Tải bản đầy đủ (.pdf) (9 trang)

Hút thuốc lá thụ động và sức khỏe trẻ em docx

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (115.12 KB, 9 trang )

| TỔNG QUAN & NGHIÊN CỨU |
Tạp chí Y tế Công cộng, 2.2012, Số 23 (23) 11
Tình trạng hút thuốc lá thụ động có thể gây ra những ảnh hưởng nghiêm trọng tới sức khỏe cộng
đồng, đặc biệt là sức khỏe trẻ em. Các triệu chứng và bệnh mà trẻ có thể gặp phải khi phải phơi
nhiễm với khói thuốc lá bao gồm viêm tai giữa, viêm đường hô hấp dưới, các triệu chứng hô hấp như
ho, khò khè, khó thở, nhiều đờm dãi, v.v…, làm bệnh hen suyễn trở nên trầm trọng hơn, suy giảm chức
năng phổi và gây ra hội chứng đột tử bất thường ở trẻ sơ sinh.
Nhiều nghiên cứu trên thế giới đã cho thấy mặc dù vấn đề phơi nhiễm thụ động với khói thuốc lá đã
được chú ý trong thời gian gần đây, nhưng tỉ lệ trẻ em phơi nhiễm với khói thuốc lá vẫn khá cao. Năm
2010, Tổ chức Y tế thế giới đã ước tính có khoảng 700 triệu trẻ em trên thế giới vẫn phải sống trong
bầu không khí bò ô nhiễm bởi khói thuốc lá, và hàng năm có gần 170.000 trẻ em tử vong do các bệnh
liên quan tới thuốc lá [59]. Bài báo này sẽ giới thiệu về thành phần của khói thuốc lá, tác hại của
khói thuốc lá tới sức khỏe trẻ em, thực trạng trẻ em phơi nhiễm thụ động với khói thuốc lá trên thế
giới và ở Việt Nam, cũng như những nghiên cứu, chương trình can thiệp đã thực hiện nhằm giảm sự
phơi nhiễm của trẻ em với khói thuốc lá đã được thực hiện ở Việt Nam.
Từ khóa: khói thuốc lá trong môi trường, phơi nhiễm thụ động với khói thuốc lá.
Secondhand smoke and children's health
Le Thi Thanh Huong (*)
Secondhand smoke (SHS), also called environmental tobacco smoke (ETS), can cause detrimental
health effects to community health, especially to children's health. Main symptoms and diseases
caused by children's exposure to SHS include middle ear disease, lower respiratory tract infections,
respiratory symptoms and the exacerbation of asthma, lung dysfunction and sudden infant death
syndrome.
Worldwide studies have shown that although the issue of SHS exposure has been given increased
attention recently, the proportion of children exposed to SHS is still high. The World Health
Organization (WHO) estimated that there were about 700 million children in the world who have to
inhale the air polluted by tobacco smoke and approximately 170,000 deaths among children each year
caused by tobacco-related diseases [59]. This article will introduce the definition and composition of
SHS and will discuss its harmful effects to children's health, the situation of children's exposure to
SHS worldwide and in Viet Nam and interventions to reduce children's exposure to SHS in Viet Nam.
Keywords: secondhand smoke/ environmental tobacco smoke, involuntary exposure to secondhand


smoke.
Tác giả:
(*) Ths. Lê Thò Thanh Hương, Phó trưởng Bộ môn Sức khỏe môi trường, Trường Đại học Y tế công cộng,
138 Giảng Võ, Hà Nội. Email:
Hút thuốc lá thụ động và sức khỏe trẻ em
Lê Thò Thanh Hương (*)
12 Tạp chí Y tế Công cộng, 2.2012, Số 23 (23)
| TỔNG QUAN & NGHIÊN CỨU |
1. Đặt vấn đề
Hút thuốc lá thụ động là tình trạng người không
hút thuốc phải hít/ngửi khói thuốc lá hoặc khói
thuốc lào có trong môi trường và làm tăng tỉ lệ mắc
bệnh và tử vong của các bệnh có liên quan tới khói
thuốc lá trong cộng đồng những người không hút
thuốc [10],[57]. Y văn trên thế giới đã cho thấy hút
thuốc lá thụ động là nguyên nhân gây ra nhiều bệnh
và triệu chứng ở cả người lớn và trẻ em. Việc trẻ em
phải phơi nhiễm thụ động với khói thuốc lá đã trở
thành một vấn đề y tế công cộng (YTCC) đáng quan
tâm. Những trẻ em phải sống trong môi trường bò ô
nhiễm bởi khói thuốc có thể phải đối mặt với nhiều
nguy cơ về sức khỏe, chẳng hạn viêm tai giữa, viêm
đường hô hấp dưới (chủ yếu là viêm phổi và viêm
phế quản), làm trầm trọng thêm các ca hen suyễn
và tăng tần suất xuất hiện các cơn hen, gây ra các
triệu chứng về đường hô hấp trên, suy giảm chức
năng phổi và nguy cơ đột tử bất thường ở trẻ sơ sinh
[16],[22],[57],[58].
Tại Việt Nam, tình trạng hút thuốc lá và thuốc
lào còn khá phổ biến trong cộng đồng, đặc biệt là ở

khu vực nông thôn. Theo Điều tra về Tình hình sử
dụng thuốc lá ở người trưởng thành tại Việt Nam
năm 2010, tỉ lệ người từ 15 tuổi trở lên hút thuốc là
47,4% ở nam giới và 1,4% ở nữ giới [39]. Vấn đề
hút thuốc lá không chỉ dừng lại ở tỉ lệ hút thuốc mà
còn liên đới tới tỉ lệ các hộ gia đình có bầu không
khí bò ô nhiễm bởi khói thuốc cao. Theo Điều tra Y
tế quốc gia năm 2002, mặc dù tỉ lệ hút thuốc lá ở
phụ nữ Việt Nam rất thấp, nhưng có tới 63% hộ gia
đình ở Việt Nam có ít nhất một người hút thuốc
trong nhà và có tới 71,7% trẻ em dưới 5 tuổi sống
trong các gia đình có người hút thuốc [1]. Vấn đề
sức khỏe của trẻ em và của người không hút thuốc
và tác hại của khói thuốc lá trong môi trường đã
được quan tâm trong vài năm trở lại đây, đặc biệt từ
khi Việt Nam gia nhập Công ước khung về Kiểm
soát tác hại thuốc lá.
Bài báo này trình bày đònh nghóa và thành phần
của khói thuốc lá, tác hại của việc phơi nhiễm thụ
động với khói thuốc lá và sức khỏe trẻ em, cũng như
đưa ra những con số thống kê về thực trạng phơi
nhiễm của trẻ em với khói thuốc lá ở Việt Nam và
trên thế giới và những chương trình can thiệp đã có
nhằm làm giảm tình trạng phơi nhiễm của trẻ em
với khói thuốc lá tại Việt Nam.
2. Khái niệm về hút thuốc lá thụ động và
thành phần của khói thuốc lá
Hút thuốc thụ động hay khói thuốc lá/ thuốc lào
trong môi trường (sau đây gọi chung là khói thuốc
lá) là hỗn hợp của dòng khói phụ (sidestream

smoke) - là khói từ đầu mẩu của điếu thuốc hoặc
sản phẩm thuốc lá đang cháy và dòng khói chính
(mainstream smoke) - là khói do người hút thuốc lá
và thuốc lào phả ra môi trường [10],[16],[17],[58].
Khói thuốc lá là hỗn hợp của rất nhiều hóa chất
độc hại. Vào năm 1992, Cơ quan Bảo vệ môi trường
Hoa Kỳ (EPA) đã xác đònh trong khói thuốc lá có
hơn 4.000 hóa chất độc hại, trong đó có khoảng 250
chất có thể gây những ảnh hưởng nghiêm trọng tới
sức khỏe con người, và khoảng 50 chất là tác nhân
gây ung thư [22]. Tuy nhiên, năm 2004, Cơ quan
Nghiên cứu quốc tế về Ung thư (IARC) ghi nhận
rằng cho tới năm 2000, có tới 69 tác nhân gây ung
thư được tìm thấy trong thành phần của khói thuốc
lá [28]. Năm 2010, Bộ Y tế Hoa Kỳ chính thức
khẳng đònh có tới hơn 7.000 hóa chất độc hại được
tìm thấy trong thành phần của khói thuốc lá, trong
đó có hàng trăm chất gây nguy hại tới sức khỏe con
người và 69 chất là tác nhân gây ung thư cho con
người [18]. Không có mức tiếp xúc nào với khói
thuốc lá được cho là an toàn đối với sức khỏe của
những người không hút thuốc [18], [58].
Dòng khói chính và dòng khói phụ
Dòng khói phụ là thành phần chủ yếu của khói
thuốc lá, chiếm khoảng 85% thành phần của khói
thuốc lá, 15% còn lại là thành phần của dòng khói
chính [61]. Thành phần của dòng khói chính chủ
yếu là nicotine, carbon monoxide và các chất hạt.
Thành phần của dòng khói phụ gần tương tự nhưng
chứa nhiều tác nhân gây ung thư hơn. Người ta

cũng ước tính rằng dòng khói phụ có độc tính cao
hơn dòng khói chính. 1 gam các chất hạt trong dòng
khói phụ có độc tính cao hơn từ 3 đến 4 lần so với
1 gam các chất hạt trong dòng khói chính
[50],[58],[61]. Báo cáo rà soát các nghiên cứu về
tác hại của khói thuốc lá do Bộ Y tế Hoa Kỳ thực
hiện trong các năm 2006, 2007 về các nghiên cứu
đo lường các hợp chất có trong dòng khói chính và
dòng khói phụ cho thấy những hợp chất như
polyaromatic hydrocarbons (PAH) gây ung thư có
trong dòng khói phụ cao hơn gấp 10 lần trong dòng
khói chính [16],[17]. Một nghiên cứu mới được
xuất bản gần đây cho thấy thành phần chính của
| TỔNG QUAN & NGHIÊN CỨU |
Tạp chí Y tế Công cộng, 2.2012, Số 23 (23) 13
dòng khói phụ là PAH, các aldehydes bay hơi và
carbon monoxide [15], trong khi một nghiên cứu
khác lại cho rằng dòng khói chính chứa các chất
dầu và chất sáp và được thải ra dưới dạng các hạt
nhỏ [51]. Dòng khói phụ khi mới được thải ra môi
trường ít độc hại hơn so với chính nó khi đã tồn tại
trong môi trường từ 1,5 đến 2 giờ [51].
Theo EPA, các hợp chất gây ung thư có trong
dòng khói phụ cũng gần tương tự như các hợp chất
có trong dòng khói chính. Tuy nhiên, khi phân tích
thành phần của các hợp chất hóa học trong dòng
khói phụ và dòng khói chính, EPA cũng phát hiện
ra rằng trong thành phần của dòng khói phụ có 5 tác
nhân gây ung thư cho con người, 9 hợp chất có thể
gây ung thư cho con người và 3 chất gây ung thư cho

động vật cũng như một số tác nhân độc hại khác có
hàm lượng cao hơn trong dòng khói chính [22].
Ngoài ra, các nhà nghiên cứu còn phát hiện các chất
trừ sâu chứa ni-tơ trong dòng khói phụ và dòng khói
chính, đó là flumetralin, pendimenthalin và
trifluralin. Tất cả 3 chất trừ sâu này được khẳng
đònh là nguy hại tới sức khỏe con người và có thể là
những tác nhân gây ung thư cho con người [15]. Một
số chất nitrosamines đặc thù có trong khói thuốc lá,
chẳng hạn như N-nitrosonornicotine (NNN) and 4-
(methylnitrosamino)-1-(3-pyridyl)-1-butanone
(NNK) gây ung thư ác tính. Những hợp chất này chỉ
có thể tìm thấy trong các sản phẩm của thuốc lá vì
chúng liên quan tới nicotine và các hợp chất
alkaloids thuốc lá [15]. Trong các xét nghiệm tại
phòng thí nghiệm của mình, Hetch đã chứng minh
rằng NNN gây các khối u trong thực quản và
khoang mũi của chuột, trong khi NNK hỗ trợ quá
trình phát triển các khối u trong phổi của một số loài
gặm nhấm chẳng hạn như chuột nhắt và chuột đồng
[26]. Dựa trên kết quả rà soát từ 30 nghiên cứu khác
nhau tại 8 nước và nhiều nghiên cứu khác, EPA kết
luận rằng khói thuốc lá được coi là tác nhân gây ung
thư nhóm A cho con người [22].
3. Tác hại của phơi nhiễm thụ động với
khói thuốc lá đối với sức khỏe trẻ em
Các ảnh hưởng có hại của việc phơi nhiễm thụ
động với khói thuốc lá tới sức khỏe trẻ em bao gồm
viêm tai giữa, viêm nhiễm đường hô hấp dưới (chủ
yếu là viêm phổi và viêm phế quản), các triệu

chứng của đường hô hấp trên như ho, khò khè, nhiều
đờm dãi, khó thở, v.v…, làm các ca hen suyễn trở
nên trầm trọng hơn, suy giảm chức năng phổi và gây
ra nguy cơ đột tử bất thường ở trẻ sơ sinh
[10],[16],[17],[41],[44],[56],[57],[58]. Ngoài ra,
khói thuốc lá còn được cho là gây ra các vấn đề về
giảm khả năng nhận thức ở trẻ, ảnh hưởng không tốt
đến khả năng phát triển hành vi của trẻ và gây ra
các dạng ung thư ở trẻ em, v.v… Tuy nhiên, hiện
chưa đủ bằng chứng khoa học rõ ràng để chứng
minh có mối quan hệ nhân quả giữa việc phơi nhiễm
với khói thuốc lá và các vấn đề này ở trẻ em
[16],[17]. Do vậy, trong phạm vi bài báo này, chúng
tôi chỉ giới thiệu những vấn đề sức khỏe ở trẻ em
đã được chứng minh là hậu quả của việc phơi nhiễm
với khói thuốc lá.
3.1. Viêm tai giữa
Hiện có đủ bằng chứng khoa học để chứng minh
mối liên quan giữa việc phơi nhiễm với khói thuốc
lá từ bố mẹ và những người xung quanh và bệnh
viêm tai giữa ở trẻ em. Các nhà khoa học đã bắt đầu
chú trọng tới việc nghiên cứu về mối quan hệ nhân
quả của việc phơi nhiễm với khói thuốc lá trong
nhà và nguy cơ mắc viêm tai giữa và viêm tai giữa
có mủ từ đầu thập niên 80 của thế kỷ 20 [32]. Trong
nghiên cứu này, các tác giả đã phát hiện ra mối liên
quan giữa phơi nhiễm với khói thuốc lá do bố mẹ
hút và nguy cơ mắc viêm tai giữa và viêm tai giữa
có mủ ở trẻ. Đầu những năm 1990, qua rà soát các
nghiên cứu, EPA đã khẳng đònh có mối quan hệ

nhân quả giữa phơi nhiễm với khói thuốc lá và các
bệnh viêm nhiễm ở tai, mũi và họng của trẻ [22].
Cuối những năm 1990s, dựa trên 692 bài báo đã
được xuất bản, 45 nghiên cứu rà soát đã được thực
hiện về viêm tai giữa cấp tính, viêm tai giữa tái
diễn, viêm tai giữa có mủ, v.v… được thực hiện. Dựa
trên 45 nghiên cứu rà soát này, Strachan và Cook
đã thực hiện một nghiên cứu rà soát hệ thống và kết
luận rằng việc hút thuốc lá của bố mẹ có mối quan
hệ nhân quả với bệnh viêm tai giữa ở trẻ em, cả
mãn và cấp tính [53]. Dựa trên 40 nghiên cứu với
các thiết kế nghiên cứu khác nhau, Tổ chức Y tế thế
giới đã kết luận rằng việc phơi nhiễm với khói thuốc
lá là nguyên nhân gây ra bệnh viêm tai giữa mãn
tính và cấp tính ở trẻ em [57]. Kết luận này một lần
nữa được khẳng đònh lại trong các báo cáo của Bộ
Y tế Hoa Kỳ [16],[17].
3.2. Viêm đường hô hấp dưới
Việc nghiên cứu tìm mối quan hệ nhân quả giữa
phơi nhiễm với khói thuốc lá và viêm nhiễm đường
hô hấp dưới ở trẻ em - mà chủ yếu là viêm phổi và
14 Tạp chí Y tế Công cộng, 2.2012, Số 23 (23)
| TỔNG QUAN & NGHIÊN CỨU |
viêm phế quản, đặc biệt là trong giai đoạn trẻ dưới
một tuổi và trẻ nhỏ đã được nhiều nhà khoa học thực
hiện trong nhiều thập kỷ trở lại đây và đã được
nhiều tổ chức có uy tín ghi nhận [16],[22],[41],[44].
Các nghiên cứu khác nhau đã chứng minh rằng ảnh
hưởng của phơi nhiễm thụ động với khói thuốc lá tới
đường hô hấp ở trẻ sẽ trầm trọng nhất trong hai năm

đầu tiên của cuộc đời [24],[27],[34],[35], và việc
trẻ phơi nhiễm với khói thuốc lá trong những năm
đầu đời sẽ làm tăng nguy cơ mắc các bệnh trầm
trọng về đường hô hấp sau này [34]. Một nghiên cứu
bệnh chứng ở Thổ Nhó Kỳ về những ảnh hưởng có
hại của việc hút thuốc lá thụ động với việc mắc các
bệnh viêm đường hô hấp dưới ở trẻ em từ 2 đến 12
tuổi trong thời gian tháng 10/2003 tới tháng 3/2004
cho thấy những trẻ phơi nhiễm với khói thuốc lá có
nguy cơ mắc các bệnh viêm đường hô hấp dưới cao
hơn gần 5 lần so với nhóm trẻ không phơi nhiễm (p
= 0,000, OR = 4,72, 95%CI = 2,62 - 8,52) [30].
Những trẻ phơi nhiễm với khói thuốc lá do mẹ hút
có nguy cơ mắc các bệnh viêm đường hô hấp dưới
cao hơn 60%, trong khi những trẻ phơi nhiễm với
khói thuốc lá từ những thành viên khác trong gia
đình có nguy cơ mắc cao hơn 50% [8].
Trong các báo cáo năm 2006 và 2007, Bộ Y tế
Hoa Kỳ đã khẳng đònh có đủ bằng chứng khoa học
chứng minh mối quan hệ nhân quả giữa việc trẻ bò
phơi nhiễm với khói thuốc lá trong gia đình và các
bệnh đường hô hấp dưới, đặc biệt là với trẻ nhỏ, và
nguy cơ mắc các bệnh viêm đường hô hấp dưới ở trẻ
cao nhất khi trẻ phải phơi nhiễm với khói thuốc lá
từ người mẹ [16],[17].
3.3. Các triệu chứng của đường hô hấp trên
và diễn biến xấu của các ca hen suyễn
Phần này tập trung vào một số triệu chứng chính
của đường hô hấp trên bao gồm: ho, nhiều đờm dãi,
thở khò khè, khó thở và diễn biến xấu đi của các ca

hen suyễn ở những trẻ phơi nhiễm với khói thuốc lá.
Dựa trên kết quả rà soát rất nhiều nghiên cứu và bài
báo, Bộ Y tế Hoa Kỳ khẳng đònh có mối liên hệ
nhân quả giữa việc hút thuốc của bố mẹ với một số
triệu chứng hô hấp ở trẻ em tuổi học đường (chẳng
hạn như ho, nhiều đờm dãi, thở khò khè, khó thở,
và diễn biến xấu của các ca hen suyễn) [16],[17].
Nhiều nghiên cứu mới được thực hiện gần đây
cũng cho kết quả tương tự. Một nghiên cứu được
thực hiện tại Ba Lan trong quần thể 1.100 trẻ trong
độ tuổi 13-15 cho thấy việc trẻ phơi nhiễm với khói
thuốc lá của người mẹ là một yếu tố nguy cơ của
triệu chứng thở khò khè; và một số yếu tố môi
trường, trong đó có khói thuốc lá trong nhà có liên
quan tới các triệu chứng về đường hô hấp trong
quần thể những trẻ được nghiên cứu [29]. Một
nghiên cứu khác ở Đài Loan cho thấy trẻ em phơi
nhiễm với khói thuốc lá đối mặt với nguy cơ mắc
hen suyễn cấp tính và thở khò khè cao hơn, và việc
hút thuốc lá của cha mẹ gây ra nguy cơ mắc những
triệu chứng này cao hơn [54]. Trong khi đó, tại Italy,
một nghiên cứu được thực hiện trên 4.122 trẻ em ở
29 trường tiểu học trong năm học 2004-2005 cho
thấy tỉ lệ mắc triệu chứng khó thở và tái xuất hiện
các cơn hen ở những trẻ phơi nhiễm với khói thuốc
lá từ bố mẹ tại nhà cao gần gấp đôi so với nhóm
không phơi nhiễm [45]. Nhiều nghiên cứu được thực
hiện ở các thời gian và đòa điểm khác nhau cũng cho
thấy mối liên hệ rõ ràng giữa việc phơi nhiễm với
khói thuốc lá của trẻ em và sự xuất hiện các triệu

chứng ho, nhiều đờm dãi, khó thở và tăng mức độ
trầm trọng của các cơn hen
[13],[20],[23],[46],[52],[55].
3.4. Suy giảm chức năng phổi
Một số chỉ số như dung tích thở ra tối đa trong
một lần thở (FVC), dung tích khí thở ra gắng sức
trong một giây đầu tiên (FEV1) thường được sử
dụng để đo lường chức năng phổi (EPA 1992;
DHHS 2006). Bộ Y tế Hoa Kỳ kết luận rằng phơi
nhiễm với khói thuốc lá trong thời kỳ bào thai do
người mẹ mang thai hút thuốc là một nguyên nhân
làm suy giảm chức năng phổi ở trẻ, tuy nhiên, việc
phơi nhiễm với khói thuốc lá sau khi sinh cũng là
một nguyên nhân quan trọng dẫn tới suy giảm chức
năng phổi ở trẻ em [16],[17].
Nhiều nghiên cứu khác cũng cho kết quả tương
tự. Tại Hy Lạp, khi nghiên cứu trên quần thể gần
600 trẻ em từ 5 đến 14 tuổi, các tác giả đã cho thấy
những trẻ phơi nhiễm với khói thuốc lá có chức
năng phổi kém hơn, cụ thể là có FEV1 giảm hơn so
với những trẻ không phơi nhiễm. Rinne và cộng sự
cũng tìm được mối liên quan có ý nghóa thống kê
giữa việc trẻ em phải phơi nhiễm với khí ga và các
khói từ nhiên liệu đun nấu và khói thuốc lá với suy
giảm các chỉ số FVC và FEV1 [48].
3.5. Hội chứng đột tử bất thường ở trẻ sơ
sinh
Hội chứng đột tử bất thường ở trẻ sơ sinh (SIDS)
được đònh nghóa là "những ca tử vong bất thường và
| TỔNG QUAN & NGHIÊN CỨU |

Tạp chí Y tế Công cộng, 2.2012, Số 23 (23) 15
không rõ nguyên nhân ở trẻ dưới một tuổi" [25].
Những nạn nhân của SIDS thường là khỏe mạnh
trước khi chết, và lý do dẫn tới SIDS cho đến nay
vẫn chưa giải thích được qua các bằng chứng lâm
sàng hay qua khám nghiệm tử thi [25],[40]. Tổ chức
Y tế thế giới và Bộ Y tế Hoa Kỳ đã khẳng đònh sự
phơi nhiễm với khói thuốc lá trong thời kỳ bào thai
và sau khi sinh là một nguyên nhân dẫn tới nguy cơ
SIDS [16],[17],[57],[59]. Rất nhiều nghiên cứu
khác cũng cho kết quả tương tự. Nghiên cứu được
thực hiện ở Cộng hòa Ả rập Syria cho thấy có mối
liên quan rõ ràng giữa SIDS ở trẻ và việc phơi
nhiễm của trẻ với khói thuốc lá từ bố mẹ [37].
Dybing và Sanner trong báo cáo rà soát của mình
cũng khẳng đònh việc phơi nhiễm với khói thuốc lá
trước và sau khi sinh đóng góp phần lớn vào nguy
cơ SIDS ở trẻ nhỏ [21]. Hawamdeh và cộng sự khi
nghiên cứu và rà soát các bài báo, các báo cáo khoa
học và các tài liệu khác về ảnh hưởng của hút thuốc
lá thụ động tới sức khỏe trẻ em cũng kết luận rằng
phơi nhiễm với khói thuốc lá trong thời kỳ bào thai
và sau sinh là một yếu tố nguy cơ rất quan trọng của
SIDS ở trẻ nhỏ [25]. Một nghiên cứu khác được thực
hiện ở Ba Lan và một số nơi khác trên thế giới cũng
cho kết quả tương tự [19],[27],[62]. Cơ quan bảo vệ
môi trường California cũng khẳng đònh có tới 10%
các ca tử vong do SIDS được quy cho là do phơi
nhiễm với khói thuốc lá [44].
4.Thực trạng phơi nhiễm thụ động với

khói thuốc lá ở trẻ em
4.1. Thực trạng phơi nhiễm thụ động với
khói thuốc lá của trẻ em trên thế giới
Mặc dù đã có các bằng chứng khoa học rõ ràng
về tác hại của khói thuốc lá với sức khỏe trẻ em,
nhưng tỉ lệ trẻ em trên thế giới phải phơi nhiễm với
khói thuốc lá vẫn còn khá phổ biến, đặc biệt ở các
nước đang phát triển và kém phát triển, nơi có
những quy đònh lỏng lẻo về hút thuốc lá trong nhà.
Trung tâm Phòng ngừa và Kiểm soát Bệnh tật ước
tính có khoảng 43% trẻ em từ 13-15 tuổi trên toàn
thế giới phải phơi nhiễm với khói thuốc lá hàng
ngày [9]. Một nghiên cứu mới được xuất bản trong
năm 2011 được thực hiện dựa trên số liệu về tình
trạng phơi nhiễm với trẻ em trên thế giới ở 192
nước cho thấy có khoảng 40% trẻ em trên thế giới
phải phơi nhiễm với khói thuốc lá trong năm 2004
[43]. Trong khi đó, theo thống kê của Tổ chức Y tế
thế giới, khoảng một nửa số trẻ em trên thế giới
(xấp xỉ 700 triệu trẻ) phơi nhiễm với khói thuốc lá.
Hàng năm, có khoảng gần 170.000 trẻ em trên thế
giới chết vì các bệnh do khói thuốc lá gây nên [58].
Trẻ em có thể phải phơi nhiễm thụ động với khói
thuốc lá trong rất nhiều môi trường khác nhau,
nhưng môi trường chính mà trẻ phải tiếp xúc với
khói thuốc lá là tại các hộ gia đình. Tại nhà, trẻ
phải hít ngửi khói thuốc từ bố mẹ hoặc từ những
người khác sống trong gia đình của mình [58].
Các nghiên cứu trên thế giới cho thấy tỉ lệ trẻ
phơi nhiễm với khói thuốc lá trên thế giới tương đối

cao. Theo ước tính của Bộ Y tế Hoa Kỳ, khoảng gần
60% trẻ em từ 3 đến 11 tuổi ở Mỹ phải phơi nhiễm
với khói thuốc lá [17]. Tuy nhiên, một nghiên cứu
khác cũng thực hiện ở Hoa Kỳ cho thấy tỉ lệ trẻ em
ở Mỹ phơi nhiễm với khói thuốc lá dao động từ 35-
80%, phụ thuộc vào phương pháp đo lường và quần
thể nghiên cứu [33]. Tại Đài Loan, tỉ lệ này được
ước tính là 50% [36]. Việc phơi nhiễm của trẻ với
khói thuốc lá thường có liên quan tới mức thu nhập
của gia đình và trình độ văn hóa của bố mẹ. Những
trẻ sống trong những gia đình có thu nhập thấp và
bố mẹ có trình độ văn hóa thấp thường có tỉ lệ phơi
nhiễm cao hơn [12],[31],[47]. Tỉ lệ trẻ em sống
trong các căn hộ ở các khu chung cư phải phơi
nhiễm với khói thuốc lá rất cao, tới 73% [60].
4.2. Thực trạng phơi nhiễm với khói thuốc
lá của trẻ em ở Việt Nam
Việt Nam tham gia ký Công ước khung về Kiểm
soát tác hại thuốc lá (FCTC) vào ngày 8/8/2003 và
phê duyệt FCTC vào ngày 17/12/2004. Kể từ đó,
Chính phủ Việt Nam đã thực hiện rất nhiều nỗ lực
để phòng chống tác hại thuốc lá và hút thuốc lá thụ
động. Mặc dù đã được cải thiện, nhưng tỉ lệ trẻ em
phơi nhiễm với khói thuốc lá vẫn còn tương đối cao,
đặc biệt là ở vùng nông thôn.
Trong những năm đầu của thế kỷ 21, tỉ lệ trẻ
phơi nhiễm với khói thuốc lá ở Việt Nam khá cao.
Theo báo cáo Điều tra Y tế quốc gia năm 2002, tỉ
lệ trẻ dưới 5 tuổi phơi nhiễm với khói thuốc lá là
71,7% [1]. Một nghiên cứu khác chú trọng tới đối

tượng trẻ em 13-15 tuổi, tỉ lệ phơi nhiễm của nhóm
này với khói thuốc lá tại nhà dao động từ 52-65%,
trong khi tỉ lệ phơi nhiễm của các em với khói thuốc
lá tại các nơi công cộng từ 86-90% [4].
Sau khi phê duyệt Công ước khung, tình trạng
phơi nhiễm của trẻ với khói thuốc lá có vẻ được cải
thiện. Một nghiên cứu bệnh chứng được thực hiện
16 Tạp chí Y tế Công cộng, 2.2012, Số 23 (23)
| TỔNG QUAN & NGHIÊN CỨU |
tại Bắc Giang năm 2007 cho thấy tỉ lệ trẻ dưới 6
tuổi phơi nhiễm với khói thuốc lá tại nhà là 64,8%
[38]. Tại Quảng Ninh, một nghiên cứu can thiệp
cho thấy có sự giảm đi đáng kể về hàm lượng
cotinine niệu trong số những trẻ phải phơi nhiễm
với khói thuốc lá thụ động tại các hộ gia đình sau
thời gian can thiệp [5]. Nghiên cứu của Hội Y tế
Công cộng Việt Nam tại Thái Bình cho thấy có
khoảng 63% hộ gia đình có ít nhất một người hút
thuốc và 17% hộ gia đình có ít nhất hai người hút
thuốc, và 97% số người hút thuốc thường xuyên hút
trong nhà và 87% thường xuyên hút trước mặt trẻ
em. Nghiên cứu cũng cho kết quả trẻ em sống trong
những gia đình có người hút thuốc có hàm lượng
nicotine trong tóc cao hơn nhóm trẻ không phơi
nhiễm [6]. Một nghiên cứu mới được thực hiện gần
đây ở Chương Mỹ (Hà Nội) cho thấy có 60% học
sinh tiểu học từ 8-11 tuổi sống trong các gia đình có
từ 1 người hút thuốc trở lên. Khi được hỏi về tình
trạng phơi nhiễm với khói thuốc lá trong nhà trong
một tuần trước cuộc điều tra, có tới 38,3% số trẻ có

phơi nhiễm. Những nơi mà trẻ phơi nhiễm với khói
thuốc lá trong nhà phổ biến nhất là phòng khách,
phòng ngủ và ban công của gia đình. Tình trạng
người cha vừa bế con vừa hút thuốc cũng được ghi
nhận trong nghiên cứu này [3].
5. Các chương trình can thiệp nhằm giảm
sự phơi nhiễm thụ động của trẻ em với khói
thuốc lá trong môi trường tại Việt Nam
Một số nghiên cứu can thiệp đã được thực hiện
tại Việt Nam nhằm giảm tỉ lệ hút thuốc, giảm sự
phơi nhiễm của người không hút thuốc với khói
thuốc lá, trong đó có trẻ em. Nghiên cứu can thiệp
được thực hiện tại Quảng Ninh trong giai đoạn
2003-2005 cho thấy sau can thiệp tỷ lệ hút thuốc
trong nhà giảm từ 96,6% còn 87,4% (p<0,05), trong
đó tỷ lệ hút thuốc trong nhà thường xuyên giảm từ
47,7% xuống còn 11,4% (p<0,001). Tỷ lệ người hút
thuốc đi ra khỏi phòng để hút thuốc tăng từ 18,1%
lên 50,4% (p<0,001). Cotinin niệu trung bình của
trẻ em trước và sau can thiệp giảm từ 3,59
microgram/lít xuống còn 1,54 microgram/lít,
p<0,05). Có sự cải thiện đáng kể về kiến thức, thái
độ và sự chấp nhận của xã hội với hút thuốc và hút
thuốc thụ động [5].
Một nghiên cứu can thiệp khác do Hội Y tế
Công cộng Việt Nam phối hợp với HealthBridge
Canada thực hiện tại 3 tỉnh Thái Bình, Đà Nẵng và
Bến Tre từ năm 2005 đến năm 2007 cho thấy sau
thời gian can thiệp, nhận thức của phụ nữ và nam
giới về tác hại của hút thuốc lá và hút thuốc lá thụ

động được cải thiện đáng kể. Thái độ của phụ nữ
cũng thay đổi tích cực. Sau can thiệp, tỉ lệ nam giới
không hút thuốc trước mặt trẻ em được cải thiện rõ
rệt [42]. Trong năm 2006, một nghiên cứu nhỏ được
thực hiện ở Hải Dương cho thấy cộng đồng tại đây
sẵn sàng ủng hộ ý tưởng xây dựng mô hình ngôi nhà
không khói thuốc. Bản thân cộng đồng đề xuất sự
tham gia của trẻ em trong chương trình can thiệp đó,
vì người bố hút thuốc thường có khuynh hướng nghe
theo đề nghò của con mình [2].
6. Gợi ý chung
Tác hại của khói thuốc lá tới sức khỏe trẻ em đã
được minh chứng rõ rệt. Sự phơi nhiễm của trẻ em
với khói thuốc lá tại Việt Nam và trên thế giới khá
cao, tuy nhiên những can thiệp nhằm giảm sự phơi
nhiễm của trẻ em với khói thuốc lá chưa nhiều,
trong khi trẻ em được chứng minh là có vai trò rất
tích cực và hiệu quả trong các chương trình can
thiệp nhằm thay đổi hành vi của người lớn
[7],[11],[49]. Do vậy, cần tiến hành thực hiện các
nghiên cứu can thiệp nhằm giảm sự tiếp xúc của trẻ
với khói thuốc lá, đặc biệt là những nghiên cứu có
sự tham gia của trẻ em trong việc giảm sự phơi
nhiễm của trẻ với khói thuốc lá tại hộ gia đình.
| TỔNG QUAN & NGHIÊN CỨU |
Tạp chí Y tế Công cộng, 2.2012, Số 23 (23) 17
Tài liệu tham khảo
Tiếng Việt
1. Bộ Y tế (2003). Điều tra Y tế quốc gia 2002. Hà Nội, Bộ
Y tế.

2. Bùi Thu Trang, Phạm Thò Cẩm Hà, et al. (2006). Xây
dựng mô hình can thiệp "Ngôi nhà không khói thuốc" tại xã
Chi Lăng Nam, huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương. Hà Nội,
Trường Đại học Y tế công cộng. Bài tập thực đòa cộng đồng
2: 75.
3. Lê Thò Thanh Hương, Lê Vũ Anh, et al. (2011). "Nghiên
cứu thăm dò tính khả thi của chương trình can thiệp "Trẻ em
nói không với hút thuốc thụ động"." Tạp chí Y tế công cộng
21: 24-31.
4. Lý Ngọc Kính, Phan Thò Hải, et al. (2004). "Tình hình sử
dụng thuốc lá trong học sinh tuổi 13-15 tại 5 tỉnh, thành phố
Việt Nam." Tạp chí Y học thực hành 533: 29-38.
5. Nguyễn Khắc Hải, Đặng Anh Ngọc, et al. (2006). "Hiệu
quả dự án "Làm sạch bầu không khí ô nhiễm khói thuốc lá:
Tạo môi trường lành mạnh và an toàn cho trẻ em" " Tạp chí
Y tế công cộng 6: 41-46.
6. Wipfli, H., Lê Bảo Châu, et al. (2009). "Phơi nhiễm thụ
động với thuốc lá ở phụ nữ và trẻ em tại gia đình." Tạp chí
Y tế công cộng 12: 46-51.
Tiếng Anh
7. Bowen, A., H. Ma, et al. (2007). "A cluster-randomized
controlled trial evaluating the effect of a handwashing-
promotion program in Chinese primary schools." Am. J.
Trop. Med. Hyg. 76(6): 1166-1173.
8. Britton, J. (2010). "Passive smoking damages children's
health." Practitioner 254(1729): 27-30.
9. CDC (2008). "Global Youth Tobacco Surveillance 2000-
2007. Morbidity and Mortality Weekly Report, 57 (SS01);
1-21." Retrieved 28 April, 2010, from
/>m.

10. CDC (2010, January 2010). "Secondhand Smoke Fact
Sheets." Retrieved 13 April, 2010, from
/>ondhand_smoke/general_facts/index.htm.
11. Christensen, P. (2004). "The health-promoting family: a
conceptual framework for future research." Social Science
& Medicine 59(2): 377-387.
12. Constant, C., I. Sampaio, et al. (2011). "Environmental
tobacco smoke (ETS) exposure and respiratory morbidity in
school age children." Rev Port Pneumol 17(1): 20-26.
13. Cook, D. G. and D. P. Strachan (1997). "Health effects
of passive smoking. 3. Parental smoking and prevalence of
respiratory symptoms and asthma in school age children."
Thorax 52(12): 1081-1094.
14. Daher, N., R. Saleh, et al. (2010). "Comparison of
carcinogen, carbon monoxide, and ultrafine particle
emissions from narghile waterpipe and cigarette smoking:
Sidestream smoke measurements and assessment of
second-hand smoke emission factors." Atmos Environ
44(1): 8-14.
15. Dane, A. J., C. D. Havey, et al. (2006). "The detection
of nitro pesticides in mainstream and sidestream cigarette
smoke using electron monochromator-mass spectrometry."
Anal. Chem. 78(10): 3227 - 3233.
16. DHHS (2006). The health consequences of involuntary
exposure to tobacco smoke: A report of the Surgeon
General. Atlanta, GA, U.S. Department of Health and
Human Services, Centers for Disease Control and
Prevention, Coordinating Center for Health Promotion,
National Center for Chronic Disease Prevention and Health
Promotion, Office on Smoking and Health.

17. DHHS (2007). Children and secondhand smoke
exposure. Excerpts from the health consequences of
involuntary exposure to tobacco smoke: A report of the
Surgeon General. Atlanta, GA, U.S. Department of Health
and Human Services, Centers for Disease Control and
Prevention, Coordinating Center for Health Promotion,
National Center for Chronic Disease Prevention and Health
Promotion, Office on Smoking and Health.
18. DHHS (2010). A Report of the Surgeon General: How
Tobacco Smoke Causes Disease - The Biology and
Behavioral Basis for Smoking-Attributable Disease: A
Report of the Surgeon General. Atlanta GA, U.S.
Department of Health and Human Services, Centers for
Disease Control and Prevention, National Center for
Chronic Disease Prevention and Health Promotion, Office
on Smoking and Health.
19. DiFranza, J. R., C. A. Aligne, et al. (2004). "Prenatal and
Postnatal Environmental Tobacco Smoke Exposure and
Children's Health." Pediatrics 113(Suppl 4): 1007-1015.
20. Dong, G. H., Y. Cao, et al. (2007). "Effects of
environmental tobacco smoke on respiratory health of boys
and girls from kindergarten: results from 15 districts of
northern China." Indoor Air 17(6): 475-483.
18 Tạp chí Y tế Công cộng, 2.2012, Số 23 (23)
| TỔNG QUAN & NGHIÊN CỨU |
21. Dybing, E. and T. Sanner (1999). "Passive smoking,
sudden infant death syndrome (SIDS) and childhood
infections." Hum Exp Toxicol 18(4): 202-205.
22. EPA (1992). Respiratory health effects of passive
smoking: Lung cancer and other disorders. Washington,

D.C., U.S Environmental Protection Agency, Office of
Research and Development, Office of Air Radiation.
23. Guang-Hui, D., M. Yan-Nan, et al. (2008). "Housing
characteristics, home environmental factors and respiratory
health in 3945 pre-school children in China." International
Journal of Environmental Health Research 18(4): 267-282.
24. H#berg, S. E., H. Stigum, et al. (2007). "Effects of pre-
and post-natal exposure to parental smoking on early
childhood respiratory health." Am J Epidemiol 166(6): 679-
686.
25. Hawamdeh, A., F. A. Kasasbeh, et al. (2003). "Effects
of passive smoking on children's health: a review." East
Mediterr Health J 9(3): 441-447.
26. Hecht, S. S. (1998). "Biochemsitry, biology, and
carcinogenicity of tobacco-specific N-Nitrosamines."
Chemical Research in Toxicology 11(6): 559-603.
27. Hofhuis, W., J. C. De Jongste, et al. (2003). "Adverse
health effects of prenatal and postnatal tobacco smoke
exposure on children." Arch Dis Child 88(12): 1086-1090.
28. IARC (2004). IARC Monographs on the evaluation of
carcinogenic risks to human: tobacco smoke and involuntary
smoking. Vol. 83. Lyon (France): International Agency for
Research on Cancer. 83.
29. Kasznia-Kocot, J., M. Kowalska, et al. (2010).
"Environmental risk factors for respiratory symptoms and
childhood asthma." Ann Agric Environ Med 17(2): 221-229.
30. Keskinoglu, P., D. Cimrin, et al. (2007). "The impact of
passive smoking on the development of lower respiratory
tract infections in children." J Trop Pediatr 53(5): 319-324.
31. King, K., M. Martynenko, et al. (2009). "Family

Composition and Children's Exposure to Adult Smokers in
Their Homes." Pediatrics 123(4): e559-e564.
32. Kraemer, M. J., M. A. Richardson, et al. (1983). "Risk
factors for persistent middle-ear effusions: Otitis media,
catarrh, cigarett smoke exposure, and atopy." JAMA 249(8):
1022-1025.
33. Kum-Nji, P., L. Meloy, et al. (2006). "Environmental
tobacco smoke exposure: prevalence and mechanisms of
causation of infections in children." Pediatrics 117(5): 1745-
1754.
34. Kwok, M. K., C. M. Schooling, et al. (2008). "Early life
second-hand smoke exposure and serious infectious
morbidity during the first 8 years: Evidence from Hong
Kong's "Children of 1997" birth cohort." Tob Control 17(4):
263-270.
35. Lam, T. H., G. M. Leung, et al. (2001). "The effects of
environmental tobacco smoke on health service utilization
in the first eighteen months of life." Pediatrics 107(6): E91.
36. Lin, P L., H L. Huang, et al. (2010). "Second-hand
smoke exposure and the factors associated with avoidance
behavior among the mothers of pre-school children: a
school-based cross-sectional study." BMC Public Health
10(1): 606.
37. Maziak, W., F. Mzayek, et al. (1999). "Effects of
environmental tobacco smoke on the health of children in
the Syrian Arab Republic." East Mediterr Health J 5(4):
690-697.
38. Minh, H. V., P. T. H. Anh, et al. (2007). Study on the
association between secondhand smoke and respiratory
health of children under 6 years of age in Vietnam. Hanoi.

39. Ministry of Health of Vietnam (2010). Global Adult
Tobacco Survey (GATS) Vietnam 2010. Hanoi, Ministry of
Health.
40. Moon, R. Y. and L. Y. Fu (2007). "Sudden Infant Death
Syndrome." Pediatrics in Review 28(6): 209-214.
41. NCI (1999). Health effects of exposure to environmental
tobacco smoke: The report of the California EPA. Smoking
and Tobacco Control Monograph No. 10, U.S. Department
of Health and Human Services, National Institute of Health,
National Cancer Institute. 2010.
42. Nga, P. T. Q. and L. T. T. Ha (2007). Evaluation of the
effectiveness of the project 'Reducing social acceptability of
smoking in Vietnam'. Hanoi, Vietnam Public Health
Association & Health Bridge Canada: 91.
43. Oberg, M., M. S. Jaakkola, et al. (2011). "Worldwide
burden of disease from exposure to second-hand smoke: a
retrospective analysis of data from 192 countries." Lancet
377(9760): 139-146.
44. OEHHA Cal/ EPA. (2006). "Secondhand tobacco smoke
and children's health." Retrieved 15 April, 2010, from
/>final.pdf.
45. Pirastu, R., C. Bellu, et al. (2009). "Indoor exposure to
environmental tobacco smoke and dampness: Respiratory
symptoms in Sardinian children DRIAS study."
Environmental Research 109(1): 59-65.
| TỔNG QUAN & NGHIÊN CỨU |
Tạp chí Y tế Công cộng, 2.2012, Số 23 (23) 19
46. Qian, Z., J. Zhang, et al. (2004). "Factor analysis of
household factors: are they associated with respiratory
conditions in Chinese children?" International Journal of

Epidemiology 33(3): 582-588.
47. Radic, S. D., B. S. Gvozdenovic, et al. (2011). "Exposure
to tobacco smoke among asthmatic children: parents'
smoking habits and level of education." Int J Tuberc Lung
Dis 15(2): 276-280.
48. Rinne, S. T., E. J. Rodas, et al. (2006). "Relationship of
pulmonary function among women and children to indoor air
pollution from biomass use in rural Ecuador." Respir Med
100(7): 1208-1215.
49. Rohde, J. E. and T. Sadjimin (1980). "Elementary-school
pupils as health educators: Role of school health
programmes in primary health-care." Lancet 1: 1350-1352.
50. Schick, S. and S. Glantz (2005). "Philip Morris
toxicological experiments with fresh sidestream smoke:
more toxic than mainstream smoke." Tob Control 14(6): 396
- 404.
51. Schick, S. and S. A. Glantz (2006). "Sidestream cigarette
smoke toxicity increases with aging and exposure duration
" Tob. Control 15(6): 424 - 429.
52. Schwartz, J., K. L. Timonen, et al. (2000). "Respiratory
effects of environmental tobacco smoke in a panel study of
asthmatic and symptomatic children." Am J Respir Crit Care
Med 161(3): 802-806.
53. Strachan, D. P. and D. G. Cook (1998). "Parental
smoking, middle ear disease and adenotonsillectomy in
children." Thorax 53(1): 50-56.
54. Tsai, C H., J H. Huang, et al. (2010). "Household
environmental tobacco smoke and risks of asthma, wheeze
and bronchitic symptoms among children in Taiwan." Respir
Res 11(1): 11.

55. Wahlgren, D. R., M. F. Hovell, et al. (2000).
"Involuntary smoking and asthma." Curr Opin Pulm Med
6(1): 31-36.
56. WHO - Regional Office for Europe and European
Environment and Health Information System. (2007, May
2007). "Exposure of children to environmental tobacco
smoke - Fact sheet No. 3.4." Retrieved 14 April, 2010,
from
/>_3_4.pdf.
57. WHO (1999). International consultation report on
environmental tobacco smoke and child health. Geneva,
World Health Organization: 29.
58. WHO (2009). WHO report on the global tobacco
epidemic, 2009: Implementing smoke-free environments.
59. WHO (2010). Gender, women, and tobacco epidemic.
Chapter 5. Second-hand smoke, women and children.
Geneva.
60. Wilson, K. M., J. D. Klein, et al. (2011). "Tobacco-
smoke exposure in children who live in multiunit housing."
Pediatrics 127(1): 85-92.
61. Witschi, H., J. P. Joad, et al. (1997). "The toxicology of
environmental tobacco smoke." Annu. Rev. Pharmacol.
Toxicol. 37: 29 - 52.
62. Zakrzewski, M., J. Wojtak, et al. (2005). "The influence
of sudden infant death syndrome (SIDS) risk factors on
health, growth and development in the first year of life. A
preliminary report." Med Wieku Rozwoj 9(4): 763-771.

×