Tải bản đầy đủ (.doc) (42 trang)

Tình hình quản lý và sử dụng vốn tại Công ty xây dựng Công trình giao thông 1

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (303.25 KB, 42 trang )

LỜI MỞ ĐẦU
Để thực hiện mục tiêu công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước, đưa đất nước đi
lên một cách nhanh chóng và có hiệu quả thì đi đôi với việc ổn định chính trị, nâng cấp
cơ sở hạ tầng... Đòi hỏi nhất thiết phải đầu tư vào kinh tế và nhất là doanh nghiệp với
doanh nghiệp Nhà nước là chu đáo để thực hiện vai trò này, trong những năm qua chính
phủ và các cơ quan chức năng đã đánh giá lại, bán khoán và cho thuê những doanh
nghiệp Nhà nước yếu kém. Thực hiện triệt để nguyên tắc hạch toán kế toán. đã tiến hành
sản xuất kinh doanh thì mỗi doanh nghiệp nhất thiết phải có một số lượng vốn nhất định
và quan trọng hơn là phải quản lý và sử dụng nó như thế nào để đem lại hiệu quả kinh
tế. Vốn là sự sống còn của doanh nghiệp, là cơ sở để xác định chỗ đứng của doanh
nghiệp trên thị trường, vì vậy mọi doanh nghiệp phải có nhiệm vụ huy động, tổ chức và
sử dụng các nguồn vốn phục vụ yêu cầu của quá trình sản xuất kinh doanh một cách
hiệu quả nhất.
Trên cơ sở tái thiết đất nức, đưa đất nước tiến vào tương lai thì xây dựng các
công trình giao thông nói riêng và cơ sở hạ tầng nói chung phải được đầu tư trước tiên,
từ đó nẩy sinh một vấn đề tất yếu khách quan là khi nhu cầu xây dựng càng lớn thì nhu
cầu về nguyên vật liệu .... càng lớn và dễ đáp ứng được các nhu cầu đó thì nhu cầu về
vốn lại càng lớn. Đây là một trong những thách thức mà ngành giao thông vận tải phải
đương đầu.
Xuất phát từ nhận thức về vai trò của vốn và tầm quan trọng của việc quản lý và
sử dụng vốn. Sau khi thực tập tại: Tổng Công ty xây dựng Công ty giao thông I . Tôi đã
chọn đề tài."Tình hình quản lý và sử dụng vốn tại Công ty xây dựng Công trình
giao thông I" để nghiên cứu.
Ngoài lời mở đầu, mục lục và kết luận, chuyên đề gồm có 3 phần:
Ph ần I : Cơ sở lý luận chung về vốn
Ph ần II : Phân tích tìn hình quản lý và sử dụng vốn tại tại Tổng Công ty
xây dựng công trình giao thông I
Ph ần III : Một số giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả quản lý
và sử dụng vốn
1
P HẦN I : CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ VỐN


I – KHÁI NIỆM VÀ VAI TRÒ CỦA VỐN TRONG QUÁ TRÌNH SẢN XUẤT
KINH DOANH
Tất cả các yếu tố trên thị trường quyết định tới hành vi của doanh nghiệp và mọi
quyết định của doanh nghiệp về các vấn đề như sản phẩm, tài chính, sản xuất, dự trữ
tiêu thụ... đều có ý nghĩa và có tác động trực tiếp tới doanh nghiệp. Ngoài ra cơ chế
pháp lý cũng là một trong những yếu tố có tác động gián tiếp tới doanh nghiệp. Doanh
nghiệp hoạt động trong nền kinh tế thị trường có sự điều tiết của nhà nước thì phải tuân
thủ theo sự quản lý vĩ mô của nhà nước và theo quy định của pháp luật cho nên trước
khi tiến hành một hoạt động kinh doanh bất kỳ, doanh nghiệp cần phải có một lượng
vốn nhất định tuỳ thuộc vào loại hình kinh doanh mà lượng vốn yêu cầu nhiều hay ít. Và
việc tìm hiểu các khái niệm về vốn và vai trò của nó là hết sức cần thiết.
1 – Khái niệm:
Vốn là một khái niệm chung của nền kinh tế hàng hoá, vốn trong doanh nghiệp
được hiểu là giá trị bằng tiền của toàn bộ tài sản của doanh nghiệp dùng trong hoạt động
sản xuất kinh doanh nhằm mục đích sinh lợi nhuận.
* Vốn luôn tồn tại dưới hai hình thức là giá trị và hiện vật.
- Về mặt giá trị: Vốn của doanh nghiệp là toàn bộ tài sản của doanh nghiệp, vốn
được biểu hiện bằng một lượng tiền nhất định nhưng lượng tiền đó phải được vận động
với mục đích sinh lợi.
- Về mặt hiện vật: Hình thái vật chất được biểu hiện ra bên ngoài của vốn là các máy
móc, thiết bị, nguyên vật liệu, hàng hoá,phương tiện vận tải, vật kiến trúc…
* Quá trình tuần hoàn của vốn.
Trong quá trình sản xuất kinh doanh, vốn thường xuyên vận động và thay đổi
hình thái biểu hiện bên ngoài của chúng theo từng giai đoạn của quá trình sản xuất kinh
doanh để hoàn thành vòng tuần hoàn. Trong quá trình vận động vốn bằng hình thái tiền
tệ, ra đi rồi trở về điểm xuất phát của nó và lớn lên về mặt giá trị sau mỗi chu kỳ vận
động.
- Trên thực tế có ba phương thức vận động của vốn trong các doanh nghiệp thương
mại. Trong các doanh nghiệp thương mại vốn được chu chuyển qua hai giai đoạn.
Ở giai đoạn I là giai đoạn mua hàng hoá, tức là biến tiền tệ thành hàng hoá và ở

giai đoạn II hàng hoá được bán ra, tức là biến hàng hoá thành tiền tệ. Theo phương thức
vận động này hàng hoá mua vào không phải để doanh nghiệp sử dụng sản xuất mà bán
để kiếm lợi.
2
Đây là phương thức vận động của vốn trong các doanh nghiệp sản xuất. ở giai đoạn I
doanh nghiệp bỏ vốn dưới hình thái tiền tệ để thực hiện các chức năng mua yếu tố sản
xuất ( tư liệu sản xuất, sức lao động). Giai đoạn II vốn tồn tại dưới hình thái vốn sản
xuất tạo ra giá trị thặng dư. Giai đoạn III thực hiện chức năng biến thành phẩm, hàng
hoá trở lại hình thái tiền tệ ban đầu.
2 – Vai trò của vốn trong quá trình sản xuất kinh doanh:
Kinh doanh là hoạt động kiếm lời và lợi nhuận là mục tiêu hàng đầu của
mọi doanh nghiệp. Bất kỳ một doanh nghiệp nào muốn tiến hành sản xuất kinh doanh
thì vấn đề đặt ra đối với doanh nghiệp đó là phải có một số lượng vốn nhất định. Vốn
kết hợp với các yếu tố đầu vào khác của quá trình sản xuất ( lao động, tài nguyên thiên
nhiên, kỷ thuật) để thực hiện quá trình sản xuất kinh doanh nhằm mục đích sinh lợi
nhuận. Vốn là điều kiện tất yếu hàng đầu để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh,
vốn có vai trò quyết định việc ra đời, tồn tại và phát triển hay phá sản của doanh nghiệp.
Lượng vốn quyết định quy mô sản xuất của doanh nghiệp. Doanh nghiệp nào có lượng
vốn lớn thì sẽ tổ chức hoạt động sản xuất kinh doanh với quy mô lớn và ngược lại lượng
vốn ít thì quy mô kinh doanh nhỏ, không có vốn thì không thể tiến hành hoạt động sản
xuất kinh doanh.
Với tầm quan trọng đó, doanh nghiệp muốn đạt được mục tiêu tồn tại, phát triển
trên thương trường thì vấn đề cấp bách đặt ra đối với doanh nghiệp là phải huy động
vốn, tạo được nguồn vốn để đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh được thuận lợi.
Mặt khác, doanh nghiệp cũng phải quản lý chặt chẽ nhằm chống thất thoát vốn, tránh bị
chiếm dụng vốn đồng thời sử dụng mọi biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn.
II –PHÂN LOẠI VỐN.
1.Căn cứ vài hình thái biểu hiện:
Vốn được chia làm hai loại: Vốn hữu hình và vốn vô hình
-Vốn hữu hình: bao gồm giá trị của những tài sản cố định hữu hình (Nguyên

vật liệu; nhà cửa vật kiến trúc; máy móc, thiết bị…) tiền và các giấy tờ có giá trị khác.
-Vốn vô hình: bao gồm giá trị của những tài sản vô hình (Quyền sử dụnh đất,
vị trí cửa hàng, bằng phát minh sáng chế, nhãn hiệu…).
2.Căn cứ vào nội dung vật chất
Vốn được chia làm hai loại: Vốn thực va vốn tài chính.
3
TLSX

T – H ... SX … H’ – T’
SLĐ
-Vốn thực: là toàn bộ giá trị của vật tư hàng hoá phục vụ cho sản xuất và cung
ứng dịch vụ như: máy móc, thiết bị; nhà xưởng đường sá … phần vốn này phản ánh
hình thái vật thể của vốn, nó tham gia trực tiếp vào hoạt động sản xuất kinh doanh.
-Vốn tài chính: biểu hiện giá trị dưới hình thía tiền tệ, chứng khoán và các giấy
tờ có giá trị khác dùng cho việc mua tài sản, máy móc và những tài nhuyên khác. Phần
vốn này phản ánh về phương diện tài chính của vốn, nó tham gia gián tiếp vào hoạt
động sản xuất kinh doanh thông qua các hoạt động đầu tư.
3. Căn cứ theo quy định của pháp luật.
Vốn được chia làm hai loại: Vốn pháp định và vốn điều lệ
- Vốn pháp định: Là mức vốn tối thiểu phải có để thành lập doanh nghiệp do
pháp luật quy định đối với từng loại hình doanh nghiệp, ngành nghề, lĩnh vực kinh
doanh, dưới mức vốn pháp định thì không đủ điều kiện để thành lập doanh nghiệp.
-Vốn điều lệ: là số vốn do các thành viên đóng góp thực tếvà được ghi vào
điều lệ của doanh nghiệp. Tuỳ theo từng ngành nghề, hình thức sở hữu, vốn điều lệ
không được thấp hơn vốn pháp định.
4. Căn cứ vào nguồn hình thành vốn.
Vốn được chia thành.
-Vốn đầu tư ban đầu: là số vốn bắt buộc phải có khi đăng ký kinh doanh thành
lập doanh nghiệp.
Đối với công ty trách nhiệm hữu hạn: Phần này là phần vốn đonh góp của tất

cả các thành viên khi thành lập công ty.
Đối với công ty cổ phần: Phần vốn này được biểu hiện dưới hình thức vốn cổ
phần, vốn cổ phần này do những người sáng lập công ty cổ phần phát hành cổ phiếu để
huy động vốn thông qua hình thức bán cổ phiếu.
Đối với doanh nghiệp nhà nước: đây là số vốn ban đầu được nhà nước giao
(Vốn nhân sách nhà nước).
Đối với doanh nghiệp tư nhân: đây là phần vốn do chủ đầu tư hay các hội viên
liên kết cùng nhau bỏ ra hình thành nên doanh nghiệp tư nhân (Vốn tự có).
-Vốn bổ sung: đây là phần vốn do các doanh nghiệp trong qua trình hoạt động
sản xuất kinh doanh tiếp tục bổ sung vào vốn đầu tư ban đầu. Nguồn vốn này co thể
được trích từ lợi nhuận do làm ăn có lãi từ năm trước, do nhà nước bổ sung, do đóng
góp thêm của các thành viên, do phát hành thêm cổ phiếu, trái phiếu.
-Vốn liên doanh: là số vốn do các bên tham gia liên doanh đóng góp để tiến
hành sản xuất kinh doanh một sản phẩm nào đó, hay cung ứng dịch vụ trên thị trường để
nhằm mục đích thu lợi nhuận.
4
-Vốn đi vay: trong qua trình hoạt động sản xuất kinh doanh ngoài nhữnh phần
vốn nói trên doanh nghiệp còn sử dụng một khoản vốn đi vay khá lớn từ các ngân hàng,
các tổ chức tín dụng khác, vay của bạn hàng, vay của người cung cấp…
5.Căn cứ trên giác độ tuần hoàn và chu chuyển của vốn.
Trong quá trình hoạt động kinh doanh, vốn kinh doanh được vận động theo các mức
độ khác nhau. Xét trên giác độ tuần hoàn và chu chuyển vốn, vốn được chia thành hai
loại: vốn lưu động và vốn cố định. Việc phân loại vốn theo cách này có ý nghĩa quan
trọng nhất trong việc phân tích và đánh giá hiêụ quả sử dụng vốn.
5.1.Vốn lưu động.
a. Định nghĩa.
Vốn lưu động của doanh nghiệp là số tiền doanh nghiệp ứng trước về tài sản
lưu động ( bao gồm: tài sản lưu động trong sản xuất và tài sản lưu động trong lưu
thông ) nhằm đảm bảo cho qua trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được tiến
hành thường xuyên liên tục.

Tài sản lưu động của doanh nghiệp là những tài sản thuộc quyền sở hữu của
doanh nghiệp có thời hạn sử dụng, luân chuyển thu hồi vốn trong vong một chu kỳ kinh
doanh. Tài sản lưu động của doanh nghiệp có thể tồn tại dưới hình thái tiền tệ, hiện vật (
vật tư, hàng hoá) hoặc dưới dạng các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn ( cổ phiếu, trái
phiếu) và các khoản nợ phải thu.
b. Đặc điểm của vốn lưu động.
Đặc điểm của tài sản lưu động là bao gồm nhiều loại, tồn tại ở nhiều khâu và biến
động rất nhanh nhằm đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh được tiến hành liên tục, thuận
lợi. Do vậy vốn lưu động luôn được chuyển hoáliên tục qua nhiều hình thái khác nhau,
bắt đầu tư hình thái tiền tệ sang hình thái vật tư, hàng hoá và cuối cùng lại trở lại hình
thái tiền tệ ban đầu của nó.Quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp diễn ra liên
tục cho nên vốn lưu động cũng động không ngừng và có tính chất chu kỳ.
-Vốn lưu động luôn luân chuyển toàn bộ giá trị ngay trong một lần vận động
và hoàn thành một vòng tuần hoàn sau mỗi chu kỳ sản xuất và không giữ nguyên hình
thái vật chất ban đầu.
-Vốn lưu động vận động nhanh hay chậm phụ thuộc rất nhiều vào việc xác
định nhu cầu thường xuyên, tối thiểu về vốn lưu độnh, thời gian nằm trong các khâu của
quá trình sản xuất và lưu thônh có hợp lý hay không, số lượng vật tư hàng hoá được sử
dụng tiết kiệm hay không.
Do những đặc điểm trên đây việc quản lý và sử dụng tài sản lưu động , vốn
lưu động sẽ có ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả của quá trình kinh doanh của doanh
nghiệp.Các doanh nghiệp phải áp dụng những biện pháp tối ưu để quản lý chặt chẽ,
nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động nói riêng và vốn kinh doanh nói chung.
5
c. Thành phần của vốn lưu động.
Dựa theo vai trò của vốn lưu độngtrong quá trình sản xuât vốn lưu động được
chia làm hai loại, trong mỗi loại dựa theo công dụng của chúng người ta chia chúng
thành nhiều loại vốn nhỏ như sau:
* Vốn lưu động trong sản xuất: bao gồm vốn lưu động trong quá trình dự trữ sản
xuất và vốn lưu động nằm trong quá trình sản xuất trực tiếp.

+ Vốn lưu động trong quá trình dự trữ sản xuất :
Loại này bao gồm các khoản vốn sau:
- Vốn nguyên vật liệu chính: là số tiền biểu hiện giá trị của các loại nguyên vật
liệu chính dự trữ cho sản xuất. Nguyên vật liệu chính là các loại nguyên vật liệu khi
tham gia vào quá trình sản xuất nó cấu thành nên thực thể vật chất của sản phẩm.
- Vốn vật liệu phụ: là giá trị những loại vật tư dự trữ dùng trong sản xuất, khi
tham gia vào quá trình sản xuất tạo sản phẩm vật liệu phụ tác động đồng thời cùng với
nguyên vật liệu chính nhưng không xuất hiện trên hình thái của sản phẩm.
- Vốn nhiên liệu: là giá trị của những loại nhiên liệu mà doanh nghiệp dự trữ
dùng trong sản xuất. Nhiên liệu là những vật liệu có tác dụng cung cấp nhiệt lượng cho
quá trình sản xuất.
- Vốn phụ tùng thay thế: bao gồm giá trịnhững phụ tùng dự trữ để sửa chữa, thay
thế cho tài sản cố định.
- Vốn vật liệu xây dựng cơ bản: bao gồm giá trị của các loại thiết bị mà doanh
nghiệp dự trữ dùng trong công việc xây dựng cơ bản.
- Vốn vật liệu bao bì đóng gói: bao gồm giá trị những vật liệu bao bì dùng để
dóng gói trong quá trình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm.
- Vốn công cụ, dụng cụ(Vốn công cụ lao động nhỏ) bao gồm giá trị những tư
liệu lao động có giá trị thấp và thời gian sử dụng ngắn hơn so với tài sản cố định.
* Vốn lưu động nằm trong quá trình sản xuất trực tiếp:
Loại này bao gồm các khoản vốn sau:
- Vốn sản phẩm dở dang: là giá trị của những sản phẩm dở dang trong quá trình
sản xuất. Sản phẩm dở dang là những sản phẩm chưa kết thúc các giai đoạn của quá
trình chế biến hiện đang còn tồn tại trên các công đoạn của quá trình chế biến để chờ
đợi chế biến tiếp.
- Vốn bán thành phẩm tự chế: loại này bao gồm giá trị những sản phẩm dở dang
đã hoan thành những công đoạn gia công chế biến nhất định.
- Vốn về chi phí chờ kết chuyển (chi phí đợi phân bố) là giá trị những khoản chi
phí mà doanh nghiệp đã chi ra trong kỳ nhưng có liên quan, có tác dụng đến niều kỳ sản
6

xuất sau vì vậy nó chưa được tính hết vào giá thành sản phẩm sản xuâts ra trong kỳ mà
nó sẽ được tính dần tiếp vào sản phẩm của các kỳ tiếp theo.
* Vốn lưu động trong quá trình lưu thông:
Loại này bao gồm những loại sau:
- Vốn thành phẩm: biểu hiện bằng giá trị của số sản phẩm đã kết thúc quá trình
chế biến, đã được kiểm nghiệm phù hợp với tiêu chuẩn kỹ thuật và đã nhập kho để
chuẩn bị cho quá trình tiêu thụ.
- Vốn tiền tệ: bao gồm tiền mặt tồn quỹ, tiền gửi ngân hàng, tiền đang chuyển.
Trong quá trình luân chuyển, vốn lưu động thường xuyên có một bộ phận tồn tại dưới
hình thái tiền tệ.
- Vốn thanh toán: bao gồm những khoản phải thu, các khoản tạm ứng phát sinh
trong quá trình mua bán vật tư, tiêu thụ sản phẩm.
- Việc xác định thành phần cơ cấu vốn lưu động theo vai trò của nó trong quá trình
sản xuất là ddiều rất cần thiết đối với các nhà quản lý nó giúp cho các nhà quản lý đề ra
các biện pháp thích hợp trong việc quản lý vốn lưu động, nâng cao hiệu quả sử dụng
vốn lưu động thông qua việc quản lý tốt quá trình mua sắm, dự trữ vật tư, quá trình sản
xuất và quá trình tiêu thụ sản phẩm.
5.2. Vốn cố định.
a. Định nghĩa vốn cố định.
Vốn cố định của doanh nghiệp là bộ phận của vốn đầu tư ứng trước về tài sản cố
định, mà đặc điểm của nó là luân chuyển dần dần từng phần trong nhiều chu kỳ sản xuất
kinh doanh voàn thành một vòng luân chuyển khi tài sản cố định hết thời gian sử dụng.
Vì vốn cố định là khoản vốn đầu tư ứng trước về tài sản cố định vì vậy việc
nghiên cứu vốn cố định trước hết phải nghiên cưu tính chất và đặc điểm của tài sản cố
định trong doanh nghiệp. Tài sản cố định của doanh nghiệp là những tư liệu lao động
chủ yếu có đặc điểm nổi bật là tham gia và nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh. Trong quá
trình đó , giá trị của tài sản cố định không bị tiêu hao hoàn toàn trong lần sử dụng đầu
tiên mà nó được chuyênr dịch dần dần từng phần vào giá thành sản phẩm của các chu kỳ
sản xuất tiếp theo.
b. Đặc điểm của vốn cố định trong các doanh nghiệp.

Vì vốn cố định là khoản vốn ứng trước để mua sắm tài sản cố định cho nên đặc
điểm vận động của tài sản định sẽ quyết định đặc điểm vận động của vốn cố định. Dựa
trên mối liên hệ đó có thể khái quát đặc điểm của vốn cố định qua một số nét sau:
- Vốn cố định tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh, đặc điểm này là do tài
sản cố định có thể phát huy tác dụng trong nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh. Vì vậy
7
vốn cố định ( Hình thái biểu hiện bằng tiền của tài sản cố định) cũng tham gia được vào
nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh tương ứng với tài sản cố định.
- Vốn cố định được luân chuyển từng phần : Khi tham gia vào quá trình sản xuất ,
giá trị sử dụng của tài sản cố định giảm dần, cũng trong quá trình đó vốn cố định cũng
được tách làm hai phần: một phần sẽ gia nhập vào giá thành sản phẩm dưới hình thức
khấu hao tài sản cố định. Phần còn lại vốn cố định được “cố định” trong nó.
Trong các chu kỳ sản xuất tiếp theo phần vốn cố định tiếp tục được luân chuyển vào
giá thành sản phẩm sản xuất trong kỳ và phần vốn “cố định” lại dần dần giảm đi tương
ứng với quá trìng giảm dần của tài sản cố định. Khi kết thúc sự biến thiên ngược chiều
dó cũng là lúc tài sản cố định hết thời gian sử dụng vốn cố định cũng hoàn thành một
vòng luân chuyển.
Như vậy trong quá trình sản xuất, vốn cố định được luân chuyển dần từng phần vì
vậy phải sau một thời gian dài vốn cố định mới hoàn thành được vong luân chuyển.
Vốn cố định có vai trò cực kỳ quan trọng trong doanh nghiệp, quy mô của vốn cố
định quyết định quy mô sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, quyết định đến trình độ
trang thiết bị, công nghệ kỹ thuật của doanh nghiệp.Với những đặc điểm vận động theo
quy luật riêng khác với vốn lưu động, vốn cố định giữ một vị trí then chốt trong quá
trình sản xuất. Vì vậy, việc quản lý và sử dụng vốn cố định được coi là trọng điểm của
công tác tài chính doanh nghiệp.
c. Phân loại và kết cấu vốn cố định.
Để quản lý sử dụng vốncố định một cách có hiệu quả cao thì việc cần thiết là
phải nghiên cứu cách phân loại và kết cấu của vốn cố định. Việc nghiên cứu cách phân
loại và kết cấu của vốn cố định được tiến hành trên cơ sở được phân loại và kết cấu của
tài sản cố định.

• Phân loại tài sản cố định theo hình thái biểu hiện : theo phương pháp này toàn
bộ tài sản cố định của doanh nghiêp được chia thành 2 loại:
- Tài sản cố định hữu hình: là những tư liệu lao độnh chủ yếu của doanh nghiệp
có đặc điểm nổi bật là có giá trị lớn, tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh,
giữ nguyên được hình thái bên ngoài cho đến khi huỷ bỏ không còn giá trị sử dụng. Loại
này gồm: đất, nhà cửa, vật kiến trúc; máy móc, thiết bị; phương tiện vận tải truyền
dẫn…
- Tài sản cố định vô hình: là những tài sản cố định không có hình thái vật chất cụ
thể, nó thể hiện một lượng giá trị đã được đầu tư, đã chi phí nhằm có được các lợi ích
hoặc các nguồn có tính chất kinh tế mà chúng xuất phát từ đặc quyền, đặc lợi của doanh
nghiệp.
Tài sản cố định của doanh nghiệp thuộc loại này gồm có: quyền sử dụng đất; chi
phí thành lập, chuẩn bị sản xuất; bằng phát minh, sáng chế…
8
Phương pháp phân loại tài sản cố định trên đây giúp cho nhà quản lý có một
cách nhìn tổng về cơ cấu đầu tư của doanh nghiệp. Đây là một căn cứ quan trọng để các
nhà quản trị đưa ra các quyết định, chiến lược đầu tư hoặc điều chỉnh đầu tư cho phù
hợp với tình hình thực tế. Mặt khác, cũng nhờ phương pháp phân loại này mà các nhà
quản trị có thể đề ra các biện pháp quản lý tài sản cố định, tính khấu hao, sử dụng vốn
cố định chính xác, hợp lý và có hiệu quả cao hơn.
• Phân loại tài sản cố định theo công dụng kinh tế:
Dựa theo cách phân loại này toàn bộ tài sản cố định của doanh nghiệp sẽ được
chia làm 2 loại:
- Tài sản cố định dùng trong sản xuất kinh doanh cơ bản: l à những tài sản cố
định hữu hìnhvà vô hình tham gia trực tiếp vào quá trình sản xuất kinh doanh cơ bản của
đơn vị.
- Tài sản cố định dùng ngoài sản xuất kinh doanh cơ bản: thuộc loại này bao gồm
những tài sản dùng cho quá trình sản xuất kinh doanh phụ trợ như : nhà cửa; máy móc,
thiết bị dùng trong sản xuất kinh doanh phụ trợ, các công trình phúc lợi công cộng, tài
sản cố định cho thuê…

Phân loại tài sản cố định theo công dụng kinh tế giúp cho nhà quản lý thấy được
kết cấu tài sản , nắm được trình độ thiết bị tạo điều kiện thuận lợi cho việc quản lý tài
sản, tính khấu hao chính xác.
• Phân loại tài sản cố định theo tình hinh sử dụng:
Căn cứ vào tình hình sử dụng của tài sản cố định trong từng thời kỳ. Tài sản cố
định được phân chia làm 3 loại:
- Tài sản cố định đang dùng.
- Tài sản cố định chưa cần dùng.
- Tài sản cố định không cần dùng và chờ thanh lý.
Dựa theo cách phân loại này nhà quản lý có thể biết tình hình sử dụng của tài sản
cố định vèe số lượng và giá trị, giúp cho nhà quản lý đề ra phương hướng phát huy năng
lực sản xuất.
III. CÁC CHỈ TIÊU ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN
Hiệu quả là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các nguồn nhân tài,
vật lực của doanh nghiệp để đạt được kết quả cao nhất với tổng mức chi phí ở mức thấp
nhất. Trong kinh doanh thì hiệu quả là một vấn đề có ý nghĩa then chốt , gắn liền với sự
tồn tại , phát triển hay phá sản của doanh nghiệp. Vì vậy phân tích hiệu quả sử dụng vốn
trong doanh nghiệp để có cơ sở đánh giá chất lượng về mặt quản lý và hiệu quả sử dụng
vốn của doanh nghiệp đồng thời giúp cho nhà quản lý đề ra các kế hoạch chiến lược
nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn.
9
1.Phân tích khả năng sinh lợi của vốn:
Phân tích khả năng sinh lợi của vốn là một trong những nội dung phân tích quan
trọng được các nhà đầu tư, các nhà tín dụng đặc biệt quan tâm vì nó gắn chặt với lợi ích
của họ cả về hiện tại và trong tương lai. Khả năng sinh lợi của vốn được phản áng khái
quát thông qua các chỉ tiêu sau:
a.Hệ số doanh lợi của vốn kinh doanh:
Hệ số doanh lợi vốn
kinh doanh
= Lợi nhuận vốn kinh doanh

Trong đó: +Lợi nhuận: có thể là lợi nhuận trước thuế, lợi nhuận sau thuế, lợi tức
gộp.
+Vốn kinh doanh: có thể là tổng số nguồn vốn, nguồn vốn chủ sở hữu, vốn vay.
Chỉ tiêu này cho biết một đồng vốn sử dụng vào kinh doanh đem lại mấy đồng
lợi nhuận. Chỉ tiêu này càng lớn chứng tỏ hiệu quả việc sử dụng vốn kinh doanh của
doanh nghiệp càng cao và ngược lại.
b. Đánh giá khả năng sinh lời của vốn chủ sở hữu:
Hệ số doanh lợi của vốn
chủ sở hữu
=
Lãi ròng trước thuế
Vốn chủ sở hữu
= Doanh thu thuần vốn
chủ sở hữu
*
Lãi ròng trước thuế
Doanh thu thuần
= Hệ số quay vòng của
vốn chủ sở hữu
*
Hệ số doanh lợi
Doanh thu thuần
* Hệ số doanh lợi của vốn chủ sở hữu chịu ảnh hưởng của hai nhân tố:
- Thứ nhất: “Hệ số quay vòng của vốn chủ sở hữu” nhân tố này phản ánh trong kỳ
kinh doanh vốn chủ sở hữu quay được mấy vòng. Số vòng quay của vốn chủ sở hữu
càng cao thì hệ số doanh lợi của vốn chủ sở hữu càng cao và ngược lại.
- Thứ hai: “ Hệ số doanh lợi doanh thu thuần” hệ số này cho biết trong 1 đồng
doanh thu thuần có mấy đồng lãi ròng trước thuế. Số lãi trong 1 đồng doanh thu thuần
càng cao thì khả năng sinh lợi của vốn chủ sở hữu càng lớn và ngược lại.
2 Phân tích hiệu quả sử dụng vốn cố định

Để kiểm tra xem xét tính hiệu quả về mặt sử dụng cố định của các doanh nghiệp,
người ta thưòng dùng một số hệ thống các chỉ tiêu, bao gồm các chỉ tiêu tổng hợp và các
chỉ tiêu phân tích sau:
a. hiệu suất sử dụng vốn cố định.
10
Hiệu suất sử dụng
vốn cố định
=
Doanh thu tiêu thụ sản phẩm trong kỳ
Số dư bình quân vốn cố định trong kỳ
Trong đó:
- Số dư bình quân vốn cố định trong kỳ: là số bình quân giữa giá trị còn lại của tài
sản cố định đầu kỳ và cuối kỳ .
chỉ tiểu này phản ánh cứ 1 đồng vốn cố định có thể tham gia tạo ra bao nhiêu đồng
doanh thu tiêu thụ sản phẩm
b. Hệ số hàm lượng vốn cố định:
Hàm lượng vốn cố định =
Số dư bình quân vốn cố định trong kỳ
Doanh thu tiêu thụ sản phẩm trong kỳ
Hệ số hàm lượng vốn cố định (Hês suất hao phí vốn cố định) cho biết số kượn
vốn cố định cần thiết để tạo ra 1 đồng doanh thu tiêu thụ sản phẩm trong kỳ.Hệ số này
càng thấp chứng tỏ doanh nghiệp sử dụng vốn cố định càng hiệu quả.
c. Hệ số hiệu quả sử dụng vốn định.
Hiệu quả
sử dụng vốn cố định
=
Lợi nhuận ròng trong kỳ
Số dư bình quân vốn cố định trong kỳ
Chi tiêu này cho biết cứ 1 đồng vốn cố đinh bình quân trong kỳ tạo ra bao nhiêu
đồng lợi nhuận ròng.

3. Phân tích hiệu quả sử dụng vốn lưu động.
Trong nền kinh tế thị trường thì mục tiêu chủ yếu cuối cùng của doanh nghiệp là
đạt được lợi nhuận tối đa. Để đạt được mục tiêu đó ngoài việc doanh nghiệp phải quản
lý và sử dụng hiệu quả vốn cố định, doanh nghiệp phải hết sức quan tâm đến vấn đề
quản lý và sử dụng hiệu quả của vốn lưu động, góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn
nói chung. Việc sử dụng vốn lưu động có hiệu quả hay không được phản ánh khái quát
qua một số chiêu như: tốc độ lưu chuyển vốn lưu động , sức sản suất của vốn lưu động ,
sức sinh lời của vốn lưu động.
a. Sức sản xuất của vốn lưu động .
Sức sản xuất
của vốn lưu động
=
Tổng doanh thu thuần
Vốn lưu động bình quân trong kỳ
Chi tiêu này cho biết cứ 1 đồng vốn lưu động bình quân trong kỳ đem lại bao
nhiêu đồng doanh thu thuần .
11
b. Sức sinh lời của vốn lưu động :
Sức sinh lợi
Của vốn lưu động
=
Lợi nhuận thuần
Vốn lưu động bình quân trong kỳ
Chi tiêu này cho biết cứ 1 đồng vốn lưu động bình quân trong kỳ tạo ra mấy đồng lợi
nhuận thuần,.
c. Tốc độ luân chuyển của vốn .

Trong quá trình sản xuất kinh doanh, vốn lưu động vận động không ngừng thường
xuyên thay đổi hình thái qua các giai đoạn của quá trình tái sản xuất ( dự trữ - sản xuất –
tiêu thụ ). Tốc độ kuân chuyển vốn lưu động noi lên hiệu suất sử dụng vốn lưu động cao

hay thấp . Trong quản lý vốn lưu động, vấn đề có ý nghĩa then chốt ở đây là phải đẩy
nhanhatốc độ luân chuyển của vốn lưu động để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động
.
Số vòng quay của vốn
lưu động
=
Tổng doanh thu thuần
Vốn lưu động bình quân trong kỳ
Chi tiêu số vòng luân chuyển của vốn lưu động ( Hệ số luân chuyển vốn lưu động )
cho biết vốn lưu động quay mấy vòng trong một kỳ. Nếu số vòng quay của vốn lưư
động tăng điều đó chuéng tỏ hiệu quả sử dụng vốn lưu động tăng lên và ngược lại.
Thời gian của một vòng
luân chuyển
=
Thời gian kỳ phân tích
Số vòng quay của vốn lưu động trong kỳ
Chi tiêu này cho thấy số ngày cần thiết để cho vốn lưu động quay được 1 vòng .
Thời gian của một vòng luân chuyển vốn lưu động càng thấp thì tốc độ luân chuyển vốn
lưu động càng lớn.
d. Hệ số đảm nhiệm của vốn lưu động:
Hệ số đảm nhiệm của vốn
lưu động
=
Vốn lưu động binh quân trong kỳ
Tổng số doanh thu thuần
12
Hệ số đam nhiêm của vốn lưu động (suất hao phí vốn lưu đông ) cho biết để đạt được 1
doanh thu trong kỳ vần bao nhiêu đồng vốn lưu động . Hệ số này càng nhỏ chứng tỏ
hiệu quả sử dụng vốn càng cao, số vốn tiết kiêm được càng nhiều.
PHẦN II : PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG VỐN TẠI TỔNG

CÔNG TY XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH GIAO THÔNG I
I – VÀI NÉT KHÁI QUÁT VỀ TỔNG CÔNG TY
1- Lịch sử hình thành và phát triển.
Tổng công ty xây dựng công trình giao thông 1 là một doanh nghiệp Nhà
nước, thành lập ngày 03 tháng 08 năm 1964, trực thuộc Bộ giao thông vận tải. Là một
Tổng công ty được thành lập theo quyết định 90 QĐ\TTg, Tổng công ty xây dựng công
trình giao thông 1 là sự hợp thành của nhiều công ty, xí nghiệp, công trường giao thông
vận tải vốn đã có truyền thống từ những năm 1950-1960.
Do phát triển nhanh chóng nên từ những năm đầu của thập kỷ 70, Tổng công
ty đã được giao thi công, xây dựng nhiều công trình cầu đường bộ, đường sắt, nhà máy,
đóng mới và sửa chữa tàu biển, nhà đân dụng... trên khắp mọi miền đất nước. Trong
thời kỳ này, Tổng công ty xây dựng công trình giao thông 1 đã hợp tác xây dựng với các
nước như: Trung Quốc, Triều Tiên, Liên Xô (cũ), Cu Ba, Đan Mạch, Phần Lan, Lào...
xây dựng được nhiều công trình hạ tầng có quy mô lớn, kỹ thuật cao góp phần tái thiết
đất nước trong giai đoạn 1970-1990.
Từ những năm 1990 trở về đây, Tổng công ty bắt đầu mở rộng phạm vi hoạt
động của mình ra nước ngoài và tham gia đấu thầu quốc tế. Công trình thắng thầu quốc
tế đầu tiên của tổng công ty là dự án cải tạo đường 4, đường 13 Bắc Lào từ Luông
prabăng tới Kasi, với tổng giá trị trên 30 triệu USD. Dự án đã hoàn thành trước thời hạn
01 tháng. Bằng những kinh nghiệm và uy tín của mình, Tổng công ty đã tiếp tục thắng
thầu dự án ADB7, dự án mở rộng nâng cấp đường thủ đô Viên Chăn và dự án ADB8 tại
Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào.
Với số lượng công trình tăng lên hàng năm, Tổng công ty xây dựng công trình
giao thông 1 đã không ngừng lớn mạnh, phát triển với mưc tăng trưởng nhanh, doanh
thu năm sau cao hơn năm trước, trở thành một Tổng công ty mạnh và khẳng định được
vị trí của mình trong ngành Giao thông Vận tải. Hiện nay Tổng công ty đã và đang hợp
tác, liên doanh với các tập đoàn của Nhật, Thái Lan, Hàn Quốc, Hoa Kỳ, Pháp, Đức,
Thuỵ Sỹ...Tham gia đấu thầu và thắng thầu nhiều dự án vốn đầu tư nước ngoài với tổng
giá trị các hợp đồng trên 6000 tỷ VND.
13

2- Những đặc điểm cơ bản của tổng công ty
a- Đặc điẻm ngành nghề kinh doanh
Là một Tổng công ty trực thuộc Bộ Giao thông Vận tải Tổng công ty xây dựng
công trình giao thông 1 gồm có các ngành nghề sản xuất kinh doanh sau:
- Xây dựng mới, cải tạo và nâng cấp đường bộ: Là ngành mũi nhọn chủ yếu của
Tổng công ty. Lực lượng xây dựng đường bộ của Tổng công ty đã không ngừng lớn
mạnh với 10 công ty đã từng thi công nhiều loại đường các cấp khác nhau, từ giản đơn
đến hiện đại (đá dăm nước, bán thấm nhập, láng nhựa, bê tông Asphalt...).
- Xây dựng các công trình cầu: Tổng công ty có lực lượng xây dựng cầu lớn mạnh
tập trung ở hai công ty cầu 12 và cầu 14. Trong 35 năm qua, Tổng công ty đã xây dựng
hanhg trăm cây cầu với tất cả các kết cấu đã có ở Việt Nam, bằng tất cả các giải pháp thi
công hiện có. Một số công trình cầu như: Cầu Chương Dương, cầu Phú Lương, cầu Hoà
Bình, cầu Hoàng Thạch, cầu Quán Toan, cầu Kroong...
- Xây dựng cảng: Trong lĩnh vực xây dựng Cảng, Tổng công ty có công ty xây dựng
công trình thuỷ bao gồm 8 xí nghiệp lớn nhỏ và các chi nhánh trực thuộc tại Đà Nẵng,
Bình Định, Vũng Tàu, và Thành phố Hồ Chí Minh. Ngoài ra các công ty cầu của Tổng
công ty cũng tham gia xây dựng các Cảng lớn của Việt Nam. Trong các năm qua Tổng
công ty xây dựng công trình giao thông 1 đã xây dựng phần lớn các Cảng biển, Cảng
sông, Cảng chuyên dùng cho các ngành công nghiệp quốc phòng, năng lượng, và các
cảng lớn trên toàn quốc.
- Xây dựng công trình đường sắt: Giao thông vận tải bằng đường sắt là một ngành
giao thông chiếm phần quan trọng không nhỏ trong việc giao lưu phát triển kinh tế của
các miền, làm giảm cước phí vận tải, tăng được số lượng hàng hoá. Do vậy sẽ góp phần
tăng nhanh lượng hàng hoá lưu thông trên thị trường, thúc đẩy nền kinh tế phát triển.
Với vai trò rất quan trọng của đường sắt trong ngành giao thông vận tải, Tổng công ty
xây dựng công trình giao thông 1 có công ty chuyên lắp đặt mới và đại tu, nâng cấp
đường sắt,xây dựng nền và mặt hầu hết các tuyến đường sắt quan trọng như: Bắc- Nam,
Hà Nội – Lạng Sơn,Lào Cai...
- Xây dựng sân bay: Ngay từ đầu thập kỷ 60, các lực lượng của Tổng công ty đã
tham gia xây dựng các công trình sân bay quân sự và sân bay dân dụng góp phần bảo vệ

đất nước. Và liên tục từ đó tơí nay Tổng công ty xây dựng công trình giao thông 1 đã
xây dựng tới 7 sân bay trong nước như: Sân bay Kép Hà Bắc, sân bay Yên Bái, sân bay
Nội Bài, sân bay Sao Vàng Thanh Hoá, sân bay Đà Nẵng, sân bay Phú Bài, sân bay
Điện Biên, và mới đây nhất là thi công đường lăn đầu Đông, đầu Tây, nhà ga T1 sân
bay Nội Bài và tham gia đấu thầu các dự án xây dựng sân bay Tân Sơn Nhất.
- Xây dựng nhà máy, khu công nghiệp và các công trình dân dụng: Từ đầu
thập kỷ 70 đến nay, Tổng công ty xây dựng công trình giao thông 1 đã góp phần xây
dựng các nhà máy, đóng mới và sửa chữa tầu biển. Đồng thời xây dựng các công trình
14
giao thông phục vụ cho các nhà máy nhiệt điện, thuỷ điện, giấy, xi măng, khu công
nghiệp... góp phần vào sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
- Đào tạo công nhân kỹ thuật, nghiệp vụ: Sự nghiệp đào tạo, nâng cao trình độ cho đội
ngũ cán bộ công nhân viên và từng bước trẻ hoá lực lượng đã được Tổng công ty xây
dựng công trình giao thông 1 quan tâm đúng mức. Để cán bộ quản lý có đủ trình độ
quản lý các dự án bằng vốn nước ngoài, có trình độ điều hành sản xuất và chỉ đạo thi
công đạt chất lượng và hiệu quả những công trình có quy mô lớn, đòi hỏi kỹ thuật cao,
có đôị ngũ công nhân lành nghề, làm chủ và sử dụng thành thạo những trang thiết bị
hiện đại, nhiều chức năng mới được đầu tư. Ngoài việc Tổng công ty đã mạnh dạn đưa
các cán bộ quản lý, các cán bộ kỹ thuật đi học, bồi dưỡng, đào tạo thêm Tổng công ty
còn mở các lớp học ngoại ngữ, tin học nhằm nâng cao hiệu qua công tác. Tổng công ty
có 01 trường kỹ thuật nghiệp vụ công trình giao thông. Những năm qua Tổng công ty đã
phát huy khả năng đào tạo của trường để đào tạo mới, đào tạo lại và bồi dưỡng nâng cao
tay nghề cho lực lượng công nhân thuật. Trường lấy mục tiêu và nhiệm vụ chủ yếu là
đào tạo công nhân bậc 3 cho các ngành nghề: sắt hàn, kích kéo, bê tông, sửa chữa cơ
khí... ngoài ra trường còn đào tạo bậc trung học và nghiệp vụ tổ trưởng sản xuất với số
lượng 300 - 400 học viên mỗi năm.
Ngoài các ngành nghề kể trên Tổng Cty còn có các hoạt động như: Sữa chửa
phương tiện, thiết bị thi công và gia công dầm cầu thép, cấu kiện thép, sản phẩm cơ khí,
cung ứng, xuất nhập khẩu trực tiếp vật tư, thiết bị GTVT, tư vấn đầu tư xây dựng giao
thông, thí nghiệm vật liệu xây dựng, khảo sát thiết kế, sản xuất vật liệu xây dựng, cấu

kiện bê tông đúc sẵn…
b - Đặc điểm về sản phẩm.
Do sản phẩm của Tổng công ty là các công trình đường bộ, đường sắt, cầu,
cảng, sân bay... nên nó có những đặc điểm chung về sản phẩm của ngành xây dựng. Sản
phẩm xây dựng với tư cách là một công trình xây dựng hoàn chỉnh thường có các đặc
điểm sau:
- Sản phẩm xây dựng là các công trình được xây dựng tại chỗ, đứng cố định tại
địa điễm và phân bố tản mạn ở nhiều nơi. Đặc điểm này làm cho sản xuất xây dựng có
tính chất lưu động cao và thiếu ổn định dẫn tới chi phí cho khâu vận chuyển máy móc
thiết bị, nguyên vật liệu, điều động nhân công cao, từ đó nó ảnh hưởng trực tiếp tới hiệu
quả sử dụng từng đồng vốn của doanh nghiệp .
- Sản phẩm xây dựng thường có kích thước lớn, giá trị rất cao, thời gian thi công
lâu và sử dụng lâu dài. Do đó những sai lầm về xây dựng có thể gây ra sự lãng phí lớn,
tồn tại lâu dài và khó sửa chữa. Điều này đẫn tới việc chi ra một khoản để bảo hành các
công trình đã hoàn thành (thường là 5% giá trị thanh lý hợp đồng) gây ra tình trạng ứ
đọng lãng phí vốn. Do vậy, làm giảm hiệu quả sử dụng vốn cả Tổng công ty.
15
- Sản phẩm xây dựng phụ thuộc chặt chẽ vào điều kiện khí hậu, địa hình của địa
phương và mang nhiều tính đa dạng, cá biệt cao về công dụng, cách cấu tạo và phương
pháp sản xuất. Do đặc điểm này mà chi phí cho việc khảo sát, thiết kế, tìm kiếm nguồn
nguyên liệu, thí nghiệm vật liệu, giao dịch với khách hàng (các chủ đầu tư) là rất lớn.
Do đó làm tốt công tác này sẽ tiết kiệm được chi phí, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu
động.
- Sản phẩm xây dựng liên quan đến nhiều ngành cả về phương diện cung ứng
nguyên vật liệu và cả về phương diện sử dụng sản phẩm của xây dựng làm ra. Đặc điểm
này yêu cầu Tổng công ty phải có sự hợp tác với các ngành có liên quan thì mới đảm
bảo được yêu cầu của chủ đầu tư, nâng cao uy tín của Tổng công ty trên thị trường.
c. Đặc điểm về sản xuất trong xây dựng .
Không giống như các ngành sản xuất hàng hoá bình thường khác, doanh nghiệp
sản xuất trong lĩnh vực xây dựng các công trình giao thông có các đặc điểm sau:

- Sản xuất xây dựng các công trình giao thông được tiến hành ngoài trời nên chịu
ảnh hưởng của điêù kiện thời tiết. Đặc điểm này đòi hỏi Tổng công ty phải chỉ đạo các
đơn vị lập tiến độ thi công hợp lý để tránh thời tiết xấu, phấn đấu tìm cách hoạt động
tròn năm, áp dụng kết cấu lắp ghép làm sẵn trong xưởng một cách hợp lý để giảm bớt
thời gian thi công trên hiện trường, áp dụng cơ giới hoá hợp lý, chú ý sự bền chắc của
máy móc thiết bị . Đặc biệt quan tâm đến việc cải thiện điều kiện làm việc của công
nhân, chú ý tới các nhân tố rủi ro về thời tiết khi tính toán đấu thầu.
Sản xuất xây dựng phải tiến hành theo từng gói thầu cụ thể vì sản xuất xây dựng
có tính cá biệt cao và chi phi lớn. Đặc điểm này đẫn đến yêu cầu là phải xác định giá cả
sản phẩm trước khi sản phẩm được làm ra và hình thức giao nhận thầu cho từng công
trình cụ thể trở lên phổ biến trong sản xuất xây dựng.
-Tình hình và điều kiện sản xuất trong xây dựng thiếu tính ổn định, luôn biến đổi
theo địa diểm xây dựng và giai đoạn xây dựng. Đặc điểm này gây ra khó khăn cho việc
tổ chưc sản xuất, cải thiện điều kiện làm việc cho người lao động, làm nảy sinh chi phí
cho khâu di chuyển lực lượng sản xuất. Do vậy làm tốt công tác quản trị sản xuất sẽ dẫn
tới việc tiết kiệm chi phi, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn.
- Chu kỳ sản xuất kinh doanh trong xây dựng thường kéo dài, đặc điểm này làm
cho vốn đầu tư công trình và vốn sản xuất của Tổng công ty bị ứ đọng lâu dài tại các
công trình còn đang thi công dở dang, ảnh hưởng tới hiệu quả sử dụng vốn của Tổng
công ty. Ngoài ra các công trình thi công xong dễ bị hao mòn vô hình do tiến bộ của
khoa học kỹ thuật nếu thời gian xây dựng quá dài. Do đó phải chú ý đến yếu tố thời gian
khi lựa chọn phương án, phải lựa chọn phương án có thời gian thích hợp, để tránh thất
thoát vốn trong sản xuất kinh doanh.
16

×