Tải bản đầy đủ (.pdf) (89 trang)

khóa luận tốt nghiệp một số giải pháp nhằm đẩy mạnh sản xuất và xuất khẩu sản phẩm thủ công truyền thống tại làng nghề lưu thượng, phú túc hà tây

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (10.8 MB, 89 trang )

r
TRƯỜNG
ĐẠI
HỌC
NGOẠI
THƯƠNG
KHOA
QUẢN
TRỊ
KINH
DOANH
CHUYÊN NGÀNH KINH
DOANH
QUỐC
TẾ
KHOA
LUÂN
TÓT NGHIỆP
Đề
tài:
MỘT
SỐ
GIẢI
PHÁP
NHẰM
ĐAY
MẠNH
SẢN XUẤT

XUẤT KHẨU


SẢN
PHẨM
THỦ CÔNG
TRUYỀN
THỐNGJTAI
Hy
,
LÀNG
NGHỀ
LƯU
THƯỢNG,
PHÚ
TÚC,

TpgtịX.ị*
Sinh
viên
thực
hiện
Lớp
Khoa
Giáo viên hướng
dần

Lim? 7
Phạm
Thị
Thu
Trang
í

ANH 4
K41
-
QTKD
GS TS.
HOÀNG
VÃN
CHÂU

NỘI
-
11/2006


MỤC LỤC
LỜI
MỞ
ĐẦU
Ì
CHUÔNG
1:
KHÁI QUÁT
CHUNG
VỀ
LÀNG
NGHỀ TRUYỀN THỐNG Lưu
THƯỢNG,
PHÚ TÚC

SẢN PHÀM LÀNG

NGHỀ 4
ì.
Quá
trình hình thành và phát
triển
làng
nghề
Lưu
Thượng,
Phú Túc
4
Ì.
Khái
niệm
về làng
nghề
truyền
thống
4
2.
Quá
trình hình thành và phát
triển
làng
nghề
Lưu Thượng
7
li.
Sản phẩm


nhu cầu của sản phẩm làng
nghề
trẽn
thị
trường
9
Ì.
Đặc
điểm
của
mặt hàng
mây
tre
đan
9
2.
Nhu
cầu
của
sàn phẩm làng
nghề
trên
thị
trường
14
IU.

hình
tạ
chức quản


trong
sản
xuất

xuất
khẩu
tại
làng
nghề
Lưu Thượng
16
Ì.

hình
kinh
doanh
hộ
gia
đình
16
2.
Các
doanh
nghiệp
tư nhân
sản
xuất

xuất

khâu sản phàm
mây
tre
đan
tại
làng
nghề
Lưu Thượng
18
3.

hình hợp tác

sản
xuất

xuất
khẩu
sản phẩm
mây
tre
đan
tại
làng
nghề
Lưu Thượng
21
4.
Vai trò của
các

doanh
nghiệp

nhân,
hộ
kinh
doanh
gia
đình
và hợp tác

sản
xuất

xuất
khẩu sản
phẩm mây
tre
đan
tại
làng
nghề
Lưu Thượng22
CHƯƠNG
2:
THỰC TRẠNG
SẢN
XUẤT VÀ XUẤT KHAU SẢN
PHẨM
THỦ

CỒNG TRUYỀN THỐNG CỦA
LÀNG
NGHỀ
LƯU
THƯỢNG,
PHÚ TÚC
31
ì.
Tình hình sản
xuất
mạt hàng
mây
tre
đan của các co sỏ sản
xuất
kinh
doanh
tại
làng
nghề
Thôn
Lưu
Thượng thòi
kỳ
2001-2005
31
1.
Quy
mô,
giá

trị
sản
xuất
31
2.
Công
nghệ
34
3.
Trình độ
quản
lý sản
xuất
35
li.
Tình hình
xuất
khẩu
mạt hàng
mây
tre
đan của làng
nghề
Thôn
Lưu Thượng
thời
kỳ
2001-2005
36
Ì.

Doanh
thu
Xuất
khẩu
36
2.
Thị trường
xuất
khẩu
39
3.
Hình
thức xuất
khẩu
41
in.
Đánh giá về tình hình
sản
xuất

xuất
khẩu
mạt hàng mây
tre
đan
của
làng
nghề
thôn Lưu Thượng
44

Ì. Thế
mạnh
của
làng
nghề
thôn Lưu Thượng
44
2.
Những
thuận
lợi
đối với
sự
phát
triển
làng
nghề
Lưu Thượng
46
2.
Những khó khăn và hạn
chế
còn
tồn
tại
50
3.
Nguyên nhân
53
CHUÔNG

3:
MỘT
số GIẢI PHÁP THÚC ĐAY
SẢN XUẤT VÀ XUẤT KHAU SẢN
PHẨM
TRUYỀN
THỐNG
TẠI LÀNG
NGHỀ
LUƯ
THƯỢNG,
PHÚ TÚC
56
ì.
Quan
điểm,
định hướng
trong
sản
xuất

xuất
khẩu
mặt hàng
thủ
công
mờ
nghệ
56
1.

Chủ trương
của
nhà nước về đẩy
mạnh
xuất
khẩu
các mặt hàng
thủ
công
truyền
thông
56
2.
Chiến
lược đẩy
mạnh
sản
xuất

xuất
khẩu
các mặt hàng
thủ
công
truyền
thống
của
Tỉnh

Tây

thời
kỳ
2001-2010
60
3.
Định
hướng
mở
rộng
kinh
doanh
xuất
khẩu
của làng
nghề
Lưu Thượng
65
n.
Một
số
giải
pháp thúc đẩy
xuất
khẩu
sản phẩm
mây
tre
đan
tại
làng

nghề
Lưu Thượng
67
1.
Nhóm
giải
pháp
đối với
các
doanh
nghiệp
sản
xuất

xuất
khẩu
mặt
hàng mây
tre
đan
tại
làng
nghề
Lưu Thượng
67
2.
Giải
pháp
đối với
đìa phương

74
IU.
Một số kiên
nghị
đôi vói nhà nước
77
1.
Chính sách hỗ
trợ
vốn
77
2.
Chính sách hỗ
trợ việc
xúc
tiến
thương mại cho làng
nghề
78
KẾT
LUẬN
80
DANH MỤC
TÀI
LIỆU
THAM KHẢO 82
ì
LỜI
MỞ ĐẦU
Ì.

Tính cấp
thiết
của
đề tài
Hà Tây là một
trong
số
ít
các
tỉnh
dẫn đầu cả nước về số
lượng
làng
nghề cũng
như
tốc
độ phát
triển
của các ngành
nghề
truyền
thống.
Ngành
nghề
và làng
nghề
ở Hà Tây
rất
đa
dạng, phong

phú.
Hoạt
động
trong
các
làng
nghề
chủ yếu là các hộ
gia
đình
(HGĐ),
có xen
loại
hình
doanh
nghiệp
tư nhân (DNTN) và hợp tác xã (HTX) sản
xuất.
Nhiều
nơi cả xã là làng
nghề
như La Phù,
Minh
Khai,
Dương
Liễu,
Cát Quế, Sơn Đông
(Huyện
Hoài
Đức),

Phú Túc (Phú
Xuyên),
Vạn Phúc (Hà
Đông),
sản phắm ở làng
nghề
được hình thành
theo
các ngành hàng: các sản phắm
dệt
may,
giả
da,
sơn
mài,
mây
tre
đan
đã được
xuất
khắu
đến các nước ở khu vực Đòn"
Âu, Nhật Bản,
Đài
Loan,
Bắc Mỹ
Tính đến
nay,
toàn
tỉnh

Hà Tây có 1.160 làng/1.460 làng
[2


nghề
truyền
thống

nghề
mới phái
triển.
Sự phát
triển
của các làng
nghề
đã có
những
đóng góp đáng kể cho
đời sống
kinh
tế

hội:
tạo
thêm
nhiều
việc
làm, giúp
thực
hiện hiệu

quả chính sách xoa đói
giảm
nghèo của Nhà nước
la,
hỗ
trợ
đắc
lực
cho
việc
chuyển
đổi

cấu
sản
xuất
ở khu vực nòng thôn
theo
hướng
công
nghiệp
hoa
-
hiện
đại
hoa (CNH-HĐH) nông
nghiệp
nông
thôn và góp
phần

nâng cao năng
lực xuất
khấu
hàng hoa của
đất
nước.
Tuy
phát
triển
nở
rộ

đạt
được
nhiều
thành
tựu
nhưng các làng
nghề
ở Hà Tây vẫn còn gặp
phải
rất
nhiều
khó khăn về cơ sở hạ
tầng, vốn,
công
nghệ,
nguồn
nhân
lực

có trình độ
cao Trong
khi
nhu cầu trên
thị
trường
quốc
tế
ngày một tăng mà
việc
phát
triển
mở
rộng
và nâng cao năng
lực
sản
xuất

xuất
khắu
cho các làng
nghề
còn gặp
nhiều
bất
cập.

thế


việc
tìm
hiểu
thực
trạng
hoạt
động của các làng
nghề
và đưa
ra những
giải
pháp
giải
quyết
khó khăn cho các làng
nghề
nhằm thúc đắy hơn nữa
việc
sán
xuất

xuất
khắu
sản phắm
thủ
công ở làng
nghề
đem
lại
sự phát

triển
ổn
định
cho các làng
nghề là
một
việc
hết
sức cần
thiết.
Qua tìm
hiểu
về tình hình
chung
của các làng
nghề
ứ Hà
Tây,
nhất

sau
đạt
thực
tập
tại
Doanh
Nghiệp Guột
Tế
Xuất
Khắu

Hiền
Lương một
doanh
nghiệp
của làng
nghề
truyền
thống
đan cỏ Tế Lưu
Thượng,
Phú Túc
2
tôi
đã
quyết
định
chọn
đề
tài
"Mội số
giải
pháp nhằm đẩy mạnh sản
xuất

xuất
khẩu sản phẩm
thủ
công
truyền thống
tại

làng
nghề
Lưu
Thượng,
Phú
Túc,

Tây"
làm
đề
tài
cho
khoa
luận
tốt
nghiệp
của
mình.
2.
Mục
đích,
mục
tiêu
của
đề tài
Trên

sở tìm
hiểu


phân tích
thực trạng hoạt
động sản
xuất, xuất
khẩu
sản
phẩm
mây
tre
đan của làng
nghề
Lưu
Thượng,
thông qua
việc
tìm
hiểu
phân tích
các mô
hình
tặ chức quản

sản
xuất

những
đặc
điểm
thực
tiễn

của làng
nghề
giai
đoạn
2001-2006,
đề
tài
sẽ đưa
ra những
giải
pháp cho
việc
thúc đẩy sản
xuất

xuất
khẩu
mặt
hàng
mây
tre
đan của
làng
nghề
Lưu
Thượng,
và đề
xuất
kiến
nghị

với Tinh
Hà Tây và Nhà
nước
về
việc
thúc đấy phát
triển
mở
rộng
hơn nữa làng
nghề
Lưu
Thượng
và các
làng
nghề
truyền
thống
khác trên
địa
bàn
tỉnh
và cả
nước.
3.
Đối
tượng
và phạm
vi
nghiên cứu

Đối
tượng
nghiên cứu của
đề
tài là vấn
đề
sản
xuất kinh
doanh
mặt
hàng
mây
tre
đan
của
các DNTN, HGĐ và HTX sán
xuất, xuất
khẩu
mây
tre
đan
tại
làng Lun Thượng
trong
thời
gian
5 năm
trở lại
đây.
4. Phương pháp

luận
nghiên cứu
Đề tài
được
thực hiện
dựa trên

sở nghiên cứu
thực trạng hoạt
động
sản xuất, xuất
khẩu
sản phẩm
thủ
công
truyền
thống
của làng
nghề
Lưu
Thượng,
Phú
Túc,
tỉnh
Hà Tây
trong nhiều
năm
qua.
Bằng phương pháp
điều

tra,
thông
kê, khảo
sát
thực
tế,
so
sánh,
phân
tích,
tặng
hợp,
trên

sỏ
vận
dụng

luận kinh tế
học
Mác
- Lênin

phương pháp
luận
khoa
học
biện
chứng
trong

việc
nhìn
nhận,
đánh giá

luận
giải
các vấn
đề
được
đặt
ra,
đảm
bảo tính
thực
tiễn,
khách
quan
và toàn
diện
của
để tài.
5.
Bố
cục của khoa
luận
Ngoài
phần
mở
bài


kết
luân,
nội dung
của
khoa
luận
được
chia
làm
3
chương chính như
sau:
-
Chương
1: Khái quái
chung
về
làng
nghề
truyền
thống
Lưu
Thượng,
Phú Túc và
sản
phẩm làng
nghề
3
-

Chương 2:
Thực
trạng
sản
xuất

xuất
khẩu
sản phẩm
thú
công
truyền
thống
của
làng
nghề
Lưu
Thượng,
Phú
Túc
-
Chương
3: Một số
giải
pháp thúc đẩy
sản
xuất

xuất
khấu sản

phàm
truyền
thống
tại
làng
nghề
Lưu
Thượng,
Phú
Túc
Để
hoàn thành
tốt
bài
viết
này
ngoài
sự cố
gắng
của bản (hân.
lôi
còn
nhận được;
rất nhiều
sự giúp
đỡ
từ
phía
thầy
cô và

các
cô chú có
hiểu
biết
về
đề
tài.
Tôi
xin
chân thành
cảm ơn
các

chú

các

quan, doanh
nghiặp
của
làng
nghề
Lưu
Thượng,
xã Phú
Túc,
và các cơ
quan của Tỉnh

Tây vì

sự
giúp
đỡ
tận
tình
trong
thời
gian
tôi
thực
tập
tại
làng
nghề
Lưu
Thượng.

đặc
biặt
tôi
xin gửi
lời
cảm ơn
chân thành đến
thầy
giáo
hiặu
trưởng
GS.,TS.
Hoàng

Văn
Châu,
người
đã
hướng dẫn,
chỉ bảo
tận
lình
đê
tôi
hoàn thành
tốt
bài
khoa
luận
tốt
nghặp
này.

đã nỗ
lực
hết
sức
để
hoàn thành
tốt
bài
khoa
luận
này, nhưng

do
điều
kiặn
thời
gian
eo
hẹp

trình
độ
cũng
như
kinh
nghiặm
của bản thân
có hạn nên bài
viết
của tôi không tránh
khỏi
còn
nhiều
hạn
chế,
thiếu
sót.
Tôi
rất
mong
nhận
được

những
ý
kiến
đóng
góp,
giúp
đỡ
của
các
thầy


các bạn để bài
khoa
luận
của tôi
được hoàn
thiặn
hơn.
4
CHƯƠNG

KHÁI QUÁT
CHUNG VỀ
LÀNG
NGHỀ
TRUYỀN
THỐNG
LƯU
THƯỢNG,

PHÚ TÚC
VÀ SẢN PHẨM
LÀNG
NGHỀ
ì.
Quá trình hình thành và phát
triển
làng nghề Lưu Thượng, Phú Túc
Ì.
Khái
niệm
về làng
nghề
truyền
thống
"Làng
nghề
truyền
thống"
là một khái
niệm
đơn
gián

rất
quen
thuộc
với
người
Việt

Nam. Khi nói đến làng
nghề
truyền
thông thì
ai
cũng

thể
hình
dung
đó
là một làng quê

nông thôn,
ở đó
người
nông
dân
không
chỉ
làm nông
nghiệp
đơn
thuần

còn làm các
nghề
thú
công.
Nghề

đó được hình thành,
tổn
tại

phát
triển
từ lâu
đời,
và nó
được gìn
giữ,
truyền
từ thế
hệ
này
sang
thế
hệ
khác.
Các làng
nghề
truyền
thống
thường được mọi
người
biết
đốn thông
qua những
sựn phẩm
nổi

tiếng
mang
tính
chất
dân
gian
chứa
đựng sự khéo
léo, tài
hoa của
người
thợ

mang
đậm
bựn
sắc
vãn hoa dán
lộc.
Trong
các
câu ca
dao, tục
ngữ dân
gian
vẫn nhắc
đến tên làng
nghề
gắn
với

tên các sân
phẩm

làng
nghề đó:
Gốm
Bát
Tràng,
Cốm
Làng Vòng, Lụa

Đông

những
cái tên
đó đã
trỏ
nên
rất
gần
gũi

gắn

với
đời sống
của
người
dân
Việt

từ
bao
đời nay.

thế
chỉ
cần nói đến làng
nghề
truyền
thông là
tất
cự mọi
người
đều có
thể
hiểu

diễn
giựi
theo
cách cùa
riêng
mình. Tuy
nhiên
theo
thời
gian

cuộc
sông có

nhiều
thay
đổi

nhiều
làng
nghề
bị
mất
đi,
nhiều
làng
nghề
mới được hình thành

phát
triển.

vẫn

những
làng
nghề
từ
xa xưa còn
tổn tại
và phát
triển
đến bây
giờ,

nhiều
làng
nghề
được khôi
phục,
nhưng
với tốc
độ phát
triển
và sự
xuất
hiện
của
nhiều
làng
nghề
mới thì khái
niệm
và cách nhìn
nhận
về làng
nghề
truyền
thống
cũng

nhiều
thay
đổi.
Ngày nay mọi

người
không
còn
hiếu
khái
niệm
làng
nghề
truyền
thống
theo
cách
nôm
na
nữa, cũng

nhiều
định
nghĩa
khác
nhau
về làng
nghề
truyền
thông và

nhiều
nơi

làng

nghề
phát
triển
người
la
đã
đại
ra
những
tiêu
chuẩn
đế đánh giá
xem
xét một làng có
phựi
là làng
nghề
truyền
5
thống
hay không.
Hiện
có một số định
nghĩa
về làng
nghề,
làng
nghề
mới
và làng

nghề
truyền
thống
như
sau:
- "Làng
nghề
là làng có
hoạt
động sản
xuất
các
nghề
tiểu
thủ
công
nghiệp
(TTCN)
hoặc
ngành
nghề
truyền
thống." [28]
- Hoặc "Làng
nghề
mới là làng
nghề
được hình thành do yêu cầu phát
triển
sản

xuất

đời
sống của
nhân dân
địa
phương."
[29]
- " Làng
nghề
truyền
thống,
làng
nghề
TTCN
là một
cộng
đồng dân

tập
trung
trên cùng một địa bàn như:
thôn,
làng,
bản,
khu
phó', (gổi
tất

làng)

cùng sản
xuất
mội
hoặc
một sô sản phẩm hàng hoa
trong
đó có ít
nhất
một
sản
phẩm đặc trưng
thu
hút
đại
bộ
phận
lao
động
hoặc
hộ
gia
đình
tham
gia,
đem
lại
nguồn thu nhập
chính và
chiếm
tỷ

trổng
lớn
trong
tổng
thu
nhập
từ
sản
xuất
(không tính các
thu
nhập
từ hoạt
động
kinh
doanh dịch
vụ)
của
cộng
đồng dân cư
đó."
[28]
- Hay "Làng
nghề
truyền
thống
là làng
nghề
đã được hình thành
lừ

lâu
đời,
sản phẩm được sản
xuất
có tính
chất
riêng
biệt,
còn
tồn
tại
cho đến
ngày nay và chủ
yếu vẫn sản
xuất theo
công
nghệ
truyền
thông."
[29]
Nhìn
chung thì
mấy năm
trở
lại
đây
khi
các làng
nghề
ngày một phát

triển
thì ở mỗi địa phương
lại
có cách định
nghĩa
khác
nhau
về làng
nghề
truyền
thống
nhưng nói
chung
lại

thể
hiểu
làng
nghề
truyền
thống

những
làng
nghề

phần
lớn
dân cư làm
nghề

TTCN,
nghề
đó được tách
ra
khỏi
nông
nghiệp
đế sản
xuất
kinh
doanh
mang
lại
nguồn
thu
nhập
chính và
nó được
truyền
qua
nhiều thế
hệ,
từ đời
này
sang
đời
khác và
trở
thành
nghề

cổ
truyền
mang
những bí
quyết
riêng
và nét đặc trưng riêng của làng.
Bên
cạnh những
định
nghĩa
về làng
nghề
truyền
thống
thì để đánh giá
và công
nhận
một làng là làng
nghề
truyền
thống
hay làng
nghề
công
nghiệp
-
tiểu
thú công
nghiệp

(CN-TTCN)
người
ta
thường dựa vào
những
chuẩn
mực
nhất
định.
Theo
nghị
định mới ban hành của Chính phú,
nghị
định
số 66/2006/NĐ-CP ngày
7/7/2006
về phát
triển
ngành
nghề
nông thôn,
điều
4 quy định về công
nhận nghề,
làng
nghề
như
sau:
"Bộ Nông
nghiệp

và phát
triển
nông thôn quy định
nội
dung
và tiêu
chuẩn
công
nhận nghề
6
truyền
thống,
làng
nghề,
làng
nghề
truyền
thống.
Uy
ban nhân dân
(UBND)
cấp
tình
quyết
định công
nhận nghề
truyền
thống,
làng
nghề,

làng
nghề
truyền
thống
trên địa bàn."

cho đến nay

nhiều tỉnh
thành
đã
ban hành
những
quyết
định về tiêu
chuẩn chung
cho các làng
nghề
truyền
thống
như
quyết
định số 44/2005/QĐ-UBND ngày
29/12/2005
của
UBND
tình Vĩnh
Phúc hay
quyết
định số 1698/2006/QĐ-UBND ngày

14/7/2006
của
UBND
tình
Thừa
Thiên
-
Huế
quy định tạm
thời
về tiêu
chuẩn
làng
nghề.
Riêng
đối
với
tỉnh

Tây,
UBND
tỉnh
đã có
quyết
định
số
1492/1999/QĐ-UB
ngày
23/12/1999
ban hành quy định tạm

thời
về tiêu
chuẩn
làng
nghề
CN-
TTCN
gồm 5
tiêu chí cơ bản
sau:
- Chấp hành
tốt
các chủ
trương,
chính sách của
Đảng,
Nhà
nước

mọi
quy
định hặp pháp
của
chính
quyển địa
phương.
-
Số
hộ
hoặc

lao
động
làm
nghề
CN-TTCN

làng
đạt từ
50%
trở
lên
so
với
tổng
số hộ
hoặc
số
lao
động
của
làng đó.
-
Giá
trị
sản
xuất

thu nhập từ
CN-TTCN


làng
chiếm
tỷ
trọng
trên
50%
so
với tổng
giá
trị
sản
xuất

thu nhập
của làng
trong
năm,
đảm
bảo
vệ
sinh
môi trường
theo
quy định
hiện
hành.
-

hình
thức

tổ
chức
phù
hặp, chịu
sự
quản
lý nhà
nước của chính
quyền
địa phương, gắn
với
mục
tiêu
kinh
tế,

hội

làng văn hoa của địa
phương.
- Tên
nghề
của làng
phải
đưặc gắn
với
tên
làng.
Nếu
là làng

nghề
truyền
thống,
cổ
truyền
còn
tổn
tại

phát
triển
thì
lấy
nghề
đó
đặt
lên cho
nghề
của
làng.
Nếu
làng

nhiều
nghề
phát
triển,
sản phàm
nghề
nào

nối
uổng
nhất
thì
lấy
nghề
đó
đặt
tên
nghề
của
làng,
hoặc
trong
làng

nhiều
nghề
không
phải

nghề
truyền
thống
hay chưa

sản phẩm
nghề
nào
nổi

tiếng
thì tên của làng dựa vào
nghề
nào

giá
trị
sản
xuất

thu nhập
cao
nhất
để
đặt
tên gắn
với
tên làng.
Trước
đây, khái
niệm
làng
nghề chỉ
bao
hàm
các làng
nghề
thủ
công
nghiệp.

Tên
gọi
của làng gắn
liền
với
tên của các
nghề
thủ
công hay tên của
sản
phẩm

làng sản
xuất
ra
ví dụ
như mây
tre
đan
giang,
mộc.
rèn,
sơn
7
mài,
dệt lụa,
thêu
ren,
điêu
khắc,

khảm trai Nhưng ngày nay các
dịch
vụ
cung
ứng và tiêu
thụ
sản
phẩm
trong
nông thôn
cũng
được xếp vào các làng
nghề.
Như vậy
trong
số các làng
nghề
sẽ có
loại
làng một
nghề
và làng
nhiều
nghề, tuy
theo
số lượng và ngành
nghề thủ
công
nghiệp


dịch
vụ,
chiếm
tỷ
lệ
cao
trong
làng. Làng một
nghề
là làng có một
nghề
thú công
duy
nhất
chiếm
ưu
thế tuyệt đối,
các
nghề
khác chỉ có lác đác ồ một số hộ
không đáng
kể,
như làng
nghề
Đa Sỹ, làng
nghề
dệt Van Phúc Làng
nhiều
nghề
là làng

xuất
hiện

tồn
tai
nhiều
nghề,
tỷ
trọng
các
nghề
gần
như tương đương
nhau.
Xét
theo
tiêu
chuẩn
của
tỉnh
Hà Tây thì Lưu Thượng
đạt
tiêu
chuẩn
làng
nghề
truyền
thống
của
tỉnh

từ
cuối
năm
1999.
Ngoài
việc
được công
nhận
là làng
nghề
truyền
thống
Lưu Thượng còn được
phong
tăng
danh
hiệu
làng vãn hoa cấp
tỉnh,
với
100% số hộ dân làm
nghề
đan cỏ
tế,
và đây là
nghề
mang
lại
thu nhập
chủ yếu cho

người
dân. Không chỉ bó họp ỏ phạm
vi
làng Lưu
Thượng,
người
dân còn nhân
rộng
phát
triển
nghề
này
sang
các
làng lân cận khác
trong
xã,
đến nay
thì
cả xã Phú Túc đều là các làng
nghề.
Phú Túc
cũng
đã được
tỉnh
Hà Tây công
nhận
là làng
nghề
truyền

thống

Lưu Thượng chính

cái nôi
của nghề
đan cỏ Tế ồ xã Phú Túc.
2.
Quá trình hình thành và phát
triển
làng
nghề
Lưu Thượng
Hà Tây được xem là
mảnh
đất
trăm
nghề,
bên
cạnh
nông
nghiệp

đây các ngành
nghề thủ
công
truyền
thống
rất
phát

triển.
Hà Tây được cả
nước
biết
đến qua các làng
nghề thủ
công
Huyền
thống
với
các sản phẩm
nổi
tiếng
như: lư Đốc Tín,
lụa
Vạn Phúc, nón lá làng Chuông,
quạt
Dân
Hoa,
điêu
khắc Thanh
Thúy, giày Phú Yên,
tre
đan
Ninh
Sồ. mây đan Phú
Vinh,
khảm
trai
Chuyên Mỹ, sơn mài Duyên

Thái,
thêu
Quất Động,
Thắng
Lợi,
dệt
La Phù, Phùng Xá, rèn Đa Sỹ,
tiện
gỗ Nhị Khé
Trong
số hàng
trăm làng
nghề
thì xã Phú Túc được
biết
đến là một
trong
số
ít
các xã của
Hà Tây mà cả xã đều là làng
nghề
và Lưu Thượng là một làng
nghề
tiêu
biểu
của
Phú Túc.
8
Lưu Thượng xa xưa vốn là một làng quê bình thường như bao làng

quê khác trên
đất
nước
Việt
Nam,
người
nông dân
với
công
việc
đồng áng
quen
thuộc,
con trâu đi trước cái cày
theo sau.
Nhưng
nay,
làng quê này
trờ
thành một làng
nghề
đan cỏ Tế
nổi
tiếng
với nhiều
sản phẩm thú công đan
từ
cây
guột,
mây,

tre,

xuất
khẩu
đi
nhiều
nước trên
thế
giới.
Theo
người
dân nơi đáy thì
người
có công đầu tiên gây
dựng
nên làng
nghề

được
dân làng
gọi
là "ông
tố
nghề"
là cạ
Nguyễn
Thảo Luân. Ông chính là
người
xây
dựng

nền móng đầu tiên cho
nghề
đan thú cóng ớ Lưu Thượng.
Nghề đan hàng đã có
từ
bao
giờ thì
không
ai
biết,
nhưrm gần 20 năm
trở
lại
đây
nghề
đan hàng ỏ Lưu Thượng
rất
phát
triển

đạt
được
những
thành
tựu
đáng
kể.
Cả làng không còn hộ nghèo,
đời
sống

nhân dãn ngày một
nâng
cao, thu
nhập
bình quân đầu
người
của làng Lưu Thượng
đạt
gần Ì
triệu
đổng/
người/tháng,

những
gia
đình
thu
nhập
hình quân
đạt từ
2 đến
3
triệu
đồng/người/tháng.
[20]
Từ năm 1988
trở
về
trước,
làng Lưu Thượng còn nghèo, đời

sống
người
nông dân cơ
cực.
Người
nông dân
quanh
năm chỉ làm công
việc
thuần
nông
trổng
trọt,
chăn
nuôi.
Tuy chỉ
lao
động chân
tay vất
vã nhưng
cũng
như bao
người
dân
Việt
Nam khác
người
nông dân Lưu Thượng không
chỉ
cần cù

chịu
khó mà họ còn có đôi bàn
tay
khéo léo và óc sáng
lạo,
họ đã
tự
tạo ra
những
vật
dạng
hàng ngày
quen
thuộc
phạc
vạ cho
đời
sông cùa
mình như:
rổ, rá,
nón, mũ
từ
những
cây cỏ
tự
nhiên như:
guột,
mây,
tre,
lá vốn

gắn bó
với đời
sống
của
người
nông dân.
Năm
1988,
một sự
kiện diễn
ra
đánh dấu mốc phát
triển
nghề
đan cỏ
tế
của
làng
nghề
Lưu
Thượng,
đó là sản phẩm
thủ
công đầu tiên
"chiếc
giò
đi
chợ" được đan không
phải chỉ
để

phạc
vạ cho
đời
sống
người
dán mà nó
còn được đem bán trên
thị
trường.
Sau đó một năm, vào năm 1989 có một
vài khách hàng
mang
đến ảnh mỉu các sản phẩm bồ, thùng và yêu cầu
người
dân làm
thử.
Bằng óc sáng
tạo,
tìm tòi, học
hỏi,
người
dân Lưu
Thượng
tự
mày mò,
tự
gây
lan
công và đan
nhũng

sản phẩm đầu
tiên.
Từ
9
một người
biết
đan, dạy
truyền
miệng
cho
nhiều
người
khác, dần dần hầu
hết
dân
trong
làng
từ
người
già đến
trẻ
nhỏ đểu có
thể
đan hàng.
Năm 1990
- 1993,
Lưu Thượng
bắt
đầu sản
xuất theo

mô hình HTX,
và công hàng đầu tiên
xuất
khẩu
vào
thị
trường
Tiệp
Khắc là mặt hàng bủ,
thùng đan
từ
cây
Guột hay
còn
gọi

cỏ Tế
.
Đến năm 1993
khi
nhu
cầu
sản
phẩm mây
tre
đan trên
thị
trường nước ngoài ngày một
gia
tăng,


theo
xu
thế
phát
triển
chung
của
đất nước,
thì ở làng
bắt
đầu
xuất hiện
các hộ
gia
đình
sản
xuất kinh
doanh
xuất
khẩu
mây
tre
đan,
rồi
tiếp
đến là sự
ra đời
của
các

doanh
nghiệp

nhân.
Bắt
đàu sản
xuất
từ
mô hình HTX, chưa có
nhiều
mẫu sản phẩm
phong
phú, đến nay làng
nghề
Lưu Thượng đã phát
triển
mở
rộng với
hơn
mười
HGĐ, sáu
DNTN
và một HTX sản
xuất, xuất
khẩu
mặt hàng mây
tre
đan,
với
gần

3000
mẫu mã sản phẩm,
xuất
khẩu
đi
nhiều
nước trên
thế
giới,
tiêu
biểu là:
Nga,
Tiệp
Khắc, Bungary, Nhật
Bản,
khu
vực
Bắc Mỹ
[21
]
Lưu Thượng đã được
tỉnh
Hà Tây công
nhận
là làng
nghề
truyền
thống
từ
năm 1999 và là làng văn hoa của

tỉnh.
Qua gần 20 năm xây
dựng
và phát
triển,
Lưu Thượng đến nay đã có
nhiều đối mới,
đời sống người
dân
sung
túc, làng xóm
khang
trang

nghề
đan hàng
thủ
công đã
trở
thành
nghề
chính
mang
lại
hiệu
quả
kinh
tế
cao cho
người

nông dân bên
cạnh
trồng
trọt
và chăn
nuôi.
Và cùng
với nhiều
làng
nghề
khác ử Hà Tây, Lưu
Thượng
cũng
đang nỗ
lực
phát huy
thế
mạnh
nhằm phát
triển
mở
rộng
hơn
nữa sản
phẩm
thủ
công
của
làng
nghề,

góp
phần
cho sự phát
triển
chung
của
ngành
nghề
thủ
công
truyền
thông
của
Hà Tây nói riêng và của cả
nước.
li.
Sản phẩm và nhu cầu của sản phẩm làng
nghề
trên
thị truồng
Ì.
Đặc
điểm
của
mặt hàng mây
tre
đan
Giống
như hàng
loạt

các sản phẩm
thủ
công
truyền thống nủi
tiếng
khác của
tỉnh
Hà Tây như: Lụa Vạn
Phúc,
Thêu
ren Quất Động,
Khảm
trai
Chuyên Mỹ, Mộc Chàng
Sơn, Tre
đan
Ninh
sở sản phẩm mây
tre
đan cùa
làng
nghề
Lưu Thượng
cũng chứa
đựng
những
nét
tinh
xảo,
khéo léo do đôi

lo
tay
tài
hoa
của người
thợ tạo
nên,
mang
đậm dấu ấn
của
vãn hoa
Việt
Nam,

những
nét đặc trưng riêng của làng
nghề.
Tuy nhiên nói đến sản phẩm
mây
tre
đan của Lưu Thượng
thì chỉ những người
sành
sỏi
về các sán phẩm
mây
tre
cùng
loại
mới

thấy
được nét độc đáo về
chất
liệu
và cách đan hàng
mà không ở làng
nghề
nào có
được.
Mểi
người
vẫn
gểi
đó là bí
quyết
riêng
của
làng
nghề.
1.1.
Đặc điềm về
thương
phẩm
Bên
cạnh những
đặc
điếm
chung
giống
những

mặt hàng mây
tre
đan
ở các làng
nghề
truyền
thống
khác của Hà Tây, thì sản phẩm mày
tre
của
Lưu Thượng có
những
đặc
điểm
riêng
biệt
nổi
trội
hơn hẳn. Những đạc
điểm
đó cụ
thể
như
sau:
/././.
Vế nguyên
liệu
Trước
kia
mặt hàng

Guột
Tế
vẫn
được xếp cùng
với
mặt hàng mây
tre
đan,
nhưng do sự phát
triển
của các làng
nghề
đan
Guột
Tế
đặc
biệt

cả xã
Phú Túc đều là làng
nghề
thì mặt hàng đan từ
Guột
được tách riêng
trở
thành một mặt hàng độc
lập với
các mặt hàng khác. Tuy nhiên do phương
thức
và cách

thức
sản
xuất
mặt hàng này
chỉ
khác so
với
mặt hàn" mây
tre
về chất
liệu
nên vân được mểi
người
gểi
chung
là mặt hàng mây
tre
đan
Sản
phẩm mây
tre
đan
đựơc
làm
từ
những
vật
liệu
tự
nhiên,


đối
với
mặt
hàng mây
tre
đan thì
vật
liệu
tự
nhiên thường là các
loại
cây vốn
rất
quen
thuộc với
đời sống
làng quê
Việt
Nam. Đó là các
loại
cây như:
tre,
giang,
song,
mây,
nứa, cói,

nón,
lá buông Đây là nguyên

liệu
chú yếu
để đan hàng mây
tre
ở hầu
hết
các làng
nghề
làm sản phẩm này ở Hà Tây.
Riêng
đối với
làng
nghề
Lưu Thượng ngoài
việc
dùng
nhũng
nguyên
liệu
quen
thuộc
đó thì
người
dân ử đây còn dùng mội
loại
cây hoàn toàn
khác
biệt,
đó là cây
"Guột".

Đây là một
loại
cây cỏ mểc
tự
nhiên và có
rất
nhiều

rừng
nhiệt
đới
nước
ta.
Người
dân Lưu Thượng vẫn
gểi
loài cây này
là cây
Guột
hay cây cỏ
Tế,
còn ỏ
nhiều
nơi khác và ở vùng núi thì
người ta
gểi
cây này là cây Giàng Giàng, cây
Cút,
cây
Khen

Cây cò Tế
lại
được
li
chia
làm
nhiều
loại
khác
nhau:
tế
khôn,
tế
dại,
tế ông, tế bà
Tế
dại

loại
cỏ
Tế
cứng
rắn
và có lõi
rất
nhỏ ở
trong
thường chì được dùng để gãy mê.
Cỏ Tế
tốt


loại
tế to
tròn
đều,

ruột

trong
mềm
lo
dễ
nứt
vỏ và thường
dùng để đan hàng. vỏ của cây Tế được
gọi

nẹp,
loại
vật
liửu
này
muốn
đan được
phải
ngâm qua nước cho mềm. Tế thường có màu nâu
đỏ,
nhưng
khi
được

rửa

chải
kỹ thì có màu vàng
nhạt,
nhưng càng phơi
tế
sẽ càng
lên màu vàng cánh
dán. Loại
Tế được làm kỹ như
vậy

loại
vật
liửu
tốt

được
gọi
là "Tế
sỏi".
Còn
những
loại
Tê kém phẩm
chất

cong
vênh thì

được
gọi
là Tế ông hay Tê
bà.
Tế

loại
vật
liửu
chính của làng
nghề
Lưu
Thượng,
từ
loại
vật
liửu
này xa xưa
người
ta nứt rổ
rá và bây
giờ với
đôi hàn
tay
khéo léo và óc sáng
tạo
người
dân Lưu Thượng đã làm
ra
hàng nghìn

loại
sản phẩm khác
nhau
từ
giỏ, lang picnic,
lẵng
quà,
làn,
khung,
dương,
tủ
cung
cấp cho
thị
trường
trong
và ngoài
nước.
Với
những
nét đặc trưng
riêng
về
nguyên
liửu
sản phẩm làng
nghề
đã
nhanh
chóng

trỏ
nên
nổi
tiếng
và Lưu Thượng được mọi
người
biết
đến
với
cái tên làng
nghề
đan cỏ Tế.
Ngoài
vật
liửu
chính là cây
Guột,
người
dân Lưu Thượng còn
kết
hợp
sử
dụng
nhiều
loại
cây
tự
nhiên khác như:
Tre,
Giang,

Cói,
Mây,
Song,

Buông, và
thậm
chí cả
những
loại
vật
liửu
lường
chừng
không sử
dụng
được
như: Bèo Tây, Bẹ Ngô (võ của bắp
ngô)
Sự
kết
hợp
giữa
Guột

những
loại
cây này đã làm cho
chủng
loại
hàng hoa của Lưu Thượng trô

nên
phong
phú hơn về
chất
liửu

mang
tính sáng
tạo nhiều
hơn. Đó
cũng
chính

một đặc trưng
nổi bật của
làng
nghề
Lưu Thượng.
1.1.2.
Vé cách đan hàng
Mọi
sản phẩm mây
tre
đan đều được đan
theo
các bước chú yếu bao
gồm:
chọn
lan
công, gây mê và đan hàng. Các sản phẩm của Lưu Thượng

cũng
tuân thú
theo
các bước như
vậy
xong
vẫn có nét đặc trưng riêng
mang
dấu
ấn của đôi bàn
tay
khéo
léo,
con
mắt,
óc sàng
tạo
cùa
người
thợ
làng và
nét văn hoa
truyền
thống
trong
đời
sống
của
người
Lưu Thượng.

12
- Bước
Ì:
Chọn
lan
công để
đan.
Tuy
vào
từng
mặt
hàng,
mẫu
hàng,
khách yêu cầu đan
loại
vật
liệu

thì sẽ
chuẩn
bị
lan
công của
loại
vật
liệu
đó.
Nếu ở các làng
nghề

khác chỉ
coi
trọng nhất
là lúc đan hàng làm sao cho khéo thì ở Lưu Thượng
người
dân
lại
rất
chú
trọng
đến khâu
chọn
lan
công ban
đầu.

theo
người
dân
làng
nghề
lan
công đảp mới là cái
quyết
định
chất
lượng
một sản phẩm.
Nếu khâu
chọn

lan
công
to
nhỏ không phù hợp
với
hàng
Vài
khi
hàng làm
ra
sẽ
không đảp, không cân
xứng
và khó
chỉnh
sửa.
Ngoài ra
khi
chọn
lan
công
người
thợ
cũng
phải
tính toán độ dài
ngắn
và đếm số
lan
công sao cho

phù hợp
với
yêu
cầu
kích thước
của
hàng và để
tiết
kiệm
nguyên
liệu.
- Bước
2:
Gây mê.
"Gây mê" là
thuật
ngữ
người
dân Lưu Thượng thường dùng để chí
việc
sắp xếp các
lan
cống cứng
làm nền để đan hàng.
Việc
làm này
cũng
giống
như
việc

người
thợ
xây
phải tạo
khung
thép trước
khi
đổ bê lông.
Khâu này đòi
hỏi phải
chọn
được
lan
cóng
cứng

thẳng
đối
vớ
những
mặt
hàng vuông
vức,
còn
đối với
những
mặt hàng có
đường
uốn lượn thì
phải

chọn
những
lan
công mềm và
dai
hơn. Ớ làng
nghề
Lưu Thượng
người
ta
thường
dùng
vật
liệu
đạc trưng để gây mê, đó là cây Tế
dại
hoặc
là Tế để
nguyên chưa qua bóc tách
vỏ,

khi
để như vậy cỏ Tế
rất
chắc

cứng.
Thường
gây mê thì
phải

làm cho đúng kích cỡ yêu cầu của mạt
hàng,
phải
đếm số
lan
công,
và đan
theo
khuôn mẫu.
- Bước
3:
Đan hàng.
Đây là bước
cuối
cùng để hoàn thành một
sản
phẩm. Đan hàng là lúc
người
thợ thể hiện
sự khéo léo của đôi bàn
tay
và óc sáng
tạo
đế đan được
một
sàn phẩm ưng ý, đảp mắt và độc đáo. Độ
lỏng chặt
cần
thiết
của mỗi

sản
phẩm,
những
mấu đan dấu kỹ
thuật,
những
đường
nét
cong
hay vuông
vức,
hay các hoa văn được
tạo ra
trên sản phẩm thì chỉ có
những
người
thợ
đích
thực
mới có
thể
làm
được.
Bởi thế
mà mỗi một
sản
phẩm
thủ
công làm
13

ra
đều
mang
một nét
rất
riêng cùa mỗi
người
thợ.
Bên
cạnh
sự sáng
tạo
cùa
mỗi
người thợ
thì
việc
đan một sản phẩm
cũng
phải
tuân
theo
những
cách
làm
mang
tính
truyền thống
như
việc

xử lý
vật
liệu,
gọt
dũa
lan
công,
cắt tầa
và nắn
chầnh
hàng,
tạo
độ
bóng,
tính bền
chắc
cho
hàng
để mỗi sản phẩm
sẽ thể hiện
được nét văn hoa riêng của làng
nghề.

những
mạt hàng cần
đan thô thì
phần
xử lý nguyên
liệu rất
đơn

giản,
người
ta
thường để nguyên
liệu
đúng
theo
màu
sắc
và hình dáng
tự
nhiên.
Còn
đối
vói
những
mặt hàng
cần
chau
chuốt
và đan kỹ
thì
khâu xử lý
vật
liệu lại
khá cầu
kỳ.
Ngoài
việc
gọt

giũa lan
công
người
ta
còn
tiến
hành
tết,
bện
lan
công hay nhuộm màu
theo
yêu cầu của khách Mỗi
việc,
mỗi bước làm
tuy
đơn
giản
nhưng nó
đã ẩn
chứa bí
quyết
riêng và nét văn hoa độc đáo của làng
nghề, của
dân
tộc
Việt
Nam.
Tất
nhiên ở mỗi làng

nghề
mây
tre
đan đều có
những
nói đặc trưng
riêng
của
mình, và nét riêng đó được
thế
hiện
qua mồi mội sản phẩm.
Nhưng
khi
chứng
kiến
những người
thợ
ở Lưu Thượng đan hàng chúng
ta
sẽ
thấy
rõ hơn về
những
đặc
trang
riêng
này, đó là
những
nét đặc trưng

mang
tính
chất truyền thống
lâu
đời
và không phái
bất
kỳ
ai
cũng

thể
học
được,
và đó
cũng
là cái
tạo
nên
tiếng
tăm cho làng
nghề
và sản phẩm làng
nghề.
1.2.
Đúc điểm
vẽ
sản
xuất
Về đặc

điểm
thương phẩm làng
nghề
Lưu Thượng có được một nét
nổi
bật
riêng
có của mình nhưng
trong
sản
xuất
lại
chứa
đựng
những
nét
chung
giống
như các làng
nghề
khác ở Hà Tây. Do có đặc tính
chung
của
các mặt hàng
thủ
công là đòi
hỏi
sự
tinh
xảo và

phải
làm
bằng
tay,
không
cài nào
giống
hoàn toàn cái nào và nó phụ
thuộc
vào bàn
tay
của
mỗi
người
thợ

thế
việc
sản
xuất
các mặt hàng mây
tre
đan ớ Lưu Thượng
cũng
chầ
được
sản
xuất với
quy mô nhỏ
lẻ

và phân tán ở
từng
hộ
gia
đình,
mang
lính
nông
nhàn.
Không có công
nghệ sản
xuất
nên năng
suất
không cao và
chất
lượng
sản phẩm không đồng
đều.
Đây có
thể
được
coi
vừa là ưu
thế
vừa là
14
hạn chế của
quy trình sản
xuất

mặt hàng
thủ
công ở Lun Thượng nói riêng

của
các làng
nghề
khác
trẽn
cả
nước.
Quy trình sản
xuất

xuất
khẩu
rhặt
hàng mây
tre
đan ở làng
nghề
Lưu Thượng có
thể
được mô
tả
qua sơ đồ Ì.
Sơ đồ
1:
quy trình
sản xuất, xuất

khẩu
hàng máy
tre
đan
Qua sơ đồ có
thể thấy
tính
chất
phân tán về sản
xuất
của làng
nghề,
đây không chỉ là đặc
điểm
riêng của làng
nghề
Lưu Thượng mà đó là dặc
điểm
chung
của
tất
cả các làng
nghề
truyền
thông khác. Đôi
khi
tính
chất
sản xuất
không

tập trung
này đã dẫn đến tình
trạng
sản
xuất
không đáp ứng
kịp
nhu cựu của khách hàng,
bởi việc
sản
xuất
ở mỗi
gia
đình
thự
là khác
nhau,
và còn bị ảnh hưởng
nhiều
về công
việc gia
đình nên
thời
gian
sản
xuất
bị kéo dài và kế
hoạch
cho sản
xuất chỉ

mang tính
chất
tượng trưng.
Tuy
nhiên
với
cơ sở hạ
tựng hiện
tại
chưa có các xưởng sản
xuất tập trung
thì
việc giao
hàng đến
từng
hộ dân là một
biện
pháp
tốt
để có
thể
huy động
được
hết lực
lượng
lao
động nông nhàn
trong
dân cùng
tham

gia sản xuất.
2.
Nhu cẩu của
sản
phẩm làng
nghề
trên
thị
trường
Với
nét độc
đáo,
đơn
giản
nhưng
tinh
tế chỉ
có ớ các sản phẩm ihú
công,
thèm vào đó
lại

thể
sử
dụng
trong đời
sống
thường ngày làm
vật
15

dụng
gia
đình
hay đồ
trang
trí

những
nguyên nhân chính
khiến
cho
mặt
hàng
thủ
công nói
chung
và mặt hàng mây
tre
đan nói riêng được ưa
chuộng
trên
thị
trường.
Một
thực
tế là
vài năm
trở
lại
đây trên

thị
trường đặc
biệt
là thị
trường
nước
ngoài có nhu cẩu tăng cao
đối với
các sẫn phẩm thủ công
truyền
thống,
kéo
theo
đó là sự phát
triển
nở
rộ
của các làng
nghề

nhiều
làng
nghề
truyền
thống
được khôi
phục.
Cùng
với
hàng

loạt
các săn phẩm thủ
công
truyền
thống
khác thì mặt hàng mây
tre
đan
cũng
được
người
tiêu
dùng nước ngoài
rất
ưa
chuộng.
Với
hàng nghìn mẫu mã khác
nhau:
những
chiếc giỏ
đi chợ
xinh xắn; lẵng picnic
dân giã cho dịp đi cắm
trại
cuối tuần;
hay
những
chiếc giỏ
đựng bánh,

khay
đựng hoa quẫ
lịch
sự dùng
trong gia
đình; đến
những
bộ bàn ghế
sang
trọng
độc
đáo,
những
chiếc tủ
dựng
đổ,
thùng,
dương đựng
quần
áo;
đến
những
con thú ngộ
nghĩnh
cho
trẻ nhỏ,
hay
thậm
chí là bồ đựng rác văn phòng đó là cái
thu

hút đủ mọi
tầng
lốp
khách hàng tiêu dùng
sẫn
phẩm máy
tre đan.
Không
chỉ với
mẫu mã
phong
phú đẹp mắt mà giá cẫ
của
những
sẫn
phẩm này còn có
nhiều
mức,
lũy
từng
loại
sẫn phẩm, biên độ giá
giao
động từ 1000 đồng đến vài
triệu
đổng,
nhưng giá của
những
sẫn phẩm dùng
trong gia

đình
thường
rất phẫi
chăng
phù hợp
với
túi
tiền
của mọi
tầng
lớp.
Đặc
biệt
hàng mây
tre
đan
rất
thích
hợp với
khí hậu khô
hanh
ở các nước ôn
đới,
các mặt hàng thường có độ
bền
lâu hơn do khí hậu khô nên tránh được
hiện
tượng ẩm mốc, các sẫn
phẩm mây
tre

không quá
cồng
kềnh
dễ vận
chuyến,
giá thành
rẻ
nên khách
hàng nước ngoài
rất
yêu thích.
Nếu
với nhiều
loại
sẫn phẩm
thủ
công như khẫm
trai,
điêu
khắc,
đổ
gỗ
mỹ
nghệ,
đòi
hỏi
tính
thẩm
mỹ
rất

cao và thường
những
người
mua là
những
người
thích
nghệ
thuật
thì
với
sẫn phẩm mây
tre
đan tính tiên
dụng
lại
được
đặt
lên trước
bởi
phần
lớn
hàng mây
tre
đan là
vật
dụng
dùng
trong
cuộc

sống
và số
ít
là đồ
nội
thất
trong gia
đình.
Chính vì
vậy
mà mọi khách
hàng ở mọi
tầng
lớp
đều
rất
thích dùng đồ mây
tre.
Nhu cầu trên
thị
trường
khá cao và có xu hướng
tiếp
tục gia
tăng,
thêm vào đó là
nhiều
chính sách
16
hỗ trợ

phát
triển
làng
nghề
của
Nhà
nước

của
tỉnh
được ban hành là
một
thuận
lợi
cho làng
nghề
tiếp
tục
phát
triển
mở
rộng.
IU.

hình
tổ
chức
quản

trong

sản xuất

xuất
khẩu
tại
làng
nghề
Lưu Thượng
Khi
làng
nghề
Lưu Thượng
bờt
đầu
sản xuất
hàng
mây
tre
đan và
bán
trên
thị
trường
vào năm
1988 thì

làng chí

một
mỏ

hình tổ
chức
sản
xuất
duy
nhất
đó

HTX
của
làng.
Điều
này
cũng
dễ
hiểu
vì vào
thời
điểm
đó nước
ta
mới
bờt
đẩu
giai
đoạn
đổi
mới
từ
sau

đại hội
Đàng
lần thứ
VI
năm 1986 thì

hầu
khờp
trên cả nước vãn còn
chịu
ảnh hưởng
rất
nặng
nổ
của
thời
kỳ
bao
cấp.
Tuy
nhiên nhờ

chính sách
đổi
mới đúng đờn của
Đảng

Nhà
nước dần dần nền
kinh tế

nước
ta bờt
đầu tăng trưởng
mạnh

đạt
những
thành
tựu to lớn. Bờt kịp với
xu
thế
phát
triển
chung
đó
thì

các
làng
nghề
nói
chung
và ở
làng
nghề
Lưu
Thượng
đã
xuất
hiện

thêm
nhiều
mô hình
tổ
chức
quản
lý sản
xuất
mới để đáp ứng nhu cầu phát
triển
trên
thị
trường.

làng
nghề
Lưu
Thượng
hiện
có ba mô
hình
tổ
chức
quản

sản
xuất là:
Hộ
Gia
Đình,

Doanh
Nghiệp

Nhân và
Hợp
Tác Xã.
Trong
đó

hình
kinh
doanh
HGĐ
chiếm
đa
số,
tiếp
theo

các DNTN và HTX. Đến
năm
2006

Lưu Thượng

10 hộ
kinh
doanh
gia
đình,

6 DNTN và
Ì
HTX
sản xuất

xuất
khấu
mặt hàng
mây
tre
đan
[22].
Sự
phát
triển
đa
dạng
về
các

hình
tổ
chức
quản

sản xuất

làng
nghề
Lưu Thượng là hoàn toàn

phù hợp
với
chính sách
kinh
tế nhiều
thành
phần
của
Đảng
và Nhà
nước
ta
hiện
nay.
Ì.

hình
kinh
doanh
hộ
gia
đình
/./.
Sự
ra đời
của

hình kinh
doanh
Hộ

Gia
ĐÌIIÌI
Làng
nghề
Lưu
Thượng sản
xuất
hàng
mây
tre
đan bán
ra thị
trường
vào
năm
1988,
nhưng
mãi
đến
năm
1993
những
người
thợ

năng
lực

nờm
bờt

được nhu cầu
thị
trường mới
bờt
đầu tách
khỏi
HTX
ra
làm
riêng
và hình thành nên các
HGĐ
sản xuất

kinh
doanh
hàng
mây
tre
đan.
17
Ban
đầu
từ
một hộ tách
ra
làm riêng
với
quy mô nhỏ và chưa phổ
biến

nhưng các hộ
gia
đình được chú động
với
công
việc;
thêm vào đó

nhu cầu
trên
thị
trường nước ngoài
cao, Việt kiều
về nước đầu

kinh
doanh
tăng
lẽn
nhờ
có chính sách mở cửa chào đón
kiều
bào
của Đảng
và Nhà
nước.

thế
dù mới
bắt

đầu tách
ra kinh
doanh
nhưng mô hình
kinh
doanh
HGĐ
đạt
được
khá
nhiều
thành công đẩc
biệt

trong việc xuất
khấu
dù mới chỉ là
xuất
khẩu
qua
trung gian
là các thương nhân
Việt kiều.
Đây chính là động lực
khiến
cho mô hình
kinh
doanh
HGĐ
tiếp

tục
phát
triển
mở
rộng
và ngày
càng có thêm
nhiều
hộ
tham
gia kinh
doanh
theo
mô hình này.
Qua hơn 12 năm phát
triển,
hiện
nay mô hình
kinh
doanh
HGĐ vẫn
chiếm
đa số ở làng
nghề
Lưu
Thượng.
Tính đến năm
2006
số hộ
kinh

doanh
mẩt
hàng mây
tre
đan
theo
mô hình
kinh
doanh
HGĐ ử làng
nghề
Lưu
Thượng

lo
hộ
chiếm
gần 60%
trong
tổng
sô các mô hình
kinh
doanh
của
làng
nghề
Lưu
Thượng.
Các hộ
kinh

doanh
gia
đình vẫn không
ngừng
phát
triển
và có
nhiều
đóng góp cho sự phát
triển
chung
cùa làng
nghề.
1.2.
Đặc điểm và phương
thức hoạt
động của hộ
kinh
doanh
gia
đình
- Các hộ
kinh
doanh gia
đình tuy
chiếm
đa số ớ làng
nghề
Lưu
Thượng

nhưng quy mô của các hộ còn
rất
nhỏ, thể
hiện
ó chỗ mỏi tháng
năng
lực
sản
xuất
của
một hộ
gia
đình
chỉ

thể
đáp ứng được
thừ
một đến
hai
khách hàng
đẩt
hàng
với
số
lượng
tương đương một công-lê-nơ
40HQ
tức
vào

khoảng
gần
2000
sản phẩm. Năm
2005,
tổng
doanh
thu
của
mỗi hộ
trung
bình
đạt
khoảng
gần 1,2
tỷ
đồng.[21]
- Về cách
thức
tổ chức quản
lý của các hộ
gia
đình thì
hết
sức
giản
đơn.
Những
người
chủ thì

chịu
trách
nhiệm
tất
cả các công
việc
mang tính
chất ghi
chép liên
quan
đến sổ sách,
giao
dịch,
thanh
toán Ngoài ra chỉ
thuê thêm một số
ít
nhân công
lao
động
giản
đơn như bốc
vác,
nhúng keo,
phun
dầu

nguồn
nhân
lực

của
hộ
kinh
doanh
gia
đình chú yếu là các
thành viên
trong
gia
đình. Đây có
thể
nói là
điểm
yếu
nhất
cùa hộ
kinh
doanh
gia
đình.

theo
xu
thế
phát
triển
chung thì
cách
thức
tổ chức

quàn lý
18
và làm
việc
mang tính
chất gia
đình và
theo kinh
nghiệm,
thói
quen
lạc
hậu
sẽ

nguyên nhân dẫn
đến sự
thất
bại
trong kinh
doanh
và các hộ
kinh
doanh
gia
đình sẽ khó có
thể
phát
triển
mở

rộng
với
đủ
sức
cạnh
tranh
cũng
như năng
lực
đáp ứng nhu
cầu
ngày một tăng
của
khách hàng.
-
Việc
sản
xuất
hay đan hàng

các
hộ
kinh
doanh
gia
đình chủ yếu
theo
hình
thức
không

tập chung.
Đây
không chỉ là đặc
điểm
riêng cùa
hộ
kinh
doanh
gia
đình
mà nó
cũng
chính là đặc
điểm
của các

hình
tờ
chức
quản
lý khác

Lưu Thượng.
-
Việc xuất
khẩu
của
các hộ
gia
đình thường được

thực hiện
qua
trung
gian
là các công
ty
thương mại

Việt
kiều.
Hầu
hết
các hộ
gia
đình
đều
chưa
có đủ
năng
lực giao
dịch

thực hiện xuất
khấu
trực
tiếp
với
các
khách hàng nước ngoài.
2.

Các
doanh
nghiệp
tư nhân sản
xuất

xuất
khẩu
sản phẩm
mây
tre
đan
tại
làng
nghề
Lưu Thượng
2.1.
Sự
hình
thành và phát
triền
của
các doanh nghiệp lư nhân
lại
lùng
nghề Lim Thượng
Năm 1998
các DNTN
mới
bắt

đầu được thành
lập

làng
nghề
Lưu
Thượng

tất
cả các DNTN ở đây
đều được hình thành
từ
mỏ
hình
kinh
doanh
hộ
gia
đình.
Sau
khi
tách
riêng
hoạt
động độc
lập
vào
nam
1993,
qua quá trình sản

xuất

kinh
doanh,
năng
lực cũng
như
những
kiên
thức
về
thị
trường

cách
thức
làm ân
trên
thị
trường của các hộ
gia
đình tăng
lẽn

họ
hắt
đầu

hiểu
biết

về
những
chính sách
khuyến
khích sản
xuất

xuất
khâu hàng
thú công
truyền
thống
của
Nhà
nước

những
ưu
đãi
nhà
nước dành
cho
các
doanh
nghiệp hoạt
động
trong lĩnh
vực
này
thì

một số các hộ
kinh
doanh
gia
đình
đã
mạnh
dạn thành
lập
DNTN.
Khi
hỏi
các DNTN ở
làng
nghề
Lưu
Thượng thì
họ
cho
biết

khi
thành
lập
doanh
nghiệp

con dấu
pháp


của
Nhà
nước cấp thì mọi
hoại
động
giao
dịch
của
họ
với
khách
hàng được
mở
rộng
hơn và
được khách hàng
tin
tưởng hơn, ngoài
ra
thành
19
lập
doanh
nghiệp
thì sau này sẽ dễ dàng
giao
dịch
trực
tiếp
với

khách nước
ngoài
khi
cơ sở
sản
xuất
của
họ được
mở
rộng.
Tuy ra đời
sau nhưng các
DNTN
hoạt
động có
phần
hiệu
quả hơn
so
với
các mô
hình khác. Năng
lực
sản
xuất
cao
hơn
nhờ
việc
sẳp xếp công

việc

tuyển
dụng lao
động
do đó
doanh thu
của các
DNTN
cao
hơn
hẳn
mô hình
kinh
doanh
hộ
gia
đình.
Năm
2005,
trung
bình mỗi
DNTN
xuất
từ
3
đến
4
công-te-nơ 40HQ/tháng


doanh thu
trung
bình của
DNTN
làng
nghề
Lưu Thượng
đạt
từ
2,5
tỷ
đến
3
tỷ
đồng
[21].
Sau gần 10 năm, đến nay
làng
nghề
Lưu
Thượng
đã có 6 DNTN
được thành
lập

hoạt
động
góp
phần
đáng kể cho sự phát

triển
của làng
nghề
Lưu
Thượng.

cùng
với
sự
phát
triển
của
các
làng
nghề
truyền
thông trên
cả
nước,
làng
nghề
Lưu
Thượng
mà cụ
thể
là các
doanh
nghiệp
làng
nghề

vãn
đang
nỗ
lực
hoạt
động
nâng cao năng
lực

kiến
thức
về
hội
nhập
phát
triển
kinh
tế
chuẩn
bị
sẩn
sàng cho
những
thay đổi lớn khi
Việt
Nam
gia
nhập
tổ
chức

thương mại
thế giới
WTO
vào
cuối
năm
2006
này.
2.2.
Đặc
điểm và phương
thức hoại
động của các doanh
nghiệp

nhân
Được
phát
triển
từ

hình
kinh
doanh
HGĐ nên
các
DNTN ở
làng
nghề
Lưu

Thượng
cũng

những
đặc
điểm
giông
với

hình
kinh
doanh
HGĐ,
tuy
nhiên
cũng

những
nét
tiến
bộ và
khoa
học hơn về mặt
tổ
chức
sản xuất

quản

kinh

doanh.
2.2.1
Về
cách thức

chức quản

Tuy
còn
giản
đơn
nhưng nhìn
chung
các DNTN ở
làng
nghề
Lưu
Thượng
cũng
đã
sẳp xếp được

cấu
tổ chức
cho
doanh
nghiệp
mình. Với
năng
lực hiện

tại
thì
việc
tổ chức
sản
xuất
và phân tách công
việc
như vậy
cũng
đã
là một
tiến
bộ
đáng
kể
của các
doanh
nghiệp
làng
nghề. Điều
đó
cũng
đã
phần
nào giúp cho
hoạt
động của các
doanh
ghiệp diễn

ra
thuận
lợi

hiệu
quả
hơn.
Các
doanh
nghiệp

Lưu Thượng chủ yếu
sẳp
xếp cơ
cấu tổ
chức
theo
như sơ đồ
2:
20
Bộ
phận
làm công
việc
hành chính
Bộ
phận
sàn
xuất
Bộ

phận
làm công
việc
hành chính
Bộ
phận
sàn
xuất
Bộ
phận
làm công
việc
hành chính
Bộ
phận
sàn
xuất
*
- Giám đốc
- 1 Nhân viên
giao
dịch
- 1 Nhân viên kế toán
- 1 Nhân viên
điều
hàng
<
J
'
4 ì

- Nhân viên nhúng keo,
phun dầu, chỉnh sửa
hàng
hoa
- Lao động
giản
đơn thuê
theo
ngày công
V J

đồ
2:

cấu
tổ
chức của
DNTN
làng nghề
Lưu
Thượng
Qua
sơ đồ 2 có
thể thấy
các
DNTN
chưa
có bộ
phận
nhân viên

đan
hàng.
Đây

điểm
chung
của
tất
cả các
doanh
nghiệp
cũng
như HGĐ ớ
làng
nghề
Lưu
Thượng.
Nguyên nhân là
đo các
thợ
đan hàng

làng chủ
yếu

nông
dân và hờ đan
hàng
lúc
nông nhàn,

hơn nữa do
thói
quen
sống

lao
động nên hờ không
thể
làm
việc
theo
quy
tắc

giờ giấc
như
các công nhân

các
nhà máy và
doanh
nghiệp
thông
thường.
Người
thợ
đan hàng thường chỉ đến các
doanh
nghiệp
nhận

hàng
về và đan
tại
nhà.
Chính
bởi
lý do này mà
tổ
chức
sản
xuất
của
doanh
nghiệp
mang
tính
chất
phân
tán và
điều
này ảnh
hưởng
không
nhỏ đến
hoạt
động
và kế
hoạch
sàn
xuất

của các
doanh
nghiệp.
Một
điếm
đáng lưu
ý
nữa là

các
DNTN
làng
nghề
Lưu
Thượng
việc
hoạt
động của
doanh
nghiệp
còn bị ảnh
hưởng
rất
lán
của thói
quen
kinh
doanh
theo


hình HGĐ. Giám Đốc vẫn là
người
chịu
trách
nhiệm
loàn
bộ
các
khoản
từ thanh
toán đến sổ
sách.
Các nhân viên kế toán và văn phòng chủ
yếu
chỉ giúp
nhũng
việc
liên
quan
đến
giấy
tờ
chứng
từ

giao
dịch
qua
mạng


những
công
việc
mới

kiến
thức thức
mới

giám đốc không
thực
hiện
được.
Mặc
dù đã
tiếp
thu
những
cái mới

trang
bị
nhũng
tiện
nghi
cho
văn phòng làm
việc
xong
do

kiến
thức
hạn hẹp nên các
doanh
nghiệp
chưa
khai
thác
hết
tính năng của các
thiết
bị
và đôi
khi
vẫn còn
làm
việc
thủ
công.
Điểm
yếu
này ảnh
hưởng
rất
lớn
đến
hiệu
quả làm
việc
của

các
DNTN.
21
2.2.2.
Về
phương
thức hoạt
động
Với
trình
độ
năng
lực yếu,
không
biết
ngoại
ngữ
và các
nghiệp
vụ
kinh
doanh quốc
tế

thói
quen
kinh
doanh
của


hình HGĐ,
nên các
DNTN
hoạt
động sản
xuất
phân
tán,
quy

nhỏ còn
hoạt
động
xuất
khẩu
thì hoàn toàn qua
trung gian

các
công
ty
thương mại

xuất
khẩu
qua
các
Việt
kiều


nước ngoài.
Việc giao
dịch
qua
khâu
trung gian
không
những
làm
giảm
lợi
nhuần

còn hạn
chế
việc
mở
rộng thị
trường tiêu
thụ
của
doanh
nghiệp.
Doanh
nghiệp
không
nắm
bắt
được
thị hiếu


nhu cầu
thực
sự

thị
trường nước ngoài
diễn ra
như
thế
nào để có cách
giải
quyết

cải tiến
khâu sản
xuất

mẫu mã
sản
phẩm cho
tốt
đế đáp ứng
kịp
thời
nhu
cầu
khách
hàng.
Các DNTN ở

làng
nghề
Lưu Thượng
cũng nhần
thức
được
điểm
yếu
kém
này và
cũng
đang nỗ
lực
tìm cách
khắc
phục,
tuy
nhiên
trong
thời
điểm
hiện
tại
với
trình
độ và
nguồn
nhân
lực
còn

hạn hẹp thì phương
thức xuất
khẩu
gián
tiếp
qua
trung gian
là phương
thức hoạt
động được cho
là an toàn

phù hợp
với
các
DNTN.
Nhưng
trong
dài hạn để phát
triển
mở
rộng
hơn nữa

đẩy
mạnh
xuất
khẩu
mại hàng
mây

tre
đan
guột
tê thì
các
DNTN
cẩn
phải thay đổi
phương
thức hoạt
động
hiện
tai
của
mình.
3.

hình hợp tác

sản
xuất

xuất
khẩu sản
phẩm
mây
tre
đan
tại
làng

nghề
Lưu Thượng


hình sản
xuất kinh
doanh
đầu tiên

làng
nghề nhung
đến nay
mô hình
HTX
không
những
không được phát
triển
nhân
rộng

còn bị
thu
hẹp dần.
Hiện
nay

làng
nghề
Lưu

Thượng chỉ
còn
duy
nhất
Ì HTX
sản
xuất

xuất
khẩu
hàng
mây
tre
đan.

với
sự phát
triển
của

hình
kinh
doanh
HGĐ

DNTN
thì
đến nay

hình

HTX
không còn
nắm
giữ
vai
trò
quan
trọng trong
việc
phát
triển
làng
nghề
như trước
kia
nữa và
nhũng
đóng
góp của
HTX
đối
với
sự phát
triển
kinh tế

hội
làng
nghề


ra
kém hơn
nhiều
so
với
các
doanh
nghiệp
và hộ
gia
đình. Tuy nhiên

được
tổ chức
sản xuất

kinh
doanh
theo
hình
thức
nào đi nữa thì
tinh
Hà Tây
nói riêng

Nhà
nước ta vẫn luôn

chính sách

khuyến
khích
đầu tư
sản
xuất

×