Tải bản đầy đủ (.doc) (34 trang)

Phân tích tác động của một số biện pháp thuộc chính sách tiền tệ mà Chính phủ Việt Nam sử dụng nhằm kiềm chế lạm phát trong thời gian qua pptx

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (525.58 KB, 34 trang )

Trường Đại Học Thương Mại-Khóa 47N

Chủ đề thảo luận
Phân tích tác động của một số biện pháp thuộc chính sách tiền tệ
mà Chính phủ Việt Nam sử dụng
nhằm kiềm chế lạm phát trong thời gian qua
1
NHÓM 4
BẢNG DANH SÁCH VÀ PHÂN CÔNG NHIỆM VỤ
STT Họ tên Công việc Đánh giá
1 (Nhóm trưởng)
2 Nguyễn Thị Vân Trang
(Thư ký)
Tổng kết, làm slide
3
4
5
6
7
8
9
10
2
Lời mở đầu
Dưới tác động của cuộc khủng hoảng tài chình và suy thoái kinh tế toàn
cầu cùng với những tồn tại, yếu kém nội tại của nền kinh tế, trong 2
năm qua nền kinh tế nước ta đã có những biến động về phương diện
kinh tế vĩ mô.
Những lo ngại về nguy cơ lạm phát lại được nhiều người quan tâm
trong thời gian gần đây.Mặc dù nước ta đã phần nào kiềm chế được
lạm phát.Tuy nhiên, lạm phát đang có dấu hiệu quay trở lại.


Vừa qua Ngân hàng nhà nước (NHNN) thực hiện những chính sách
quyết liệt như: điều chỉnh lãi suất cơ bản, lãi suất tái chiết khấu và lãi
suất tái cấp vốn. Các biện pháp này có mục đích ngăn chặn nguy cơ về
lạm phát và bong bóng tài sản. Nhiều chuyên gia kinh tế trong nước
cũng cảnh báo những bất ổn vĩ mô do lạm phát cao có thể xảy ra vào
năm nay.
Lạm phát nổi lên như một vấn đề kinh tế vĩ mô được quan tâm.
3
NỘI DUNG CHÍNH
Trang
1.1. Lý luận
1.2. Những vấn đề chung về lạm phát 5
1.2.1. Khái niệm lạm phát
1.2.2. Phân loại lạm phát
1.3. Chính sách tiền tệ 8
1.3.1. Khái niệm chính sách tiền tệ 8
1.3.2. Vai trò của chính sách tiền tệ 9
2. Thực trạng
2.1. Thực trạng lạm phát ở Việt Nam 10
2.1.1. Bối cảnh nền kinh tế Thế giới những năm gần đây 10
2.1.2. Sơ lược diễn biến lạm phát ở Việt Nam từ năm 1976 11
đến nay.
2.1.3. Cụ thể tình hình lạm phát ở Việt Nam từ năm 2007 – 2010 12
2.2. Tác động của một số biện pháp thuộc chính sách tiền tệ mà 15
Chính phủ Việt Nam sử dụng nhằm kiềm chế lạm phát trong
thời gian 2007 - 2010
2.2.1. Thực trạng điều hành chính sách tiền tệ nhằm kiềm chế 15
lạm phát
2.2.2. Tác động của những biện pháp thuộc chính sách tiền tệ 26
mà chính phủ sử dụng nhằm kiềm chế lạm phát.

a, Tác động tích cực. 26
b, Những mặt hạn chế. 27
2.3. Một vài đề xuất về chính sách tiền tệ góp phần kiềm chế 30
lạm phát trong tương lai.
3. Kết luận 32
4
1. LÝ LUẬN (tuyết)
1.1. Những vấn đề chung về lạm phát.
1.1.1. Khái niệm lạm phát
Lạm phát được định nghĩa là sự gia tăng liên tục trong mức giá
chung. Điều này không nhất thiết có nghĩa giá cả của mọi hàng hóa và
dịch vụ đồng thời phải tăng lên theo cùng một tỷ lệ, mà chỉ cần mức
giá trung bình tăng lên. Lạm phát vẫn có thể xảy ra khi giá của một số
hàng hóa giảm, nhưng giá cả của các hàng hóa và dịch vụ khác tăng đủ
mạnh.
Lạm phát cũng có thể được định nghĩa là sự suy giảm sức mua của
đồng tiền. Trong bối cảnh lạm phát, một đơn vị tiền tệ mua được ngày
càng ít đơn vị hàng hóa và dịch vụ hơn. Hay nói một cách khác, trong
bối cảnh lạm phát, chúng ta sẽ phải chi ngày càng nhiều tiền hơn để
mua một giỏ hàng hóa và dịch vụ nhất định.
1.1.2. Phân loại lạm phát
a, Phân loại theo quy mô.
Lạm phát thường được phân loại theo tính chất hoặc theo mức độ
của tỷ lệ lạm phát. Việc phân loại lạm phát theo tính chất sẽ được đề
cập khi bàn về tác động của lạm phát, còn trong mục này chúng ta sẽ
phân loại lạm phát theo mức độ của tỷ lệ lạm phát. Theo tiêu thức này
các nhà kinh tế thường phân biêt 3 loại lạm phát: lạm phát vừa phải,
lạm phát phi mã và siêu lạm phát.
 Lạm phát vừa phải.
Còn gọi là lạm phát một con số, có tỷ lệ gây lạm phát dưới 10%

một năm. Lạm phát vừa phải được đặc trưng bởi mức giá tăng chậm và
nhìn chung có thể dự đoán trước được vì tương đối ổn định. Đối với
các nước đang phát triển lạm phát ở mức một con số thường được coi
là vừa phải. Đó là mức lạm phát mà bình thường nền kinh tế trải qua
và ít gây tác động tiêu cực đến nền kinh tế. Trong bối cảnh đó, mọi
người vẫn sẵn sàng giữ tiền để thực hiện giao dịch và ký các hợp đồng
5
dài hạn tính bằng tiền vì họ tin rằng giá và chi phí của hàng hóa mà họ
mua và bán sẽ không đi chệch quá xa.
 Lạm phát phi mã.
Là loại lạm phát xảy ra khi giá cả tăng tương đối nhanh với tỷ lệ 2
hoặc 3 con số trong một năm. Việt Nam và hầu hết các nước chuyển
đổi từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường đều
phải đổi mặt với lạm phát phi mã trong những năm đầu thực hiện cải
cách.
Nhìn chung lạm phát phi mã được duy trì trong thời gian dài sẽ
gây ra những biến dạng kinh tế nghiêm trọng. Trong bối cảnh đó, đồng
tiền bị mất giá rất nhanh, cho nên mọi người chỉ giữ lượng tiền tối
thiểu vừa đủ cho các giao dịch hàng ngày. Mọi người có xu hướng tích
trữ hàng hóa, mua bất động sản và chuyển sang sử dụng vàng hoặc các
ngoại tệ mạnh để làm phương tiện thanh toán cho các giao dịch có giá
trị lớn và tích lũy của cải.
 Siêu lạm phát.
Siêu lạm phát là trường hợp lạm phát đặc biệt cao. Loại lạm phát
này xảy ra khi đột biến tăng lên với tốc độ cao vượt xa lạm phát phi
mã Đặc điểm chung của mọi cuộc siêu lạm phát là sự gia tăng quá mức
trong cung tiền, điều nàythường bắt nguồn từ sự cần thiết phải tài trợ
cho thâm hụt ngân sách quá lớn.
6
Siêu lạm phát ở Zimbabwe

b, Phân loại theo nguyên nhân.
 Lạm phát do cầu kéo
Nhiều người có trong tay một khoản
tiền lớn và họ sẵn sàng chi trả cho một
hàng hoá hay dịch vụ với mức giá cao
hơn bình thường. Khi nhu cầu về một
mặt hàng tăng lên sẽ kéo theo sự tăng
lên về giá cả của mặt hàng đó. Giá cả
của các mặt hàng khác cũng theo đó leo
thang, dẫn đến sự tăng giá của hầu hết
các loại hàng hoá trên thị trường.
Lạm phát do sự tăng lên về cầu được gọi là “lạm phát do cầu kéo”, nghĩa
là cầu về một hàng hoá hay dịch vụ ngày càng kéo giá cả của hàng hoá
hay dịch vụ đó lên mức cao hơn.
 Lạm phát do chi phí đẩy
7
Chi phí của các doanh nghiệp
bao gồm tiền lương, giá cả
nguyên liệu đầu vào, máy móc,
chi phí bảo hiểm cho công
nhân, thuế Khi giá cả của một
hoặc vài yếu tố này tăng lên thì
tổng chi phí sản xuất của các xí
nghiệp chắc chắn cũng tăng lên.
Các xí nghiệp vì muốn bảo toàn
mức lợi nhuận của mình sẽ tăng
giá thành sản phẩm. Mức giá
chung của toàn thể nền kinh tế
cũng tăng.
 Lạm phát tiền tệ

Cung tiền tăng (chẳng hạn do ngân hàng trung ương mua ngoại tệ vào
để giữ cho đồng tiền trong nước khỏi mất giá so với ngoại tệ; hay
chẳng hạn do ngân hàng trung ương mua công trái theo yêu cầu của
nhà nước) khiến cho lượng tiền trong lưu thông tăng lên là nguyên
nhân gây ra lạm phát.
 Lạm phát dự kiến hay còn gọi là lạm phát ì:
Là loại lạm phát xảy ra do mọi
người đã dự tính trước => cả
đường AS và AD đều dịch
chuyển dần lên phía trên với
cùng một tốc độ, P á nhưng Y
và việc làm không đổi.
1.2. Chính sách tiền tệ.
1.2.1. Khái niệm chính sách tiền tệ
8
Chính sách tiền tệ, là một bộ phận trong tổng thể hệ thống chính sách kinh tế
của nhà nước để thực hiện việc quản lý vĩ mô đối với nền kinh tế nhằm đạt
được các mục tiêu kinh tế - xã hội trong từng giai đoạn nhất định.
Chính sách tiền tệ có thể được hiểu theo nghĩa rộng và nghĩa thông thường.
Theo nghĩa rộng thì chính sách tiền tệ là chính sách điều hành toàn bộ khối
lượng tiền trong nền kinh tế quốc dân nhằm tác động đến 4 mục tiêu lớn của
kinh tế vĩ mô, trên cơ sở đó đạt được mục tiêu cơ bản là ổn định tiền tệ, giữ
vững sức mua của đồng tiền, ổn định giá cả hàng hoá. Theo nghĩa thông
thường là chính sách quan tâm đến khối lượng tiền cung ứng tăng thêm
trong thời kỳ tới (thường là một năm) phù hợp với mức tăng trưởng kinh tế
dự kiến và chỉ số lạm phát nếu có, tất nhiên cũng nhằm ổn định tiền tệ và ổn
định giá cả hàng hoá
9
1.2.2. Vai trò của chính sách tiền tệ trong việc kiểm soát lạm phát
Để thấy rõ tác động của chính sách tiền tệ tới tỷ lệ lạm phát ta sẽ đi tìm

hiểu từng công cụ một của chính sách tiền tệ.
 Công cụ tỷ lệ dự trữ bắt buộc:
Là tỷ lệ giữa số lượng phương tiện cần vô hiệu hóa trên tổng số tiền
gửi huy động, nhằm điều chỉnh khả năng thanh toán (cho vay) của các
Ngân hàng thương mại.
 Công cụ nghiệp vụ thị trường mở:
Là hoạt động Ngân hàng Trung ương mua bán giấy tờ có giá ngắn hạn
trên thị trường tiền tệ, điều hòa cung cầu về giấy tờ có giá, gây ảnh
hưởng đến khối lượng dự trữ của các Ngân hàng thương mại, từ đó tác
động đến khả năng cung ứng tín dụng của các Ngân hàng thương mại dẫn
đến làm tăng hay giảm khối lượng tiền tệ.
 Công cụ lãi suất tín dụng:
Đây được xem là công cụ gián tiếp trong thực hiện chính sách tiền tệ
bởi vì sự thay đổi lãi suất không trực tiếp làm tăng thêm hay giảm bớt
lượng tiền trong lưu thông, mà có thể làm kích thích hay kìm hãm sản
xuất. Nó là 1 công cụ rất lợi hại. Cơ chế điều hành lãi suất được hiểu là
tổng thể những chủ trương chính sách và giải pháp cụ thể của Ngân hàng
Trung ương nhằm điều tiết lãi suất trên thị trường tiền tệ, tín dụng trong
từng thời kỳ nhất định.
 Công cụ hạn mức tín dụng:
Là 1 công cụ can thiệptrực tiếp mang tính hành chính của Ngân hàng
Trung ương để khống chế mức tăng khối lượng tín dụng của các tổ chức
tín dụng. Hạn mức tín dụng là mức dư nợ tối đa mà Ngân hàng Trung
ương buộc các Ngân hàng thương mại phải chấp hành khi cấp tín dụng
cho nền kinh tế.
10
2. THỰC TRẠNG
2.1. Thực trạng lạm phát ở Việt Nam
2.1.1. Bối cảnh nền kinh tế toàn cầu.
Đã bốn năm trôi qua kể từ khi cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu bùng

phát, song kinh tế thế giới vẫn đang phục hồi chật vật. Gam màu chủ đạo của
bức tranh kinh tế thế giới năm 2012 là “xám tối” trong bối cảnh nhịp độ tăng
trưởng trên toàn cầu tiếp tục yếu.
Châu Âu loay hoay tìm lối thoát khỏi cuộc khủng hoảng nợ công dai
dẳng ba năm qua, kinh tế Mỹ và Nhật Bản tăng trưởng ì ạch. Các nền kinh tế
mới nổi tăng trưởng khá nhanh như Trung Quốc, Ấn Độ, Brazil, đều không
giữ được “phong độ”.
Người dân Pháp xuống đường biểu tình phản đối các biện pháp “thắt lưng
buộc bụng” nhằm đối phó với khủng hoảng nợ công của chính phủ
Giới phân tích nhận định trong tình cảnh còn nhiều bất ổn, nguy cơ thách
thức rình rập và triển vọng bị chi phối bởi không ít rủi ro, mà trước mắt là
việc đưa ra kịp thời các quyết sách liên quan đến cuộc khủng hoảng nợ tại
Eurozone và "vách đá tài chính" ở Mỹ, bức tranh kinh tế thế giới sẽ khó
chuyển sang “gam sáng” trong hai năm tới.
11
2.1.2. Sơ lược diễn biến lạm phát ở Việt Nam từ 1976 đến nay
Trong 36 năm qua (tính từ năm 1976), lạm phát tại Việt Nam chỉ có 1
năm giảm (2000), 12 năm tăng 1 chữ số, 20 năm tăng 2 chữ số, 3 năm tăng 3
chữ số.
• Thời kỳ 1976-1985, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tăng rất cao. Nguyên
nhân chủ yếu là do kinh tế tăng trưởng chậm, có năm bị giảm, làm
mất cân đối cung cầu (thiếu cung), tiền nhiều hơn hàng.
• Thời kỳ 1986-1991, lạm phát phi mã, trong đó 1986-1988 tăng tới
402,1%/năm. Nguyên nhân chủ yếu là do kinh tế bị khủng hoảng, tăng
trưởng thấp, làm cho thị trường bị thiếu cung, tiền nhiều hơn hàng.
Năm 1986 1987 1988 1989
Lạm phát 487,2% 301,3% 308,2% 74,3%
Tăng trưởng 3,4% 3,9% 5,1% 8%
• Thời kỳ 1992-1995, lạm phát còn cao, nhưng đã thấp hơn nhiều so với
các thời kỳ trước. Nguyên nhân chủ yếu do cung đã tăng (tăng trưởng

kinh tế 1991-1995 đạt 8,2%/năm, đặc biệt lương thực vượt nhu cầu
trong nước, đã có xuất khẩu với khối lượng lớn; Chính phủ đưa ra
phương châm: đối với ngân sách thì thu lấy mà chi; đối với ngân hàng
thì vay lấy mà cho vay-có nghĩa là Nhà nước không phát hành tiền
cho bội chi ngân sách và bội chi tiền mặt.
Năm 1991 1992 1993 1994 1995 1996
Lạm phát 67,6% 17,6% 5,2% 14,4% 12,7% 4,5%
Tăng trưởng 6,0% 8,65% 8,07% 8,5% 9,5% 9,34%
• Thời kỳ 1996-2003 được coi là thiểu phát, khi CPI tăng rất thấp (mặc
dù năm 1998 tăng cao 9,2% do tác động của khủng hoảng khu vực,
với tỷ giá năm 1997 tăng 14,2%, năm 1998 tăng 9,6% và giá lương
thực tăng 23,1%, giá thực phẩm tăng 8,6%. Nhưng nhìn chung cả thời
kỳ này đã có 3 năm, trong đó có 1 năm giảm, 2 năm tăng thấp; giá
lương thực, thực phẩm giảm hoặc tăng thấp.
• Thời kỳ từ 2004 đến nay là thời kỳ lạm phát cao trở lại, gần như lặp
đi lặp lại, cứ 2 năm tăng cao mới có 1 năm tăng thấp hơn.
2.1.3. Cụ thể diễn biến lạm phát 2007-2010
12
- Khởi đầu kế hoạch 2006-2010, với tỷ lệ lạm phát 2006 là 6,6%. Đây
là con số lý tưởng báo hiệu cho một thời kỳ tăng trưởng mạnh mẽ của
nền kinh tế Việt Nam. Tuy nhiên bước sang năm 2007 lạm phát của
Việt Nam tăng cao ở mức hai con số 12,63%. Nếu so sánh với mức
lạm phát của một số nước trong khu vực và trên thế giới như Trung
Quốc: 6,5%; Indonesia: 6,59%; Mỹ: 4,08%, Thái Lan: 3,21%, Khu
vực đồng Euro: 3,07%, Nhật Bản: 0,7% thì lạm phát của Việt Nam có
phần cao hơn. Nhìn vào biểu đồ có thể nhận thấy tỷ lệ lạm phát năm
2007 tăng dần qua các tháng với mức đỉnh điểm là tháng 12 với tỷ lệ
2,9%. Lạm phát 2007 báo hiệu một năm đầy khó khăn cho nền kinh tế
trong 2008.


Hình 2.1: CPI qua các tháng năm 2007-2010
Bước sang năm 2008, lạm phát diễn biến phức tạp. Thời kỳ này lạm phát chia
làm 3 giai đoạn: Lạm phát nóng, kiềm chế lạm phát và giai đoạn giảm phát.
Giai đoạn 1: Lạm phát nóng
Trong hơn nửa đầu năm 2008, lạm phát là vấn đề số một của nền kinh tế Việt
Nam. Tốc độ tăng giá tiêu dùng liên tục tăng ở mức 2%/tháng với đỉnh điểm vào
tháng 2 và tháng 5 (tăng trên 3%). Lạm phát được xác định là do cả 3 nhân tố: chi
phí đẩy,cầu kéo và tăng cung tiền.
Giai đoạn 2: Kiềm chế lạm phát
Trước những ảnh hưởng sâu rộng của lạm phát, chính phủ đã đưa ra 8 nhóm
giải pháp kiềm chế lạm phát, tập trung vào việc thắt chặt cung tiền và giảm bớt đầu
13
tư công và hạn chế nhập siêu. Được sự trợ giúp từ việc hàng hóa trên thế giới bắt
đầu giảm từ mức đỉnh tháng 6/2008, tốc độ tăng lạm phát đưa xuống mức dưới
2%/tháng (tháng 7-8/2008) và xấp xỉ 0%/tháng trong tháng 9/2008.
Giai đoạn 3: Giảm phát
Cuộc khủng hoảng tài chính tòan cầu bước vào giai đoạn bùng phát vào tháng
9/2008 và nhanh chóng lan tỏa tới các lĩnh vực kinh tế khác, dẫn đến suy thoái
kinh tế toàn cầu. Việc cắt giảm đầu tư và tiêu dùng dẫn tới một sự giảm đột ngột về
cầu khiến cho giá nhiều mặt hàng giảm mạnh. Tính trong 4 tháng từ tháng 8 đến
tháng 11/2008, giá nguyên liệu thế giới giảm 58% với đà giảm gia tăng. Giảm phát
ở Việt Nam có độ trễ 2 tháng so với nước ngoài và chính thức bắt đầu từ tháng
10/2008, với một trong những nguyên nhân chủ yếu là các doanh nghiệp nhập khẩu
với giá cao trong những tháng trước (phân bón,sắt thép…) cố gắng giữ giá bán để
giảm thiểu thiệt hại do chi phí đầu vào lớn hơn giá bán hoặc tăng giá bán (sữa…).
Giống như nhiều nước khác, mối lo ngại của Việt Nam đã chuyển trạng thái từ lạm
phát sang giảm phát khi giảm phát xảy ra trong 3 tháng của quý IV/2008.
Năm 2009, mở ra với bao khó khăn đối với nền kinh tế, tuy nhiên bằng những
giải pháp và quyết sách kịp thời chính phủ đã kiềm chế lạm phát ở mức thấp với tỷ
lệ lạm phát là 6,52%. Diễn biến lạm phát qua giai đoạn này cũng ko có gì phức tạp

khi mà tỷ lệ lạm phát cao nhất chỉ là 1,38% (Tháng 12). Trong 8 tháng đầu tiên,
diễn biến chỉ số giá là biểu hiện của kìm nén, ít nhiều theo tính quy luật và cho
cảm nhận an toàn. Tuy nhiên trong 4 tháng còn lại, đường biểu diễn xóc nhẹ, báo
hiệu những đột biến, để rồi tăng dần và dựng ngược lên trong tháng tận cùng của
năm, hiện thực hóa phần cảm nhận lơ lửng đâu đó về nguy cơ tái lạm phát.
Năm 2010, là năm diễn biến lạm phát có nhiều đột biến, khi có đến nửa số
tháng trong năm 2010, mức tăng CPI đã vượt qua 1%. Các tháng từ 9 đến 11, chỉ
số giá tiêu dùng đều đạt kỷ lục của 15 năm trở lại đây.
Đột biến thứ nhất: Xuống chậm sau Tết
Tết Canh Dần rơi vào đầu tháng 2/2010, các mức tăng CPI hai tháng đầu năm
đều trên 1% và tiến gần 2% cũng không phải quá bất thường, nhưng khác biệt
trong lại rơi vào tháng 3, khi chỉ số giá tiêu dùng không chịu xuống mạnh như các
năm trước. So với tháng 12/2009, CPI tháng 3/2010 đã tăng 4,12%. Đây là điều rất
14
đáng lo ngại, bởi ở những năm bình thường, chỉ số giá tiêu dùng quý 1 thường
chiếm khoảng một nửa mức tăng cả năm.
Đột biến thứ hai: “Giấc ngủ” kéo dài
Việc “nằm sàn” trong 5 tháng kế tiếp cũng là một đột biến đáng nhắc đến của
lạm phát 2010. Trong khoảng 5 tháng từ tháng 4 đến tháng 8, chỉ số giá tiêu dùng
liên tục tăng rất thấp, về gần sát mức 0% (tháng 7 chỉ tăng 0,06% so với tháng 6).
Xét về cao độ, các mức tăng này lập kỷ lục về độ thấp kể từ 2004 đến nay.
Đột biến thứ ba: “Bốc đầu” tăng mạnh
4 tháng cuối năm, chỉ số giá tiêu dùng liên tục duy trì ở mức cao. Có tới 3
tháng đạt kỷ lục về cao độ, cho thấy sức nóng của lạm phát. Mức tăng chỉ số giá
tiêu dùng trong tháng 12 là 1,98% góp phần đưa tốc độ tăng cả năm lên gần 12%.
Như vậy, mức lạm phát 2 con số của Việt Nam trong năm 2010 đã chính thức được
khẳng định, vượt so với chỉ tiêu được Quốc hội đề ra đầu năm gần 5%.
Nguồn: Tổng cục thống kê
Xét giai đoạn 2001-2010 thì bình quân 4 năm 2007-2010 chỉ số giá tiêu dùng
tăng 12,70%/năm gấp gần 2,5 lần so với tỷ lệ lạm phát giai đoạn 2001-2006

(5,38%).
Việc tỷ lệ lạm phát gia tăng và biến động thất thường trong giai đoạn này là
một mối nguy hại lớn đối với nền kinh tế.
15
2.2. Tác động của một số biện pháp thuộc chính sách tiền tệ mà
Chính phủ Việt Nam sử dụng nhằm kiềm chế lạm phát trong thời
gian 2007 – 2010(Thân trang)
2.2.1. Thực trạng điều hành chính sách tiền tệ nhằm kiềm chế lạm phát ở Việt
Nam từ năm 2007-2010.
a, Công cụ lãi suất
Ngày 26/2/2010 NHNNVN đã ban hành Thông tư số 07/2010/TTNHNN quy
định việc cho vay bằng VND theo lãi suất thỏa thuận của các TCTD đối với khách
hàng. Việc ban hành Thông tư 07 giúp lãi suất dẫn được trả về cho thị trường, qua
đó khơi thông được nguồn vốn tín dụng trung – dài hạn, mang lại nhiều lợi ích cho
các TCTD (doanh thu, cơ hội kinh doanh, v.v ), cho doanh nghiệp (tiếp cận vốn
dễ dàng, sử dụng vốn một cách hợp lý hơn, v.v…) và cho nền kinh tế. Đây là dấu
hiệu của việc nới lỏng CSTT của NHNNVN trong những tháng đầu năm 2010.
Cùng điểm lại những thay đổi về lãi suất của NHNNVN đã áp dụng trong giai đoạn
từ năm 2007 đến nay để thấy những thay đổi trong việc điều hành CSTT của
NHNNVN.
Đồ thị 2.4: Lãi suất huy động và cho vay của các tổ chức tín dụng năm
2007 (Đơn vị : %/tháng)
Nguồn : NHNNVN.
Bước vào năm 2008, thị trường tài chính phát triển quá nóng do những ảnh
16
hưởng tiêu cực từ các diễn biến phức tạp và hậu quả nặng nề của cuộc khủng
hoảng tài chính toàn cầu. Lãi suất huy động VND liên tục tăng tại các TCTD, nhu
cầu về vốn tăng nhanh khiến các TCTD đua nhau tăng lãi suất huy động tiền gửi.
Trước tình hình đó, NHNNVN đã ra công điện số 02/CĐ – NHNN về việc yêu cầu
các NHTM không được tăng lãi suất quá 12%/năm. Ngày 11/6/2008, NHNNVN

điều chỉnh lãi suất từ 12% lên 14%/năm , nhiều NHTM đã điều chỉnh lãi suất ở
mức cao, 17,5 – 18,5%/năm. Càng về cuối năm lãi suất huy động tiền gửi giảm
mạnh, cho đến tháng 11/2008, mức lãi suất huy động tiền gửi vào mức thấp nhất,
giảm khoảng 9 - 9.5% so với thời điểm cao nhất của năm(17.5 – 18.5%/năm)
Lãi suất cơ bản năm 2009 không biến động nhiều như năm 2008 nhưng lại
được giữ khá lâu ở mức 7% khiến cho hoạt động ngân hàng có nhiều lúc trở nên
khó khăn khi lãi suất cho vay bị khống chế ở mức trần 10,5% còn lãi suất huy động
thì đã lên tới 9,99%, nhưng hệ thống ngân hàng vẫn cố gắng phát huy tốt nhất vai
trò của mình là kênh truyền dẫn vốn cho nền kinh tế, đặc biệt là dòng vốn hỗ trợ lãi
suất của Chính phủ. Đó thực sự là một nỗ lực không thể phủ nhận của hệ thống
Ngân hàng Việt Nam.
Năm 2010, trong 10 tháng đầu năm trước bối cảnh kinh tế vĩ mô có nhiều
chuyển biến tích cực, NHNN giữ ổn định lãi suất điều hành, cụ thể: lãi suất cơ
bản ở mức 8%/năm, lãi suất tái cấp vốn ở mức 8%/năm, lãi suất tái chiết khấu
ở mức 6%/năm. Từ ngày 5/11/2010, điều chỉnh tăng thêm 1%/năm các mức lãi
suất điều hành, theo đó, lãi suất cơ bản được điều chỉnh tăng từ 8%/năm lên
9%/năm, lãi suất tái cấp vốn từ 8%/năm lên 9%/năm, lãi suất tái chiết khấu từ
6%/năm lên 7%/năm; đồng thời, quy định mức lãi suất tiền gửi tối đa bằng
USD của tổ chức kinh tế tại TCTD là 1%/năm. Đặc biệt, triển khai cơ chế cho
vay theo lãi suất thỏa thuận từ tháng 4/2010, thu hẹp chênh lệch giữa lãi suất
VNĐ và ngoại tệ.
Như vậy, có thể kết luận rằng xu hướng chung trong việc điều chỉnh công cụ
lãi suất nhằm chống lại sự gia tăng của CPI qua các năm là sự tăng lên của lãi suất.
Để giữ cho nền kinh tế không bị thừa cung về tiền tệ, NHTƯ đã liên tục điều chỉnh
tăng lãi suất nhằm thu hút nguồn vốn trên nền kinh tế, từ đó giảm cung về tiền tệ,
góp phần giảm bớt sức ép tăng giá.,
17
b, Công cụ hạn mức tín dụng
Đây là một biện pháp mạnh, mang tính hành chính, có hiệu lực đáng kể. Tuy
nhiên, trong nền kinh tế thị trường, cung cầu tín dụng luôn biến động không

ngừng. Cho nên công cụ này ít được NHNNVN áp dụng.
Kiểm soát tăng trưởng tín dụng là biện pháp quan trọng, cần thiết để kiểm soát
lạm phát và đảm bảo an toàn hệ thống, chính vì vậy, bên cạnh việc tăng DTBB,
trong năm 2007, NHNNVN đã thực hiện đồng bộ các giải pháp kiểm soát tín dụng
như ban hành cơ chế sửa đổi quy định về trích lập và dự phòng rủi ro phù hợp với
chuẩn mực quốc tế, ban hành chỉ thị số 03/2007/CTNHNN yêu cầu các TCTD thực
hiên giải pháp kiểm soát tín dụng, khống chế dư nợ cho vay đầu tư, kinh doanh
chứng khoán ở mức dưới 3%, tăng cường thanh tra giám sát hoạt động cho vay đầu
tư kinh doanh chứng khoán nhằm đảm bảo an toàn, hiệu quả hoạt động của hệ
thống TCTD. Khống chế dư nợ vốn cho vay, chiết khấu giấy tờ có giá để đầu tư,
kinh doanh chứng khoán ở mức dưới 3% tổng dư nợ tín dụng của TCTD. Dư nợ
vốn cho vay, chiết khấu giấy tờ có giá để đầu tư, kinh doanh chứng khoán bao
gồm: cho vay, chiết khấu giấy tờ có giá đối với các công ty chứng khoán; cho vay
cầm cố bằng chứng khoán hoặc bảo đảm bằng tài sản khác để đầu tư, kinh doanh
chứng khoán đối với các tổ chức khác và cá nhân; chiết khấu giấy tờ có giá đối với
tổ chức và cá nhân để đầu tư, kinh doanh chứng khoán. Kết quả đạt được là năm
2007 tăng trưởng tín dụng đạt 53,89%.
Trong năm 2008, đứng trước nạn lạm phát cao, để kiềm chế lạm phát và ổn
định thị trường tiền tệ, NHNNVN đã khống chế tăng trưởng cung tín dụng của các
NHTM ở hạn mức không vượt quá 30%. Kết quả là dư nợ cho vay của toàn hệ
thống ngân hàng tăng 25,43%, trong đó tăng trưởng tín dụng bằng VND đạt
27,56% và tăng trưởng tín dụng bằng ngoại tệ đạt 17,61%.
Năm 2009, NHNNVN đặt ra mục tiêu tăng trưởng tín dụng đạt 30%. Đến cuối
tháng 5 năm 2009, tăng trưởng tín dụng chính thức của chúng ta là tăng 14,01% so
với cuối năm 2008. Tính đến 6 tháng đầu năm 2009, tăng trưởng tín dụng đã đạt
17,01% so với cuối năm 2008. Theo văn bản số 193/TB-VCCP của Văn phòng
Chính phủ ngày 06/07/2009, trong buổi làm việc với NHNNVN về việc điều hành
CSTT và hoạt động ngân hàng 6 tháng đầu năm và giải pháp thực hiện CSTT 6
18
tháng cuối năm vào ngày 26/06/2009, Thủ tướng đã yêu cầu giảm mục tiêu tăng

trưởng tín dụng từ 30% xuống khoảng 25% - 27%, điều hành tổng phương tiện
thanh toán tăng khoảng 25% nhằm phục vụ mục tiêu tăng trưởng kinh tế 5% khống
chế lạm phát ở mức một con số trong năm 2009. Như vậy với mục tiêu mới, 6
tháng cuối năm tín dụng chỉ được phép tăng trưởng thêm từ 8 – 10%. Đến cuối
tháng 10, tăng trưởng tín dụng đã lên mức 33,29% so với cuối năm 2008. Và tính
đến ngày 10/12/2009, dư nợ cho vay hỗ trợ lãi suất đạt 445.011 tỷ đồng. Năm
2009, tổng phương tiện thanh toán ước tăng 28,67% so với cuối tháng 12/2008,
huy động vốn tăng 28,7%; tín dụng đối với nền kinh tế là 37,73%.
Đồ thị 2.5: Tăng trưởng tín dụng từ năm 2001 đến nay
Đơn vị: %/tháng
Năm 2010, tăng trưởng tín dụng hệ thống ngân hàng đặt kế hoạch 25%. Ngân
hàng Nhà nước nhấn mạnh sẽ tập trung điều hành cung ứng tiền mặt một cách chặt
chẽ, kiểm soát chặt tăng trưởng tín dụng. Tính đến cuối năm, tăng trưởng tín dụng
đạt 27,65%. Tỷ lệ nợ xấu của hệ thống ngân hàng Việt Nam vào khoảng 2,5%. Nếu
tính thêm Vinashin, nợ xấu toàn ngành ngân hàng tăng thêm 0,7%. Báo cáo của
Ngân hàng Nhà nước đánh giá tình hình thực hiện các chỉ tiêu tiền tệ năm 2010 cơ
bản phù hợp với chỉ đạo của Chính phủ, đảm bảo an toàn hệ thống và phương tiện
thanh toán trong nền kinh tế. Cụ thể, lượng tiền cung ứng bổ sung cho lưu thông
khoảng 75% chỉ tiêu được Thủ tướng phê duyệt. Tổng phương tiện thanh toán tăng
23% (đã loại trừ hư số tăng của tỷ giá và giá vàng). Tiền mặt trong lưu thông tăng
khoảng 15%, tỷ trọng tiền mặt lưu thông so với tổng phương tiện thanh toán
19
khoảng 14%. Đáng chú ý là sự tăng trưởng tín dụng bằng ngoại tệ, áp đảo so với
bằng VND và khác thường so với những năm gần đây, tăng trưởng tín dụng bằng
VND là 25,34%, trong khi bằng ngoại tệ lên tới 37,76%.
Tóm lại, nhìn chung từ năm 2007 đến nay NHTƯ thường áp dụng các chính
sách điều chỉnh hạn mức tín dụng theo hướng thắt chặt, tức là hạ thấp mức cung tín
dụng, khống chế dư nợ cho vay đầu tư, từ đó giúp tăng dư nợ cho vay của toàn hệ
thống ngân hàng, góp phần giảm mức cung ứng tiền tệ trong nền kinh tế.
c, Công cụ chiết khấu

Công cụ tái cấp vốn và công cụ tái chiết khấu được NHNNVN sử dụng
thường xuyên nhằm tác động vào các điều kiện của thị trường tiền tệ để thực hiện
mục tiêu điều hành CSTT của NHNNVN.
Năm 2007, nhìn chung, vốn của các TCTD xét trên toàn hệ thống tiếp tục dư
thừa. Trong khi đó, hoạt động thị trường liên ngân hàng chưa thực sự thông suốt
nên một số NHTM có thiếu hụt tạm thời về vốn khả dụng, đã tiếp cận các kênh tái
cấp vốn của NHNNVN (dưới hình thức chiết khấu, cầm cố giấy tờ có giá) để đảm
bảo khả năng thanh toán. Đối với hình thức cầm cố giấy tờ có giá, từ đầu năm 2007
NHNNVN đã hạn chế việc tái cấp vốn thông qua cầm cố giấy tờ có giá. Bên cạnh
đó, do các TCTD tiếp tục dư thừa vốn nên rất ít TCTD tiếp cận nguồn vốn này.
Trong những tháng đầu năm 2008, các TCTD có khó khăn tạm thời về vốn
khả dụng, NHNNVN đã thực hiện tái cấp vốn cho các NHTM, nhất là những
NHTM có quy mô nhỏ. Việc NHNNVN hỗ trợ vốn ngắn hạn cho các NHTM đã có
tác động tích cực trong việc ổn định thị trường tiền tệ. Từ quý IV năm 2008, khi
tình hình thị trường tiền tệ từng bước đi vào ổn định, nguồn vốn của các TCTD đã
được đảm bảo nên nhu cầu vay tái cấp vốn của các NHTM đã giảm.
Trong năm 2009, NHNNVN ra Quyết định số 173/QĐ-NHNN quy định về
mức lãi suất tái cấp vốn là 8%/năm và lãi suất chiết khấu là 6%/năm. Ngày
10/4/2009, NHNNVN ra Quyết định số 837/QĐ-NHNN thay thế cho quyết định số
173/QĐ-NHNN. Cụ thể như sau: lãi suất tái cấp vốn giảm từ 8,0%/năm xuống còn
7,0 %/năm, và lãi suất chiết khấu giảm từ 6,0%/năm xuống còn 5,0 %/năm. Một
lần nữa, NHNNVN nâng lãi suất tái cấp vốn tăng từ 7%/năm lên 8%/năm, lãi suất
20
chiết khấu tăng từ 5%/năm lên 6%/năm (Quyết định số 2664/QĐ-NHNN) áp dụng
từ 01/12/2009.
Mức lãi suất trên được NHNN duy trì trong 10 tháng đầu năm 2010. Ngày
15/11/2010, NHNN ra Quyết định 2620/QĐ-NHNN điều chỉnh tăng mức lãi suất
tái cấp vốn lên mức 9%/năm và lãi suất chiết khấu là 7%/năm nhằm làm cho lãi
suất VND hợp lý theo thị trường hơn.
Nhìn chung qua các năm lãi suất chiết khấu cũng được điều chỉnh theo xu

hướng tăng dần. Trong điều kiện nền kinh tế đang có những dấu hiệu lạm phát gia
tăng thì việc áp dụng tăng lãi suất chiết khấu sẽ làm giảm khả năng cho vay của
các NHTM, giảm dư lượng vốn cho vay, từ đó làm giảm dư nợ cho vay tín dụng
của các NHTM.
d, Dự trữ bắt buộc
Trước diễn biến phức tạp của CPI trong năm 2007 và đầu tháng 1/2008,
NHNNVN đã ban hành các giải pháp nhằm kiểm soát chặt chẽ tốc độ tăng trưởng
tín dụng và tổng phương tiện thanh toán của các TCTD. Bước đi đầu tiên trong gói
các giải pháp thắt chặt tiền tệ là ngày 16/1/2008, NHNNVN ban hành quyết định
số 187/2008/QĐ-NHNN điều chỉnh DTBB đối với ngân hàng tăng thêm 1% ở các
loại tiền gửi được ban hành (trước đó, tháng 6/2007, NHNNVN đã ban hành Quyết
định 1141 để tăng tỷ lệ DTBB lên gấp đôi). Nếu so sánh với tỷ lệ DTBB tại Quyết
định 1141/2007 thì mức tăng 1% là không lớn. Tuy nhiên, nếu xem xét số tiền mà
các TCTD phải hút tiền từ lưu thông về thì không nhỏ, đặc biệt trong bối cảnh thị
trường tiền tệ và chứng khoán đang trong thời điểm cực kỳ nhạy cảm.
Đến đầu năm 2009, NHNNVN ra quyết định số 379/QĐ–NHNN ra ngày
24/2/2009 về việc thay đổi DTBB đối với tiền đồng Việt nam của các TCTD.
Trong đó các NHTM Nhà nước, NHTM cổ phần Ngoại thương Việt Nam, NHTM
cổ phần đô thị, NHTM có 100% vốn nước ngoài, công ty tài chính là 3% trên tổng
số dư tiền gửi phải DTBB. Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt
Nam, NHTM cổ phần nông thôn, Quỹ tín dụng nhân dân Trung ương là 1% trên
tổng số dư tiền gửi phải DTBB. Mục đích của việc điều hành các CSTT nêu trên là
nhằm ổn định thị trường tiền tệ, lãi suất, tỷ giá và hỗ trợ vốn khả dụng cho các
21
TCTD có điều kiện mở rộng huy động vốn và tín dụng có hiệu quả đối với nền
kinh tế, kể cả việc cho vay đối với các dự án đầu tư theo chương trình kích cầu của
Chính phủ.
Ngày 18/1/2010, NHNNVN đã có Quyết định số 74/QĐ-NHNN điều chỉnh
dự trữ bắt buộc bằng ngoại tệ đối với các tổ chức tín dụng (TCTD).Theo đó, tỷ lệ
dự trữ bắt buộc đối với tiền gửi bằng ngoại tệ áp dụng cho các TCTD được NHNN

quy định như sau: Tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn
dưới 12 tháng bằng ngoại tệ áp dụng cho các ngân hàng thương mại nhà nước
(không bao gồm Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn), ngân hàng
thương mại cổ phần, ngân hàng 100% vốn nước ngoài, ngân hàng liên doanh, chi
nhánh ngân hàng nước ngoài là 4% trên tổng số dư tiền gửi phải dự trữ bắt buộc;
Đối với Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Quỹ tín dụng nhân dân
trung ương, ngân hàng hợp tác là 3% trên tổng số dư tiền gửi phải dự trữ bắt buộc.
Tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với tiền gửi từ 12 tháng trở lên bằng ngoại tệ tương ứng
là 2% và 1% trên tổng số dư tiền gửi phải dự trữ bắt buộc. Quyết định này có hiệu
lực thi hành kể từ kỳ duy trì dự trữ bắt buộc tháng 02/2010 và thay thế điều 2
Quyết định số 379/QĐ-NHNN ngày 24/2/2009 của Thống đốc Ngân hàng Nhà
nước. Như vậy, với việc giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc này, nguồn vốn ngoại tệ tại các
ngân hàng sẽ dồi dào hơn.
Trong tình hình chỉ số lạm phát liên tục tăng, NHNNVN đã điều hành công cụ
DTBB một cách thận trọng nhằm ổn định thị trường tiền tệ, lãi suất, tỷ giá. Điều đó
góp phần kiềm chế lạm phát khá hiệu quả trong thời gian qua.
d, Công cụ tỷ giá
Số quyết định
Ngày hiệu
lực
Tỷ giá BQLNH
BĐDĐ
được phép
2554/QĐ-NHNN 02/01/2007 16 101 ±0,55%
3039/QĐ-NHNN 25/12/2007 16 113 ±0,75%
504/QĐ-NHNN 10/03/2008 16 025 ±1%
1436/QĐ-NHNN 27/06/2008 16 451 ±2%
2635/QĐ-NHNN 07/11/2008 16 511 ±3%
22
672/QĐ-NHNN 24/03/2009 16 980 ±5%

2666/QĐ-NHNN 26/11/2009 17 961 ±3%
Thông tư 03/2010/TT-
NHNN
11/02/2010 17 941 lên 18 544 ±3%
307/TB-NHNN 18/08/2010 18 544 lên 18 932 ±3%
Bảng 2.3: Các lần điều chỉnh tỷ giá từ 2007-2010
Năm 2007, chính sách tỷ giá của NHNNVN được điều hành một cách linh
hoạt, phù hợp với diễn biến thị trường trước sức ép VND lên giá do cung ngoại tệ
lớn hơn cầu, bên cạnh việc NHNNVN mua ngoại tệ để tăng dự trữ ngoại hối Nhà
nước, dự phòng đối phó với nguy cơ dòng vốn đảo chiều, giảm áp lực tăng giá
VND, NHNNVN đã nới lỏng biên độ tỷ giá từ ±0,25% lên ±0,5% và ±0,75%.
Trong năm 2008, NHNNVN đã 3 lần nới lỏng biên độ tỷ giá giao dịch giữa
đồng Việt Nam và đôla Mỹ, đưa biên độ tỷ giá từ ±0,75% lên ±1% , ±2% và
±3% so với thị trường liên ngân hàng.
Năm 2009 NHNNVN đã triển khai đồng bộ nhiều biện pháp: quyết định mở
rộng biên độ tỷ giá từ ±3% lên ±5%, áp dụng từ ngày 24/03/2009 nhằm giảm bớt
sự chênh lệch tỷ giá giữa thị trường tự do và thị trường chính thức. Những tháng
cuối năm 2009, tình hình mất cân đối cung - cầu ngoại tệ lại xuất hiện trở lại.
Trước tình hình giá USD tự do tăng mạnh dưới ảnh hưởng của cơn sốt giá vàng,
NHNNVN quyết định can thiệp trực tiếp và mạnh tay vào tỷ giá khi điều chỉnh tỷ
giá bình quân liên ngân hàng tăng 5,44% từ mức 17.034 VND ngày 25/11/2009 lên
17.961 VND/ 1 USD áp dụng cho ngày 26/11/2009; thu hẹp biên độ tỷ giá giao
dịch USD/VND từ mức ±5% xuống mức ±3% và tăng lãi suất cơ bản tiền đồng lên
8%. NHNNVN cũng cam kết hỗ trợ bán ngoại tệ cho các TCTD có trạng thái ngoại
tệ từ âm 5% trở xuống. Với việc triển khai đồng bộ các biện pháp nêu trên, thị
trường ngoại hối Việt Nam đã ổn định trở lại, hiện tượng găm giữ và tích trữ ngoại
tệ đã dần được khắc phục.
Kế thừa những thành tựu đã đạt được trong năm 2009, ngày 10/02/2010,
NHNNVN đã quyết định điều chỉnh tỷ giá bình quân liên ngân hàng, tăng 3,36%
từ 17.961 lên 18.544 VND/ 1USD, theo thông tư số 03/2010/TTNHNN. Sau khi

các quyết định trên được NHNNVN ban hành, diễn biến tỷ giá đã có nhiều tín hiệu
23
đáng mừng khi tỷ giá trên thị trường chính thức duy trì xu hướng ổn định và tỷ giá
tự do đang tiến gần sát với tỷ giá chính thức, thậm chí đã có những thời điểm trong
tháng 4/2010, tỷ giá trên thị trường tự do đã thấp hơn cả tỷ giá của NHNNVN.
Nhằm góp phần kiềm chế nhập siêu, ngày 17/8/2010 Ngân hàng Nhà nước Việt
Nam thực hiện điều chỉnh tỷ giá bình quân liên ngân hàng giữa đồng Việt Nam với
Đô la Mỹ áp dụng cho ngày 18/8/2010 từ mức 18.544 đồng/USD lên mức 18.932
đồng/USD, tăng 2%. Biên độ tỷ giá giữ nguyên ở mức +/-3%. Với những giải pháp
này, thị trường ngoại tệ, thị trường vàng đã từng bước bình ổn, tỷ giá chính thức so
với tỷ giá trên thị trường tự do được thu hẹp, từng bước lành mạnh hóa các giao
dịch vốn trong xã hội.
Từ ngày 11/02/2011, tỷ giá bình quân Liên ngân hàng đã đột ngột tăng từ 1
Đô-la Mỹ = 18.932 Đồng Việt Nam lên 1 Đô-la Mỹ = 20.693 Đồng Việt Nam.
Mức tăng đột biến lên tới 9,3% là mức tăng cao nhất trong những năm gần đây và
đã thu hẹp đáng kể khoảng cách chênh lệch với giá Đô-la Mỹ trên thị trường tự do.
Ngày 12/02, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam tiếp tục điều chỉnh tỷ giá thêm 0,1%
với tỷ giá bình quân liên ngân hàng nay là 20.713 VND ăn 1 USD.
d, Nghiệp vụ thị trường mở
NVTTM là một công cụ tiền tệ gián tiếp được NHNNVN đưa vào sử dụng từ
tháng 7/2000, đây là bước chuyển biến căn bản tạo nền tảng để NHNNVN chuyển
điều hành từ công cụ tiền tệ trực tiếp sang công cụ tiền tệ gián tiếp nhằm điều tiết
vốn khả dụng và lãi suất thị trường có hiệu quả hơn. Từ tháng 7/2000 đến nay,
NVTTM không ngừng được hoàn thiện: để hỗ trợ kịp thời vốn khả dụng cho các
TCTD và ổn định thị trường tiền tệ, NHNNVN đã tăng định kỳ giao dịch các phiên
NVTTM từ 3phiên/tuần năm 2004 và từ năm 2007 thực hiện nghiệp vụ giao dịch
thị trường mở hàng ngày, đặc biệt mới đây tháng 4/2010, NHNNVN đã tăng thêm
phiên giao dịch buổi chiều trên thị trường mở thay vì chỉ một phiên buổi sáng,
trong đó phiên giao dịch buổi sáng cho kỳ hạn 28 ngày và phiên giao buổi chiều
cho kỳ hạn 7 ngày. Năm 2008 Sở Giao dịch NHNNVN đã tổ chức 402 phiên giao

dịch TTM, tăng 47 phiên so với năm 2007. Mua giấy tờ có giá chiếm đến 64,67%
tổng phiên giao dịch với doanh số trúng thầu chiếm 91,42%. Không chỉ tăng số
24
phiên giao dịch, doanh số giao dịch cũng tăng kỷ lục so với năm 2007, trong đó
chủ yếu là giao dịch mua có kỳ hạn (tăng gấp 15 lần so với năm 2007). Trong khi
đó, giao dịch bán hẳn chỉ còn 76.837 tỷ đồng, giảm 4,6 lần so với 2007.
NVTTM được NHNNVN điều hành linh hoạt, phối hợp chặt chẽ với các công
cụ CSTT khác để điều tiết vốn khả dụng cho các TCTD ở mức hợp lí, góp phần ổn
định thị trường tiền tệ. Ví dụ như năm 2008, đối mặt với diễn biến kinh tế bất
thường: lạm phát ở mức 19,98% nhưng tốc độ tăng có xu hướng giảm từ tháng 7
và chuyển sang âm trong tháng 10, tháng 11, NHNNVN đã kết hợp linh hoạt, hiệu
quả NVTTM với các công cụ khác của CSTT, góp phần kiềm chế lạm phát. Kết
quả giao dịch NVTTM năm 2008 như sau:
Bảng 2.4: Kết quả giao dịch nghiệp vụ thị trường mở năm 2008
Loại giao
dịch
Tổng số
dự kiến
Khối lượng
đăng ký
Khối lượng
trúng thầu
Lãi suất trúng
thầu bình
quân (%/năm)
Mua có kỳ
hạn (260
phiên)
979.800 3.883.098 947.205 12,92
Bán hẳn

(133 phiên)
368.000 135.553 76.837 4,6
Bán có kỳ hạn
(9 phiên)
12.022 12.022 12.022 14,91
Tổng số 1.359.822 1.030.673 1.036.066
Nguồn: Tổng cục Thống kê
Năm 2008, NVTTM đảo chiều so với năm 2007 với tổng số phiên giao dịch là
402 phiên, tăng 47 phiên so với năm 2007; doanh số giao dịch đạt 1.036.066 tỷ
đồng, tăng 148% so với năm 2007, trong đó doanh số mua chiếm 91,42% và gấp
15 lần so với năm 2007, doanh số bán giảm 4,6%. Đặc biệt, mức lãi suất đặt thầu
trong một số phiên mua kỳ hạn trong quý I/2008 ở mức rất cao, có lúc lên tới
40%/năm vì vậy NHNNVN đã áp dụng phương thức đấu thầu khối lượng, lãi suất
thống nhất cho tất cả các kỳ hạn giao dịch (từ 9-15%/năm) để ổn định lãi suất thị
trường. Diễn biến này phản ánh những biến động bất thường của thị trường tiền tệ
năm 2008 và khó khăn về thanh khoản của các TCTD.
25

×