Tải bản đầy đủ (.pdf) (57 trang)

Đề án : Tăng cường năng lực tư pháp xã, phường, thị trấn đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính, cải cách tư pháp

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1022.86 KB, 57 trang )

BỘ TƯ PHÁP
VIỆN KHOA HỌC PHÁP LÝ
______________






ĐỀ ÁN

TĂNG CƯỜNG NĂNG LỰC TƯ PHÁP
XÃ, PHƯỜNG, THỊ TRẤN ĐÁP ỨNG YÊU CẦU
CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH, CẢI CÁCH TƯ PHÁP









8222


HÀ NỘI - 2009



MỤC LỤC




PHẦN THỨ NHẤT: SỰ CẦN THIẾT XÂY DỰNG ĐỀ ÁN
1
I. NÂNG CAO NĂNG LỰC TƯ PHÁP XÃ, PHƯỜNG, THỊ TRẤN LÀ YÊU
CẦU KHÁCH QUAN CỦA QUÁ TRÌNH CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH, CẢI
CÁCH TƯ PHÁP
1
1. Những yêu cầu cải cách hành chính đặt ra đối với công tác tư
pháp cấp xã
1
1.1. Cải cách hành chính xác định rõ nhiệm vụ, quyền hạn của
cơ quan Tư pháp các cấp trong đó có Tư pháp cấp
2
1.2. Cải cách hành chính đẩy mạnh phân cấp quản lý công tác tư
pháp cho chính quyền cấp xã
3
1.3. Cải cách hành chính tăng cường tính công khai và đơn giản
hóa thủ tục hành chính trong lĩnh vực tư pháp
5
1.4. Cải cách hành chính với yêu cầu xây dựng độ
i ngũ cán bộ,
công chức chuyên nghiệp, hiện đại
6
2. Những yêu cầu cải cách Tư pháp đặt ra đối với công tác tư
pháp cấp xã
10
2.1. Cải cách tư pháp đặt ra yêu cầu tăng cường vai trò của
UBND cấp xã trong công tác thi hành án
11

2.2. Cải cách tư pháp đặt ra yêu cầu tôn trọng và phát huy quyền
dân chủ của nhân dân đối với cơ quan tư pháp
12
2.3. Nâng cao chất lượng hoạt động xét xử và yêu cầu phát huy
vai trò hoạt động hòa giả
i ở cơ sở
13
II. THỰC TRẠNG NĂNG LỰC TƯ PHÁP XÃ, PHƯỜNG, THỊ TRẤN
14
1. Về thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Tư pháp cấp xã
14
1.1. Ưu điểm
14
1.2. Nhược điểm, tồn tại, hạn chế
21
1.3. Nguyên nhân
23
2. Về đội ngũ công chức Tư pháp – Hộ tịch cấp xã
25
2.1. Ưu điểm
25
2.2. Nhược điểm, tồn tại, hạn chế
27
3.3. Nguyên nhân
30
ii
PHẦN THỨ HAI: NỘI DUNG TĂNG CƯỜNG NĂNG LỰC CỦA TƯ
PHÁP CẤP XÃ ĐÁP ỨNG YÊU CẦU CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH, CẢI
CÁCH TƯ PHÁP
33

I. MỤC TIÊU
33
1. Mục tiêu chung
33
2. Mục tiêu cụ thể
33
2.1. Giai đoạn 2011 - 2015
33
2.2. Giai đoạn 2016 – 2020
34
II. NHIỆM VỤ, GIẢI PHÁP VÀ LỘ TRÌNH THỰC HIỆN
34
1. Hoàn thiện thể chế về công tác tư pháp có liên quan đến tổ
chức và hoạt động của Tư pháp cấp xã
34
2. Nhóm giải pháp đảm bảo đủ về số lượng, nâng cao chất lượng
đối với đội ngũ công chức Tư pháp - Hộ tịch
35
2.1. Đảm bảo đủ số lượng công chức Tư pháp - Hộ tịch
35
2.2. Tiêu chuẩn hoá đội ngũ công chức Tư pháp - Hộ
tịch
36
2.3. Xây dựng và thực hiện quy hoạch đội ngũ công chức Tư
pháp - Hộ tịch
37
2.4. Tăng cường đào tạo, bồi dưỡng công chức Tư pháp – Hộ
tịch đáp ứng với tiêu chuẩn chức danh và thực hiện có hiệu
quả nhiệm vụ được giao
38

2.5. Xây dựng chức danh Hộ tịch viên
39
3. Đổi mới chế độ, chính sách đối với đội ngũ

40
4. Đổi mới, hiện đại hoá phương thức làm việc; bảo đảm cơ sở vật
chất, phương tiện làm việc, bao gồm cả cung cấp thông tin, văn
bản pháp luật
41
5. Tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của Ban Cán sự đảng Bộ Tư
pháp, cấp uỷ và chính quyền địa phương và sự phối hợp của
các ban, ngành, đoàn thể trong triển khai thực hi
ện công tác
Tư pháp cấp xã
42
PHẦN THỨ BA. TỔ CHỨC THỰC HIỆN
44
I. TRÁCH NHIỆM CỦA BỘ TƯ PHÁP
44
II. TRÁCH NHIỆM CỦA UỶ BAN NHÂN DÂN CÁC TỈNH, THÀNH PHỐ
TRỰC THUỘC TRUNG ƯƠNG
45
1
PHẦN THỨ NHẤT
SỰ CẦN THIẾT XÂY DỰNG ĐỀ ÁN

I. NÂNG CAO NĂNG LỰC TƯ PHÁP XÃ PHƯỜNG, THỊ TRẤN LÀ
YÊU CẦU KHÁCH QUAN CỦA QUÁ TRÌNH CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH,
CẢI CÁCH TƯ PHÁP
Cải cách hành chính, cải cách tư pháp là những chủ trương lớn của Đảng

và Nhà nước ta nhằm xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ
nghĩa Việt Nam, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
và hội nhập kinh tế quốc tế; đáp ứng tốt yêu cầu phát triển nhanh và bền vững
của đất nước. Cùng với cải cách lập pháp, cải cách hành chính và c
ải cách tư
pháp đang được triển khai một cách đồng bộ với những mục tiêu, yêu cầu, nội
dung cụ thể, theo đó, các cấp, các ngành nói chung, trong đó có Ngành Tư
pháp đang đứng trước những yêu cầu, thách thức xuất phát từ nội tại công cuộc
cải cách hành chính, cải cách tư pháp đặt ra. Trong các giai đoạn cách mạng,
đặc biệt trong sự nghiệp đổi mới đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đấ
t
nước vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ, văn minh,
phấn đấu đến năm 2020 đưa nước ta trở thành một nước công nghiệp theo
hướng hiện đại thì việc xây dựng, củng cố chính quyền cấp xã, trong đó có
công tác tư pháp ngày càng đóng vai trò quan trọng và có ý nghĩa quyết định.
1. Những yêu cầu cải cách hành chính đặt ra đối với công tác Tư
pháp cấp xã
Cải cách hành chính ở nước ta được đề
ra từ Đại hội VI của Đảng và
ngày càng hoàn thiện về mặt quan điểm trong Nghị quyết Trung ương 8 khóa
VII, các văn kiện của Đại hội Đảng VIII, IX, X và Nghị quyết Trung ương V
(số 17-NQ/TW) của Ban Chấp hành Trung ương khóa X về đẩy mạnh cải cách
hành chính, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của bộ máy nhà nước.
Để thể chế quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng về c
ải cách
hành chính, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 136/2001/QĐ-
TTg ngày 17/9/2001 về việc phê duyệt Chương trình tổng thể cải cách hành
chính nhà nước giai 2001 - 2010 (sau đây gọi là Quyết định số 136/2001/QĐ-
TTg) với 07 chương trình hành động cụ thể. Mục tiêu tổng thể của Chương
trình cải cách hành chính giai đoạn này là: Đẩy mạnh cải cách hành chính

nhằm tiếp tục xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hộ
i chủ nghĩa;
xây dựng một nền hành chính dân chủ, trong sạch, vững mạnh, từng bước hiện
2
đại; đội ngũ cán bộ, công chức có đủ phẩm chất và năng lực; hệ thống các cơ
quan nhà nước hoạt động có hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với thể chế kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập kinh tế quốc tế; đáp ứng tốt
yêu cầu phát triển nhanh và bền vững của đất nước. Để th
ực hiện mục tiêu
này, Chương trình tổng thể đã xác định 04 nội dung tương ứng với 04 bộ phận
cấu thành của nền hành chính quốc gia bao gồm: Cải cách thể chế hành chính;
cải cách tổ chức bộ máy hành chính; đổi mới và nâng cao chất lượng đội ngũ
cán bộ, công chức; cải cách tài chính công. Từng nội dung của cải cách hành
chính đã và đang đặt ra những yêu cầu cho Ngành Tư pháp nói chung và công
tác Tư pháp cấp xã nói riêng. Cụ
thể như sau:
1.1. Cải cách hành chính xác định rõ nhiệm vụ, quyền hạn của cơ
quan Tư pháp các cấp trong đó có Tư pháp cấp xã
Quyết định số 136/2001/QĐ-TTg xác định một trong 09 mục tiêu của
Chương trình tổng thể cải cách hành chính giai đoạn 2001-2010 đó là: “Hoàn
thiện hệ thống thể chế hành chính, cơ chế, chính sách phù hợp với thời kỳ công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, trong đ
ó trước hết là về tổ chức và hoạt
động của hệ thống hành chính”. Thực hiện mục tiêu này, trong giai đoạn 10
năm 2001-2010, Bộ Tư pháp đã tham mưu trình Chính phủ ban hành 02 Nghị
định quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tư
pháp, bao gồm Nghị định số 62/2003/NĐ-CP ngày 06/6/2003 của Chính Phủ
quy định chứ
c năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tư pháp
và Nghị định số 93/2008/NĐ-CP ngày 22/8/2008 của Chính phủ quy định chức

năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tư pháp (sau đây gọi là
Nghị định số 93/2008/NĐ-CP).
Đối với cơ quan Tư pháp địa phương, Bộ Tư pháp đã phối hợ
p với Bộ
Nội vụ ban hành Thông tư liên tịch số 01/2009/TTLT-BTP-BNV ngày
28/4/2009 của Bộ Tư pháp - Bộ Nội vụ hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền
hạn và cơ cấu tổ chức của Sở Tư pháp thuộc Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, Phòng
Tư pháp thuộc Uỷ ban nhân dân cấp huyện và công tác tư pháp của Uỷ ban
nhân dân cấp xã (sau đây gọi là Thông tư liên tịch số 01/2009/TTLT-BTP-
BNV). Theo Thông tư này, ch
ức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Tư pháp cấp
xã không chỉ được hoàn thiện theo hướng cụ thể, rõ ràng, không chồng chéo,
không bỏ sót nhiệm vụ, bảo đảm bao quát hết các nhiệm vụ của công tác tư
pháp mà còn được tăng cường, mở rộng trên các lĩnh vực xây dựng pháp luật,
theo dõi tình hình thi hành văn bản bản quy phạm pháp luật, quản lý, đăng ký
hộ tịch, chứng thực, Cụ thể là:
3
- Bổ sung nhiệm vụ “Theo dõi, báo cáo tình hình thi hành văn bản quy
phạm pháp luật, phát hiện, đề xuất biện pháp giải quyết những khó khăn vướng
mắc trong thi hành văn bản quy phạm pháp luật ở cấp xã với Phòng Tư pháp
cấp huyện”;
- Tăng cường thẩm quyền của Uỷ ban nhân dân cấp xã trong lĩnh vực về
đăng ký, quản lý hộ tịch và công tác chứng thực trên cơ sở đẩy mạnh phân c
ấp
quản lý hành chính nhà nước về tư pháp cho chính quyền cấp xã (chi tiết xem
tại mục 1.2).
Với sự tăng cường, mở rộng về nhiệm vụ, quyền hạn và gia tăng về khối
lượng công việc, trong khi đội ngũ công chức Tư pháp - Hộ tịch còn thiếu về
số lượng (trung bình cả nước có 1,27 công chức Tư pháp - Hộ tịch/01 đơn vị
xã, phường, thị trấn) và hạ

n chế về chuyên môn, nghiệp vụ (25,3% số công
chức Tư pháp - Hộ tịch trên địa bàn cả nước chưa qua đào tạo về chuyên môn
Luật trong đó có đến 9,85% số công chức chưa qua đào tạo) thì đây là một
thách thức lớn đối với đội ngũ công chức Tư pháp – Hộ tịch với vai trò là
người tham mưu giúp Ủy ban nhân dân cùng cấp tổ chức thực hiện các nhiệm
vụ, quyề
n hạn trong lĩnh vực quản lý nhà nước về tư pháp ở địa phương. Vì
vậy, yêu cầu tất yếu đặt ra là phải tăng cường năng lực cho đội ngũ công chức
Tư pháp – Hộ tịch cả về số lượng và chất lượng. Yêu cầu này không chỉ có ý
nghĩa trước mắt mà còn có ý nghĩa chiến lược để thực hiện những định hướng
về cải cách hành chính theo tinh th
ần Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 khóa
X, Cương lĩnh Xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
(bổ sung, phát triển), Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2010 -
2020, Kế hoạch phát triển kinh tế xã hội 5 năm 2011-2015 sẽ được thông qua
tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI vào tháng 01 năm 2011 với quan điểm
cơ bản là: “Thự
c hiện phân cấp mạnh và phù hợp hơn về nhiệm vụ từ Chính
phủ và các bộ cho chính quyền địa phương, phát huy tinh thần trách nhiệm,
tính năng động sáng tạo của chính quyền địa phương trên cơ sở phân định rõ
nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của mỗi cấp trong bộ máy chính quyền,
đồng thời xây dựng hành lang pháp lý bảo đảm sự thống nhất quản lý của Nhà
nước ở Trung
ương”. Quá trình thực hiện các quan điểm, chủ trương trên của
Đảng sẽ tiếp tục tăng cường hơn nữa vai trò quản lý nhà nước bằng pháp luật,
đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của người dân, qua đó tiếp tục khẳng định
vị trí, vai trò của tư pháp cấp xã trong phát triển kinh tế - xã hội của địa
phương và hoàn thành các nhiệm vụ chính trị của Ngành Tư pháp.
1.2. Cải cách hành chính đẩ
y mạnh phân cấp quản lý công tác tư

pháp cho chính quyền cấp xã
4
Quyết định số 136/2001/QĐ-TTg đặt ra mục tiêu: “Đến năm 2005, về cơ
bản xác định xong và thực hiện được các quy định mới về phân cấp quản lý
hành chính nhà nước giữa Trung ương và địa phương, giữa các cấp chính
quyền địa phương; định rõ chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền và tổ chức bộ
máy chính quyền ở đô thị và nông thôn”. Thực hiện mục tiêu này, B
ộ Tư pháp
đã xây dựng, trình Chính phủ nhiều văn bản quy phạm pháp luật có giá trị pháp
lý cao như Luật, Pháp lệnh, Nghị định, trong đó đẩy mạnh phân cấp giữa
Trung ương và địa phương và giữa các cấp chính quyền địa phương, đặc biệt là
phân cấp từ cấp tỉnh, cấp huyện cho cấp xã trong một số lĩnh vực thuộc phạm
vi quản lý của Bộ. Cụ thể
:
a) Trong lĩnh vực đăng ký và quản lý hộ tịch: Nghị định số
158/2005/NĐ-CP ngày 27/12/2005 của Chính phủ về đăng ký và quản lý hộ
tịch (sau đây gọi là Nghị định số 158/2005/NĐ-CP) đã đẩy mạnh phân cấp cho
UBND cấp xã trong việc đăng ký và quản lý hộ tịch ở địa phương, theo đó
ngoài thẩm quyền về thực hiện đăng ký, đăng ký lại việc sinh, tử, k
ết hôn,
nhận nuôi con nuôi; đăng ký khai sinh, khai tử quá hạn theo quy định của pháp
luật đã được quy định tại Nghị định số 83/1998/NĐ-CP ngày 10/10/1998 của
Chính phủ về đăng ký và quản lý hộ tịch, UBND cấp xã còn thực hiện thẩm
quyền thay đổi, cải chính hộ tịch cho người dưới 14 tuổi và bổ sung hộ tịch
cho mọi trường hợp không phân biệt độ tuổi (thẩm quyền này theo Nghị định
số 83/1998/NĐ-CP được giao cho UBND cấp tỉnh thực hiện).
b) Trong lĩnh vực chứng thực: Luật Công chứng ra đời cùng với đó là
Nghị định số 79/2007/NĐ-CP ngày 18/5/2007 của Chính phủ về cấp bản sao từ
sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký (sau đây gọi là
Nghị định số 79/2007/NĐ-CP) được ban hành đã làm rõ khái niệm về công

chứng và ch
ứng thực, đặc biệt phân định rõ thẩm quyền công chứng của Phòng
Công chứng Nhà nước với thẩm quyền chứng thực của Phòng Tư pháp cấp
huyện và Uỷ ban nhân dân cấp xã. Theo đó, Uỷ ban nhân dân cấp xã thực hiện
cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính các giấy tờ, văn bản
bằng tiếng Việt; chứng thực chữ ký trong các giấy tờ
, văn bản bằng tiếng Việt;
chứng thực các việc khác theo quy định của pháp luật. Mặc dù, về thẩm quyền
chứng thực của UBND cấp xã không thay đổi so với các quy định trước đây,
song sự đẩy mạnh phân cấp cho chính quyền cấp xã nằm ở chỗ Nghị định
79/2007/NĐ-CP đã quy định:
- Chấm dứt thẩm quyền công chứng của Phòng công chứng đối với
nh
ững việc thuộc thẩm quyền chứng thực của Uỷ ban nhân dân cấp xã theo
quy định tại khoản 2 Điều 21 Nghị định số 75/2000/NĐ-CP.
5
- Thu hẹp thẩm quyền chứng thực của Phòng Tư pháp cấp huyện từ
thẩm quyền chứng thực bản sao từ bản chính các giấy tờ, văn bản bằng tiếng
Việt và tiếng nước ngoài, chứng thực chữ ký trong các văn bản (không phân
biệt văn bản bằng tiếng Việt hay tiếng nước ngoài) để thực hiện các giao dịch
theo quy định tại Nghị định số
75/2000/NĐ-CP sang chỉ còn thực hiện chứng
thực bản sao từ bản chính các giấy tờ, văn bản bằng tiếng nước ngoài và chứng
thực chữ ký của người dịch trong các giấy tờ, văn bản từ tiếng nước ngoài sang
tiếng Việt hoặc từ tiếng Việt sang tiếng nước ngoài; chứng thực chữ ký trong
các giấy tờ, văn bản bằng tiếng nước ngoài.
Như
vậy, thực hiện công cuộc cải cách hành chính, một trong những nội
dung đã và đang được triển khai trong phân cấp quản lý hành chính nhà nước
hiện nay đó là đẩy mạnh phân cấp thẩm quyền giữa Trung ương và địa phương

và giữa các cấp chính quyền địa phương. Nội dung này được thể hiện rõ nét
trong công tác Tư pháp, các thể chế được phân cấp mạnh cho UBND cấp xã
trong vấn đề về đăng ký, quản lý hộ
tịch và chứng thực, thông qua đó tạo điều
kiện thuận lợi cho người dân khi thực hiện các giao dịch với cơ quan hành
chính Nhà nước; đồng thời, tập trung cho cơ quan Tư pháp cấp tỉnh, cấp huyện
trong việc quản lý công tác Tư pháp ở địa phương. Do đó, để đáp ứng được
yêu cầu, nhiệm vụ nặng nề theo phân cấp của Chính phủ cho chính quyền cấp
xã, đ
òi hỏi ngành Tư pháp và chính quyền các cấp cần đặc biệt quan tâm tới
việc nâng cao chất lượng và tăng cường số lượng đội ngũ công chức Tư pháp -
Hộ tịch cấp xã. Đây chính là một trong những yêu cầu quan trọng mà công
cuộc cải cách hành chính đặt ra đối với việc kiện toàn về tổ chức và nâng cao
năng lực cơ quan Tư pháp các cấp nói chung, trong đó có Tư pháp cấp xã nói
riêng. Trong thời gian tới, thự
c hiện Nghị quyết Hội nghị trung ương 5 khóa X,
cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được xác định là một khâu đột phá trong
cải cách hành chính và một trong những định hướng là tiếp tục phân cấp mạnh
và giao quyền chủ động hơn nữa cho chính quyền địa phương, nhất là trong
quyết định về ngân sách, tài chính, đầu tư, nguồn nhân lực, thực hiện nghĩa vụ
tài chính đối với Trung ương. Do đ
ó, vấn đề kiện toàn năng lực Tư pháp cấp xã
càng được chú trọng nhằm đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh phân cấp quản lý hành
chính hiện nay.
1.3. Cải cách hành chính tăng cường tính công khai và đơn giản hóa
thủ tục hành chính trong lĩnh vực tư pháp
“Xóa bỏ về cơ bản các thủ tục hành chính mang tính quan liêu, rườm
rà, gây phiền hà cho doanh nghiệp và nhân dân; hoàn thiện các thủ tục hành
chính mới theo hướng công khai, đơn giản và thuận tiện cho dân
” là mục tiêu

6
quan trọng trong cải cách hành chính theo Chương trình tổng thể
136/2001/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ. Thực hiện mục tiêu này, nhiều
thủ tục hành chính trong lĩnh vực Tư pháp đã được đơn giản hóa theo hướng
rút ngắn thời hạn, đồng thời áp dụng cơ chế “một cửa”, công khai và minh
bạch, nhất là trong công tác quản lý và đăng ký hộ tịch, công tác chứng thực,
nhằm tạo điều kiện thu
ận lợi cũng như đáp ứng tốt nhất yêu cầu của người dân.
Cụ thể:
- Thực hiện Nghị định số 158/2005/NĐ-CP, hầu hết các thủ tục đăng ký
hộ tịch thuộc thẩm quyền của UBND cấp xã đã rút ngắn thời hạn giải quyết từ
07 ngày (theo Nghị định số 83/1998/NĐ-CP) xuống còn 05 ngày (trừ những
thủ tục đăng ký h
ộ tịch theo quy định của pháp luật được giải quyết trong
ngày);
- Thực hiện Quyết định số 181/2003/QĐ-TTg ngày 04/9/2003 của Chủ
tướng Chính phủ ban hành Quy chế thực hiện cơ chế “một cửa” tại cơ quan
hành chính nhà nước ở địa phương, Quyết định số 93/2007/QĐ-TTg ngày
22/6/2007 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Quy chế thực hiện cơ chế một
cửa, một cử
a liên thông tại cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương thì
đăng ký hộ tịch và chứng thực là hai nhóm công việc phải áp dụng giải quyết
theo cơ chế “một cửa” để tạo điều kiện thuận lợi nhất cho người dân khi giao
dịch với cơ quan hành chính nhà nước. Điều này đồng nghĩa với việc đội ngũ
công chức Tư pháp - Hộ tịch phải có đủ về số
lượng (ít nhất mỗi đơn vị xã,
phường, thị trấn bố trí được 01 người trực bộ phận một cửa và 01 người triển
khai các nhiệm vụ khác thuộc công tác Tư pháp cấp xã) và đáp ứng yêu cầu về
chất lượng nhất là về trình độ, thái độ, khả năng giao tiếp, trách nhiệm phục vụ
nhân dân mới có thể giải quyết được khối lượng công việc

đồ sộ ngày càng
tăng lên trong khi yêu cầu về mặt thời hạn giải quyết ngày càng rút ngắn.
Trong thời gian tới, Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 khóa X xác định
đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính là khâu đột phá để tạo môi trường thuận
lợi, minh bạch cho hoạt động của nhân dân và doanh nghiệp, theo đó một loạt
các biện pháp được đặt ra để thực hiện chủ trương này như: tập trung chỉ
đạo
rà soát và cải cách mạnh mẽ các thủ tục hành chính, tạo môi trường thuận lợi
nhất cho sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp và nhu cầu chính đáng của
người dân trong một số lĩnh vực trong đó có lĩnh vực hộ tịch và lĩnh vực công
chứng, chứng thực; các cấp chính quyền và từng cơ quan hành chính nhà nước
khẩn trương rà soát các loại thủ tục hành chính, bãi bỏ, sửa đổi, bổ sung theo
th
ẩm quyền hoặc trình cấp trên xem xét, sửa đổi theo hướng tạo thuận tiện cho
nhân dân và doanh nghiệp; công bố công khai các thủ tục (các loại giấy tờ,
7
biểu mẫu) và quy trình giải quyết công việc, thời gian giải quyết, phí, lệ phí
theo quy định để nhân dân biết và thực hiện thuận lợi; tiếp tục đẩy mạnh thực
hiện có hiệu quả cơ chế một cửa, một cửa liên thông tại cơ quan hành chính
nhà nước và mở rộng áp dụng tại các đơn vị sự nghiệp dịch vụ công như bệnh
viện, trường họ
c.
Như vậy, cải cách thủ tục hành chính tạo thuận lợi nhất cho doanh
nghiệp và người dân vẫn đã, đang và sẽ là một mục tiêu quan trọng của Đảng
ta trong cải cách hành chính. Điều này cần được tính tới khi chúng ta tiếp tục
kiện toàn năng lực Tư pháp cấp xã nhằm đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ cải cách
hành chính đặt ra cho công tác Tư pháp cấp xã, cụ thể và trước hết là làm sao
để
giải quyết tốt nhất yêu cầu của người dân trong khi khối lượng công việc
ngày càng tăng lên nhưng thời gian giải quyết liên tục được rút ngắn. Đó là

một bài toán không đơn giản và lời giải không thể khác đó là phải không
ngừng tăng cường năng lực Tư pháp cấp xã.
1.4. Cải cách hành chính với yêu cầu xây dựng đội ngũ cán bộ, công
chức chuyên nghiệp, hiện đại
Chương trình tổng th
ể cải cách hành chính của Nhà nước ban hành kèm
theo Quyết định số 136/2001/QĐ-TTg đã xác định mục tiêu “xây dựng đội ngũ
cán bộ, công chức có số lượng, cơ cấu hợp lý, chuyên nghiệp, hiện đại, tuyệt
đại bộ phận cán bộ, công chức có phẩm chất tốt và đủ năng lực thi hành công
vụ, tận tụy phục vụ sự nghiệp phát triển đất nước và phục vụ nhân dân”.
Để
thực hiện mục tiêu đó, vấn đề hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn chức danh làm cơ
sở để quy hoạch, tuyển dụng, quản lý và sử dụng đội ngũ cán bộ, công chức là
một trong những nội dung được đặt ra trong đổi mới, nâng cao chất lượng cán
bộ, công chức.
Thời gian qua, Nhà nước ta đã từng bước xây dựng và hoàn thiện hệ
thống chức danh cán bộ, công chứ
c cấp xã. Kết quả quan trọng của nội dung
cải cách này được thể hiện ở việc Chính phủ ban hành nhiều văn bản quan
trọng liên quan đến xác định chức danh đối với những người làm công tác
đảng, đoàn thể và chính quyền cấp xã, gồm:
- Nghị định số 121/2003/NĐ-CP ngày 21/10/2003 của Chính phủ về chế
độ, chính sách đối với cán bộ, công chức ở xã, phường thị trấn;
- Luật Cán b
ộ, công chức năm 2008;
- Nghị định số 92/2010/NĐ-CP ngày 22/10/2009 của Chính phủ về chức
danh, số lượng, một số chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức ở xã,
8
phường, thị trấn và những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã (thay
thế Nghị định số 121/2003/NĐ-CP).


Theo các văn bản này, những người làm công tác đảng, đoàn thể, chính
quyền cấp xã được định rõ về chức danh (cán bộ hoặc công chức hoặc những
người hoạt động không chuyên trách), thay vì chức danh cán bộ nói chung,
hưởng sinh hoạt phí theo các văn bản trước đây, trong đó người làm công tác Tư
pháp - Hộ tịch là một trong 07 chức danh công chức cấp xã, chịu trách nhiệm
tham mưu, giúp UBND cùng cấp trong lĩnh vực Tư pháp - Hộ tịch. Trên cơ
sở
đó, Bộ Nội vụ đã ban hành Quyết định số 04/2004/QĐ-BNV ngày 16/01/2004
quy định tiêu chuẩn cụ thể đối với cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn. Theo
Quyết định này, công chức Tư pháp - Hộ tịch phải đáp ứng những tiêu chuẩn
chung của cán bộ, công chức cấp xã và những tiêu chuẩn riêng của công chức
Tư pháp - Hộ tịch. Cụ thể:
- Những tiêu chuẩn chung gồ
m:
+ Có tinh thần yêu nước sâu sắc, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và
chủ nghĩa xã hội; có năng lực tổ chức vận động nhân dân thực hiện có kết quả
đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước ở địa phương.
+ Cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, công tâm thạo việc, tận tuỵ với
dân. Không tham nhũng và kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng. Có ý thức
kỷ luật trong công tác.
+ Trung th
ực, không cơ hội, gắn bó mật thiết với nhân dân, được nhân
dân tín nhiệm.
+ Có trình độ hiểu biết về lý luận chính trị, quan điểm, đường lối của
Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước; có trình độ học vấn, chuyên môn,
đủ năng lực và sức khoẻ để làm việc có hiệu quả đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ
được giao.
- Những tiêu chuẩn cụ thể đối với chức danh T
ư pháp-Hộ tịch

+ Tuổi đời: Không quá 35 tuổi khi tuyển dụng lần đầu.
+ Học vấn: Tốt nghiệp trung học phổ thông đối với khu vực đồng bằng
và đô thị; tốt nghiệp trung học cơ sở trở lên đối với khu vực miền núi.
+ Lý luận chính trị: Sau khi được tuyển dụng phải được bồi dưỡng lý
luận chính trị tương đương trình độ sơ c
ấp trở lên.
+ Chuyên môn, nghiệp vụ: Ở khu vực đồng bằng có trình độ trung cấp
Luật trở lên và phải qua lớp bồi dưỡng nghiệp vụ Tư pháp cấp xã sau khi được
9
tuyển dụng. Đối với công chức đang công tác ở khu vực miền núi hiện nay, tối
thiểu được bồi dưỡng kiến thức nghiệp vụ Tư pháp cấp xã; nếu mới được tuyển
dụng lần đầu phải có trình độ trung cấp luật trở lên. Phải qua bồi dưỡng quản
lý hành chính Nhà nước sau khi được tuyển dụng. Ở khu vực đồng bằng và đô
thị phả
i sử dụng được kỹ thuật tin học trong công tác chuyên môn.
Như vậy, sự hoàn thiện về chức danh và những tiêu chuẩn cụ thể đối
với công chức cấp xã nói chung, trong đó có chức danh công chức Tư pháp -
Hộ tịch đòi hỏi chúng ta phải từng bước chuẩn hóa đội ngũ công chức Tư pháp
- Hộ tịch nhằm đáp ứng yêu cầu của cải cách hành chính, cải cách tư pháp đã
và đ
ang đặt ra hiện nay.
Bên cạnh đó, trong nội dung về đổi mới, nâng cao chất lượng đội ngũ
cán bộ, công chức, Quyết định 136/2001/QĐ-TTg cũng đề ra những yêu cầu cụ
thể liên quan đến đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao tinh thần trách nhiệm và đạo
đức cán bộ, công chức. Theo đó, nhiều chương trình đào tạo dành cho đội ngũ
cán bộ, công chức nói chung, trong đó có cán bộ, công chức cấp xã đã và
đang
được đặt ra và triển khai trên thực tế nhằm đáp ứng yêu cầu của cải cách hành
chính, cụ thể là:
- Quyết định số 40/2006/QĐ-TTg ngày 15/02/2006 của Thủ tướng

Chính phủ về việc phê duyệt kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức
giai đoạn 2006-2010;
- Quyết định số 34/2006/QĐ-TTg ngày 08/02/2006 của Thủ tướng
Chính phủ phê duyệt Đề án đào tạo, bồ
i dưỡng cán bộ, công chức xã, phường,
thị trấn người dân tộc thiểu số giai đoạn 2006-2010;
- Quyết định số 28/2007/QĐ-TTg ngày 28/02/2007 của Thủ tướng
Chính phủ phê duyệt Đề án đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức xã, phường,
thị trấn các tỉnh khu vực miền núi phía Bắc giai đoạn 2007-2010;
- Quyết định số 1956/QĐ-TTg ngày 27/11/2009 của Thủ tướng Chính
phủ về việc phê duy
ệt Đề án: “Đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm
2020”;
- Quyết định số 52/2010/QĐ-TTg ngày 18/8/2010 của Thủ tướng Chính
phủ về chính sách hỗ trợ pháp lý nhằm nâng cao nhận thức, hiểu biết pháp luật
cho người nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số tại các huyện nghèo giai đoạn
2011-2020;
Theo các chương trình, đề án, kế hoạch đào tạo nêu trên, nâng cao trình
độ chuyên môn, năng lực công tác của đội ngũ cán bộ, công chứ
c cấp xã nói
10
chung trong đó có đội ngũ công chức Tư pháp – Hộ tịch nói riêng là mục tiêu
xuyên suốt, là một nội dung của cải cách hành chính, đồng thời là một giải
pháp nhằm đáp ứng tốt những yêu cầu đặt ra khi chúng ta thực hiện chương
trình tổng thể cải cách hành chính trên cả bốn nội dung: Cải cách thể chế, cải
cách tổ chức bộ máy, đổi mới, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chứ
c
và cải cách tài chính công.
Tiếp tục thực hiện yêu cầu đổi mới, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ
Nghị quyết Trung ương 5 khóa X đã xác định một số nội dung quan trọng: thứ

nhất, xác định rõ vị trí, cơ cấu và tiêu chuẩn chức danh công chức trong từng
cơ quan của Nhà nước để làm căn cứ tuyển dụng và bố trí, sử dụng cán bộ,
công chức; thứ hai, làm tốt công tác quy ho
ạch và thực hiện quy hoạch cán bộ,
công chức, thông qua việc đánh giá, phân loại cán bộ, công chức, xác định rõ
những người đủ và không đủ tiêu chuẩn, có chính sách thích hợp đối với người
không đủ tiêu chuẩn phải đưa ra khỏi bộ máy; thứ ba, đổi mới chế độ tuyển
dụng và quản lý cán bộ, công chức, trong đó việc bố trí, phân công nhiệm vụ
cho cán bộ, công chức cần bảo đảm sự
ổn định để chuyên môn hóa, đồng thời
có sự điều chuyển cần thiết để đào tạo, bồi dưỡng cán bộ và phòng ngừa tiêu
cực; thứ tư, đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức. Như vậy,
hiện tại cũng như định hướng cho những năm tới, nâng cao trình độ, năng lực
và phẩm chất đối với đội ngũ
công chức Tư pháp - Hộ tịch cấp xã vừa là một
yêu cầu trực tiếp của cải cách hành chính Nhà nước với mục tiêu xây dựng đội
ngũ cán bộ, công chức chuyên nghiệp, hiện đại vừa là nội dung nhằm đáp ứng
những yêu cầu, thách thức đặt ra khi chúng ta thực hiện cải cách tổng thể nền
hành chính nhà nước.
2. Những yêu cầu cải cách tư pháp đặt ra đối với công tác Tư pháp
c
ấp xã
Cùng với công cuộc cải cách hành chính, cải cách tư pháp cũng là một
trong những chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước ta hiện nay. Chủ trương
này thể hiện rõ nét qua Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ
Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới;
Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải
cách tư pháp đến năm 2020 (sau đ
ây gọi là Nghị quyết số 49-NQ/TW), trong
đó mục tiêu đặt ra là: Xây dựng nền tư pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ,

nghiêm minh, bảo vệ công lý, từng bước hiện đại, phục vụ nhân dân, phụng sự
tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; hoạt động tư pháp mà trọng tâm là hoạt
động xét xử được tiến hành có hiệu quả và hiệu lực cao. Chiến lược cải cách tư
pháp hiệ
n nay được triển khai đồng bộ với 08 nhóm nhiệm vụ gồm: Hoàn thiện
11
chính sách pháp luật hình sự, pháp luật dân sự và thủ tục tố tụng tư pháp; xác
định rõ chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền và hoàn thiện tổ chức, bộ máy các
cơ quan tư pháp mà trọng tâm là xây dựng, hoàn thiện tổ chức và hoạt động
của Tòa án nhân dân; hoàn thiện các chế định bổ trợ tư pháp; xây dựng đội ngũ
cán bộ tư pháp và bổ trợ tư pháp trong sạch, vững mạnh; hoàn thiện c
ơ chế,
giám sát của các cơ quan dân chủ và phát huy quyền làm chủ của nhân dân đối
với cơ quan tư pháp; tăng cường hợp tác quốc tế về tư pháp; bảo đảm cơ sở vật
chất và hoạt động tư pháp; hoàn thiện cơ chế lãnh đạo của Đảng đối với công
tác tư pháp.
Với những mục tiêu, nhiệm vụ đặt ra từ Chiến lược cải cách tư pháp,
Ngành Tư pháp đang đứng trước những nhiệm vụ hết sức quan trọng như:
không ngừng nâng cao chất lượng hoạt động xây dựng văn bản quy phạm pháp
luật bảo đảm hoàn thiện chính sách, pháp luật về tư pháp theo yêu cầu của
Chiến lược cải cách tư pháp; hoàn thiện chế định về bổ trợ tư pháp và xây
dựng đội ngũ cán bộ bổ trợ tư pháp - một trong nh
ững chức năng quản lý nhà
nước của Bộ Tư pháp bảo đảm các hoạt động bổ trợ tư pháp gồm Luật sư, công
chứng, giám định tư pháp và bán đấu giá tài sản, hỗ trợ cho các hoạt động tư
pháp (điều tra, truy tố, xét xử) được khách quan, chính xác và đúng pháp luật
và một số các nhiệm vụ khác như tăng cường tuyên truyền, phổ biến giáo dục
pháp luật; trợ giúp pháp lý, hòa gi
ải ở cơ sở. Trong phạm vi Đề án tăng cường
năng lực Tư pháp cấp xã đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính, cải cách tư

pháp, một số yêu cầu của cải cách tư pháp đặt ra đối với công tác Tư pháp cấp
xã cụ thể như sau:
2.1. Cải cách tư pháp đặt ra yêu cầu tăng cường vai trò của UBND
cấp xã trong công tác thi hành án
Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 xác định: “Chu
ẩn bị điều
kiện về cán bộ, cơ sở vật chất để giao cho Bộ Tư pháp giúp Chính phủ thống
nhất quản lý công tác thi hành án. Xác định rõ trách nhiệm của Uỷ ban nhân
dân xã, phường, thị trấn và của cơ quan chuyên môn của Uỷ ban nhân dân
tỉnh, thành phố trong việc thi hành án các hình phạt không phải là hình
phạt tù để thực hiện các bản án của tòa án. Từng bước thực hiện việc xã hội
hóa và quy đị
nh những hình thức, thủ tục để giao cho tổ chức không phải là cơ
quan nhà nước thực hiện một số công việc thi hành án”. Thể chế hóa nội dung
nêu trên, hệ thống pháp luật về thi hành án thời gian qua đã có những bước
hoàn thiện cơ bản, trong đó tăng cường vai trò của UBND cấp xã trong công
tác thi hành án.
12
Yêu cầu đặt ra đối với công tác Tư pháp cấp xã hiện nay đó là tăng
cường sự phối hợp hiệu quả giữa Uỷ ban nhân dân cấp xã (trực tiếp là công
chức Tư pháp – Hộ tịch) với cơ quan thi hành án dân sự, chấp hành viên thi
hành án dân sự trong việc tổ chức thực hiện các bản án, quyết định của Tòa án
trên địa bàn, bảo đảm pháp luật được thực hiện nghiêm minh. Sự phối hợ
p này
đòi hỏi phải có con người trực tiếp tham gia phối hợp; nắm bắt được các thông
tin về địa bàn và đối tượng phải thi hành án, có như vậy, sự phối hợp giữa cơ
quan thi hành án với chính quyền địa phương trong việc tổ chức thi hành án
dân sự mới đạt được hiệu quả. Do đó, sự tăng cường về số lượng và chất lượng
(nhấn mạnh yếu t
ố trách nhiệm, nhiệt tình) cũng như chính sách hỗ trợ cho đội

ngũ này là yêu cầu hết sức quan trọng nhằm bảo đảm công tác Tư pháp cấp xã
đáp ứng được yêu cầu của cải cách tư pháp đặt ra hiện nay. Cụ thể là, Điều 175
Luật Thi hành án dân sự quy định rõ: “Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã trong
phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình phối hợp với Chấp hành viên và cơ

quan thi hành án dân sự trong việc thông báo thi hành án, xác minh điều kiện
thi hành án, áp dụng biện pháp bảo đảm, biện pháp cưỡng chế thi hành án và
các nhiệm vụ khác về thi hành án dân sự trên địa bàn”. Theo quy định này, thì
công chức Tư pháp - Hộ tịch với vai trò là người tham mưu cho Chủ tịch Ủy
ban nhân dân cùng cấp trong lĩnh vực Tư pháp sẽ chịu trách nhiệm giúp
UBND cấp xã thực hiện nhiệm vụ phối hợp, hỗ trợ để công tác thi hành án dân
sự trên
địa bàn xã, phường, thị trấn đạt kết quả tốt nhất.
Trong thời gian tới, Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 xác định
giao Bộ Tư pháp giúp Chính phủ thống nhất quản lý công tác thi hành án bao
gồm cả thi hành án dân sự, thi hành án hình sự, thi hành án hành chính. Mặc dù
vấn đề này đang trong quá trình nghiên cứu, thảo luận để tổ chức thực hiện
nhưng dù phạm vi quản lý, cách thức chuyển giao như thế nào thì cũng c
ần
sớm có các bước chuẩn bị về nguồn nhân lực và các điều kiện cần thiết khác ở
cấp xã giúp Uỷ ban nhân dân cùng cấp quản lý nhà nước về công tác thi hành
án ở địa phương cũng cần được đặt ra nhằm tạo thế chủ động khi Bộ Tư pháp
được giao giúp Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về công tác thi hành án
theo yêu cầu của Chiến lược cải cách tư pháp.
2.2. Cải cách t
ư pháp đặt ra yêu cầu tôn trọng và phát huy quyền dân
chủ của nhân dân đối với cơ quan tư pháp
Phát huy dân chủ là mục tiêu cơ bản và thống nhất trên cả 03 công cuộc
cải cách: cải cách lập pháp, cải cách hành chính và cải cách tư pháp ở nước ta
hiện nay nhằm xây dựng thành công Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa,

của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân ở Việt Nam. Để người dân thực sự là
13
chủ và làm chủ, đòi hỏi người dân phải nhận thức rõ quyền và nghĩa vụ pháp lý
của mình cũng như quyền, nghĩa vụ pháp lý của các cơ quan công quyền – đây
được coi là công cụ quan trọng để người dân thực hiện quyền làm chủ. Trên
quan điểm đó, Nghị quyết số 49-NQ/TW xác định nhiệm vụ phát huy quyền
làm chủ của nhân dân đối với cơ quan tư pháp cần “Đẩy m
ạnh công tác tuyên
truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật; không ngừng nâng cao trình độ dân trí
pháp lý, ý thức sống, làm việc theo Hiến pháp và pháp luật cho mọi người dân.
Mặt trận Tổ quốc và các thành viên tập trung làm tốt công tác động viên nhân
dân phát hiện những hạn chế, khuyết điểm trong hoạt động tư pháp, qua đó
kiến nghị với các cơ quan tư pháp khắc phục, sửa chữa. Tăng cường vai trò
của các phương tiện thông tin đạ
i chúng trong việc tuyên truyền, cung cấp
thông tin về hoạt động tư pháp”.
Với vai trò là cơ quan chịu trách nhiệm quản lý nhà nước về công tác tư
pháp ở địa phương, trong đó có nhiệm vụ tổ chức thực hiện chương trình, kế
hoạch phổ biến giáo dục pháp luật; quản lý, khai thác, sử dụng Tủ sách pháp
luật ở cấp xã, nhiệm vụ cải cách tư pháp đặt ra đối với Uỷ ban nhân dân c
ấp xã
hiện nay cũng như thời gian tới đó là cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ
biến giáo dục pháp luật cũng như hòa giải ở địa phương mình đáp ứng nhiệm
vụ phát huy quyền làm của nhân dân đối với cơ quan tư pháp như nhiệm vụ đã
được đề ra trong Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2010. Để làm tốt nhiệm
vụ này, công chức Tư
pháp – Hộ tịch không những cần phát huy vai trò là
người báo cáo viên pháp luật trực tiếp mà còn phải có năng lực tham mưu cho
UBND cấp xã trong việc phối hợp với các tổ chức đoàn thể ở địa phương xây
dựng kế hoạch và tổ chức tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật trong nhân

dân để người dân hiểu và thực hiện tốt quyền làm chủ của mình nói chung,
trong đó có quyền làm chủ của nhân dân đố
i với cơ quan tư pháp – một trong
nhiệm vụ của công cuộc cải cách Tư pháp hiện nay.
2.3. Nâng cao chất lượng hoạt động xét xử và yêu cầu phát huy vai trò
hoạt động hòa giải ở cơ sở
Nâng cao chất lượng hoạt động xét xử là nhiệm vụ trọng tâm của Chiến
lược cải cách Tư pháp giai đoạn 2010-2020 nhằm đáp ứng yêu cầu xây dựng
một nền Tư pháp trong sạch, v
ững mạnh, nghiêm minh, bảo vệ công lý. Trong
bối cảnh nền kinh tế thị trường ngày càng phát triển, các mối quan hệ xã hội
diễn ra phức tạp và tranh chấp phát sinh là điều tất yếu – đã và đang tạo nên
những áp lực lớn về công việc và ít nhiều ảnh hưởng đến chất lượng hoạt động
xét xử của Tòa án nhân dân các cấp. Vì vậy, giảm tải áp lực công việc cho Tòa
14
án nhân dân các cấp là một trong những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng
hoạt động xét xử của Tòa án nhân dân hiện nay.
Hiện nay, hòa giải ở cơ sở đã và đang là một trong những hình thức giải
quyết tốt những mâu thuẫn, tranh chấp phát sinh trong đời sống cộng đồng dân
cư. Ngay từ năm 1998, Ủy ban thường vụ Quốc hội đã ban hành Pháp lệnh tổ
chức và hoạt động hòa giải
ở cơ sở, theo đó hòa giải ở cơ sở được thực hiện
thông qua hoạt động của Tổ hòa giải hoặc các tổ chức thích hợp khác nhau của
nhân dân ở thôn, xóm, bản, ấp, tổ dân phố và các cụm dân cư khác phù hợp với
pháp luật, đạo đức xã hội và phong tục, tập quán tốt đẹp của nhân dân. Khoản
6 Điều 7 Thông tư số 01/2009/TTLT-BTP-BNV quy định một trong những nội
dung qu
ản lý Nhà nước về công tác Tư pháp trên địa bàn của Ủy ban nhân dân
cấp xã là: Tổ chức thực hiện các quy định của pháp luật về tổ chức và hoạt
động hòa giải ở cơ sở, bồi dưỡng, cung cấp tài liệu nghiệp vụ cho tổ viên Tổ

hòa giải trên địa bàn theo hướng dẫn của cơ quan tư pháp cấp trên. Làm tốt
nhiệm vụ này là yêu cầu hết sức quan trọng, góp phần gi
ảm bớt các vụ, việc
phải xét xử tại Tòa án, qua đó nâng cao chất lượng xét xử của hệ thống Tòa án
nhân dân – một trong những nội dung quan trọng của Chiến lược cải cách Tư
pháp ở nước ta đến năm 2020. Yêu cầu này đặt ra đối với đội ngũ công chức
Tư pháp - Hộ tịch hiện nay đó là phải tham mưu tốt cho Uỷ ban nhân dân cấp
xã trong việc xây dựng, duy trì và phát triển về s
ố lượng cũng như chất lượng
hoạt động của mạng lưới tổ hòa giải ở cơ sở và đội ngũ hòa giải viên ở các tổ
dân phố, thôn, làng, ấp, bản, phum, sóc, cụm dân cư. Đây là nhiệm vụ thường
xuyên trong công tác Tư pháp cấp xã, đòi hỏi đội ngũ công chức Tư pháp – Hộ
tịch phải không ngừng được tăng cường về năng lực nhằ
m đáp ứng những yêu
cầu của cải cách tư pháp đặt ra.
Tóm lại, cải cách hành chính, cải cách tư pháp đã, đang và sẽ đặt ra
những yêu cầu đối với công tác tư pháp nói chung và công tác Tư pháp cấp xã
nói riêng. Để triển khai một cách đồng bộ, toàn diện, hiệu quả các các nhóm
nhiệm vụ được giao theo quy định của pháp luật đáp ứng tốt yêu cầu của cải
cách hành chính, cải cách tư pháp, vấn đề
nâng cao năng lực Tư pháp cấp xã là
đòi hỏi tất yếu trong giai đoạn hiện nay.
II. THỰC TRẠNG NĂNG LỰC TƯ PHÁP XÃ, PHƯỜNG, THỊ TRẤN
1. Về thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Tư pháp cấp xã
1.1. Ưu điểm
Trong thời gian qua, việc triển khai thực hiện các nhiệm vụ của Tư pháp
cấp xã đã giúp chính quyền các cấp quản lý nhà nước có hiệu quả về mọi mặt
15
của đời sống xã hội trên địa bàn, đồng thời qua đó cũng đã khẳng định vị trí,
vai trò của công tác Tư pháp trong quản lý nhà nước cũng như trong đời sống

xã hội, tạo môi trường pháp lý thuận lợi để khuyến khích và thu hút đầu tư,
nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý, chỉ đạo điều hành bằng pháp luật, thúc
đẩy kinh tế, xã hội phát triển, giữ vững ổn
định chính trị, trật tự an toàn xã hội,
thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị của địa phương và của ngành Tư pháp.
a) Công tác xây dựng pháp luật từng bước được triển khai thực hiện,
đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước bằng pháp luật của chính quyền cấp xã
Xây dựng pháp luật là một trong các nhiệm vụ chủ yếu của cơ quan nhà
nước các cấp. Theo quy định của pháp luậ
t, Uỷ ban nhân dân cấp xã có thẩm
quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật để thực hiện các chủ trương,
chính sách, pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên; đồng thời, để chỉ đạo,
quản lý các lĩnh vực đời sống xã hội trên địa bàn. Công chức Tư pháp - Hộ tịch
với vai trò là công chức chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân cấp xã có trách
nhiệm giúp chính quyền cấp xã trong việc ban hành các văn bản quy phạm
pháp luật v
ề công tác tư pháp thuộc thẩm quyền theo quy định của pháp luật;
tổ chức việc lấy ý kiến nhân dân về các dự án luật, pháp lệnh và các dự thảo
văn bản quy phạm pháp luật theo hướng dẫn của cơ quan cấp trên; tự kiểm tra
các văn bản do Uỷ ban nhân dân cấp xã ban hành. Đồng thời công chức Tư
pháp - Hộ tịch còn có trách nhiệm trong việc phối hợp với các tổ chức, cá nhân
có liên quan để h
ướng dẫn việc xây dựng hương ước, quy ước, bảo đảm các
văn bản này phù hợp với quy định của pháp luật và đồng thời cũng phù hợp
với phong tục, tập quán của địa phương.
Nhiệm vụ này đòi hỏi công chức Tư pháp - Hộ tịch phải có trình độ
chuyên môn, kỹ năng, nghiệp vụ và kinh nghiệm, khả năng phát hiện vấn đề,
tổng kết th
ực tiễn để đưa ra dự thảo các văn bản phù hợp, theo đúng quy định
của pháp luật. Để thực hiện tốt nhiệm vụ này, công chức Tư pháp - Hộ tịch

phải nắm vững đường lối, chính sách của Đảng, các quy định pháp luật hiện
hành của nhà nước và nhiệm vụ, quyền hạn của Uỷ ban nhân dân cấp xã; đồng
thời phải nắm được thực tiễ
n, tình hình chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội trên
địa bàn để tham mưu và giúp Uỷ ban nhân dân cấp xã ban hành hoặc đề nghị
cơ quan có thẩm quyền ban hành các văn bản kịp thời, có tính khả thi cao và
đáp ứng được với yêu cầu quản lý nhà nước của địa phương; đồng thời, cần có
hiểu biết về kỹ thuật, quy trình soạn thảo văn bản, để các văn bản được ban
hành đúng thể thứ
c, đúng thẩm quyền, nội dung phù hợp, bảo đảm tính đồng
bộ, tính thống nhất của hệ thống pháp luật.
16
Từ khi, Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân
dân và Uỷ ban nhân dân được ban hành, đến nay, công tác xây dựng văn bản
quy phạm pháp luật của chính quyền cấp xã đã được quan tâm hơn và từng
bước đi vào nề nếp. Theo kết quả khảo khát năm 2008 của 1.493 xã, phường,
thị trấn đại diện cho các vùng, miền, khu vực trong cả nước cho thấy trong 2
năm 2007-2008, có 73% (1.086/1.493 cấp xã) đã thực hi
ện soạn thảo các văn
bản thuộc thẩm quyền của Ủy ban nhân dân cấp xã. Trong giai đoạn từ năm
2003 đến năm 2005, tỉ lệ công chức Tư pháp - Hộ tịch không thống kê được
kết quả hoạt xây dựng văn bản quy phạm pháp luật là 51,4% thì trong các năm
2007 và 2008, tỷ lệ này giảm xuống còn 27%.
Đồng thời qua khảo sát cho thấy, kết quả triển khai thực hiện các nhiệm
v
ụ cụ thể trong công tác xây dựng pháp luật như sau: có 62% cấp xã
(922/1.493 cấp xã) đã tổ chức lấy ý kiến trong nhân dân về các dự án luật,
pháp lệnh và các văn bản quy phạm pháp luật khác; 78,7% công chức Tư pháp
- Hộ tịch có tham gia ý kiến vào các văn bản pháp luật do Uỷ ban nhân dân cấp
xã ban hành với số lượng bình quân là 4,5 văn bản/tháng. Bên cạnh đó, 84%

công chức Tư pháp - Hộ tịch (1.332/1.493 cấp xã) đã giúp UBND cấp xã tự
kiểm tra các Quyế
t định, Chỉ thị do Uỷ ban nhân dân cấp xã ban hành, tính
trung bình mỗi công chức Tư pháp - Hộ tịch giúp UBND cấp xã tự kiểm tra
văn bản bình quân là 9 văn bản/tháng. Ngoài ra, công chức Tư pháp - Hộ tịch
còn tham gia xây dựng hương ước, quy ước của thôn, làng, ấp, bản,
Với những kết quả đạt được trên đây, công tác xây dựng pháp luật đã
giúp Uỷ ban nhân dân cấp xã tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nướ
c
bằng pháp luật trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, bảo đảm quyền và lợi ích
hợp của các tổ chức, cá nhân, góp phần giữ vững an ninh, chính trị, trật tự an
toàn xã hội, thúc đẩy kinh tế phát triển.
b) Công tác phổ biến, giáo dục pháp luật và hoà giải ở cơ sở được thực
hiện với nhiều hình thức đa dạng, phong phú góp phần nâng cao ý thức chấp
hành pháp luật của ng
ười dân
Phổ biến, giáo dục pháp luật là nhiệm vụ quan trọng của tất cả các cấp,
các ngành, cơ quan, đơn vị, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị xã hội. Thực
hiện Chỉ thị số 32-CT/TW ngày 09/12/2003 của Ban Bí thư Trung ương Đảng
về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong công tác phổ biến, giáo dục pháp
luật, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ, nhân dân trong đ
ó đã xác
định phổ biến pháp luật là nhiệm vụ thường xuyên, liên tục của các cơ quan
Đảng, chính quyền, Nhà nước và cả hệ thống chính trị; coi công tác phổ biến
17
pháp luật là một bộ phận của công tác giáo dục chính trị, tư tưởng; để nhân dân
hiểu biết, tuân thủ pháp luật và giám sát việc thực hiện pháp luật thì phải tuyên
truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật. Như vậy, công tác tuyên truyền, phổ biến,
giáo dục pháp luật là nhiệm vụ của tất cả các ngành, các cấp, các cơ quan, đơn
vị, đoàn thể quần chúng, trong đó các cơ quan tư pháp giữ vai trò nòng cố

t
trong việc định hướng và tổ chức các hoạt động tuyên truyền, phổ biến, giáo
dục pháp luật.
Để bảo đảm chất lượng, hiệu quả hoạt động, trên cơ sở kế hoạch phổ
biến giáo dục pháp luật của cấp huyện và sự chỉ đạo của Uỷ ban nhân dân cấp
xã, công chức Tư pháp - Hộ tịch đã cụ thể hoá kế hoạch tại c
ơ sở theo từng địa
bàn, từng đối tượng để tuyên truyền các văn bản pháp luật theo các hình thức
phù hợp. Theo kết quả khảo sát tại 1.493 cấp xã thì 97% cấp xã (1.442/1.493
cấp xã) cho biết đã thực hiện hoạt động phổ biến giáo dục pháp luật. Đồng
thời, đã có 83,4% cấp xã đã thành lập Hội đồng phổ biến, giáo dục pháp luật,
số lượng bình quân là 9,7 thành viên/Hội đồng. Thành viên của H
ội đồng bao
gồm đại diện của Mặt trận tổ quốc, Hội phụ nữ, Đoàn thanh niên, Hội cựu
chiến binh, Hội nông dân. Một số Hội đồng còn có sự tham gia của đại diện
các đơn vị dân cư là trưởng thôn và già làng. Đối với các cấp xã ở khu vực
miền núi, địa bàn có người dân tộc sinh sống thì phần lớn người tham gia Hội
đồng phối hợp công tác phổ biế
n, giáo dục pháp luật là các già làng, trưởng
bản. Đối với các cấp xã ở khu vực biên giới thì các đồn biên phòng cũng có
một vai trò quan trọng trong việc phối hợp cùng với Tư pháp cấp xã thực hiện
nhiệm vụ phổ biến, giáo dục pháp luật.
Hình thức phổ biến giáo dục pháp luật đã được đa dạng hóa phù hợp với
từng đối tượng. Cụ thể, theo kết quả khảo sát củ
a 1.493 cấp xã năm 2008, công
tác phổ biến, giáo dục pháp luật đã đạt được một số kết quả như sau: tuyên
truyền miệng (đạt tỷ lệ 100%), loa truyền thanh (đạt tỷ lệ 73,6%), quản lý, khai
thác và hướng dẫn sử dụng tủ sách pháp luật (đạt tỷ lệ 90,6%). Một số hình
thức khác cũng được sử dụng nhưng ở tỷ lệ thấp hơn và không thường xuyên
như

thông qua việc thành lập và duy trì, hướng dẫn sinh hoạt của các câu lạc
bộ pháp luật (33,2%); tổ chức các hội diễn, hội thi, lồng ghép vào các hình
thức sinh hoạt văn nghệ, thể thao (đạt tỷ lệ 42%).
Hoà giải ở cơ sở là một hoạt động mang tính xã hội tự nguyện, tự quản
đã trở thành đạo lý truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta, không chỉ đơn thuần
góp phần h
ạn chế các tranh chấp dân sự, vận động nhân dân sống và làm việc
theo pháp luật, củng cố tình làng, nghĩa xóm, tăng cường tình đoàn kết trong
cộng đồng dân cư mà còn góp phần quan trọng trong việc phòng ngừa tội
18
phạm, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, thúc đẩy phát triển
kinh, tế xã hội.
Thực hiện Pháp lệnh về tổ chức và hoạt động hoà giải ở cơ sở, Nghị
định số 160/1999/NĐ-CP ngày 18/10/1999 của Chính phủ quy định chi tiết
một số điều của Pháp lệnh về tổ chức và hoạt động hoà giải ở cơ sở; đồng thời,
được sự quan tâm của cấp uỷ, chính quyền các cấp ở địa phương, trong thời
gian qua công tác hoà giải ở cơ sở được kiện toàn, củng cố và ngày càng phát
triển. Hiện nay, cả nước đã có 126.293 tổ hoà giải với 1.504.928 hoà giải viên.
Trong năm 2009 đã hoà giải 381.658 vụ, việc, trong đó, số vụ việc hoà giải
thành là 290.478 vụ, việc, đạt trên 76%.
Kết quả của công tác phổ biến giáo dục, hòa giải
ở cơ sở nêu trên đã
nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ và nhân dân, giải quyết kịp
thời, tận gốc tranh chấp, mâu thuẫn nhỏ trong nội bộ nhân dân, giảm số vụ
việc khiếu nại, tố cáo, tranh chấp phải chuyển đến cơ quan nhà nước có thẩm
quyền giải quyết, góp phần tích cực vào việc giữ vững an ninh, trật tự an toàn
xã hội, tăng cường pháp chế, phát huy quy
ền làm chủ của nhân dân ở địa
phương và cơ sở.
c) Công tác hành chính tư pháp được phân cấp mạnh mẽ, gần dân, tạo

điều kiện thuận lợi cho dân, rút ngắn thời gian giải quyết công việc của dân
Hoạt động hành chính tư pháp ở cấp xã được triển khai bao gồm nhiệm
vụ quản lý và đăng ký hộ tịch, chứng thực các vụ việc theo quy định của pháp
luật. Đây là nh
ững công việc phát sinh hàng ngày ở cấp xã, liên quan và góp
phần trực tiếp bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.
Trong lĩnh vực quản lý, đăng ký hộ tịch: Thực hiện chủ trương đẩy
mạnh phân cấp về nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm quản lý lĩnh vực này
cho địa phương nói chung và cấp xã nói riêng nhằm phát huy tính chủ động,
tích cực, đề cao trách nhiệm của UBND cấ
p xã, ngày 27/12/2005, Chính phủ
đã ban hành Nghị định số 158/2005/NĐ-CP quy định về đăng ký và quản lý hộ
tịch. So với trước đây thì Uỷ ban nhân dân cấp xã được giao thêm nhiệm vụ
thực hiện thay đổi, cải chính hộ tịch cho người dưới 14 tuổi và bổ sung hộ tịch
cho mọi trường hợp không phân biệt độ tuổi (Điều 36-37 Nghị định số
158/2005/NĐ-CP).
Với những nhiệm vụ
, quyền hạn theo quy định tại Nghị định số
158/2005/NĐ-CP, công chức Tư pháp - Hộ tịch ở cấp xã có trách nhiệm giúp
Uỷ ban nhân dân cấp xã thực hiện quản lý và đăng ký hộ tịch với những công
việc cụ thể như: thụ lý hồ sơ, kiểm tra, xác minh và đề xuất với Chủ tịch Uỷ
19
ban nhân dân xem xét, quyết định việc đăng ký hộ tịch; thường xuyên kiểm tra
và vận động nhân dân đi đăng ký kịp thời các sự kiện hộ tịch. Công chức Tư
pháp - Hộ tịch phải chịu trách nhiệm trước Uỷ ban nhân dân về những sự kiện
hộ tịch phát sinh trên địa bàn xã, phường, thị trấn mà không được đăng ký; sử
dụng các loại sổ, biểu mẫu hộ tịch theo quy đị
nh của pháp luật; tổng hợp tình
hình và thống kê chính xác số liệu hộ tịch của Uỷ ban nhân dân cấp xã báo cáo
Uỷ ban nhân dân cấp huyện định kỳ 6 tháng và hàng năm; tuyên truyền, phổ

biến vận động nhân dân thực hiện các quy định về đăng ký hộ tịch; giữ gìn,
bảo quản, lưu trữ sổ hộ tịch và giấy tờ hộ tịch. Kết quả khảo sát trong năm
2007 và quý I năm 2008 cho thấ
y, bình quân trong 01 tháng, một công chức
Tư pháp - Hộ tịch phải thực hiện 31,9 việc về đăng ký hộ tịch cho người dân
tại địa phương (tăng 100% so với trước năm 2007 khi chưa được giao thêm
nhiệm vụ).
Nhìn chung, công tác đăng ký và quản lý hộ tịch đã đạt được những kết
quả nhất định như: giải quyết kịp thời, nhanh chóng các yêu cầu của công dân
trong lĩnh vực hộ t
ịch.
Trong lĩnh vực chứng thực, Nghị định số 79/2007/NĐ-CP đã đẩy mạnh
phân cấp, giao cho Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn chứng thực bản sao từ
bản chính các giấy tờ, văn bản bằng tiếng Việt và chứng thực chữ ký. Bên cạnh
đó, một số luật như: Luật đất đai, Luật nhà ở, Bộ luật dân sự có quy định giao
cho Ủy ban nhân dân xã, ph
ường, thị trấn thực hiện một số hợp đồng, giao
dịch. Cụ thể là:
- Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn chứng thực bản sao từ bản chính
các giấy tờ, văn bản bằng tiếng Việt (theo Nghị định số 79/2007/NĐ-CP), cụ
thể là:
+ Chứng thực các giấy tờ, văn bản chỉ bằng tiếng Việt hoặc do cơ quan,
tổ chứ
c có thẩm quyền của Việt Nam cấp bằng tiếng Việt, có xen một số từ
bằng tiếng nước ngoài (ví dụ: Giấy chứng nhận kết hôn của người Việt Nam và
người nước ngoài, trong đó có ghi tên, địa chỉ của người nước ngoài bằng tiếng
nước ngoài ).
+ Chứng thực các giấy tờ, văn bản có tính chất song ngữ (ví dụ: Hộ
chiếu của công dân Việt Nam, chứng chỉ
tốt nghiệp của các trường đại học

Việt Nam liên kết với trường đại học của nước ngoài trong đó có ghi đầy đủ
bằng cả tiếng Việt và tiếng nước ngoài).
+ Chứng thực chữ ký trong các giấy tờ, văn bản bằng tiếng Việt (theo
Nghị định số 79/2007/NĐ-CP).
20
- Chứng thực hợp đồng chuyển đổi, chuyển nhượng, thuê, tặng cho, thế
chấp, góp vốn quyền sử dụng đất của hộ gia đình, cá nhân (theo Luật đất đai
năm 2003).
- Chứng thực hợp đồng mua bán, thuê, thuê mua, tặng cho, đổi, thế
chấp, cho mượn, cho ở nhờ, uỷ quyền quản lý nhà ở đối với nhà ở tại nông
thôn (theo Luật nhà ở năm 2005).
- Chứng thự
c di chúc, văn bản từ chối nhận di sản (theo Bộ luật dân sự
năm 2005).
Sau khi có sự điều chỉnh về thẩm quyền chứng thực thì khối lượng công
việc công chức Tư pháp - Hộ tịch cấp xã đã tăng đột biến. Nếu như so với thời
điểm trước khi chuyển giao, trong lĩnh vực chứng thực, bình quân trong 01
tháng, một công chức Tư pháp - Hộ tịch ch
ỉ phải thực hiện 153 việc thì sau khi
được chuyển giao từ tháng 7/2007 thì khối lượng việc bình quân trong một
tháng đã lên đến 379 việc (tăng gầp 2-3 lần).
Hiện nay, việc chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký tại
các địa phương nhìn chung được triển khai thực hiện tốt, đang dần đi vào nề
nếp, đảm bảo giải quyết được kịp thời và rút ngắ
n được thời gian, đáp ứng
được nhu cầu của người dân, khắc phục tình trạng ùn tắc, người dân phải xếp
hàng chờ đợi như trước đây. Tại nhiều địa phương đã thực hiện niêm yết công
khai quy trình, thủ tục giải quyết từng loại việc, mức thu lệ phí, lịch làm
việc…, bố trí phòng tiếp dân chu đáo… nên đã tạo nhiều thuận lợi, giảm thờ
i

gian và chi phí đi lại của người dân khi có nhu cầu chứng thực.
Sau khi được tăng cường phân cấp trong lĩnh vực chứng thực và hộ tịch,
nhóm các nhiệm vụ về hành chính tư pháp đã có sự gia tăng lớn về khối lượng
công việc, chiếm phần lớn quỹ thời gian của công chức Tư pháp - Hộ tịch (việc
hộ tịch tăng 100%, việc chứng thực tăng 2-3 lầ
n so với trước khi phân cấp,
tăng thêm nhiệm vụ). Với khối lượng công việc lớn, nhưng nhìn chung việc
triển khai thực hiện nhiệm vụ vẫn đạt kết quả tốt. Theo thống kê tại 1.493 cấp
xã cho thấy, chỉ trong quý I năm 2008, đã thực hiện chứng thực được
1.699.031 việc. Phản hồi từ phía người dân và chính quyền địa phương cũng
có những đánh giá tốt về
chất lượng thực hiện nhiệm vụ này (tỷ lệ số người
dân đánh giá tốt hoạt động chứng thực chiếm 64%).
Ngoài việc thực hiện các nhiệm vụ trên, theo quy định của Luật Thi
hành án dân sự năm 2008, công chức Tư pháp - Hộ tịch còn thực hiện nhiệm
vụ giúp Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã phối hợp với Chấp hành viên và cơ
21
quan thi hành án dân sự thực hiện thông báo thi hành án, xác minh điều kiện
thi hành án, áp dụng biện pháp bảo đảm, biện pháp cưỡng chế thi hành án.
d) Việc tổ chức triển khai thực hiện nhiệm vụ Tư pháp cấp xã ngày càng
đi vào nề nếp, khoa học, hiệu quả hơn
Công tác tư pháp cấp xã trong thời gian qua được tổ chức triển khai thực
hiện theo chương trình, kế hoạch hàng năm; sự lãnh đạo, chỉ đạo c
ủa cấp uỷ,
UBND cấp xã được tăng cường hơn; sự hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc về
chuyên môn, nghiệp vụ của Phòng Tư pháp cấp huyện được thường xuyên và
sâu sát hơn; sự phối hợp của các chức danh công chức khác và các đoàn thể ở
xã được chặt chẽ và có hiệu quả. Theo kết quả khảo sát cho thấy số lượng cấp
xã đã xây dựng được ch
ương trình, kế hoạch công tác chiếm 93,2%; tổ chức sơ

kết, tổng kết chiếm 73,7%. 91,6% cấp xã cho biết Phòng Tư pháp và các cơ
quan cấp trên có tổ chức việc kiểm tra công tác tư pháp hàng năm.
Theo Quyết định số 93/2007/QĐ-TTg ngày 22/6/2007 của Thủ tướng
Chính phủ ban hành Quy chế thực hiện cơ chế một cửa, cơ chế một cửa liên
thông tại cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương và Quyết
định số
127/2007/QĐ-TTg ngày 01/8/2007 của Thủ tướng Chính phủ về việc tổ chức
làm việc vào ngày thứ bảy hàng tuần để tiếp nhận, giải quyết thủ tục hành
chính để giải quyết các công việc của người dân, các cấp xã đã thực hiện
nghiêm túc quyết định này trong các lĩnh vực hộ tịch, chứng thực. 89% cấp xã
cho biết đã triển khai cơ chế một cửa và 69,1% th
ực hiện làm việc ngày thứ
bảy. Ngoài ra ở một số địa phương, công chức Tư pháp – Hộ tịch còn thực
hiện việc trực một cửa theo phân công của Uỷ ban nhân dân cấp xã.
1.2. Nhược điểm, tồn tại, hạn chế
a) Nhiệm vụ của Tư pháp cấp xã ngày càng tăng về số lượng với yêu
cầu cao về chất lượng và tiến độ đã dẫn
đến sự quá tải về công việc của công
chức Tư pháp - Hộ tịch. Hiện nay, theo Thông tư liên tịch số 01/2009/TTLT-
BTP-BNV, các công chức Tư pháp - Hộ tịch đang phải đảm nhận nhiệm vụ
trong 12 lĩnh vực công tác tư pháp. Cùng với quá trình cải cách hành chính, cải
cách tư pháp theo hướng tăng cường phân cấp, tạo điều kiện thuận lợi cho
người dân, thì các nhiệm vụ, quyền hạn của tư
pháp cấp xã đã được mở rộng
hơn với yêu cầu cao về chất lượng và tiến độ. Bên cạnh đó, ngoài các nhiệm vụ
cụ thể đã được quy định tại Thông tư liên tịch số 01/2009/TTLT-BTP-BNV thì
công chức Tư pháp – Hộ tịch cấp xã còn thực hiện các nhiệm vụ khác do Uỷ
ban nhân dân cấp xã giao. Trong đó, một khối lượng đáng kể công việc phát
sinh là nhiệm vụ tham mưu, tư
vấn các vấn đề pháp lý đối với các quyết định

22
của Uỷ ban nhân dân và Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã, tiếp dân và giải
quyết khiếu nại, tố cáo của nhân dân ở địa phương, tham gia các Ban chỉ đạo
về nếp sống văn minh, gia đình văn hoá, dân số, kế hoạch hoá gia đình…
Trong khi đó, Thông tư liên tịch số 01/2009/TTLT-BTP-BNV chỉ quy định số
lượng 01 công chức Tư pháp - Hộ tịch cấp xã. Điều này đã tạo ra sự quá tải,
làm
ảnh hưởng đến hiệu quả và chất lượng của nhiệm vụ công tác tư pháp cấp
xã.
b) Việc triển khai thực hiện công tác tư pháp ở cấp xã chưa bao quát hết
nhiệm vụ được giao
Hiện nay, trong số 12 nhóm nhiệm vụ được giao, công chức Tư pháp -
Hộ tịch chủ yếu tập trung nhiều vào nhóm nhiệm vụ về phổ biến, giáo dục
pháp luật, đăng ký quản lý hộ tị
ch, chứng thực mà chưa dành nhiều thời gian
cho công tác xây dựng pháp luật, theo dõi thi hành pháp luật (tỷ lệ các cấp xã
chưa triển khai công tác xây dựng pháp luật vẫn còn chiếm 23%). Việc thực
hiện cơ chế một cửa và làm việc ngày thứ bảy tạo điều kiện thuận lợi cho công
dân trong việc giải quyết các công việc nhưng cũng tạo ra khó khăn cho Tư
pháp cấp xã vì số lượng cán bộ ít, phải dành thờ
i gian thường xuyên trực tại
phòng một cửa nên không có thời gian để giải quyết nhiều công việc chuyên
môn khác.
c) Một số nhiệm vụ chưa sâu sát, chất lượng chưa đáp ứng yêu cầu
quản lý nhà nước và nhu cầu của người dân
Trong điều kiện khối lượng công việc lớn và phần lớn các xã chỉ có 01
công chức Tư pháp - Hộ tịch nên trong một số trường hợp chưa đáp
ứng yêu
cầu quản lý nhà nước và nhu cầu của người dân.
Việc phổ biến, giáo dục pháp luật ở nhiều nơi vẫn còn mang tính phong

trào, chưa đi sâu vào những nội dung pháp luật mà người dân cần. Hình thức
PBGDPL mặc dù đã được áp dụng khá đa dạng, phong phú, nhưng hiệu quả
còn chưa cao. Hiện nay, sau khi được phân cấp thực hiện chứng thực bản sao
từ bản chính, do việc bồi dưỡng nghiệ
p vụ chưa cụ thể, kịp thời, cùng với hạn
chế về trình độ của cán bộ nên trong quá trình thực hiện nhiệm vụ cũng tiềm ẩn
những nguy cơ sai sót, ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích chính đáng
của người dân.
Việc đăng ký và quản lý hộ tịch trên địa bàn xã vẫn còn nhiều hạn chế
so với yêu cầu đặt ra như: ở nhiề
u địa phương còn chưa được thực hiện tốt,
nhiều trẻ em đến tuổi đi học mới thực hiện việc đăng ký khai sinh; việc nghiên
cứu và tìm hiểu nội dung của các văn bản này của một số cán bộ và nhân dân

×