Tải bản đầy đủ (.pdf) (20 trang)

Quan điểm cụ thể với quá trình xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (197.9 KB, 20 trang )

A. ĐẶT VẤN ĐỀ

Trong hơn 20 năm qua, quá trình cải tổ của các nước thuộc hệ thống xã hội
chủ nghĩa đã đi theo hai con đường khác nhau. Các nước xã hội chủ nghĩa ở
châu Âu lựa chọn con đường quay trở lại chế độ tư bản chủ nghĩa. Tuy nhiên,
sự quay trở lại con đường tư bản chủ nghĩa đã không đem lại cho các nước này
kết quả mong muốn. Ngược lại, nhiều nước rơi vào tình trạng suy thoái, hỗn
loạn, bị xâu xé bởi các mâu thuẫn dân tộc và âm mưu phá hoại của các thế lực
thù địch.
Bắt đầu từ Đại hội Đảng VI (năm 1986), Việt Nam đã xác định và lựa chọn
con đường xây dựng nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa,
tức là xây dựng nền kinh tế, trong đó thừa nhận các loại hình và chế độ sở hữu
khác nhau, nhưng cơng hữu giữ vai trị chủ đạo, thừa nhận kinh tế thị trường,
thậm chí hội nhập vào nền kinh tế thế giới, theo “luật chơi” của các nước tư
bản, nhưng về mặt chính trị vẫn duy trì nền tảng chính trị của chủ nghĩa xã hội,
trong đó mấu chốt là Đảng cộng sản cầm quyền, xây dựng nhà nước xã hội chủ
nghĩa có khả năng thi hành các chính sách định hướng xã hội chủ nghĩa.
Thực tế quá trình xây dựng và phát triển nền kinh tế theo mơ hình kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa những năm qua, cùng với những thành tựu
trong phát triển kinh tế, ổn định xã hội, cải thiện mức sống của nhân dân và
nâng cao vị thế quốc gia; giữ vững độc lập, tự chủ, tự quyết định các vấn đề đối
nội và đối ngoại của Việt Nam... đã khẳng định sự lựa chọn đường lối phát triển
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa của Việt Nam là đúng đắn. Đây
là cả một quá trình vừa đổi mới tư duy lý luận, nhất là tư duy kinh tế, vừa bám
sát các quy luật khách quan và kịp thời tổng kết thực tiễn đầy sống động của
Việt Nam.
Quán triệt quan điểm lịch sử cụ thể vào quá trình đổi mới kinh tế ở Việt
Nam sẽ giúp cho nền kinh tế nước ta có được hướng đi đúng đắn. Thực tiễn
nghiên cứu quan điểm lịch sử cụ thể sẽ giúp các nhà hoạch định chính sách tìm
ra được những giải pháp cụ thể và đồng bộ để khắc phục những tồn tại, bất cập
trong quá trình xây dựng kinh tế nước ta. Vì vậy, trong bài viết tiểu luận triết


học của mình em đã chọn đề tài: “Quan điểm cụ thể với quá trình xây dựng và
phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện
nay”.


B. NỘI DUNG

1. Sự cần thiết khách quan phát triển kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay
1.1. Khái niệm kinh tế thị trường và những đặc điểm kinh tế thị trường
Kinh tế hàng hoá là một kiểu tổ chức kinh tế-xã hội, mà trong đó sản phẩm
sản xuất ra để trao đổi, để bán trên thị trường. Mục đích của sản xuất trong kinh
tế hàng hố khơng phải để thoả mãn nhu cầu trực tiếp của người sản xuất sản
phẩm mà nhằm để bán, tức là để thoả mãn nhu cầu của người mua đáp ứng nhu
cầu của xã hội.
Kinh tế thị trường là trình độ phát triển cao của kinh tế hàng hố, trong đó
tồn bộ các yếu tố “đầu vào” và “đầu ra” của sản xuất đều thơng qua thị trường.
Tuy nhiên, kinh tế hàng hố và kinh tế thị trường không đồng nhất với nhau,
chúng khác nhau về trình độ phát triển.
Trong nền kinh tế thị trường, các quan hệ kinh tế của các cá nhân, các
doanh nghiệp đều biểu hiện thông qua quan hệ mua bán hàng hoá và dịch vụ
trên thị trường. Mục đích của các thành viên khi tham gia vào thị trường là tìm
kiếm lợi ích cho mình theo sự điều tiết của giá cả trên thị trường.
Xét về mặt lịch sử, kinh tế hàng hố có trước kinh tế thị trường. Chỉ khi nào
kinh tế hàng hoá tăng trưởng nhanh, thị trường được mở rộng phong phú, đồng
bộ, các quan hệ thị trường tương đối hồn thiện mới có kinh tế thị trường. Như
vậy, kinh tế thị trường không phải là một giai đoạn khác biệt, độc lập đứng
ngoài kinh tế hàng hoá mà là giai đoạn phát triển cao của kinh tế hàng hố.
Kinh tế thị trường có những đặc điểm cơ bản sau đây: Một là, các chủ thể
kinh tế có tính độc lập, có quyền tự chủ trong sản xuất, kinh doanh. Hai là, giá
cả do thị trường quyết định, hệ thống thị trường được phát triển đầy đủ và nó có

tác dụng làm cơ sở cho việc phân phối các nguồn lực kinh tế vào trong các
ngành, các lĩnh vực của nền kinh tế. Ba là, nền kinh tế vận động theo những
quy luật vốn có của kinh tế thị trường như quy luật giá trị, quy luật cung cầu,
quy luật cạnh tranh…Sự tác động của các quy luật đó hình thành cơ chế tự điều
tiết của nền kinh tế. Bốn là, nếu là nền kinh tế thị trường hiện đại thì cịn có sự
điều tiết vĩ mô của Nhà nước thông qua pháp luật kinh tế, kế hoạch hố, các
chính sách kinh tế.


1.2. Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và những đặc điểm của
nó.
Do kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa chưa là một tiền lệ
trong các nước xã hội chủ nghĩa, nên đến nay chưa có ai đưa ra khái niệm về
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa một cách khái quát. Tuy nhiên,
qua những cách mô tả về bản chất, mục đích của kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa ở Trung Quốc và Việt Nam có thể thấy rằng, mơ hình kinh tế
thị trường này vừa bao hàm những nhân tố của kinh tế thị trường, lại vừa có
những nhân tố định hướng xã hội chủ nghĩa, với mục đích cuối cùng là phát
triển kinh tế đạt hiệu quả cao nhưng vẫn đảm bảo thực hiện công bằng xã hội
ngày một tốt hơn, nhằm nâng cao đời sống cho nhân dân, thực hiện dân chủ,
công bằng xã hội, xây dựng đất nước văn minh và thịnh vượng.
Vì vậy, về khái niệm kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa có thể
đưa ra như sau: kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là một phạm trù
kinh tế chính trị, phản ánh bản chất và mục đích của nền sản xuất xã hội, đó là
nền kinh tế vận động dựa trên cơ sở các quy luật khách quan, đặc biệt là các
quy luật của thị trường, có sự quản lý của Nhà nước, để xây dựng quan hệ sản
xuất mới, tiến bộ nhằm đạt mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng,
dân chủ, văn minh.
Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam có những
đặc điểm cơ bản dưới đây:

Thứ nhất, mục tiêu chiến lược của đường lối phát triển kinh tế thị trường ở
Việt Nam là giải phóng sức sản xuất, động viên mọi nguồn lực trong và ngồi
nước để thực hiện cơng nghiệp hố-hiện đại hoá, xây dựng cơ sở vật chất cho
chủ nghĩa xã hội, cải thiện từng bước đời sống của nhân dân, tăng trưởng kinh
tế đi đôi với tiến bộ và công bằng xã hội, khuyến khích làm giầu hợp pháp, gắn
liền với xố đói, giảm nghèo.
Thứ hai, kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam là nền
kinh tế nhiều thành phần, trong đó kinh tế Nhà nước giữ vai trị chủ đạo. Tính
chất định hướng xã hội chủ nghĩa trong phát triển nền kinh tế thị trường ở nước
ta được biểu hiện rõ nhất ở tính định hướng xã hội chủ nghĩa trong quan hệ sở
hữu. Đó là nền kinh tế thị trường dựa trên nền tảng của chế độ công hữu về tư
liệu sản xuất là chủ yếu. Do đó trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa của nước ta có sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế, nhưng các
thành phần kinh tế này đều do Nhà nước quản lý theo định hướng xã hội chủ
nghĩa và kinh tế nhà nước đóng vai trị chủ đạo trong nền kinh tế. Kinh tế nhà


nước đóng vai trị chủ đạo thể hiện bằng sức mạnh kinh tế của mình để điều tiết
nền kinh tế. Để bảo đảm tính chủ đạo của kinh tế nhà nước thì Nhà nước phải
nắm giữ các ngành, lĩnh vực và các đơn vị kinh tế chủ chốt, có khả năng chi
phối, điều tiết hoạt động kinh tế của đất nước.
Thứ ba, cơ chế vận hành nền kinh tế là cơ chế thị trường có sự quản lý của
Nhà nước xã hội chủ nghĩa. Trong điều kiện hiện đại, cả kinh tế thị trường tư
bản chủ nghĩa và kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đều có sự quản
lý vĩ mô của Nhà nước, song điều khác nhau là ở bản chất của hai nhà nước.
Kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa, Nhà nước là Nhà nước của giai cấp tư sản,
Nhà nước can thiệp kinh tế là để bảo vệ lợi ích kinh tế của giai cấp tư sản. Còn
trong kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, Nhà nước là
Nhà nước của dân, do dân, vì dân. Vì vậy, Nhà nước can thiệp, điều tiết kinh tế
nhằm đảm bảo sự kết hợp giữa tăng trưởng kinh tế với thực hiện tiến bộ, công

bằng xã hội và bảo vệ môi trường, vừa khuyến khích làm giàu một cách hợp
pháp, vừa cố gắng xóa đói, giảm nghèo. Sự quản lý của Nhà nước sẽ được thực
hiện qua các chủ trương, chính sách, công cụ, luật pháp để phát huy được sự
tham gia tối đa của các thành phần kinh tế, song vẫn theo các định hướng phát
triển kinh tế của Nhà nước và điều quan trọng nhất là bảo đảm sự điều tiết, quản
lý nền kinh tế của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của
Đảng Cộng sản Việt Nam.
Thứ tư, trong nền kinh tế thị trường tồn tại nhiều hình thức phân phối,
trong đó, phân phối theo kết quả lao động và hiệu quả kinh tế là chủ yếu, đồng
thời kết hợp với các hình thức phân phối khác để vừa khuyến khích lao động,
vừa đảm bảo phúc lợi cơ bản. Với nhiều hình thức phân phối khác nhau chúng
ta có thể vừa khuyến khích người lao động hăng hái đóng góp tài năng của
mình cho phát triển kinh tế đất nước, trả công xứng đáng cho các chủ thể kinh
tế và người lao động làm ăn có hiệu quả, đồng thời bảo đảm lợi ích cho những
người đã có cơng đóng góp cho đất nước và trợ cấp cho các đối tượng khơng có
khả năng lao động thông qua các quỹ phúc lợi xã hội nhằm giảm khoảng cách
giàu nghèo trong xã hội, thể hiện bản chất ưu việt của chủ nghĩa xã hội. Định
hướng xã hội chủ nghĩa trong phân phối không chỉ là cung cấp cho người nghèo
cái họ cần mà còn là tạo ra nhiều cơ hội, khả năng để họ tham gia vào các hoạt
động kinh tế nhằm tăng thu nhập, nâng cao mức sống, khắc phục tư tưởng trông
chờ, ỷ lại một cách thụ động vào sự giúp đỡ của Nhà nước và xã hội.
Thứ năm, nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa của Việt
Nam cũng là nền kinh tế mở, hội nhập. Chỉ có như vậy mới thu hút được vốn,


kỹ thuật, công nghệ hiện đại, kinh nghiệm quản lý tiên tiến của các nước để
khai thác tiềm năng và thế mạnh của nước ta.
1.3. Vai trò kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.
Nền kinh tế nước ta khi bước vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội cịn
mang nặng tính tự túc, tự cấp, vì vậy sản xuất hàng hố sẽ phá vỡ dần kinh tế tự

nhiên và chuyển thành nền kinh tế hàng hoá, thúc đẩy sự xã hội hoá sản xuất.
Kinh tế hàng hoá tạo ra động lực thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển.
Do cạnh tranh giữa những người sản xuất hàng hoá, buộc mỗi chủ thể sản xuất
phải cải tiến kỹ thuật, áp dụng công nghệ mới vào sản xuất để giảm chi phí sản
xuất đến mức tối thiểu nhờ đó có thể cạnh tranh được về giá cả, đứng vững
trong cạnh tranh. Q trình đó thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển, nâng cao
năng suất lao động xã hội.
Trong nền kinh tế hàng hoá, người sản xuất phải căn cứ vào nhu cầu của
người tiêu dùng, của thị trường để quyết định sản xuất sản phẩm gì, với khối
lượng bao nhiêu, chất lượng như thế nào. Do đó, kinh tế hàng hố kích thích
tính năng động, sáng tạo của chủ thể kinh tế, kích thích việc nâng cao chất
lượng, cải tiến mẫu mã, cũng như tăng khối lượng hàng hố và dịch vụ.
Phân cơng lao động xã hội là điều kiện ra đời và tồn tại của sản xuất hàng
hố, đến lượt nó sự phát triển kinh tế hàng hoá sẽ thúc đẩy sự phân cơng lao
động xã hội và chun mơn hố sản xuất. Vì thế phát huy được tiềm năng, lợi
thế của từng vùng, cũng như lợi thế của đất nước, có tác dụng mở rộng quan hệ
kinh tế với nước ngoài.
Sự phát triển của thị trường sẽ thúc đẩy quá trình tích tụ và tập trung sản
xuất, do đó tạo điều kiện ra đời của sản xuất lớn, xã hội hoá cao; đồng thời chọn
lọc được những người sản xuất, kinh doanh giỏi, hình thành đội ngũ cán bộ
quản lý có trình độ, lao động lành nghề, đáp ứng nhu cầu phát triển của đất
nước.
Như vậy, phát triển kinh tế thị trường là một tất yếu kinh tế đối với nước
ta, một nhiệm vụ kinh tế cấp bách để chuyển nền kinh tế lạc hậu của nước ta
thành nền kinh tế hiện đại, hội nhập vào sự phân công lao động quốc tế.
Thực tế những năm đổi mới đã chứng minh rằng, việc chuyển sang kinh tế
thị trường nhiều thành phần là hoàn toàn đúng đắn. Nhờ phát triển nền kinh tế
hàng hoá nhiều thành phần, chúng ta đã bướcđầu khai thác được tiềm năng
trong nước và thu hút được vốn, kỹ thuật, cơng nghệ của nước ngồi, giải
phóng được năng lực sản xuất, góp phần vào việc bảo đảm tăng trưởng kinh tế



với nhịp độ tương đối cao trong thời gian qua.
Nước ta đang thực hiện chuyển đổi nền kinh tế, từ nền kinh tế kế hoạch
hoá tập trung sang kinh tế hàng hố. Mơ hình kinh tế của Việt Nam được xác
định là nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị trường
có sự quản lý của Nhà nước, định hướng xã hội chủ nghĩa.
Hiện nay, nền kinh tế thị trường của nước ta còn ở trình độ kém phát triển,
cơ sở vật chất ký thuật cịn lạc hậu, thấp kém, nền kinh tế ít nhiều cịn mang
tính tự cấp, tự túc. Tuy nhiên nước ta khơng lặp lại ngun vẹn tiến trình phát
triển kinh tế của các nước đi trước: kinh tế hàng hoá giản đơn chuyển lên kinh
tế thị trường tự do, rồi từ kinh tế thị trường tự do chuyển lên kinh tế thị trường
hiện đại, mà cần phải và có thể xây dựng nền kinh tế thị trường hiện đại, định
hướng xã hội chủ nghĩa theo kiểu rút ngắn. Điều này có nghĩa là phải đẩy mạnh
cơng nghiệp hố, hiện đại hố để phát triển nhanh chóng lực lượng sản xuất,
trong một thời gian tương đối ngắn xây dựng được cơ sở kinh tế- kỹ thuật hiện
đại để nền kinh tế nước ta bắt kịp với trình độ phát triển chung của thế giới;
đồng thời phải hình thành đồng bộ cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà
nước. Nhà nước có vai trị đặc biết quan trọng trong việc quản lý kinh tế vĩ mô
và thực hiện định hướng xã hội chủ nghĩa.
2. Thực trạng phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở
Việt Nam
2.1. Quan điểm của Đảng ta về kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa
Việt Nam là một nước nghèo, kinh tế - kỹ thuật lạc hậu, trình độ xã hội còn
thấp, lại bị chiến tranh tàn phá nặng nề. Đi lên chủ nghĩa xã hội là mục tiêu lý
tưởng, là khát vọng thiêng liêng của cả dân tộc Việt Nam. Tuy nhiên, suốt một
thời gian dài, Việt Nam, cũng như nhiều nước khác, đã áp dụng mơ hình chủ
nghĩa xã hội kiểu Xơ-viết, mơ hình kinh tế kế hoạch tập trung mang tính bao
cấp. Mơ hình này đã thu được những kết quả quan trọng, nhất là đáp ứng được

yêu cầu của thời kỳ đất nước có chiến tranh. Nhưng về sau mơ hình này bộc lộ
những khuyết điểm; và trong công tác chỉ đạo cũng phạm phải một số sai lầm
mà nguyên nhân sâu xa của những sai lầm đó là bệnh giáo điều, chủ quan, duy
ý chí, lối suy nghĩ và hành động đơn giản, nóng vội, khơng tôn trọng quy luật
khách quan, nhận thức về chủ nghĩa xã hội không đúng với thực tế Việt Nam.
Đảng Cộng sản Việt Nam trên cơ sở nhận thức tính quy luật phát triển của
thời đại và sự khái quát, đúc rút từ kinh nghiệm phát triển kinh tế thị trường thế
giới, đặc biệt là từ thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam và ở Trung


Quốc, để đưa ra chủ trương phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa, nhằm sử dụng kinh tế thị trường để thực hiện mục tiêu từng bước
quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là
mơ hình kinh tế trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội. Đây là một kiểu
kinh tế thị trường mới trong lịch sử phát triển của kinh tế thị trường. Cũng có
thể nói kinh tế thị trường là "cái phổ biến", còn kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa là "cái đặc thù" của Việt Nam, phù hợp với điều kiện và đặc
điểm cụ thể của Việt Nam.
Mơ hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam không
phải là sự gán ghép chủ quan giữa kinh tế thị trường và chủ nghĩa xã hội, mà là
sự nắm bắt và vận dụng xu thế vận động khách quan của kinh tế thị trường
trong thời đại ngày nay. Chủ trương phát triển kinh tế thị trường định hướng xã
hội chủ nghĩa là sự tiếp thu có chọn lọc thành tựu của văn minh nhân loại, phát
huy vai trị tích cực của kinh tế thị trường trong việc thúc đẩy phát triển sức sản
xuất, xã hội hóa lao động, cải tiến kỹ thuật - cơng nghệ, nâng cao chất lượng
sản phẩm, tạo ra nhiều của cải, góp phần làm giàu cho xã hội và cải thiện đời
sống nhân dân; đồng thời phải có những biện pháp hữu hiệu nhằm hạn chế mặt
tiêu cực của kinh tế thị trường, như chạy theo lợi nhuận đơn thuần, cạnh tranh
khốc liệt, bóc lột và phân hóa giàu nghèo quá đáng, ít quan tâm giải quyết các
vấn đề xã hội. Đây cũng là sự lựa chọn tự giác con đường và mơ hình phát triển

trên cơ sở qn triệt lý luận Mác-Lê-nin, nắm bắt đúng quy luật khách quan và
vận dụng sáng tạo vào điều kiện cụ thể của Việt Nam.
Tuy nhiên, quá trình nhận thức về kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa là một quá trình hồn thiện tư duy lý luận về kinh tế và tổng kết thực tiễn
phát triển của đất nước của Đảng. Bắt đầu từ Đại hội VI (năm 1986), Đảng
Cộng sản Việt Nam đã đề ra đường lối đổi mới tồn diện đất nước nhằm thực
hiện có hiệu quả hơn công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Đại hội đưa ra
những quan niệm mới về con đường, phương pháp xây dựng chủ nghĩa xã hội,
đặc biệt là quan niệm về cơng nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ quá
độ, về cơ cấu kinh tế, thừa nhận sự tồn tại khách quan của sản xuất hàng hóa và
thị trường, phê phán triệt để cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, và khẳng định
chuyển hẳn sang hạch toán kinh doanh. Đại hội chủ trương phát triển nền kinh
tế nhiều thành phần với những hình thức kinh doanh phù hợp; coi trọng việc kết
hợp lợi ích cá nhân, tập thể và xã hội; chăm lo toàn diện và phát huy nhân tố con
người, có nhận thức mới về chính sách xã hội. Đại hội VI là một cột mốc đánh
dấu bước chuyển quan trọng trong nhận thức của Đảng Cộng sản Việt Nam về
chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Đó là kết quả
của cả một q trình tìm tịi, thử nghiệm, suy tư, đấu tranh tư tưởng rất gian khổ,


kết tinh trí tuệ và cơng sức của tồn Đảng, toàn dân trong nhiều năm.
Đến Đại hội VII (năm 1991), Đảng Cộng sản Việt Nam tiếp tục nói rõ hơn
chủ trương này và khẳng định đây là chủ trương chiến lược, là con đường đi lên
chủ nghĩa xã hội của Việt Nam. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ
quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội của Đảng khẳng định: "Phát triển nền kinh tế
hàng hóa nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa, vận hành theo cơ
chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước".
Đại hội VIII của Đảng (năm 1996) đưa ra một kết luận mới rất quan trọng:
"Sản xuất hàng hóa khơng đối lập với chủ nghĩa xã hội mà là thành tựu phát
triển của nền văn minh nhân loại, tồn tại khách quan cần thiết cho công cuộc

xây dựng chủ nghĩa xã hội và cả khi chủ nghĩa xã hội đã được xây dựng".
Nhưng lúc đó cũng mới nói nền kinh tế hàng hóa, cơ chế thị trường, chưa dùng
khái niệm "kinh tế thị trường".
Đại hội IX của Đảng (năm 2001) mới chính thức đưa ra khái niệm "kinh tế
thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa". Đại hội khẳng định: Phát triển kinh tế
thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là đường lối chiến lược nhất qn, là
mơ hình kinh tế tổng quát trong suốt thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội ở
Việt Nam. Đây là kết quả sau nhiều năm nghiên cứu, tìm tịi, tổng kết thực tiễn;
và là bước phát triển mới về tư duy lý luận của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Đại hội lần thứ X (năm 2006) Đảng tiếp tục khẳng định: "Để đi lên chủ
nghĩa xã hội, chúng ta phải phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa; đẩy mạnh cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa; xây dựng nền văn hóa tiên
tiến, đậm đà bản sắc dân tộc làm nền tảng tinh thần của xã hội; xây dựng nền
dân chủ xã hội chủ nghĩa, thực hiện đại đoàn kết dân tộc; xây dựng Nhà nước
pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; xây dựng
Đảng trong sạch, vững mạnh; bảo đảm vững chắc quốc phòng và an ninh quốc
gia; chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế". Đại hội lần thứ X của Đảng
đã làm sáng tỏ thêm một bước nội dung cơ bản của định hướng xã hội chủ
nghĩa trong phát triển kinh tế thị trường ở nước ta với 4 tiêu chí cơ bản sau:
- Về mục tiêu của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở
nước ta là nhằm: thực hiện "dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ,
văn minh"; giải phóng mạnh mẽ và khơng ngừng phát triển sức sản xuất, nâng
cao đời sống nhân dân; đẩy mạnh xóa đói, giảm nghèo, khuyến khích mọi
người vươn lên làm giàu chính đáng, giúp đỡ người khác thốt nghèo và từng
bước khá giả hơn.
- Về phương hướng phát triển, phát triển nền kinh tế nhiều hình thức sở


hữu, nhiều thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo;
kinh tế nhà nước cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững

chắc của nền kinh tế quốc dân. Để giữ được vai trò chủ đạo, kinh tế nhà nước
phải nắm được những vị trí then chốt của nền kinh tế bằng trình độ cơng nghệ,
hiệu quả sản xuất kinh doanh, chứ không phải dựa vào bao cấp, "xin - cho" hay
độc quyền kinh doanh.
- Về định hướng xã hội và phân phối: Phải thực hiện tiến bộ và công
bằng xã hội ngay trong từng bước đi và từng chính sách phát triển; tăng trưởng
kinh tế phải gắn kết chặt chẽ và đồng bộ với phát triển xã hội, văn hóa, giáo dục
và đào tạo... giải quyết tốt các vấn đề xã hội vì mục tiêu phát triển con người.
Thực hiện chế độ phân phối chủ yếu theo kết quả lao động, hiệu quả kinh tế,
đồng thời theo mức đóng góp vốn cùng các nguồn lực khác và thơng qua phúc
lợi xã hội.
- Định hướng xã hội chủ nghĩa trong lĩnh vực quản lý: Phát huy quyền
làm chủ xã hội của nhân dân, bảo đảm vai trò quản lý, điều tiết kinh tế của Nhà
nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng.
2.2. Những thành tựu đạt được trong quá trình phát triển kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
Kể từ khi Việt Nam bước vào thực hiện mơ hình kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa, đất nước ta đã vượt qua nhiều khó khăn, thách thức,
đạt được những thành tựu rất quan trọng trong việc thực hiện chiến lược phát
triển kinh tế - xã hội. Kinh tế tiếp tục tăng trưởng khá nhanh, của cải xã hội
ngày càng nhiều, hàng hóa ngày càng phong phú. Thể chế kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa được xây dựng bước đầu. Hội nhập kinh tế quốc tế
và kinh tế đối ngoại có bước tiến mới rất quan trọng. Tiềm lực kinh tế, cơ sở vật
chất - kỹ thuật được tăng cường đáng kể; khả năng độc lập tự chủ của nền kinh
tế được nâng lên. Đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được cải thiện.
Thế và lực của đất nước vững mạnh thêm, vị thế quốc tế của nước ta được nâng
lên rõ rệt.
Những thành tựu chủ yếu mà Việt Nam đạt được trong những năm qua, có
thể khái quát như sau:
- Nền kinh tế đạt tốc độ tăng trưởng khá cao, năm sau cao hơn năm trước:

Tổng sản phẩm trong nước (GDP) trong 5 năm trở lại đây tăng bình qn
7,5%/năm. Nơng nghiệp tiếp tục phát triển khá. Năng suất, sản lượng và hàm
lượng công nghệ trong sản phẩm nông nghiệp và nuôi trồng thuỷ sản tăng
đáng kể; an ninh lương thực quốc gia được bảo đảm; một số sản phẩm xuất


khẩu chiếm được vị trí cao trên thị trường thế giới. Kết cấu hạ tầng tiếp tục
được đầu tư nhiều hơn. Cơng nghiệp có bước chuyển biến tích cực về cơ cấu
sản xuất, chất lượng sản phẩm và sức cạnh tranh. Dịch vụ có bước phát triển
cả về quy mơ, ngành nghề, thị trường và có tiến bộ về hiệu quả với sự tham gia
của nhiều thành phần kinh tế. Các dịch vụ tài chính, ngân hàng, bảo hiểm,
kiểm tốn, tư vấn, tin học, kỹ thuật, y tế, giáo dục, đào tạo, văn hố... đều có
bước phát triển.
- Cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng công nghiệp hố, hiện đại
hố. Về cơ cấu ngành, tỉ trọng cơng nghiệp và xây dựng trong GDP đã tăng lên
41%; tỉ trọng nông, lâm nghiệp và thủy sản đã giảm xuống còn 20,9%; tỉ trọng
dịch vụ ở mức 38%. Trong từng ngành kinh tế đã có những chuyển dịch tích
cực về cơ cấu sản xuất, cơ cấu công nghệ theo hướng tiến bộ, hiệu quả, gắn
sản xuất với thị trường. Cơ cấu kinh tế vùng đã có bước điều chỉnh theo hướng
phát huy lợi thế so sánh của từng vùng. Cơ cấu lao động đã có sự chuyển đổi
tích cực gắn liền với quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Cơ cấu thành phần
kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng phát huy tiềm năng của các thành
phần kinh tế và đan xen nhiều hình thức sở hữu. Khu vực kinh tế nhà nước
đang được tổ chức lại, đổi mới, chi phối nhiều ngành kinh tế then chốt và tập
trung hơn vào những lĩnh vực chủ yếu của nền kinh tế. Kinh tế dân doanh phát
triển khá nhanh, hoạt động có hiệu quả trên nhiều lĩnh vực. Kinh tế có vốn đầu
tư nước ngồi có tốc độ tăng trưởng tương đối cao, là cầu nối quan trọng với
thế giới về chuyển giao công nghệ, giao thương quốc tế.
- Vốn đầu tư toàn xã hội tăng khá nhanh. Vốn đầu tư của dân tăng nhanh; tỉ
lệ vốn đầu tư phát triển so với GDP đã tăng lên gần 39%. Vốn đầu tư trong

nước chiếm 72% tổng vốn đầu tư toàn xã hội. Quy mô vốn đầu tư ở các vùng
đều tăng; vùng nghèo, xã nghèo được Nhà nước quan tâm đầu tư nhiều hơn.
Vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước đã tập trung cho việc xây dựng kết cấu hạ
tầng kinh tế, xã hội, phát triển nguồn nhân lực, xoá đói, giảm nghèo, hỗ trợ các
vùng khó khăn. Vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA), vốn đầu tư trực tiếp
nước ngồi (FDI) tiếp tục được duy trì và tăng thêm, tạo nhiều cơng trình kết
cấu hạ tầng và sản phẩm xuất khẩu. Đầu tư đã làm tăng đáng kể năng lực sản
xuất, kinh doanh, tạo nhiều sản phẩm có sức cạnh tranh, hoàn thành và đưa
vào sử dụng nhiều cơng trình kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội.
- Thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được xây dựng
bước đầu, kinh tế vĩ mô cơ bản ổn định. Hệ thống pháp luật, chính sách và cơ
chế vận hành nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được xây
dựng tương đối đồng bộ; hoạt động của các loại hình doanh nghiệp và bộ máy


quản lý nhà nước được đổi mới một bước quan trọng. Một số loại thị trường
mới hình thành; các loại thị trường hàng hoá, dịch vụ, lao động, khoa học và
cơng nghệ, tài chính, bất động sản có bước phát triển phù hợp với cơ chế mới.
Những năm qua, đã giữ được các cân đối kinh tế vĩ mô cơ bản ổn định, tạo
môi trường và điều kiện cần thiết cho sự phát triển kinh tế.
- Hội nhập kinh tế quốc tế và kinh tế đối ngoại có bước tiến mới rất quan
trọng. Quan hệ kinh tế giữa nước ta với các nước và các tổ chức quốc tế được
mở rộng; việc thực hiện các cam kết về Khu vực mậu dịch tự do ASEAN
(AFTA), Hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ, gia nhập Tổ chức thương
mại thế giới (WTO) và thực hiện các hiệp định hợp tác đa phương, song
phương khác đã góp phần tạo ra một bước phát triển mới rất quan trọng về
kinh tế đối ngoại, nhất là xuất khẩu.
2.3. Những tồn tại trong quá trình phát triển kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
Bên cạnh những thành tựu đã đạt được, thì trong quá trình xây dựng và

phát triển kinh tế thị trường định hưỡng xã hội chủ nghĩa, nền kinh tế nước ta
vẫn còn tồn tại một số vấn đề cơ bản sau:
Một là, trình độ phát triển kinh tế thị trường ở nước ta còn ở giai đoạn sơ
khai. Điều đó, bắt nguồn từ các nguyên nhân chủ yếu sau:
- Cơ sở vật chất kỹ thuật còn ở trình độ thấp, bên cạnh một số lĩnh vực,
một số cơ sở kinh tế đã được trang bị kỹ thuật và công nghệ hiện đại, trong
nhiều ngành kinh tế máy móc cũ kỹ, cơng nghệ lạc hậu. Theo UNDP Việt Nam
đang ở trình độ cơng nghệ lạc hậu 2/7 của thế giới, thiết bị máy móc lạc hậu 2-3
thế hệ (có lĩnh vực 4-5 thế hệ). Lao động thủ công vẫn chiếm tỷ trọng lớn trong
tổng số lao động xã hội. Do đó, năng suất, chất lượng, hiệu quả sản xuất của
nước ta còn rất thấp so với khu vực và thế giới (năng suất lao động của nước ta
chỉ bằng 30% mức trung bình của thế giới).
- Kết cấu hạ tầng như hệ thống đường giao thông, bến cảng, hệ thống
thơng tin liên lạc…cịn lạc hậu, kém phát triển (mật độ đường giao thơng/km
bằng 1%với mức trung bình của thế giới ; tốc độ truyền thơng trung bình cả
nước chậm hơn thế giới 30 lần). Hệ thống giao thông kém phát triển làm cho
các địa phương, các vùng bị chia cắt, tách biệt nhau, do đó làm cho nhiều tiềm
năng của của các địa phương không thể được khai thác, các địa phương khơng
thể chun mơn hố sản xuất để phát huy thế mạnh.
- Do cơ sở vật chất kỹ thuật cịn ở trình độ thấp làm cho phân công lao
động kém phát triển, sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế chậm. Mặc dù có tốc độ


tăng cao trong những năm gần đây, nhưng tỉ trọng dịch vụ trong GDP còn thấp,
các loại dịch vụ cao cấp, có giá trị tăng thêm lớn chưa phát triển mạnh. Nền
kinh tế nước ta chưa thoát khỏi nền kinh tế nông nghiệp sản xuất nhỏ. Nông
nghiệp vẫn sử dụng khoảng 70% lực lượng lao động, nhưng chỉ sản xuất
khoảng 20% GDP, các ngành kinh tế công nghệ cao chiếm tỷ trọng thấp.
- Cơ cấu đầu tư chưa thật hợp lý, chưa hướng mạnh vào đầu tư chiều sâu,
vào các ngành có giá trị tăng thêm cao và tạo nhiều việc làm. Đầu tư từ ngân

sách nhà nước và đầu tư của doanh nghiệp nhà nước còn dàn trải, thất thốt,
hiệu quả thấp. Một số cơng trình lớn, quan trọng cấp quốc gia khơng hồn thành
theo kế hoạch. Năng lực sản xuất của một số ngành và sản phẩm quan trọng,
thiết yếu tăng chậm.
- Khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp trên thị trường trong nước,
cũng như thị trường nước ngồi cịn rất yếu. Do cơ sở vật chất-kỹ thuật và công
nghệ lạc hậu, nên năng suất lao động thấp, do đó khối lượng hàng hố làm ra
nhỏ bé, chủng loại hàng hố thấp, giá cả cao vì thế khả năng cạh tranh cịn yếu.
Trong nơng nghiệp, sản xuất chưa gắn kết chặt chẽ và có hiệu quả cao với thị
trường; việc đưa khoa học, công nghệ vào sản xuất cịn chậm; cơng nghiệp hố,
hiện đại hố nơng nghiệp và nơng thơn vẫn cịn lúng túng. Trong cơng nghiệp,
ít sản phẩm có hàm lượng cơng nghệ và tri thức cao; công nghiệp công nghệ
cao phát triển chậm; một số sản phẩm cơng nghiệp có sản lượng lớn cịn mang
tính gia công, lắp ráp, giá trị nội địa tăng chậm; công nghiệp bổ trợ kém phát
triển; tốc độ đổi mới cơng nghệ cịn chậm.
Hai là, thị trường dân tộc thống nhất đang trong quá trình hình thành
nhưng chưa đồng bộ.
Do giao thơng vận tải chưa hồn chỉnh, chất lượng thấp, nhiều nơi còn bị
tắc nghẽn. Hệ thống cảng biển, đường sắt, hàng khơng cịn bất cập về năng lực
vận chuyển, khả năng kho bãi, về thông tin, quản lý; chi phí dịch vụ vận tải
cịn cao, nên chưa lơi cuốn được tất cả các vùng trong nước vào một mạng lưới
lưu thơng hàng hố thống nhất.
Thị trường hàng hố-dịch vụ đã hình thành nhưng cịn hạn hẹp và cịn
nhiều hiện tượng tiêu cực (hàng giả, hàng lậu, hàng nhái nhãn hiệu vẫn làm rối
loạn thị trường).
Thị trường hàng hoá sức lao động mới manh nha, một số trung tâm giới
thiệu việc làm và xuất khẩu lao động mới xuất hiện nhưng đã nảy sinh hiện
tượng khủng hoảng. Nét nổi bật của thị trường này là sức cung về lao động lành
nghề nhỏ hơn rất cầu rất nhiều, trong khi đó cung về lao động giản đơn lại vượt



q xa cầu, nhiều người có sức lao động khơng tìm được việc làm.
Thị trường tiền tệ, thị trường vốn đã có nhiều tiến bộ nhưng vẫn cịn nhiều
trắc trở, như nhiều doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp tư nhân rất thiếu vốn
nhưng khơng vay được vì vướng mắc thủ tục, trong khi đó nhiều ngân hàng
thương mại huy động được tiền gửi mà không thể cho vay. Quản trị rủi ro của
các ngân hàng cịn ở trình độ thấp nên nợ xấu vẫn không ngừng gia tăng. Thị
trường chứng khốn đã ra đời nhưng vẫn cịn nhiều bất ổn.
Ba là, mặc dù có nhiều thành phần kinh tế tham gia thị trường, nhưng các
thành phần kinh tế phát triển chưa tương xứng với tiềm năng. Chưa tạo được
đầy đủ mơi trường hợp tác, cạnh tranh bình đẳng giữa các thành phần kinh tế;
chưa khai thác tốt các nguồn lực trong nước và người Việt Nam ở nước ngoài
để đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh. Việc sắp xếp, đổi mới, phát triển
doanh nghiệp nhà nước còn chậm, hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nhà
nước còn thấp. Kinh tế tư nhân chưa được tạo đủ điều kiện thuận lợi để phát
triển, quy mơ cịn nhỏ, sức cạnh tranh còn yếu và chưa được quản lý tốt. Kinh
tế tập thể kém hấp dẫn và phát triển chậm, còn nhiều lúng túng. Kinh tế có vốn
đầu tư nước ngồi phát triển chưa tương xứng với tiềm năng, việc thu hút đầu
tư nước ngồi cịn kém so với một số nước trong khu vực.
Bốn là, sự hình thành thị trường trong nước gắn với mở rộng kinh tế đối
ngoại, hội nhập vào thị trường khu vực và thế giới, trong hoàn cảnh thị trình độ
phát triển kinh tế-kỹ thuật của nước ta thấp xa so với hầu hết các nước khác.
Toàn cầu hàng hoá và khu vực hoá kinh tế đang đặt ra chung cho các nước
cũng như nước ta nói riêng những thách thức hết sức gay gắt. Nhưng nó là xu thế
tất yếu khách quan, nên không đặt vấn đề tham gia hay khơng tham gia mà chỉ có
thể đặt vấn đề mà chỉ có thể đặt vấn đề: tìm cách xử sự với xu thế đó như thế
nào? Phải chủ động hội nhập, chuẩn bị tốt để chủ động tham gia vào khu vực hố
và tồn cầu hố, tìm ra ‘cái mạnh tương đối’ của nước ta, thực hiện đa phương
hoá, đa dạng hoá kinh tế đối ngoại, tận dụng ngoại lực để phát huy nội lực, nhằm
thúc đẩy cơng nghiệp hố, hiện đại hố nền kinh tế quốc dân, định hướng đi lên

chủ nghĩa xã hội.
Năm là, quản lý nhà nước về kinh tế-xã hội còn yếu. Một số cơ chế chính
sách cịn thiếu, chưa nhất qn, chưa sát với cuộc sống, thiếu tính khả thi.
3. Các giải pháp để phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội


chủ nghĩa ở Việt Nam.
3.1. Thực hiện nhất quán chính sách kinh tế nhiều thành phần.
Trước đây khi xây dựng kinh tế kế hoạch, xoá bỏ kinh tế thị trường, chúng
ta đã thiết lập một cơ cấu sở hữu đơn giản với hai hình thức là sở hữu tồn dân
và sở hữu tập thể. Vì vậy, khi chuyển sang kinh tế hàng hoá vận hành theo cơ
chế thị trường, cần phải đổi mới cơ cấu sở hữu cũ bằng cách đa dạng hố các
hình thức sở hữu, điều đó sẽ đưa đến hình thành các chủ thể kinh tế độc lập, có
lợi ích riêng, tức là khơi phục một trong những cơ sở của kinh tế hàng hoá.
Trên cơ sở đa dạng hố các hình thức sở hữu, thực hiện nhất quán, lâu dài
chính sách phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần. Lấy việc phát triển
sức sản xuất, nâng cao hiệu quả kinh tế-xã hội, cải thiện đời sống nhân dân làm
mục tiêu quan trọng để khuyến khích phát triển các thành phần kinh tế và các
hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh. Theo tinh thần đó tất cả các thành phần
kinh tế đều bình đẳng trước pháp luật, đều được khuyến khích phát triển.
Trong những năm tới cần phát huy vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước.
Muốn vậy cần tập trung nguồn lực phát triển có hiệu quả kinh tế nhà nước trong
những lĩnh vực trọng yếu của nền kinh tế, sắp xếp lại khu vực doanh nghiệp
Nhà nước, thực hiện tốt chủ trương cổ phần hoá và đa dạng hoá sở hữu đối với
những doanh nghiệp mà Nhà nước không cần nắm 100% vốn. Xây dựng và
củng cố một số tập đoàn kinh tế mạnh trên cơ sở các Tổng công ty Nhà nước,
có sự tham gia của các thành phần kinh tế. Đẩy mạnh việc đổi mới kỹ thuật,
công nghệ trong các doanh nghiệp nhà nước. Thực hiện chế độ quản lý công ty
đối với tất cả các doanh nghiệp kinh doanh có vốn của Nhà nước, doanh nghiệp
thực sự cạnh tranh bình đẳng trên thị trường, tự chịu trách nhiệm trong sản xuất

kinh doanh.
Phát triển kinh tế tập thể dưới nhiều hình thức đa dạng, trong đó hợp tác xã
là nòng cốt. Nhà nước cần giúp đỡ hợp tác xã về đào tạo cán bộ, xây dựng
phương án sản xuất, kinh doanh, mở rộng thị trường. Thực hiện tốt việc chuyển
đổi hợp tác xã theo Luật hợp tác xã.
Khuyến khích kinh tế tư nhân (bao hàm cả kinh tế cá thể, tiểu chủ và kinh
tế tư bản tư nhân) phát triển ở cả thành thị và nông thôn. Nhà nước tạo điều
kiện và giúp đỡ kinh tế cá thể, tiểu chủ phát triển có hiệu quả. Phát triển kinh tế
tư bản nhà nước dưới các kình thức liên doanh, liên kết giữa kinh tế tư nhân
trong và ngoài nước ; tạo điều kiện để kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài hướng
vào mục tiêu phát triển các sản phẩm xuất khẩu, tăng khả năng cạnh tranh, gắn
thu hút vốn với thu hút công nghệ hiện đại.
3.2. Đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, ứng dụng nhanh tiến bộ khoa


học-cơng nghệ ; trên cơ sở đó đẩy mạnh phân cơng lao động xã hội.
Phân công lao động xã hội là cơ sở chung của sản xuất và trao đổi hàng
hoá. Vì vậy, để phát triển kinh tế hàng hố, phải đẩy mạnh phân công lao động
xã hội. Nhưng sự phát triển của phân công lao động xã hội lại do trình độ phát
triển của lực lượng sản xuất quyết định, cho nên muốn mở rộng phân công lao
động xã hội, cần đẩy mạnh cơng nghiệp hố-hiện đại hố đât nước để xây dựng
cơ sở vật chất-kỹ thuật của nền sản xuất lớn hiện đại.
Con đường cơng nghiệp hố, hiện đại hố của nước ta cần và có thể rút
ngắn thời gian so với các nước đi trước, vừa có những bước tuần tự, vừa có
bước nhảy vọt, gắn cơng nghiệp hoá với hiện đại hoá, tận dụng mọi khả năng để
đạt trình độ tiên tiến, hiện đại về khoa học và công nghệ; ứng dụng nhanh và
phổ biến hơn ở mức cao hơn những thành tựu công nghệ hiện đại và tri thức
mới, từng bước phát triển kinh tế tri thức.
Cùng với việc trang bị kỹ thuật và công nghệ hiện đại cho các ngành, các
lĩnh vực của nền kinh tế trong q trình cơng nghiệp hố, hiện đại hố, tiến

hành phân công lại lao động và phân bố dân cư trong phạm vi cả nước, cũng
như ở từng vùng, từng địa phương; hình thành cơ cấu kinh tế hợp lý cho phép
khai thác tốt nhất các nguồn lực của đất nước, tạo nên sự tăng trưởng kinh tế
nhanh và bền vững của tồn bộ nền kinh tế.
3.3. Hình thành và phát triển đồng bộ các loại thị trường.
Trong điều kiện hiện nay, chỉ có mở cửa kinh tế, hội nhập vào kinh tế khu
vực và thế giới, mới thu hút được vốn, kỹ thuật và công nghệ hiện đại để khai
thác tiềm năng và thế mạnh của đất nước nhằm phát triển kinh tế.
Khi mở cửa quan hệ kinh tế đối ngoại phải quán triệt nguyên tắc bình đẳng,
cùng có lợi, khơng can thiệp vào cơng việc nội bộ của nhau. Mở rộng kinh tế đối
ngoại theo hướng đa phương hố, đa dạng hố các hình thức kinh tế đối ngoại.
Hiện nay, cần đẩy mạnh xuất khẩu, coi xuất khẩu là trọng điểm của kinh tế
đối ngoại. Giảm dần nhập siêu, ưu tiên nhập khẩu tư liệu sản xuất để phục vụ
sản xuất. Tranh thủ mọi khả năng và bằng nhiều hình thức vốn đầu tư trực tiếp
của nước ngoài, việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài cần hướng vào những lĩnh
vực, những sản phẩm có cơng nghệ tiên tiến, có tỷ trọng xuất khẩu cao. Việc sử
dụng vốn vay phải có hiệu quả để trả được nợ, cải thiện được cán cân thanh
toán. Chủ động tham gia tổ chức thương mại quốc tế, các diễn đàn, các tổ chức,
các định chế quốc tế một cách có chọn lọc với bước đi thích hợp.
3.4. Giữ vững ổn định chính trị, hồn thiện hệ thống luật pháp.


Sự ổn định chính trị bao giờ cũng là nhân tố quan trọng đầu tiên để phát
triển. Nó là điều kiện để các nhà sản xuất kinh doanh trong nước và nước ngoài
yên tâm đầu tư. Muốn giữ vững sự ổn định chính trị ở nước ta hiện nay cần phải
giữ vững và tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam, nâng cao
hiệu lực quản lý của Nhà nước, phát huy quyền làm chủ của nhân dân.
Hệ thống pháp luật đồng bộ là công cụ quan trọng để Nhà nước quản lý
nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần. Nó tạo ra hành lang luật pháp cho hoạt
động kinh tế, buộc các doanh nghiệp chấp nhận sự điều tiết của Nhà nước.

3.5. Xoá bỏ triệt để cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp, hoàn thiện cơ chế
quản lý kinh tế của Nhà nước.
Việc xoá bỏ triệt để cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp, hình thành đồng
bộ và vận hành có hiệu quả cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, cần
nâng cao năng lực của các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp, thực hiện
cải cách nền hành chính quốc gia. Nhà nước định hướng và phát triển kinh tế ;
có hệ thống chính sách nhất qn để tạo môi trường ổn định và thuận lợi cho
hoạt động kinh tế ; hạn chế, khắc phục những mặt tiêu cực của cơ chế thị
trường. Nhà nước thực hiện đúng chức năng quản lý nhà nước về kinh tế và
chức năng chủ sở hữu tài sản công, không can thiệp vào chức năng quản trị kinh
doanh để các doanh nghiệp có quyền tự chủ trong sản xuất, kinh doanh. Nhà
nước sử dụng các biện pháp kinh tế là chính để điều tiết nền kinh tế, chứ khơng
phải là mệnh lệnh. Vì vậy, phải tiếp tục đổi mới và hồn thiện chính sách tài
chính, chính sách tiền tệ, chính sách tiền lương và giá cả.
3.6. Thực hiện đồng bộ, kiên quyết các giải pháp để phòng, chống tham
nhũng trong bộ máy nhà nước
Phải thực hiện tốt vừa xây, vừa chống trong phòng, chống tham nhũng.
Khẩn trương xây dựng và thực hiện kiên quyết hệ thống pháp luật đồng bộ về
phòng ngừa, phát hiện và xử lý những người có hành vi tham nhũng.
Tiếp tục hoàn thiện thể chế để thực hiện đầy đủ nguyên tắc Nhà nước
quản lý nền kinh tế bằng pháp luật. Khẩn trương rà soát để giảm đến mức thấp
nhất quan hệ "xin - cho" trong quản lý kinh tế. Thực hiện công khai, minh
bạch trong mua sắm công và xây dựng cơ bản, quản lý dự án đầu tư, xây dựng;
tài chính và Ngân sách Nhà nước, huy động và sử dụng các khoản đóng góp
của nhân dân; quản lý và cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước; quản lý và sử
dụng đất, tài sản công; công tác cán bộ.
Tiếp tục cải cách mạnh thủ tục hành chính theo hướng phân cấp và làm
rõ quyền hạn, trách nhiệm của từng cấp, từng ngành, từng đơn vị và người



đứng đầu cơ quan; thu gọn đầu mối trong việc giải quyết mọi cơng việc hành
chính với dân và doanh nghiệp; công khai các quy định về thủ tục hành chính
để dân biết, thực hiện và giám sát. Tiếp tục đổi mới chế độ tiền lương đối với
cán bộ, công chức; đồng thời, có quy định về kiểm tra, kiểm sốt, giám sát thu
nhập của cán bộ, cơng chức.
Xử lý nghiêm minh, kịp thời, công khai cán bộ, công chức tham nhũng,
không phân biệt chức vụ và địa vị xã hội cịn đương chức hay đã nghỉ hưu,
thơi việc hoặc chuyển cơng tác khác. Thiết lập cơ chế khuyến khích, bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp của những người phát hiện và đấu tranh chống tham
nhũng; đồng thời, phát hiện và xử lý nghiêm những người bao che cho tham
nhũng, ngăn cản việc chống tham nhũng, hoặc lợi dụng việc tố cáo tham
nhũng để vu khống, ám hại người khác, gây mất đoàn kết nội bộ. Đẩy mạnh
phối hợp và hợp tác quốc tế về phòng, chống tham nhũng.

C. KẾT LUẬN


Sự hình thành tư duy kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa không
chỉ đơn thuần là sự tìm tịi và phát kiến về mặt lý luận của chủ nghĩa xã hội, mà
còn là sự lựa chọn và khẳng định con đường và mơ hình phát triển trong thực
tiễn mang tính cách mạng và sáng tạo của Việt Nam. Phát triển kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam không phải là sự gán ghép chủ
quan của Đảng giữa kinh tế thị trường và chủ nghĩa xã hội, mà là việc kết hợp
dựa trên cơ sở tiếp thu có chọn lọc, đồng thời biết nắm bắt đúng sự vận động tất
yếu của xã hội loài người của Đảng ta.
Tuy nhiên, đây là sự nghiệp vơ cùng khó khăn, phức tạp, lâu dài, bởi lẽ nó
rất mới mẻ, chưa có tiền lệ, phải vừa làm vừa rút kinh nghiệm. Riêng về mặt lý
luận cũng còn khơng ít vấn đề phải tiếp tục đi sâu nghiên cứu, tổng kết, làm
sáng tỏ. Chẳng hạn như: các vấn đề về chế độ sở hữu và các thành phần kinh tế;
về lao động và bóc lột; về quản lý doanh nghiệp nhà nước ra sao để nó đóng

được vai trò chủ đạo; làm thế nào để thực hiện được cơng bằng xã hội trong
điều kiện kinh tế cịn thấp kém; các giải pháp tăng cường sức mạnh và hiệu lực
của Nhà nước xã hội chủ nghĩa, chống quan liêu, tham nhũng, v.v..
Qua 20 năm thực hiện công cuộc đổi mới, chúng ta đã đạt được những
thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử. Đất nước đã ra khỏi khủng hoảng kinh tế
- xã hội, có sự thay đổi cơ bản và toàn diện. Vị thế nước ta trên trường quốc tế
không ngừng nâng cao. Sức mạnh tổng hợp của quốc gia đã tăng lên rất nhiều,
tạo ra thế và lực mới cho đất nước tiếp tục đi lên với những triển vọng tốt đẹp.
Tuy nhiên, sự tăng trưởng kinh tế chưa tương xứng với khả năng; hoạt động
kinh tế - xã hội còn nhiều yếu kém, bất cập. Trình độ phát triển kinh tế và cơng
nghệ vẫn tụt hậu so với nhiều nước xung quanh. Sức cạnh tranh của nền kinh tế,
chất lượng và tính bền vững của sự phát triển còn kém. Việc xây dựng thể chế
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập kinh tế quốc tế còn
nhiều vướng mắc, khó khăn.
Với phương châm "Hãy bắt tay vào hành động, thực tiễn sẽ cho câu trả
lời", hy vọng rằng với những giải pháp cụ thể nêu trên, Đảng cộng sản Việt
Nam sẽ đưa đất nước vượt qua thách thức, nêu cao ý chí và quyết tâm tiếp tục
đổi mới, hình thành đồng bộ nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa, tích cực và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, phát huy cao nhất các
nguồn lực, đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế và nâng cao chất lượng phát
triển, phấn đấu thực hiện thắng lợi kế hoạch đề ra, đưa đất nước ta vững bước
tiến lên trên con đường cơng nghiệp hố, hiện đại hố, thực hiện dân giàu, nước
mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
D. DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO


1. Trần Thị Minh Châu, Kinh tế nhà nước trong nền kinh tế thị trường định

hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, Tạp chí cơng sản số 5 năm 2007.
2. Đảng cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI,


Nxb Sự thật.
3. Đảng cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII,

Nxb Sự thật.
4. Đảng cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII,

Nxb Chính trị quốc gia.
5. Đảng cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX,

Nxb Chính trị quốc gia.
6. Đảng cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X,

Nxb Chính trị quốc gia.
7. Đảng cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X,

Nxb Chính trị quốc gia.
8. Đảng cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X,

Nxb Chính trị quốc gia.
9. Dỗn Đình Huề, Để phát triển bền vững nền kinh tế thị trường định hướng

xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, Tạp chí cơng sản số 22 năm 2007.
10. Giáo trình Kinh tế chính trị Mác-Lê Nin (Dùng cho các khối ngành kinh tế-

Quản trị kinh doanh trong các trường Đại học, cao đẳng), Nxb Chính trị
quốc gia.
11. Giáo trình Kinh tế chính trị học, Nxb Thống kê.
12. Hồng Thị Bích Loan, Giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa trong phát


triển kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay, Tạp chí công sản số 7 năm 2007.
13. Trần Xuân Trường, Bản chất của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội

chủ nghĩa ở Việt Nam, Tạp chí cơng sản số 1 năm 2007.


MỤC LỤC
A.ĐẶT VẤN ĐỀ..........................................................................................................1
B. NỘI DUNG.............................................................................................................2
1. Sự cần thiết khách quan phát triển kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay................2
1.1. Khái niệm kinh tế thị trường và những đặc điểm kinh tế thị trường...............2
1.2. Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và những đặc điểm của nó.....3
1.3. Vai trị kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam..............5
2. Thực trạng phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam....6
2.1. Quan điểm của Đảng ta về kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa...6
2.2. Những thành tựu đạt được trong quá trình phát triển kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam......................................................................9
2.3. Những tồn tại trong quá trình phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa ở Việt Nam..........................................................................................11
3. Các giải pháp để phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở
Việt Nam.................................................................................................................14
3.1. Thực hiện nhất quán chính sách kinh tế nhiều thành phần............................14
3.2. Đẩy mạnh cơng nghiệp hố, hiện đại hố, ứng dụng nhanh tiến bộ khoa họccông nghệ ; trên cơ sở đó đẩy mạnh phân cơng lao động xã hội..........................15
3.3. Hình thành và phát triển đồng bộ các loại thị trường....................................15
3.4. Giữ vững ổn định chính trị, hồn thiện hệ thống luật pháp...........................16
3.5. Xoá bỏ triệt để cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp, hoàn thiện cơ chế quản lý
kinh tế của Nhà nước...........................................................................................16
3.6. Thực hiện đồng bộ, kiên quyết các giải pháp để phòng, chống tham nhũng
trong bộ máy nhà nước........................................................................................16
C. KẾT LUẬN..........................................................................................................18

D. DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO............................................................19



×