền sở hữu bất
động sản của người Việt Nam định cư ở nước ngoài tại Việt Nam. Các quyền của người Việt
Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất thực hiện dự án đầu tư được mở rộng và được Nhà nước
bảo đảm thực hiện đã làm cho họ gắn bó hơn với đất đai, yên tâm đầu tư, phát triển sản xuất, kinh
doanh, tăng hiệu quả sử dụng đất. Tuy nhiên, các quy định của pháp luật khi áp dụng vào thực
tiễn ít nhiều bộc lộ những bất cập và khơng ngừng hồn thiện các quy định của pháp luật đáp ứng
sự vận động phát triển của kinh tế - xã hội là mục tiêu nên được ưu tiên hàng đầu.
Với nội dung nghiên cứu được trình bày trong bài viết “Quyền sở hữu bất động sản của
người Việt Nam định cư ở nước ngoài tại Việt Nam” đã giải quyết một cách cơ bản các vấn đề
mang tính lý luận và pháp lý về quyền sở hữu đất của người Việt Nam định cư ở nước ngồi.
Về phương diện lý luận, khóa luận đã đi phân tích khái niệm về người Việt Nam định cư ở nước
ngoài, địa vị pháp lý của người Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất thực hiện dự án
đầu tư cũng như phân tích ý nghĩa của việc quy định về địa vị pháp lý của chủ thể này. Bài viết
cũng nhìn lại sơ lược quá trình phát triển của các quy định pháp luật đất đai khi điều chỉnh về
vấn đề này để nhận thấy được sự đổi mới trong tư duy lập pháp qua các thời kỳ. Trên cơ sở

phân tích các khía cạnh lý luận và pháp lý của vấn đề này, khóa luận đã phân tích những điểm
bất cập còn tồn tại và đưa ra các đề xuất mang tính định hướng nhằm góp phần hồn thiện các
quy định của pháp luật về quyền sở hữu bất động sản của người Việt Nam định cư ở nước ngoài
188


tại Việt Nam. Chẳng hạn như các đề xuất về việc mở rộng quyền tiếp cận đất đai thông qua việc
cho phép nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngoài khu công nghiệp, khu chế xuất, khu
công nghệ cao, khắc phục cản trở xuất phát từ sự phức tạp của thủ tục hành chính, xóa bỏ những
hạn chế khơng cần thiết trong các giao dịch quyền sử dụng đất và mở rộng quyền giao dịch
quyền sử dụng đất của đối tượng này. Những kiến nghị tác giả đề xuất chỉ khắc phục được một
phần nhỏ những hạn chế còn tồn tại. Để nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật, tạo động lực,
khuyến khích người Việt Nam định cư ở nước ngồi đầu tư về nước, chính sách pháp luật đất
đai cần nhiều sự góp ý, hồn thiện ở các khía cạnh khác nhau.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Văn bản quy phạm pháp luật
1. Bộ luật Dân sự (Luật số 91/2015/QH13) ngày 24/11/2015
2.
3.
4.
5.

Luật Đất đai (không số) ngày 29/12/1987
Luât Đất đai (Luật số 24-L/CTN) ngày 14/7/1993
Luật Đất đai (Luật số 13/2003/QH11) ngày 26/11/2003
Luật Đất đai (Luật số 45/2013/QH13) ngày 29/11/2013

6. Luật Đầu tư nước ngồi tại Việt Nam (khơng số) ngày 29/12/1987
7. Luật Khuyến khích đầu tư trong nước (không số) ngày 22/6/1994
8. Luật Quốc tịch (Luật số 24/2008/QH12) ngày 13/1/2008

9. Luật Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp (Luật số 48/2010/QH12) ngày 17/6/2010
10. Luật Kinh doanh bất động sản (Luật số 66/2014/QH13) ngày 25/11/2014
11. Luật Nhà ở (Luật số 65/2014/QH13) ngày 25/11/2014
12. Luật Đầu tư (Luật số 67/2014/QH13) ngày 26/11/2014
13. Nghị định số 01/2017/NĐ-CP của Chính phủ ngày 6/1/2017 sửa đổi Nghị định 43/2014/NĐ- CP
hướng dẫn thi hành Luật Đất đai
14. Nghị định số 43/2014/NĐ-CP của Chính phủ ngày 15/5/2014 quy định chi tiết thi hành một số điều
của Luật Đất đai
Tài liệu
15. Lưu Quốc Thái (2016), Những vấn đề pháp lý về thị trường quyền sử dụng đất Việt Nam, Nhà xuất
bản Hồng Đức
16. Trường đại học Luật Tp. Hồ Chí Minh (2018), Giáo trình Luật Đất đai, Nhà x́t bản Hồng Đức Hội Luật gia Việt Nam
17. Trường đại học Luật Hà Nội (2016), Giáo trình Luật Đất đai, Nhà xuất bản Công an nhân dân
18. Lưu Quốc Thái (2015), “Quyền tiếp cận đất đai của nhà đầu tư thơng qua các giao dịch quyền sử
dụng đất”, Tạp chí Khoa học pháp lý, số 1(86)/2015, tr. 30-36
19. Lưu Quốc Thái (2014), “Hoàn thiện pháp luật về chuyển nhượng quyền sử dụng đất trong điều kiện
kinh tế thị trường”, Tạp chí Khoa học pháp lý, số 4(83)/2014, tr. 14-25
20. Nguyễn Thị Cam (2005), “Một vài suy nghĩ về quyền sử dụng đất – một loại tài sản đặc thù”, Tạp
chí Khoa học pháp lý, số 1(26)/2005, tr. 3-7

189



×