I. MỞ ĐẦU
- LSNG
đã
được
khai
t
hác,
sử
dụng
ở
Việ
t
Nam
t
ừ
thờ
i
cổ
đạ
i
và
được
co
i
l
à
những
sản
vậ
t
qu
í
của
đấ
t
nước. Từ xưa đến nay nó
đã
có
vai
trò
quan
trọng
t
rong
đờ
i
sống
của
nhân
dân
đặc biệ
t
l
à
đố
i
vớ
i
những
ngườ
i
dân
sống
trong
và
xung
quanh
rừng. LSNG không
chỉ
đáp
ứng
nhu
cầu
dân
dụng
mà nhiều
l
oạ
i
t
rở
thành
nguyên
li
ệu
công
nghiệp
và
hàng
hoá
xuấ
t
khẩu.
- Tuy nhiên, mặc dầu biết giá trị của tài nguyên rừng, trong đó có LSNG, nhưng mọi
người vẫn quan niệm rằng “rừng vàng, biển bạc” đại bộ phận nhân dân cho đến nay
vẫn chỉ coi tài nguyên của rừng tự nhiên như của “Trời cho”. Do đó, chính quyền
trong các thời đại trước Cách mạng Tháng 8 không quản lý LSNG trong rừng tự nhiên,
chỉ đánh thuế những người kinh doanh một số mặt hàng LSNG. LSNG chỉ thực sự trở
thành đối tượng quản lí của Nhà Nước và được đầu tư phát triển như một ngành kinh
tế từ khi Tổng cục Lâm nghiệp ra đời, năm 1961.
- Đến khi lâm nghiệp truyền thống được chuyển sang lâm nghiệp cộng đồng thì
rừng được nhà nước chú ý quan tâm phát triển. Đặc biệt từ 1999 đến nay nhà nước ta
đã ban hành nhiều chính cho việc bảo vệ và phát triển lâm nghiệp. Vì vậy LSNG tuy
chưa có chính sách riêng, nhưng các chính sách cho lâm nghiệp đã có nhiều tác động
tích cực cho sự quản lý và phát triển nó. Vậy để hiểu rõ về các chính sách tác động đến
LSNG chúng tôi đã thực hiện chuyên đề: “PHÂN TÍCH SỰ CHUYỂN BIẾN TÍCH
CỰC TRONG CÁC CHÍNH SÁCH LIÊN QUAN ĐẾN LSNG TỪ 1999-2008”
II. MỤC ĐÍCH
• Biết được các chính sách liên quan đến LSNG;
• Thấy được sự chuyển biến tích cực của các chính sách về LSNG.
III. NỘI DUNG
Để làm rõ nội dung của bài báo cáo là “Phân tích sự chuyển biến tích cực trong các
chính sách về LSNG từ năm 1999 đến 2008” chúng tôi tiến hành 2 công việc sau:
- 1 -
- Đưa ra những chính sách liên quan đến LSNG từ năm 1999 đến 2008 đồng thời
khái quát nội dung chung của những chính sách này và kèm theo là những nội dung
liên quan đến LSNG;
- Tiến hành phân tích sự chuyển biến trong những chính sách liên quan đến
LSNG. Tuy nhiên chúng tôi chỉ đi sâu vào phân tích những chuyển biến tích cực trong
những chính sách này.
PHẦN 1: NHỮNG CHÍNH SÁCH
Số
TT
Tên VB
CQ ban
hành
Ngày
ban
hành
Nội dung
1
02/1999/
QĐ-BNN-
PTNT
Bộ NN-
PTNN
05/01/99
Quy chế khai thác gỗ, khai thác tre nứa, các loại
lâm sản ngoài gỗ. Việc khai thác phải có hồ sơ thiết
kế cho khai thác. Nếu khai thác khối lượng lớn, tập
trung phải có sở NN và PTNT duyệt và cấp giấy
phép khai thác
Đối với các loài sản phẩm có khối lượng nhỏ, phân
tán, không thuộc diện cấm thì được phép khai thác
nhưng không làm tổn hị đến các loại sản phẩm đó
(sa nhân, song mây, ba kích,…)
2 28/1999/
TTLT
Bộ NN-
PTNN
03/02/99 Thi hành Quyết định số 661/QĐ-TTg Ngày 29
tháng 7 năm 1998 của Thủ tướng Chính phủ "Về
mục tiêu, nhiệm vụ, chính sách và tổ chức thực
hiện dự án trồng mới 5 triệu ha rừng"
- Trồng 3 triệu ha rừng sản xuất , trong đó:
* Rừng nguyên liệu cho công nghiệp : 1,6 - 1,62
triệu ha, chủ yếu trồng các loài cây keo, tre luồng,
thông, bồ đề, mỡ, bạch đàn,
* Rừng gỗ trụ mỏ: 80.000ha, trồng các loài cây
thông, sa mộc, bạch đàn,
* Rừng cây đặc sản: 200.000ha, bao gồm các loài
cây quế, hồi, thông nhựa, trúc sào, táo mèo, sở, cây
- 2 -
lấy măng.v.v
3
163/1999/
NĐ-CP
Chính
phủ
16/11/99
Quy định Giao đất, cho thuê đất lâm nghiệp cho tổ
chức, Hộ gia đình và cá nhân sử dụng ổn định, lâu
dài vào mục đích lâm nghiệp
- Nhà nước giao đất, cho thuê đất lâm nghiệp cho
tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định, lâu
dài vào mục đích lâm nghiệp, gồm các loại đất lâm
nghiệp trong đó:
- Đất rừng đặc dụng là vùng đất lâm nghiệp quy
hoạch xây dựng, phát triển rừng để bảo tồn thiên
nhiên; mẫu chuẩn hệ sinh thái rừng của quốc gia;
nguồn gen thực vật, động vật rừng; nghiên cứu
khoa học; bảo vệ di tích lịch sử, văn hoá và danh
lam thắng cảnh, phục vụ nghỉ ngơi du lịch, bảo vệ
môi trường sinh thái,…
Đất rừng sản xuất là vùng đất lâm nghiệp quy
hoạch chủ yếu để sản xuất kinh doanh cây rừng,
các loại lâm sản khác, đặc sản rừng, động vật rừng
và kết hợp phòng hộ bảo vệ môi trường sinh thái
4
09/2000/
NQ-CP
Chính
phủ
15/06/00
Quy định một số chủ trương và chính sách về
chuyển dịch cơ cấu kinh tế và tiêu thụ sản phẩm
nông nghiệp
Tiếp tục chỉ đạo thực hiện tốt Chương trình trồng
mới 5 triệu ha rừng. Ngoài bảo vệ, khoanh nuôi, tái
sinh và trồng rừng đặc dụng, phòng hộ thì phải phát
triển mạnh rừng sản xuất, tập trung vào một số định
hướng lớn sau đây:
- Phát triển các loại quế, hồi v.v ở những vùng có
điều kiện, phù hợp nhu cầu thị trường quốc tế.
- Phát triển ngành sản xuất đồ gỗ ngoài trời, gỗ gia
dụng, gỗ mỹ nghệ và các sản phẩm mây, tre đan,
chủ yếu để xuất khẩu.
- 3 -
5
132/2000/
QĐ-TTg
Chính
phủ
24/11/00
Quy định một số chính sách khuyến khích phát
triển ngành nghề nông thôn.
Đầu tư phát triển một số ngành nghề nông thôn
như: Sản xuất vật liệu xây dựng, đồ gỗ, mây tre
đan, gốm sứ, thủy tinh, dệt may, cơ khí nhỏ ở nông
thôn
Chính sách đầu tư phát triển thị trường nông lâm
sản…
6
08/2001/
QĐ-TTg
Chính
phủ
11/1/01
Quy định về quản lý rừng đặc dụng, rừng phòng
hộ, rừng sản xuất là rừng tự nhiên
Quy định về việc khai thác tận dụng tre nứa và
lâm sản trong rừng phòng hộ:
+ Được phép tận dụng các loài lâm sản ngoài gỗ,
tre nứa mà không ảnh hưởng đến khả năng phòng
hộ của rừng( trừ lâm sản thuộc nhóm I)
+ Tre nứa khi đạt yêu cầu phòng hộ 80% được
phép khai thác 30%,được khai thác măng
+ Có khuyến khích tổ chức các hoạt động du lịch
của rừng đặc dụng không làm ảnh hưởng đến mục
tiêu bảo tồn thiên nhiên và môi trường
7
11/2001/N
Đ-CP
Chính
phủ
22/1/01
Về việc quản lý hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu và
quá cảnh các loài động vật, thực vật hoang dã
Bảo vệ các loại động thực vật quý hiếm trong đó
có các loài động thực vật từ rừng, một số cây lâm
sản ngoài gỗ quý hiếm như: sâm Tam Thất, sâm
Ngọc Lan, Lan một lá,…
8 80/2003/
TTLT/B
NN-BTC
Bộ NN-
PTNT
03/09/03 Thi hành Quyết định số 178/2001/QĐ-TTg ngày
12/11/2001 của Thủ tướng Chính phủ về "Quyền
hưởng lợi, nghĩa vụ của hộ gia đình, cá nhân được
giao, được thuê, nhận khoán rừng và đất lâm
nghiệp"
Quyền hưởng lợi trên đất lâm nghiệp là những lợi
ích từ rừng mà người được giao, được thuê, nhận
- 4 -
khoán rừng và đất lâm nghiệp được hưởng, gồm:
gỗ, củi, tre, nứa, vầu, lồ ô, giang, dùng, măng các
loại mây, hèo, quả, các loại lá, vỏ cây nhựa, hạt,
cây thuốc v.v (trừ những động vật, thực vật nằm
trong danh mục thực vật rừng, động vật rừng quý,
hiếm theo quy định của Chính phủ và danh mục
động vật, thực vật ghi trong phụ lục công ước quốc
tế CITES ), Sản phẩm nông nghiệp trồng xen, nuôi
trồng thuỷ sản, vật nuôi, dịch vụ du lịch
9
04/2004/Q
Đ-BNN
Bộ NN-
PTNT
02/02/04
Quyết định về việc ban hành “Quy chế khai thác
gỗ và Lâm sản khác”
Quy chế này quy định: chủ rừng được Nhà nước
giao rừng, đất rừng để trồng, quản lý bảo vệ và sản
xuất kinh doanh có hoạt động khai thác gỗ và lâm
sản khác.
Đối với những khu rừng chưa có chủ, chỉ được
phép tận thu cây ngã đổ, tận dụng cây chết để sử
dụng và được khai thác lâm sản ngoài gỗ.
10
139/2004/
NĐ-CP
Chính
phủ
25/06/04
Quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh
vực quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản:
Xử phạt vi phạm hành chính đối với tổ chức, cá
nhân vi phạm các quy định về quản lý, bảo vệ động
vật hoang dã và vận chuyển lâm sản trái phép.
11
63/2004/T
T-BNN
Bộ NN-
PTNT
11/11/04
Thông tư hướng dẫn một số nội dung của Nghị
định số 139/2004/NĐ-CP ngày 25/6/2004 của
Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong
lĩnh vực quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm
sản.
12 29/2004/Q
H11
Quốc
hội
03/12/04 Luật này quy định về quản lý, bảo vệ, phát triển, sử
dụng rừng, quyền và nghĩa vụ của chủ rừng.Luật
quy định:
- Được phép khai thác các loại măng, tre nứa trong
- 5 -
rừng khi đã đạt yêu cầu theo quy chế quản lý rừng;
- Được phép khai thác các loại lâm sản khác ngoài
gỗ mà không làm ảnh hưởng đến rừng, trừ các loài
thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm
bị cấm khai thác theo quy định của Chính phủ.
13
28/2005/Q
Đ-BNN
Bộ NN-
PTNT
26/05/05
Hướng dẫn sửa đổi, bổ sung một số điểm của
Thông tư số 63/2004/TT-BNN ngày 11/11/2004
của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.
Hướng dẫn một số nội dung của Nghị định số
139/2004/NĐ-CP ngày 25/6/2004 của Chính phủ
về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản
lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản.
14
150/2005/
QĐ-TTg
Chính
Phủ
20/06/05
Phê duyệt quy hoạch chuyển đổi cơ cấu sản xuất
nông, lâm nghiệp, thủy sản cả nước đến năm 2010
và tầm nhìn 2020
15
40/2005/Q
Đ-BNN
Bộ NN-
PTNT
07/07/05
Về việc ban hành Quy chế về khai thác gỗ và lâm
sản khác.
Quy chế ban hành kèm theo quyết định.
- Quy chế này quy định về điều chế rừng, thiết kế
khai thác, khai thác chính, khai thác tận dụng, tận
thu lâm sản trong rừng sản xuất, rừng phòng hộ là
rừng tự nhiên và rừng trồng.
- Quy chế này cũng trình bày chi tiết những quy
định về khai thác gỗ, LSNG trong rừng sản xuất là
rừng tự nhiên, rừng phòng hộ, rừng sản xuất.
16 23/2006/N
Đ-CP
Chính
Phủ
03/03/06 Quy định về thi hành Luật Bảo vệ và phát triển
rừng
Nghị định này quy định về việc: quy hoạch, kế
hoạch bảo vệ và phát triển rừng;
giao rừng, cho thuê rừng, thu hồi rừng, chuyển
mục đích sử dụng rừng, chuyển đổi, chuyển
nhượng, tặng cho; công nhận, đăng ký, cho thuê lại,
- 6 -
thế chấp, bảo lãnh, góp vốn, để thừa kế quyền sử
dụng rừng, quyền sở hữu rừng sản xuất là rừng
trồng; thống kê, kiểm kê, theo dõi diễn biến tài
nguyên rừng; tổ chức quản lý rừng, bảo vệ rừng,
phát triển rừng và sử dụng rừng.
17
17/2006/T
T-BNN
Chính
phủ
14/03/06
Hướng dẫn thực hiện Quyết định số 304/2005/QĐ-
TTg ngày 23 tháng 11 năm 2005 của Thủ tướng.
Chính phủ về việc thí điểm giao rừng, khoán bảo
vệ rừng cho hộ gia đình và cộng đồng trong buôn,
làng là đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ ở các tỉnh
Tây Nguyên.
Quy định về việc giao khoán bảo vệ:
+ Rừng hỗn giao gỗ, tre nứa, trong đó trữ lượng
gỗ lớn hơn hoặc bằng 70m3/ha;
+ Rừng tre, nứa, lồ ô…có độ tàn che lớn hơn
80%.
18
186/2006/
QĐ-TTg
Chính
phủ
14/08/06
Quyết định Về việc ban hành Quy chế quản lý
rừng.
Quy chế này quy định về việc tổ chức quản lý, bảo
vệ, phát triển và sử dụng rừng đặc dụng, rừng
phòng hộ và rừng sản xuất, bao gồm diện tích có
rừng và diện tích không có rừng đã được Nhà nước
giao, cho thuê hoặc quy hoạch cho lâm nghiệp.
19
258/2006/
QĐ-TTg
Chính
phủ
09/11/06
Quyết định về việc phê duyệt chương trình điều tra
đánh giá và theo dõi diễn biến tài nguyên rừng giai
đoạn 2006 – 2010.
Nội dung được quy định trong chương trình gồm
có.
Điều
tra,
đánh
giá
và
theo
dõi
diễn
biến
các
chỉ
tiêu
về
chất
lượng
rừng; điều tra
xây
dựng
các
báo
cáo
chuyên
đề về: động vật rừng, côn trùng sâu
bệnh hại, biến động về tài nguyên lâm sản ngoài
gỗ
- 7 -
20
106/2006/
QĐ-BNN
Bộ NN-
PTNT
27/11/06
Văn bản này hướng dẫn việc giao rừng; lập kế
hoạch quản lý rừng; quyền hưởng lợi và nghĩa vụ
của cộng đồng dân cư thôn ; trách nhiệm của các cơ
quan, tổ chức có liên quan trong quá trình quản lý
rừng cộng đồng dân cư thôn.
Việc lập kế hoạch quản lý rừng cộng đồng cũng có
liên quan đến việc lập kế hoạch khai thác, quản lý
tre nứa và các lâm sản khác.
21
18/2007/Q
Đ-TTg
Thủ
tướng
Chính
phủ
05/02/07
Quyết định về việc Phê duyệt Chiến lược phát triển
lâm nghiệp Việt Nam giai đoạn 2006 – 2020
Văn bản này nêu rõ: tiến hành thiết lập, quản lý,
bảo vệ, phát triển và sử dụng bền vững 3 loại rừng
gồm: 8,4 triệu ha rừng sản xuất, trong đó 4,15 triệu
ha rừng trồng bao gồm rừng nguyên liệu công
nghiệp tập trung, lâm sản ngoài gỗ, 3,63 triệu ha
rừng sản xuất là rừng tự nhiên và 0,62 triệu ha rừng
tự nhiên phục hồi sản xuất nông lâm kết hợp (phấn
đấu ít nhất có được 30% diện tích có chứng chỉ
rừng); 5,68 triệu ha rừng phòng hộ và 2,16 triệu ha
rừng đặc dụng.
Về kinh doanh xuất khẩu: Xuất khẩu lâm sản đạt
trên 7,8 tỷ USD (bao gồm 7 tỷ USD sản phẩm gỗ
và 0,8 tỷ USD sản phẩm lâm sản ngoài gỗ).
22
69/2007/Q
Đ-TTg
Thủ
tướng
Chính
phủ
18/05/07
Quyết định phê duyệt Đề án phát triển công nghiệp
chế biến nông, lâm sản trong công nghiệp hoá, hiện
đại hoá nông nghiệp, nông thôn đến 2010 và định
hướng đến năm 2020.
Đưa ra chỉ tiêu cụ thể đối với ngành chế biến gỗ và
lâm sản ngoài gỗ: đến năm 2010, 50% sản lượng gỗ
và lâm sản ngoài gỗ được chế biến công nghiệp,
đến năm 2020 là 70%
23 79/2007/Q Thủ 31/05/07
Phê duyệt “Kế hoạch hành động quốc gia về Đa
dạng sinh học đến năm 2010 và định hướng đến
- 8 -
Đ-TTg
tướng
Chính
phủ
năm 2020 thực hiện Công ước Đa dạng sinh học và
Nghị định thư Cartagena về An toàn sinh học”
Đưa ra mục tiêu, định hướng, nhiệm vụ chủ yếu,
các giải pháp nhằm bảo tồn và nâng cao đa dạng
sinh học đến năm 2020.
24
100/2007/
QĐ-TTg
Thủ
tướng
Chính
phủ
06/07/07
Sửa đổi, bổ sung một số điều của Quyết định số
661/QĐ-TTg ngày 29 tháng 7 năm 1998 về mục
tiêu, nhiệm vụ, chính sách và tổ chức thực hiện Dự
án trồng mới 5 triệu ha rừng.
Văn bản có đề cập đến việc đặc biệt chú ý phát
triển lâm sản ngoài gỗ tạo thu nhập cho người dân
sinh sống trong vùng rừng nhằm tiến hành bảo vệ
rừng có hiệu quả hơn đồng thời phát triển và làm
giàu các loại rừng.
25
166/2007/
QĐ-TTg
Thủ
tướng
Chính
phủ
30/10/07
Quy định về việc ban hành chính sách hỗ trợ đầu tư
và hưởng lợi đối với hộ gia đình, cộng đồng dân cư
thôn và các tổ chức tham gia dự án "Phát triển lâm
nghiệp để cải thiện đời sống vùng Tây Nguyên"
Đối với rừng sản xuất: hộ gia đình, cộng đồng dân
cư thôn: mức hỗ trợ bình quântương đương 500
USD/ha đối với trồng tập trung bằng cây mọc
nhanh; 300 USD /ha đối với trồng rừng theo
phương thức nông lâm kết hợp; 70 USD/ha đối với
trường hợp cải tạo vườn tạp.
26
01/2008/T
T-BTC
Bộ Tài
Chính
03/01/08
Hướng dẫn lập, quản lý, sử dụng và quyết toán
kinh phí ngân sách nhà nước đối với việc thực hiện
Kế hoạch hành động quốc gia về Đa dạng sinh học
đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020 thực
hiện Công ước Đa dạng sinh học và Nghị định thư
Cartagena về An toàn sinh học
27 05/2008/N
Đ-CP
Chính
phủ
14/01/08 Nghị định này quy định việc thành lập, quản lý và
sử dụng Quỹ bảo vệ và phát triển rừng.
Nghị định quy định như sau: Quỹ là tổ chức tài
- 9 -
chính nhà nước, hoạt động không vì mục đích lợi
nhuận, hỗ trợ cho các chương trình, dự án hoặc các
hoạt động phi dự án mà ngân sách nhà nước chưa
đầu tư hoặc chưa đáp ứng yêu cầu đầu tư. Cụ thể,
Quỹ hỗ trợ trồng cây phân tán, hỗ trợ kinh phí để
chống chặt, phá rừng và sản xuất, kinh doanh, vận
chuyển lâm sản trái phép, hỗ trợ phát triển lâm sản
ngoài gỗ trên đất lâm nghiệp
28
65/2008/T
TLT-
BNN-
BTC
Bộ NN-
TNT-
BTC
26/05/08
Hướng dẫn thực hiện Nghị định số 48/2007/NĐ-CP
ngày 28/3/2007 của Chính phủ về nguyên tắc và
phương pháp xác định giá các loại rừng
Thông tư hướng dẫn một cách chi tiết giá các loại
rừng trong đó thì lâm sản ngoài gỗ cũng được xem
xét đánh giá để xác định giá các loại rừng.
PHẦN 2: PHÂN TÍCH
Cũng như hoạt động sản xuất kinh doanh rừng trong đó có hoạt động quản lý, bảo
vệ, sử dụng và phát triển LSNG thì những hoạt động đó được xem như là một quá
trình sản xuất. Vì vậy mà việc phân tích những chính sách tác động đến LSNG chính
là việc phân tích những yếu tố tác động đến quá trình sản xuất LSNG. Trong phạm vi
bài báo cáo này chúng tôi quan tâm vào những khía cạnh sau:
+ Những chính sách tác động đầu vào trong quá trình sản xuất LSNG;
+ Những chính sách tác động đầu ra.
1. Chính sách tác động đầu vào trong quá trình sản xuất LSNG
1.1. Chính sách đất đai
- Năm 1999 có Thông Tư 28 /1999/ TTLT ngày 3/2/1999 Thi hành Quyết định
số 661/QĐ-TTg Ngày 29 tháng 7 năm 1998 của Thủ tướng Chính phủ "Về mục tiêu,
nhiệm vụ, chính sách và tổ chức thực hiện dự án trồng mới 5 triệu ha rừng". Nghị
Định163/1999/NĐ-CP của Chính Phủ về giao đất, giao rừng cho người dân quản lý,…
=> Các chính sách quy định về Giao đất, giao rừng cho người dân quản lý, phần lớn
các chính sách này chỉ đề cập đến LSNG một cách tản mạn với dung lượng nhỏ bé
- 10 -
trong một Chương hoặc Điều, Khoản của các văn bản pháp luật, chưa có chính sách
riêng cụ thể cho các loại LSNG
- Đến năm 2001 có Quyết định số 08/TTg ngày 20/1/ 2001 của Thủ tướng Chính phủ
về Quy chế quản lý 3 loại rừng. Nhà nước sẽ quy định các chính sách phù hợp đối với
từng loại rừng, như: chính sách giao, cho thuê và khoán đất lâm nghiệp; chính sách
đầu tư; chính sách hưởng lợi vv Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất cho
các đối tượng sau đây:
+ Hộ gia đình, cá nhân trực tiếp lao động lâm nghiệp, nông nghiệp, ngư nghiệp mà
nguồn sống chủ yếu là thu nhập có được từ các hoạt động sản xuất đó;
+ Ban quản lý rừng đặc dụng, rừng phòng hộ vv
=> Tiếp tục giao đất, giao rừng cho người dân, có thêm chính sách không thu tiền sử
dụng đất, có chính sách khuyến khích phát triển du lịch sinh thái, chính sách về tận
dụng các LSNG…Nhà nước giao đất không thu tiền cho các hoạt động N-L-N nghiệp
mà người nhận chỉ có nguồn sống từ đó. Như vậy LSNG có điều kiện phát triển hơn.
- Năm 2004 Quốc Hội đã ban hành luật 29/2004/QH11 Luật này quy định về quản
lý, bảo vệ, phát triển, sử dụng rừng ( gọi chung là bảo vệ và phát triển rừng); quyền và
nghĩa vụ của chủ rừng.
=> Cũng là phân loại rừng, giao đất giao rừng cho người dân quản lý, nhưng luật này
LSNG được chú ý để làm giàu cho rừng đặc dụng, rừng sản xuất.
- Năm 2005 có QĐ 150/2005/QĐ-TTg Phê duyệt quy hoạch chuyển đổi cơ cấu sản
xuất nông, lâm nghiệp, thủy sản cả nước đến năm 2010 và tầm nhìn 2020
Triển khai thực hiện tốt Luật Đất đai năm 2003, sớm hoàn thành việc "dồn điền đổi
thửa"
=> Đây là một chuyển biến tích cực, nhà nước đã cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất cho dân, tập trung chỉ đạo tốt chủ trương giải quyết đất ở và đất sản xuất cho
đồng bào dân tộc tại chỗ. Người dân có chủ quyền về đất sẽ yên tâm chú trọng, đầu tư
phát triển trên mảnh đất của mình,có trách nhiệm với việc bảo vệ rừng, từ đó thì các
loại LSNG sẽ được người dân chú ý phát triển để phục vụ cho cuộc sống của họ.
- Năm 2006 Chính Phủ đã ra Thông Tư 17/2006/TT-BNN về việc thí điểm giao rừng,
khoán bảo vệ rừng cho hộ gia đình và cộng đồng trong buôn, làng là đồng bào dân tộc
thiểu số tại chỗ ở các tỉnh Tây Nguyên.Quyết Định Số 106/2006/QĐ-BNN, ngày 27
- 11 -
tháng 11 năm 2006 V/v Ban hành Bản Hướng dẫn quản lý rừng cộng đồng dân cư thôn
để áp dụng thí điểm cho 40 xã được chọn để thực hiện Quyết định số 1641 QĐ/BNN-
HTQT, ngày 05 tháng 6 năm 2006 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông
thôn về việc phê duyệt dự án “Chương trình thí điểm lâm nghiệp cộng đồng 2006-
2007”;
=> Không chỉ giao đất, giao rừng cho dân mà còn cho cả cộng đồng, đặc biệt cho
đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ. Khi rừng được giao quản lý tại chỗ thì các loài cây
bản địa, các khu rừng thiêng, các giá trị văn hóa của rừng sẽ được cộng đồng chú ý
phát triển và bảo tồn. Trong QĐ 106 đã bắt đầu thí điểm chương trình lâm nghiệp cộng
đồng, quản lý rừng theo cách mới vói sự trực tiếp tham gia của cả cộng đồng. Như vậy
với sự chú ý của nhà nước cho việc bảo vệ phát triển rừng thì LSNG cũng được phát
triển bởi cả cộng đồng
- Đặc biệt năm 2007 có QĐ 100/2007/QĐ-TTg về việc sửa đổi, bổ sung một số điều
của Quyết định số 661/QĐ-TTg ngày 29 tháng 7 năm 1998 về mục tiêu, nhiệm vụ,
chính sách và tổ chức thực hiện Dự án trồng mới 5 triệu ha rừng. Điều tra, rà soát lại
diện tích, quy định bảo vệ nghiêm ngặt cho các khu rừng cấm. Đặc biệt chú trọng phát
triển lâm sản ngoài gỗ có giá trị kinh tế, lâm sản dưới tán rừng trong các khu rừng
phòng hộ để người dân có thể được hưởng lợi trong khoán bảo vệ rừng phòng hộ. Đây
chính là quyết định đầu tiên chú trọng đến việc phát triển LSNG. Đến đây thì rừng
cũng được quy định bảo vệ chặt chẽ và LSNG được chú ý nhiều.
Như vậy các chính sách về đất đai ngày càng có tác động tích cực cho sự phát triển
của LSNG
2. Quy Hoạch Phát Triển LSNG
- Năm 1999 có Thông tư liên tịch số 28/TT- LT ngày 3/2/1999 của Bộ Nông nghiệp
và PTNT và Bộ Tài chính hướng dẫn Quyết định 661/TTg ngày 29/7/1998 của Thủ
tướng Chính phủ về mục tiêu, nhiệm vụ, chính sách và tổ chức thực hiện dự án trồng
mới 5 triệu ha rừng đến năm 2010 quy định rõ: thực hiện khoanh nuôi tái sinh kết hợp
trồng bổ sung 1 triệu ha rừng phòng hộ, rừng đặc dụng; trong đó có hình thức khoanh
nuôi xúc tiến tái sinh do dân tự trồng bằng các loại cây công nghiệp lâu năm, cây ăn
quả, cây đặc sản có tán như cây rừng. Trong diện tích đất quy hoạch trồng mới rừng
phòng hộ, ngoài cây gỗ lớn có thể trồng xen các loại cây công nghiệp, cây ăn quả, cây
- 12 -
đặc sản có tán che phủ như cây rừng. Số cây này được tính là cây phòng hộ chính.
Ngoài ra, còn được trồng cây phù trợ là cây mọc nhanh, cây cải tạo đất, tối đa chiếm
2/3 số cây trên 1 ha (khoảng 1200cây).
=> Như vậy theo văn bản này, LSNG có thể được gây trồng trong rừng đặc dụng
(phân khu phục hồi sinh thái) và rừng phòng hộ (rất xung yếu và xung yếu).
- Năm 2001 có Quyết định 08/TTg ngày 11/1/2001 của Thủ tướng Chính phủ về
Quy chế quản lý 3 loại rừng quy định chỉ trồng lại rừng khi cần thiết và phải thực hiện
đúng biện pháp kỹ thuật, cơ cấu cây trồng phải là cây bản địa và thực hiện theo dự án
được cấp có thẩm quyền phê duyệt. Mặt khác, trong 3 triệu ha rừng sản xuất, sẽ gây
trồng khoảng 400.000 ha rừng cây đặc sản, bao gồm các loài cây Quế, Hồi, Thông
nhựa, Trúc, Táo mèo, Sở, vv ; trồng khoảng 1 triệu ha cây công nghiệp lâu năm và
cây ăn quả. Ngoài ra một số tỉnh còn trồng các cây tre, luồng, nứa với diện tích khoảng
200.000 ha. Toàn bộ diện tích quy hoạch gây trồng rừng đặc sản và tre, luồng, nứa đã
được phân chia cho các vùng kinh tế lâm nghiệp và cho từng tỉnh đến năm 2010
Tóm lại, trong chương trình trồng mới 5 triệu ha rừng đến năm 2010, việc gây trồng
và phát triển LSNG đã được quan tâm chú ý và được coi là cơ cấu cây trồng trong
chiến lược phát triển Lâm nghiệp. Hàng năm, Bộ NN&PTNT giao chỉ tiêu gây trồng
LSNG ( đặc biệt là cây đặc sản, cây Công nghiệp, Cây ăn quả ) cho các Tỉnh
3.Chính Sách Đầu Tư, Tín Dụng
- Năm 1999 Chính phủ ban hành Quyết định 67/TTg ngày 30/3/1999 của Thủ
tướng Chính phủ về một số chính sách tín dụng ngân hàng phục vụ phát triển nông
nghiệp và nông thôn và Quyết định số 148/TTg ngày 07/7/1999 về sửa đổi, bổ sung
quyết định trên đã quy định: áp dụng cho vay với lãi xuất thương mại đối với các hoạt
động như: tiêu thụ, chế biến và xuất khẩu nông, lâm, thuỷ sản; phát triển công nghiệp,
tiểu thủ công nghiệp, ngành nghề và dịch vụ ở nông thôn. Đối với hộ gia đình sản xuất
nông, lâm, ngư nghiệp, ngân hàng cho vay đến 10 triệu đồng theo lãi suất thông
thường, người vay không phải thế chấp tài sản.
=> Cho người dân vay vốn để phát triển ngành nghề nông thôn thì LSNG sẽ có vốn
để phát triển
- Năm 2000 có Quyết định số 132/TTg ngày 24/11/2000 của Thủ tướng Chính phủ
về một số chính sách khuyến khích phát triển ngành nghề nông thôn đã cụ thể hoá
- 13 -
Luật khuyến khích đầu tư trong nước sửa đổi (5/1998) đối với việc phát triển ngành
nghề nông thôn, trong đó có phát triển lâm sản ngoài gỗ.
=> Đẩy mạnh hơn nữa cho đầu tư phát triển ngành nghề nông thôn -> LSNG cũng
được phát triển.
- Năm 2004 Luật Bảo vệ và phát triển rừng số 29/2004/QH11được Quốc hội khóa 11
thông qua ngày 03 tháng 12 năm 2004 quy định Nhà nước đầu tư,hỗ trợ cho các hoạt
động bảo vệ và phát triển rừng đặc dụng, rừng phòng hộ, rừng giống quốc gia; bảo vệ
và phát triển các loài thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm, đầu tư cơ sở
hạ tầng trong vùng rừng nguyên liệu, trang thiết bị cho phát triển rừng.
=> Nhà nước ngày càng quan tâm hơn đến đầu tư phát triển rừng không chỉ hỗ trợ vốn
mà còn cung cấp trang thiết bị, đưa khoa học kỹ thuật mới. Rừng nguyên liệu được
đầu tư thì các loài LSNG đẩy mạnh phát triển hơn
- Năm 2006 chính phủ ban hành Nghị định số 106/2004/NĐ-CP ngày 01/4/2004 về
tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước và Nghị định số 20/2005/NĐ-CP ngày
28/02/2005 bổ sung danh mục dự án vay vốn tín dụng đầu tư phát triển theo Nghị định
số 106/2004/NĐ-CP. Xây dựng dự án vay vốn trồng rừng sản xuất.
=> Tiếp tục đầu tư vốn,
- Năm 2007 có QĐ 166/2007/QĐ-TTg Về việc ban hành chính sách hỗ trợ đầu tư và
hưởng lợi đối với hộ gia đình,cộng đồng dân cư thôn và các tổ chức tham gia dự án
"Phát triển lâm nghiệp để cải thiện đời sống vùng Tây Nguyên". Chủ rừng được hỗ trợ
kinh phí bằng tiền Việt Nam. Đối với rừng sản xuất: hộ gia đình, cộng đồng dân cư
thôn: mức hỗ trợ bình quân tương đương 500 USD/ha đối với trồng tập trung bằng cây
mọc nhanh; 300 USD/ha đối với trồng rừng theo phương thức nông lâm kết hợp; 70
USD/ha đối với trường hợp cải tạo vườn tạp.
=> Như vậy từ việc hỗ trợ kinh phí băng nguồn vốn trong nước, xây dựng cơ sở hạ
tầng trang thiết bị cho phát triển rừng nhà nước còn thiết lập các dự án kêu gọi các nhà
đầu tư nước ngoài. Từ đó LSNG cũng sẽ được đầu tư, các loài cây đa mục đích sẽ
được đưa vào ngày càng nhiều trong các hệ thống NLKH, sẽ được chú ý phát triển, tạo
ra những hướng đi giúp bảo tồn nó
- Mới đây năm 2008 nhà nước lại tiếp tục đưa ra NĐ 05/2008 về quỹ bảo vệ và phát
triển rừng
- 14 -
+ Huy động các nguồn lực của xã hội để bảo vệ và phát triển rừng, góp phần thực
hiện chủ trương xã hội hoá nghề rừng.
+ Nâng cao năng lực và hiệu quả quản lý, sử dụng và bảo vệ rừng cho các chủ
rừng, góp phần thực hiện chiến lược phát triển lâm nghiệp
=> Đặc biệt quỹ này đã hộ trợ cho phát triển lâm sản ngoài gỗ trên đất lâm nghiệp.
Qua đó cho ta thấy LSNG ngày càng được nhà nước đầu tư, Quan tâm tới việc phát
triển LSNG đã tăng dần qua các thời kỳ.
2. Chính Sách Tác Động Đầu Ra
2.1. Khai Thác Sử Dụng Và Hưởng Lợi
Từ năm 1991 đến nay nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản pháp luật liên quan
đến quản lý, bảo vệ, sử dụng và phát triển rừng mà trong đó có liên quan đến việc khai
thác, sử dụng, hưởng lợi đến LSNG tuy nhiên cũng chỉ được đề cập một phần nhỏ
trong các văn bản này. Việc khai thác, sử dụng, hưởng lợi từ Lâm sản ngoài gỗ chỉ
thực sự được quan tâm từ năm 1999 trở đi khi Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn
ban hành Quyết Định số 02/1999/QĐ-BNN-PTLN ngày 5/1/1999 về việc ban hành
quy chế khai thác gỗ và lâm sản.
Quy chế này gồm các nội dung:
- Việc khai thác rừng phải bảo đảm mục tiêu giữ vững và phát triển vốn rừng hiện
có. Mọi hoạt động làm suy giảm chất lượng rừng, số lượng rừng đều bị nghiêm cấm.
- Quy định về quản lý nhà nước trong lĩnh vực khai thác gỗ, lâm sản ở rừng, tận
thu gỗ, lâm sản trên các loại đất lâm nghiệp và đất khác.
- Việc khai thác tỉa thưa, tận dụng gỗ, lâm sản phải tuân thủ theo các quy định.
- Việc khai thác gỗ, lâm sản chỉ được tiến hành đối với các khu rừng đã có chủ
được pháp luật thừa nhận
=> Văn bản pháp lý này trình bày chỉ chú ý đề cập đến việc khai thác đảm bảo sao
cho giữ vững được vốn rừng mà ít quan tâm đến việc phát triển vốn rừng hiện có.
Nhưng đã quan tâm, đề cập đến vấn đề hưởng lợi của chủ rừng như: chủ rừng được
chủ động thiết kế để khai thác nhưng phải theo quy định và được hưởng lợi từ việc
khai thác này; còn người dân sống quanh rừng cũng được khai thác gỗ, tre, nứa, lâm
- 15 -
sản trong rừng phòng hộ cũng kết hợp nhằm đảm bảo lợi ích cho người lao động sống
tại chỗ, gắn bó với rừng, tham gia tích cực vào bảo vệ và xây dựng rừng phòng hộ
nhưng vấn đề về hưởng lợi không được quy định rõ ràng như được mức hưởng lợi bao
nhiêu và phải nộp thuế bao nhiêu…Tuy nhiên đây cũng là bước ngoặc đổi mới của nhà
nước ta đã có hướng quan tâm đến nguồn tài nguyên LSNG so với những những văn
bản, chính sách trước đây của nhà nước.
- Đến ngày 3/2/1999 Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, bộ kế hoạch và đầu
tư, bộ tài chính ban hành thông tư số 28/1999/TTLT về việc hướng dẫn thực hiên
Quyết định 661/1998/QĐ-TTg ngày 29/7/1998 của Thủ tướng chính phủ về mục tiêu,
nhiệm vụ, chính sách và tổ chức thực hiện Dự án trồng mới 5 triệu ha rừng cũng có
quy định như sau: các hộ nhận khoán trồng rừng phòng hộ còn được hưởng sản phẩm
tỉa thưa, nếu rừng phòng hộ trồng cây hỗn loại, đã đảm bảo có trên 600 cây phòng hộ,
thì sẽ được hưởng 100% sản phẩm các cây phù trợ trồng trong rừng phòng hộ; nếu cây
phòng hộ là cây lấy quả, cây lấy nhựa, lấy hoa thì người nhận khoán được hưởng sản
phẩm hoa, quả, dầu, nhựa.
- Ngày 7/8/1999 quyết định số 162/1999/QĐ-TTg của Thủ tướng chính phủ về
chính sách hưởng lợi của các hộ gia đình, cá nhân tham gia dự án trồng rừng bằng
nguồn vốn viện trợ không hoàn lại của Chính phủ cộng hoà liên bang Đức. Văn bản
này quy định: hộ gia đình tham gia trồng rừng theo dự án có quyền sở hữu đối với
rừng do mình gây trồng, được quyền chuyển nhượng, thừa kế, thế chấp; được khai
thác sử dụng sản phẩm rừng theo quy chế quản lý rừng sản xuất. Khi khai thác, hộ gia
đình, cá nhân tham gia dự án phải nộp vào ngân sách xã một khoản tiền tương đương
giá trị từ 50- 100 kg gạo nếu trồng cây lâu năm khai thác 1 lần hoặc bằng 2- 3% giá trị
sản phẩm khai thác mỗi năm nếu trồng cây lâu năm thu hoạch nhiều năm (nhựa
Thông, Trẩu, Sở, Quả Trám, hoa quả )
- Đến năm 2001 quyết định số 08 /2001/QĐ-TTg ban hành ngày 11/1/2001 về việc
ban hành quy chế quản lý rừng phòng hộ, rừng đặc dụng, rừng sản xuất là rừng tự
nhiên cụ thể quy đinh về việc khai thác, hưởng lợi liên quan đến LSNG trong các loại
rừng như sau: được tận thu, tận dụng gỗ, các loại LSNG theo đúng quy định mà không
ảnh hưởng đến chức năng của từng loại rừng.
- 16 -
Và cũng trong năm 2001 quyết đính số 178/2001/QĐ-TTg ngày 12/11/2001 của
Thủ tướng chính phủ về quyền hưởng lợi của hộ gia đình cá nhân được giao, thuê,
nhận khoán rừng và đất lâm nghiệp nhằm thực hiện bảo vệ khoanh nuôi tái sinh và
trồng rừng nhằm tạo động lực nhân dân tích cực tham gia bảo vệ và phát triển rừng.
Từ khi có chính sách chính thức về gỗ và lâm sản từ năm 1999 đã có những chuyển
biến qua thời gian chính sách khai thác hưởng lợi liên quan đến LSNG đã được quan
tâm nhiều hơn và được vạch định rõ ràng về khai thác hưởng lợi như đã quy định mức
khai thác, hưởng lợi không những trong đất lâm nghiệp mà được quan tâm trong các
loại rừng cụ thể từ rừng sản xuất đến rừng phòng hộ và rừng đặc dụng và đặc biệt quan
tâm đến từng đối tượng tham gia vào các dự án, chương trình cũng như người dân
sống trong và gần rừng. Đã có nhiều chính sách về hưởng lợi nhằm khuyến khích chủ
rừng, người dân thực sự tham gia vào bảo vệ rừng. Tuy tới đây đã có hướng tích cực
hơn về khai thác, hưởng lợi nhưng vấn đề phát triển nguồn LSNG tuy đã được chú ý
đến nhưng chưa thực sự quan tâm một cách đúng mức nhằm đảm bảo nguồn LSNG
hiện có được khai thác bền vững.
Đến năm 2004 Bộ trưởng Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn ra quyết định
04/2004/QĐ-BNN ngày 2/2/2004 nhằm ban hành Quy chế về khai thác gỗ và lâm sản
khác; Luật số 29/2004/QH11 Luật bảo vệ và phát triển rừng kỳ họp Quốc hội thứ 6
khóa XI đến Quyết định 40/2005/QĐ-BNN ngày 7/7/2005 cũng ban hành quy chế về
khai thác gỗ và lâm sản khác, Quyết định số 186/2006/QĐ-TTg của Thủ tướng chính
phủ ngày 14/8/2006 về việc ban hành quy chế quản lý rừng. Tuy những văn bản trên
cũng đã được ban hành và trình bày một cách cụ thể cũng đề cập đến vấn đề phát triển
nguồn lâm sản trong đó có LSNG nhưng nguồn tài nguyên này vẫn bị khai thác một
cách bừa bãi không hợp lý và ngày càng cạn kiệt vì vậy mà ngày 19/11/2006 Thủ
tướng chính phủ đã cho ban hành quyết định số 258/2006/QĐ-TTg về việc phê duyệt
chương trình điều tra, đánh giá và theo dõi diễn biến tài nguyên rừng giai đoạn 2006 –
2010 với mục đích thông qua việc điều tra rừng toàn diện, liên tục trên quy mô toàn
quốc để cung cấp đầy đủ các thông tin về số lượng, chất lượng cũng như đánh giá xu
hướng diễn biến của rừng trong mối quan hệ với các hoạt động kinh tế - xã hội,
làm cơ sở khoa học cho việc xây dựng chiến lược và kế hoạch sử dụng hợp
lý, bảo vệ và phát triển tài nguyên rừng và phát triển kinh tế - xã hội trên phạm vi
- 17 -
toàn quốc. Tài nguyên LSNG cũng được quan tâm điều tra, đánh giá biến động trên
phạm vi toàn quốc dưới tác động của kinh tế xã hội từ kết qủa điều tra đánh giá nhằm
kiến nghị về phương hướng quản lý, bảo vệ, phát triển các loài đặc sản ở Việt Nam.
Đến năm 2007 Thủ tướng chính phủ ra quyết định số 18/2007/QĐ-TTg về việc Phê
duyệt Chiến lược phát triển lâm nghiệp Việt Nam giai đoạn 2006 – 2020. Chiến lược
đã định hướng về khai thác lâm sản như sau: Khai thác sử dụng rừng hợp lý là biện
pháp lâm sinh để tái tạo và cải thiện chất lượng rừng; đồng thời khai thác tối đa các
dịch vụ môi trường rừng để tạo nguồn thu cho bảo vệ và phát triển rừng. Sử dụng rừng
tự nhiên bền vững trên cơ sở phương án điều chế rừng. Chỉ áp dụng phương thức khai
thác chính đối với rừng còn trữ lượng giàu, đối với rừng có trữ lượng trung bình và
nghèo chú trọng áp dụng phương thức khai thác nuôi dưỡng làm giàu rừng; đẩy mạnh
trồng phát triển, sử dụng lâm sản ngoài gỗ, tập trung vào các nhóm sản phẩm có thế
mạnh như mây tre, dược liệu, dầu nhựa, thực phẩm; khuyến khích gây nuôi động vật
hoang dã; có cơ chế hướng dẫn các chủ rừng được khai thác và sử dụng hợp pháp lâm
sản ngoài gỗ.
Và quyết định số 100/2007/QĐ-TTg ngày 6/7/2007 quyết định Sửa đổi, bổ sung
một số điều của Quyết định số 661/QĐ-TTg ngày 29 tháng 7 năm 1998 về mục tiêu,
nhiệm vụ, chính sách và tổ chức thực hiện Dự án trồng mới 5 triệu ha rừng.
=> Những quyết định sửa đổi này đã thực sự quan tâm đến phát triển nguồn LSNG
trong các loại rừng nhằm đảm bảo cho những đối tượng tham gia vào dự án được
hưởng lợi từ dự án đảm bảo cho họ tham gia vào một cách hiệu quả.
2.2. Chính Sách Về Lưu Thông Và Tiêu Thụ
Vấn đề quan trọng đối với lưu thông và tiêu thụ lâm sản nói chung mà đối với sản
phẩm LSNG nói riêng là làm sao thực hiện xóa bỏ chế độ nhiều giá tiến tới chế độ một
giá. Xóa bỏ chế độ chia cắt thị trường theo địa giới mở rộng lưu thông hàng hoá lâm
sản giữa các vùng, các miền trong nước và ngoài nước.
Cũng như những vấn đề khác như khai thác và hưởng thụ thì vấn đề lưu thông lâm
sản cũng chỉ được nhà nước quan tâm trong thời gian gần đây như:
- 18 -
- Năm 2000 có: Quyết định số 19/TTg ngày 03/02/2000 của Thủ tướng Chính phủ
về bãi bỏ các loại giấy phép trái với quy định của Luật Doanh nghiệp. Bộ NN và
PTNT bãi bỏ giấy phép chế biến gỗ và lâm sản đối với các doanh nghiệp; các sở NN
và PTNT cũng bãi bỏ việc cấp giấy chứng nhận được phép chế biến gỗ và lâm sản đối
với các tổ chức, cá nhân, hộ gia đình hành nghề chế biến gỗ, lâm sản.
- Nghị quyết 09/NQ-CP ngày 15/6/2000 của Chính phủ về một số chủ trương và
chính sách về chuyển dịch cơ cấu kinh tế và tiêu thụ sản phẩm Nông nghiệp đã nhấn
mạnh phát triển các loại cây đặc sản (Quế, Hồi ), cây lấy gỗ và cây làm nguyên liệu để
chế biến sản phẩm thủ công, mỹ nghệ; phát triển Ngành sản xuất đồ gỗ ngoài trời, gỗ
gia dụng, gỗ mỹ nghệ và các sản phẩm mây, tre đan chủ yếu để xuất khẩu.
- Quyết định 132/TTg ngày 24/11/2000 của Thủ tướng Chính phủ về một số chính
sách khuyến khích phát triển ngành nghề nông thôn ghi rõ: các tỉnh căn cứ vào yêu cầu
phát triển ngành nghề nông thôn của đại phương mình, lập kế hoạch phát triển các
vùng nguyên liệu nông, lâm, thuỷ sản để đảm bảo nguồn nguyên liệu tại chỗ, ổn định
cho ngành nghề nông thôn phát triển
=> Qua đó cho ta thấy đã có sự chuyển hướng trong việc lưu thông, chế biến từ ít
được chú ý trong những năm trước đến khuyến khích đẩy mạnh phát triển. Và càng
được cụ thể trong những năm gần đây:
- Năm 2005 Thủ Tướng CP ban hành QĐ150/2005/QĐ-TTg về việc Phê duyệt
Quy hoạch chuyển đổi cơ cấu sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản cả nước đến năm
2010 và tầm nhìn 2020 như sau:
+ Hỗ trợ và hướng dẫn các doanh nghiệp mở rộng thị trường xuất khẩu nông, lâm,
thủy sản; tổ chức các hoạt động xúc tiến thương mại, xây dựng và quản lý chất lượng
nông sản hàng hóa, hướng dẫn các doanh nghiệp đăng ký và bảo vệ thương hiệu hàng
hóa.
+ Kiện toàn và mở rộng hệ thống thông tin của ngành, bao gồm thông tin về sản
xuất, thị trường, để giúp cơ sở và người sản xuất đầu tư phát triển sản xuất theo thị
trường và tiêu thụ sản phẩm có hiệu quả.
- 19 -
- Năm 2007 Thủ tướng CP ra quyết định số 69/2007/QĐ-TTg ngày 18 tháng 05
năm 2007 về việc Phê duyệt Đề án phát triển công nghiệp chế biến nông, lâm sản
trong công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn đến 2010 và định hướng
đến năm 2020. Hỗ trợ và hướng dẫn các doanh nghiệp mở rộng thị trường xuất khẩu
nông, lâm sản; phối hợp với các địa phương tổ chức các hoạt động xúc tiến thương
mại, xây dựng và quản lý chất lượng nông sản hàng hóa, hướng dẫn các doanh nghiệp
đăng ký và bảo vệ thương hiệu hàng hóa, xúc tiến thương mại.
=> Như vậy ngày nay nhà nước không những có các chính sách khuyến khích lưu
thông các sản phẩm mà còn đẩy mạnh nghiên cứu phát triển thị trường, tạo đầu ra cho
các mặt hàng nông lâm sản trong đó có LSNG. Từ đó ổn định đầu ra, tạo động lực cho
người dân yên tâm phát triển sản xuất các loại lâm sản nói chung và LSNG nói riêng.
Để phấn đấu đến năm 2020, lâm sản ngoài gỗ trở thành một trong các ngành hàng sản
xuất chính, chiếm trên 20% tổng giá trị sản xuất lâm nghiệp, giá trị lâm sản ngoài gỗ
xuất khẩu tăng bình quân 15 - 20%; thu hút khoảng 1,5 triệu lao động và thu nhập từ
lâm sản ngoài gỗ chiếm 15 - 20% trong kinh tế hộ gia đình nông thôn ( theo “Chiến
lược phát triển lâm nghiệp Việt Nam giai đoạn 2006 – 2020” quyết định 18/2007/QĐ-
TTg ngày 5/2/2007).
- 20 -
Nhóm làm rất tốt nhưng cách trình bày dài dòng, làm cho người đọc khó hiểu
- 21 -