Tải bản đầy đủ (.pdf) (363 trang)

Dịch vụ hành chính công trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở việt nam

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (3.51 MB, 363 trang )

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ - HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
HỒ CHÍ MINH
************







BÁO CÁO
TỔNG HỢP KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU


ĐỀ TÀI KHOA HỌC CẤP BỘ NĂM 2010
MÃ SỐ: B. 10-20

DỊCH VỤ HÀNH CHÍNH CÔNG
TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG
XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM


Cơ quan chủ trì: VIỆN VĂN HÓA & PHÁT TRIỂN
Chủ nhiệm:
THS. TRẦN KIM CÚC





8543




HÀ NỘI - 2010

i
DANH SÁCH CÁN BỘ THAM GIA NGHIÊN CỨU

1. ThS. Trần Kim Cúc
2. TS. Phạm Ngọc Dũng
3. Nguyễn Ngọc Diệp
4. ThS. Trần Nhị Hà
5. ThS. Trần Mai Hùng
6. ThS. Trần Quốc Hùng
7. PGS,TS. Trần Ngọc Linh
8. Biện Thị Hương GIang
9. ThS. Nguyễn Thị Hồng Minh
10. ThS. Trần Văn Quí
11. ThS. Chu Lam Sơn
12. Nguyễn Kim Thanh
13. ThS. Cao Bá Thành
14. ThS. Đinh Văn Thụy
11. TS. Lê Văn Trung



ii

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
CCHC Cải cách hành chính
CBCC Cán bộ, công chức

CNH-HĐH Công nghiệp hoá, hiện đại hoá
CNXH Chủ nghĩa xã hội
DVC Dịch vụ công
DVHCC Dịch vụ hành chính công
DVCC Dịch vụ công cộng
ĐKKD Đăng ký kinh doanh
QLNN Quản lý nhà nước
NNPQ Nhà nước pháp quyền
UBND Ủy ban nhân dân
XHCN Xã hội chủ nghĩa
WB Ngân hàng Thế giới


iii
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU 1
NỘI DUNG

.
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ DỊCH VỤ HÀNH CHÍNH CÔNG 11
1.1. Cơ sở lý luận về dịch vụ hành chính công
11
1.2. Cung ứng dịch vụ hành chính công ở các nước và bài học rút ra
cho Việt Nam
43
Chương 2:
THỰC TRẠNG CUNG ỨNG DỊCH VỤ HÀNH CHÍNH CÔNG Ở
VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1999-2010
61

2.1. Cung ứng dịch vụ hành chính công giai đoạn 1999-2010
53
2.2. Đánh giá về hoạt động cung ứng dịch vụ hành chính công
82
Chương 3:
ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DỊC
H
VỤ HÀNH CHÍNH CÔNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 96
3.1. Định hướng nâng cao chất lượng dịch vụ hành chính công
…… 96
3.2. Một số giải pháp nâng cao chất lượng dịch vụ hành chính công
hiện nay
………………….…………………………………………………………… 100
KẾT LUẬN
134
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
136
PHỤ LỤC
138


MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài:
- Cải cách DVHCC đang là xu hướng và đòi hỏi trong bối cảnh cải
cách hành chính, phát triển nền kinh tế thị trường và mở rộng dân chủ ở
Việt Nam hiện nay.
Quá trình chuyển đổi từ cơ chế quản lý kinh tế tập trung, quan liêu,
bao cấp sang vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước đã
làm thay đổi một cách c

ăn bản các lĩnh vực đời sống xã hội. Trong quá trình
này, vấn đề xác định vai trò của Nhà nước trong cung ứng các DVC, trong
đó có DVHCC là hết sức cần thiết. Nhà nước nên làm những việc gì, làm
như thế nào để đạt được hiệu quả cao nhất với chi phí thấp nhất, giảm bớt
gánh nặng cho ngân sách; tạo điều kiện thuận lợi cho người dân và doanh
nghiệp khi tiếp cận với cơ quan hành chính nhà nước đ
ang là vấn đề cấp
bách đặt ra hiện nay.
Với xu hướng dân chủ hóa đời sống xã hội, trình độ dân trí ngày càng
nâng cao đòi hỏi Nhà nước buộc phải có những điều chỉnh nền hành chính
công thích ứng. Theo xu hướng chung, Nhà nước phải chấp nhận sự tham
gia của người dân vào những công việc vốn vẫn do nhà nước đảm nhận;
thực hiện cải thiện mô hình hành chính công theo hướng xã hội hóa, phi tập
trung, nhằm nâng cao chấ
t lượng phục vụ người dân, với tư cách là những
"khách hàng". Trong bối cảnh hiện nay, Nhà nước không chỉ thực hiện chức
năng cai trị, mà ngày càng thể hiện rõ hơn vai trò cung ứng dịch vụ, mà
trong đó có dịch vụ hành chính công. Công chức trong bộ máy hành chính
không chỉ là người có quyền ra mệnh lệnh, mà đòi hỏi thực sự phải là "công
bộc", "đầy tớ" của nhân dân. Nhà nước thể hiện quyền lực nhân dân, có


2
trách nhiệm cung ứng dịch vụ hành chính công nhằm đáp ứng các yêu cầu,
lợi ích chính đáng của công dân theo qui định pháp luật.
Vì vậy, theo chúng tôi việc triển khai nghiên cứu vấn đề này là cần
thiết, qua đó sẽ góp phần cung cấp cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc hoàn
thiện cơ chế, chính sách phát triển dịch vụ hành chính công ở Việt Nam
trong giai đoạn hiện nay.
- Xuất phát từ vai trò của Nhà nước và dị

ch vụ hành chính công đối
với sự phát triển của xã hội.
Trong xã hội hiện đại, cùng với những biến đổi trong đời sống kinh tế
- xã hội, Nhà nước đang có những thay đổi quan trọng cả về tổ chức lẫn
chức năng. Lịch sử cho thấy Nhà nước có hai chức năng cơ bản: (1) công cụ
bảo vệ lợi ích giai cấp và (2) quản lý công việc chung của xã hội; hay ng
ười
ta thường gọi là chức năng quản lý xã hội và chức năng phục vụ xã hội, hai
chức năng này có mối liên hệ chặt chẽ với nhau.
Chức năng quản lý xã hội thể hiện đặc trưng của bộ máy nhà nước,
chế độ chính trị; Nhà nước thực hiện chức năng này của mình thông qua các
hoạt động công quyền như: xây dựng thể chế, chính sách, qui hoạch phát
triể
n và tổ chức thực hiện; kiểm tra, giám sát các hoạt động của xã hội…
Chức năng phục vụ xã hội, được thực hiện thông qua nhiều hoạt động, mà
trong đó cung cấp DVHCC giữ một vị trí quan trọng, nó thể hiện khả năng
đáp ứng các nhu cầu, lợi ích của nhà nước đối với công dân, hay nói cách
khác nó là sự phản ánh năng lực và bản chất của chế độ nhà nước.

Việt Nam, cho đến nay nhà nước vẫn là chủ thể chủ yếu trong cung
ứng DVHCC. Trong xu thế hội nhập hiện nay, với mục tiêu xây dựng “nhà
nước của dân, do dân, vì dân” thì việc Nhà nước cung cấp các DVHCC phục
vụ nhân dân, thúc đẩy phát triển kinh tế, tạo ra sự phát triển bền vững là điều


3
tất yếu. Song xuất phát từ thực trạng cung cấp hiện nay cho thấy rằng việc
tìm kiếm mô hình phù hợp trong cung ứng DVHCC là hết sức quan trọng,
nhằm đảm bảo tính hiệu quả, hiệu lực trong hoạt động của bộ máy nhà nước;
các quyền lợi ích hợp pháp của công dân.

DVHCC là loại hình dịch vụ mang tính đặc thù do các cơ quan hành
chính nhà nước thực hiện, nó gắn với thẩm quyền mang tính quyền lực pháp
lý, v
ới hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước trong việc thực hiện
các quyền và nghĩa vụ có tính chất pháp lý của tổ chức và công dân như cấp
phép, hộ tịch, chứng thực, công chứng , đây là những vấn đề liên quan trực
tiếp đến đời sống hàng ngày, quyền và lợi ích của công dân mà Nhà nước
phải có nghĩa vụ đảm bảo. Xuất phát từ vai trò của Nhà nước và tầm quan
trong của dịch v
ụ hành chính công, chúng tôi cho rằng, việc nghiên cứu cơ
sở lý luận nhằm xác lập mô hình cung ứng dịch vụ hành chính công phù
hợp, đảm bảo các quyền, lợi ích của công dân; thực hiện tốt vai trò quản lý
của Nhà nước trong bối cảnh hiện nay là hết sức cần thiết.
- Thứ ba, xuất phát từ những hạn chế trong cung ứng dịch vụ hành
chính công ở Việt Nam hiện nay.
Trên thế giới, vào những nă
m cuối thế kỷ 20, chi tiêu của các chính
phủ chiếm khoảng 35% GDP. Những người muốn quảng bá cho một chính
phủ tích cực biện hộ rằng chính phủ "đóng góp" 35%; còn những người đòi
hỏi giảm thiểu vai trò của chính phủ thì cho rằng chính phủ "lấy mất" 35%.
Bất chấp những nỗ lực công khai trong những năm qua nhằm điều chỉnh quy
mô cho phù hợp về thành phần và giới hạn củ
a chính phủ thì chi tiêu của
chính phủ vẫn tăng một cách tương đối từ 32% GDP vào năm 1982 lên 34%
GDP vào năm 1999
1
. Những con số này vượt xa sự tưởng tượng của các nhà

1
Ngân hàng Phát triển châu Á- ADB (2003), Phục vụ và duy trì: Cải thiện hành chính công

trong một thế giới cạnh tranh (sách dịch); NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr. 36.


4
kinh tế học cổ điển như Adam Smith hay David Ricardo, những người cho
rằng chính phủ nên đóng vai trò như "người gác cổng".
Rõ ràng chính phủ ở các nước ngày càng trở nên phình to quá mức, và
đối với một số người là không thể chấp nhận được. Mức chi tiêu cao của
chính phủ trong cung ứng dịch vụ hành chính công đã tạo nên những khoản
thâm hụt tài chính lớn, bóp nghẹt đầu tư tư nhân và làm giảm sức cạnh tranh
củ
a nền kinh tế. Đồng thời chất lượng và khả năng tiếp cận dịch vụ hành
chính công lại không được cải thiện rõ rệt. Vai trò và trách nhiệm của chính
phủ luôn bị ảnh hưởng rất lớn bởi các sức ép kinh tế, vì thế cần thiết phải có
sự đánh giá lại trách nhiệm cơ bản của chính phủ trong lĩnh vực quản lý kinh
tế và cung cấp dịch vụ hành chính công.
Ở Vi
ệt Nam, trong những năm vừa qua đã có những cải cách khá mạnh
mẽ trong cung ứng DVHCC như: cải cách thủ tục hành chính; quy trình, bộ
máy, cơ chế cung ứng; hiện đại hoá trang thiết bị và công nghệ; tăng cường
sự kiểm tra, giám sát đối với cơ quan cung Bên cạnh những thành thành
tựu đạt được, hoạt động cung ứng dịch vụ hành chính công hiện đang bộc lộ
không ít hạn chế. Đây chính là nguyên nhân d
ẫn tới hàng loạt mâu thuẫn
như: (1) mâu thuẫn giữa nhu cầu dịch vụ hành chính công với khả năng
cung ứng của Nhà nước; (2) mâu thuẫn giữa khoản kinh phí chi ra quá lớn
với chất lượng dịch vụ, đặc biệt trong bối cảnh ngân sách nhà nước còn eo
hẹp. Bên cạnh đó, sự độc quyền (đặc thù) trong cung ứng DVHCC đã làm
tăng tính quan liêu, cửa quyền của bộ máy nhà nước. Những mâu thuẫn trên
cho thấ

y cần phải nhanh chóng xây dựng cơ chế, chính sách, hoàn thiện luật
pháp nhằm nâng cao chất lượng DVHCC hiện nay.
Từ những lý do trên cho thấy, nghiên cứu và lý giải những vấn đề về
DVHCC là việc làm hết sức cần thiết ở Việt Nam. Nó giúp chúng ta có cơ
sở lý luận để nhận thức một cách đầy đủ về DVHCC; qua đó thiết lập căn cứ


5
để cải cách DVHCC phù hợp với yêu cầu cải cách hành chính hiện nay. Do
đó, việc nghiên cứu Dịch vụ hành chính công trong nền kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam là vấn đề hết sức cần thiết, có ý
nghĩa cả về lý luận và thực tiễn hiện nay.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài.
2.1. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài.
DVHCC là một loại dịch vụ đặc biệ
t, gắn liền với Nhà nước và do
Nhà nước cung ứng nhằm đáp ứng nhu cầu của toàn xã hội. Cho dù cấu trúc
của các nhà nước rất khác nhau giữa các châu lục và giữa các thời kỳ nhưng
lập luận về vai trò đích thực của Nhà nước lại luôn có nét tương đồng. Nhìn
chung, sự bàn luận luôn xoay quanh việc xử lý mối quan hệ về quyền hạn và
nghĩa vụ giữa nhà nước và công dân, và hầu hết đề
u nhất trí một vai trò cho
nhà nước trong việc cung cấp những dịch vụ công cơ bản nhằm đảm bảo lợi
ích của công dân; sự an ninh về người và tài sản bằng các nguồn lực công
1
.
Trong nghiên cứu này, chúng tôi sẽ khảo sát chủ đề DVHCC từ
những nghiên cứu dưới góc độ ngành khoa học hành chính công. Có một vài
căn cứ cho sự lựa chọn này. Thứ nhất, hành chính công với tư cách là một
khoa học nghiên cứu các hoạt động của chính phủ vì lợi ích chung, trong đó

có việc cung cấp các DVHCC. Thứ hai, theo quan điểm hiện nay, trong các
dịch vụ công, nhóm DVHCC cần được cung ứng trên nguyên tắc hiệu quả
về
mặt chính trị -xã hội, và đó là mối quan tâm của khoa học hành chính
công. Thứ ba, các nghiên cứu về DVHCC thường gắn liền với khoa học
hành chính công.
Các nghiên cứu về chủ đề này đối với khu vực, nhóm hay một nước
cụ thể có rất nhiều. Liên quan đến vấn đề nghiên cứu, có thể tham khảo

1
World Bank (1997), Báo cáo về tình hình phát triển thế giới 1997: Nhà nước trong một thế giới
đang chuyển đổi (Sách dịch); NXB Chính trị quốc gia; Hà Nội, tr. 34-35.


6
thêm các công trình nghiên cứu của nước ngoài như:
1. ADB (2003), Phục vụ và duy trì: Cải thiện hành chính công
trong một thế giới cạnh tranh (sách dịch); Nxb.Chính trị quốc gia, Hà Nội;
2. Anttonen, A. (1996), Dịch vụ công ở Châu Âu: Liệu có thể xác
định các mô hình?; Journal of European Social Policy (6), Longman;
3. Boyle, R. (1995), Hướng tới một dịch vụ công mới; Dublin,
Institution of Public Administration;
4. Buchanan, James (1977), Vì sao chính phủ mở rộng?; Durham,
N.C: Duke University Press;
5. David Osborne, Ted Gaeble (1997), Đổi mới hoạt động của
Chính phủ
, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội;
6. Humphreys, P. (1998), Cải tiến việc cung ứng dịch vụ công;
Discussion Paper 7, Dublin, Institution of Public Administration.
7. Martin, B. (1998), Các dịch vụ công và việc hiện đại hóa chúng

trong bối cảnh hội nhập ở Châu Âu; Luxembourg; Office for Official
Publications of the European Communities;
8. White, Leonard (1955), Nhập môn nghiên cứu hành chính
công; New York: Macmillan;
9. Willoughby, W.F. (1930), Một khảo sát chung về nghiên cứu
hành chính công; American Political Science Review (24), tr.39-51;
10. Woodrow Wilson (1887), Nghiên cứu về hành chính công,
Berkeley, University of California Press
11. World Bank (1997), Báo cáo về tình hình phát triển thế giới
1997: Nhà nước trong m
ột thế giới đang chuyển đổi (Sách dịch); NXB
Chính trị quốc gia; Hà Nội, 1998;


7
2.2. Tình hình nghiên cứu ở trong nước
Quá trình chuyển đổi từ nền kinh tế tập trung, quan liêu, bao cấp sang
nền kinh tế thị trường và xây dựng NNPQ XHCN đòi hỏi phải có sự nhận
thức mới về DVC, trong đó có DVHCC. Xuất phát từ nhu cầu đó, ở trong
nước đã có nhiều công trình nghiên cứu về DVHCC dưới nhiều góc độ và
khía cạnh khác nhau, trong thuyết minh này, chúng tôi khảo sát các công
trình nghiên cứu trên cơ sở qui về các nhóm cụ thể sau:
- Ch
ương trình Khoa học - công nghệ cấp nhà nước, đề tài cấp bộ
+ Trong Chương trình tổng thể cải cách hành chính Nhà nước giai
đoạn 2001-2010 của Chính phủ. Năm 2004, Bộ Khoa học và Công nghệ đã
giao cho Viện Khoa học Tổ chức và Nhà nước (Bộ Nội vụ) thực hiện đề tài
nghiên cứu khoa học độc lập cấp Nhà nước Dịch vụ công và xã hội hoá dịch
vụ công trong công cuộc cải cách nền hành chính Nhà n
ước ở Việt Nam,

mang mã số ĐTĐL-2004/13, do TS Chu Văn Thành làm chủ nhiệm.
+ Vào những năm cuối thập niên 1990, nhằm tạo ra sự nhận thức
đúng đắn về DVC, nghiên cứu về kinh nghiệm cung cấp dịch vụ công của
một số nước trên thế giới, Học viện Hành chính Quốc gia - NAPA (Bộ Nội
vụ) đã triển khai nghiên cứu đề tài khoa học cấp bộ mang tên Quản lý khu
vực công và vai trò của Nhà nước do TS Vũ Huy Từ làm chủ nhiệm.
+ Năm 2001, với mục tiêu nghiên cứu xã hội hoá cung ứng DVC,
trong đó có DVHCC, Học viện Hành chính quốc gia đã triển khai nghiên
cứu đề tài cấp bộ mang tên Chuyển giao dịch vụ công cho các cơ sở ngoài
Nhà nước - Vấn đề và giải pháp do TS Lê Chi Mai làm chủ nhiệm.
+ Năm 2008, để nghiên cứu vai trò của Nhà nước trong cung ứng
DVC, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh đ
ã triển khai nghiên cứu đề
tài cấp bộ Nhà nước dịch vụ công- Cở sở lý luận và thực tiễn ở Việt Nam (do


8
Viện Kinh điển Mác-Lênin chủ trì; PGS, TS Trần Ngọc Linh chủ nhiệm).
+ Năm 2009, để nghiên cứu vai trò của khu vực tư nhân trong cung
ứng HH, DVCC, Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh đã
triển khai nghiên cứu đề tài cấp bộ Chính sách khuyến khích tư nhân cung
ứng hàng hóa, dịch vụ công công ở Việt Nam hiện nay, (do Viện Triết học
chủ trì; PGS, TS. Trần Ngọc Linh chủ nhiệm).
- Về các dự án, hội thảo khoa học
+ Vào những năm 1990, UNDP (Chương trình phát triển Liên hiệp
quốc) đã tài trợ cho Học viện Hành chính quốc gia thực hiện dự án
VIE/92/002, trong đó có hội thảo khoa học với chủ đề Hành chính công:
Khái niệm và kinh nghiệm, và Toạ đàm quốc tế về cải cách nền hành chính
Nhà nước năm 1996. Trong hội thảo này các tham luận cũng đã đề cập đến
những vấn đề lý luận về DVHCC và giả

i pháp đổi mới cung ứng DVHCC
trong bối cảnh cải cách nền hành chính quốc gia ở Việt Nam.
+ Năm 1999, trong khuôn khổ Dự án ADB 3023- VIE, Ban Tổ chức
cán bộ Chính phủ (nay là Bộ Nội vụ) đã kết hợp với Công ty tư vấn ARA
(Canada) tổ chức hội thảo khoa học với chủ đề Chính sách về quản lý sự
thay đổi và cung cấp dịch vụ công.
+ Năm 2001, Viện Nghiên cứu Hành chính (thuộc Học vi
ện Hành
chính quốc gia) tổ chức hội thảo khoa học với chủ đề Dịch vụ công - Nhận
thức và thực tiễn. Tại hội thảo này, các nhà khoa học đã tranh luận với nhau
nhiều vấn đề như: DVC, DVHCC, dịch vụ sự nghiệp công, vai trò của Nhà
nước trong cung ứng DVC.
- Năm 2002, hội thảo khoa học với chủ đề Vai trò của Nhà nước
trong cung ứng dịch vụ công - Nh
ận thức, thực trạng và giải pháp do Học
viện Hành chính quốc gia gia tổ chức. Các bài tham luận trình bày tại hội


9
thảo này đã đề cập đến nhiều vấn đề như quan niệm DVHCC, tổng kết các
mô hình cung ứng DVHCC, giải pháp cải cách cung ứng DVHCC
- Về các công trình nghiên cứu chuyên khảo
Trong những năm vừa qua đã có không ít công trình chuyên khảo
nhiên cứu về vấn đề cung ứng DVHCC, những công trình nghiên cứu này
thường được thể hiện dưới dạng các sách chuyên khảo, các bài nghiên cứu
đăng tải ở các tạp chí, các tham luận trình bày trong các hội thảo khoa họ
c…
Liên quan đến vấn đề này, có thể liệt kê một số công trình nghiên cứu của
các tác giả sau đây:
1. Nguyễn Ngọc Hiến (2002): Vai trò của Nhà nước trong cung ứng dịch

vụ công - Nhận thức, thực trạng và giải pháp, Nxb. Chính trị Quốc gia.
2. Lê Chi Mai (2002), Chuyển giao dịch vụ công cho các cơ sở ngoài
Nhà nước - Vấn đề và giải pháp (sách tham khảo).
3. Lê Chi Mai (2003), Cải cách dịch vụ công ở Việt Nam
, (sách tham
khảo), Nxb. Giao thông vận tải, Hà Nội.
4. Chu Văn Thành (2004), Dịch vụ công và xã hội hoá dịch vụ công -
Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb. Chính trị Quốc gia.
5. Lê Chi Mai (2006), Dịch vụ hành chính công (sách tham khảo), Nxb.
Lý luận Chính trị.
6. Đinh Văn Ân, Hoàng Thu Hòa (2006), Đổi mới cung ứng dịch vụ công
ở Việt Nam (sách tham khảo), Nxb. Thống kê.
7. Chu Văn Thành (2007), Dịch vụ công - Đổi mới qu
ản lý và tổ chức
cung ứng ở Việt Nam hiện nay , Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.
8. Học viện Hành chính quốc gia (1990), Hành chính công: Khái niệm
và kinh nghiệm, kỷ yếu hội thảo dự án VIE/92/002.


10
9. Lê Chi Mai (2004), Cải cách dịch vụ hành chính công ở nước ta qua
các mô hình thí điểm, tạp chí Quản lý Nhà nước, số 7/2004, tr.13-17.
10. Đinh Văn Mậu (2002) Bàn luận về thẩm quyền hành chính và dịch vụ
công, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
11. Diệp Văn Sơn (2002), Cần hiểu đúng và tổ chức tốt dịch vụ công,
dịch vụ hành chính công, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội
12. Võ Kim Sơ
n (2002), Dịch vụ công và một vài cách tiếp cận, Nxb.
Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
13. Nguyễn Văn Thâm (2002), Cải cách thủ tục hành chính ở Việt Nam,

Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.
Tuy nhiên, cũng qua khảo sát các công trình nghiên cứu trên, chúng ta
thấy rằng vẫn còn rất nhiều lãnh địa bị bỏ ngỏ hoặc còn ngập ngừng trong
trong tư duy lý luận; vẫn còn nhiều vấn đề nảy sinh từ thực tiễn chưa có câu
trả lời. Vì vậy, nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn về DVHCC ở nước ta
hiện nay còn không ít khía cạnh cần phải tiếp tục trao đổi và giải quyết.
3. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Làm rõ những vấn đề lý luận về DVHCC; trên cơ sở đó đánh giá thực
trạng hoạt động cung ứng DVHCC ở Việt Nam hiện nay, chỉ ra những ưu
điểm, nhược
điểm và nguyên nhân của chúng; và đưa ra những đề xuất, giải
pháp nhằm nâng cao chất lượng DVHCC ở Việt Nam trong những năm tới.
4. Phương pháp nghiên cứu
Để đạt được các mục tiêu nghiên cứu và nhiệm vụ đặt ra, đề tài sử
dụng phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác -
Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sả
n Việt Nam
về DVHCC trong điều kiện cải cách nền hành chính nhà nước làm cơ sở lý


11
luận và phương pháp luận nghiên cứu chủ đạo.
Ngoài ra, đề tài sử dụng một số phương pháp nghiên cứu khác như:
phương pháp phân tích, so sánh; phương pháp tổng hợp; phương pháp khảo
cứu tài liệu; phương pháp thống kê để nghiên cứu vấn đề.
5. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
- Trên cơ sở hệ thống hoá những cách tiếp cận khác nhau đề tài làm rõ
khái niệm “dịch vụ công”, “dịch vụ hành chính công"; ch
ỉ ra chủ thể, phạm
vi, nội dung, hình thức DVHCC phù hợp với tình hình thực tế của Việt Nam

hiện nay; làm sáng tỏ đặc điểm, nội dung, xu hướng, quan điểm về DVHCC.
- Đề tài chỉ ra những ưu điểm, nhược điểm, nguyên nhân và vấn đề
đang đặt ra đối với hoạt động cung ứng DVHCC; cung cấp cơ sở thực tiễn
cho Đảng, Nhà nước để nâng cao chấ
t lượng DVHCC trong thời gian tới;
- Đề tài đề xuất phương hướng, nội dung và những giải pháp khả thi
nhằm nâng cao chất lượng DVHCC trong thời gian tới.
- Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể là tài liệu tham khảo cho các nhà
lãnh đạo, quản lý của Đảng và Nhà nước; các tổ chức cung ứng DVHCC.
6. Kết cấu của Báo cáo tổng hợp kết quả nghiên cứu
Báo cáo tổng hợp kết quả nghiên cứu đượ
c kết cấu gồm 3 chương, 6 tiết,
với những nội dung sau đây:


12
Chương 1:

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ DỊCH VỤ HÀNH CHÍNH CÔNG
1.1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DỊCH VỤ HÀNH CHÍNH CÔNG
1.1.1. Quan niệm về dịch vụ hành chính công
Để tìm hiểu quan niệm về DVHCC chúng ta phải bắt đầu tiếp cận từ
DVC, đây là một khái niệm có liên quan trực tiếp đến DVHCC.
DVC trong tiếng Anh có nghĩa là “public service”, đây là khái niệm
có xuất xứ từ kinh tế học công cộng, nó được sử
dụng tương đối phổ biến ở
châu Âu từ sau chiến tranh thế giới lần thứ II. Theo quan niệm của nhiều
nước, DVC luôn gắn với vai trò của Nhà nước trong việc cung ứng.
Hiện nay, có nhiều quan niệm khác nhau về DVC, Từ điển Petit
Larousse của Pháp xuất bản năm 1992 đã định nghĩa: "dịch vụ công là hoạt

động vì lợi ích chung, do cơ quan nhà nước hoặc tư nhân đảm nhiệm"
1
.
Theo Từ điển Oxford thì "Dịch vụ công: 1. Các dịch vụ như giao
thông hoặc chăm sóc sức khỏe do nhà nước hoặc tổ chức chính thức cung
cấp cho nhân dân nói chung, đặc biệt là xã hội; 2. Việc làm gì đó được thực
hiện nhằm giúp đỡ mọi người hơn là kiếm lợi nhuận; 3. Chính phủ và cơ
quan chính phủ"
2
.
Còn cuốn Từ điển về chính quyền và chính trị Hoa Kỳ cho rằng dịch
vụ công được hiểu theo các nghĩa: "1. Sự tham gia vào đời sống xã hội;
hành động tự nguyện vì cộng đồng của một người nào đó; 2. Việc làm cho
chính phủ, toàn bộ người làm của một cơ quan quyền lực, toàn bộ công nhân

1
Xem: Từ điển Petit Larousse, Librairie Larousse, 1995, tr. 934.
2
Xem: Từ điển Oxford (2000), tr. 1024.


13
viên chức trong khu vực công cộng của quốc gia; 3. Việc mà chính quyền làm
cho cộng đồng của mình; sự bảo vệ của cảnh sát, thu dọn rác ; 4. Một cơ sở
công ích của địa phương; 5. Nghĩa vụ của một người đối với nhà nước"
1
.
Từ quan niệm và cách tiếp cận của nước ngoài chúng ta thấy DVC có
các đặc trưng cơ bản như: (1). Là những hoạt động gắn với chính phủ, hoặc
là những hoạt động của tư nhân nhưng được chính phủ ủy quyền, quản lý;

(2). Các hoạt đồng này hướng tới lợi ích của cộng đồng; (3). Là các hoạt
động không lấy lợi nhuận làm mục tiêu chủ yếu (hoặc phi lợi nhu
ận), mang
tính tự nguyện, có tính chất hỗ trợ.
Ở trong nước, hiện nay có nhiều quan niệm không giống nhau về
DVC, tùy theo cách tiếp cận, hiện nay có một số quan điểm tiêu biểu sau:
- Tiếp cận dưới góc độ chức năng, vai trò của Nhà nước.
Các nhà nghiên cứu cho rằng, Nhà nước có hai chức năng cơ bản:
quản lý (cai trị) và phục vụ xã hội. Chức năng cai trị được thực hiện thông
qua các hoạ
t động như ban hành pháp luật, qui hoạch, kế hoạch, kiểm tra,
giám sát, cưỡng chế Để thực hiện chức năng xã hội, Nhà nước sẽ cung ứng
DVC cho xã hội. Tuy nhiên, trong bối cảnh dân chủ hóa mọi mặt đời sống
xã hội, Nhà nước đã có những thay đổi cơ bản về chức năng, Nhà nước
không chỉ thuần túy cai trị mà còn có trách nhiệm phục vụ nhân dân thông
qua các hoạt động cung ứng DVC.
Theo đó, Nhà n
ước sẽ cung cấp hai loại hình DVC cơ bản: (1). Loại
dịch vụ có tính chất công cộng phục vụ nhu cầu chung, tối cần thiết của cả
cộng đồng và mỗi công dân; (2). Các hoạt động đáp ứng các quyền, tự do,
lợi ích hợp pháp của các tổ chức và công dân liên quan đến chức năng quản
lý hành chính nhà nước.

1
Xem: Jay M. Shafrizt (2002), Từ điển về chính quyền và chính trị Hoa Kỳ. 2002. Nxb. Chính trị
quốc gia, Hà Nội, tr. 772.


14
Ở loại hình dịch vụ thứ nhất. Đây là những dịch vụ tối quan trọng, rất

cần thiết cho cộng đồng nhưng vì không có khả năng, hoặc không đảm bảo
lợi nhuận nên tư nhân không cung ứng mà Nhà nước phải đảm nhận, ví dụ
như: tiêm chủng; phòng cháy, chữa cháy Hoặc có những dịch vụ mà tư
nhân có thể cung ứng được nhưng lại tạo ra các ngoại ứng như
gây bất bình
đẳng, độc quyền làm ảnh hưởng đến lợi ích chung của xã hội. Vì vậy, Nhà
nước vẫn phải có trách nhiệm đứng ra cung ứng, nhằm bảo đảm sự điều tiết,
kiểm soát; và đáp ứng các nhu cầu về DVC của xã hội và công dân.
Ở loại hình dịch vụ thứ hai. Trong quá trình thực hiện chức năng
QLNN, sẽ xuất hiện các quan hệ mang tính chất hành chính giữa công dân,
tổ chức v
ới Nhà nước. Đây là những DVC mà cơ QLNN có trách nhiệm
phải cung ứng cho công dân. Theo đó, Nhà nước sử dụng quyền lực công
thông qua các hoạt động như: cấp phép, chứng thực, hộ tịch, theo yêu cầu
của người dân, và các hoạt động này được xem như một dịch vụ mà Nhà
nước cung ứng cho công dân. Đây là hoạt động mang tính chất đặc thù, nó
gắn với quyền lực nhà nước, với chức năng, thẩm quy
ền quản lý hành chính
của nhà nước, nó thường được gọi là DVHCC.
- Tiếp cận dưới góc độ QLNN
Từ giác độ QLNN, các nhà nghiên cứu hành chính cho rằng DVC là
những hoạt động của cơ quan nhà nước trong việc thực thi chức năng quản lý
hành chính nhà nước và đảm bảo cung ứng các hàng hóa công cộng phục vụ nhu
cầu chung, thiết yếu của xã hội (như cung cấp dịch vụ y tế, giáo dục, điện, nước,
giao thông công cộng ). Cách hiểu này nhấn mạnh vai trò và trách nhiệm của
nhà nước đối với những hoạt động cung cấp hàng hóa công cộng (người ta
thường gắn DVC, thậm chí đồng nhất với công việc của chính phủ).
- Tiếp cận dưới góc độ đối tượng thụ hưởng



15
Có quan điểm cho rằng đây là loại hình dịch vụ đặc biệt cung ứng cho
một loại "khách hàng đặc biệt". Cách tiếp cận này xuất phát từ đối tượng
được hưởng hàng hóa công cộng cho rằng đặc trưng chủ yếu của DVC là
hoạt động đáp ứng nhu cầu thiết yếu của xã hội và cộng đồng, còn việc tiến
hành hoạt động ấy có thể do Nhà nước hoặc tư
nhân đảm nhiệm. Xã hội có
nhiều nhu cầu, theo lý thuyết tiêu dùng có thể chia ra làm các nhóm: nhu cầu
xã hội, nhu cầu tập thể, nhu cầu cá nhân.
- Tiếp cận dưới góc độ chủ thể cung ứng
Tiếp cận dưới góc độ này, các nhà nghiên cứu cho rằng có ba nhóm
dịch vụ được phân chia nhằm làm rõ vai trò của Nhà nước, cũng như việc sử
dụng các nguồn lực của nhà nước, cụ thể:
+ Nhóm 1: Nhóm các dịch vụ quan trọng, c
ốt lõi, phục vụ chung cho
xã hội và thiếu nó, mọi hoạt động của xã hội sẽ bị ảnh hưởng. Đây là những
dịch vụ do Nhà nước đảm nhận từ việc tổ chức cung cấp và chi trả. Chi phí
cung cấp các dịch vụ này được trả qua thuế.
+ Nhóm 2: Nhóm dịch vụ do nhà nước, thị trường và tư nhân cùng
đảm nhận. Những dịch vụ này về cơ bản Nhà nước vẫ
n phải đảm bảo việc
cung cấp cho xã hội, song Nhà nước cũng có thể ủy quyền cho các thành
phần ngoài nhà nước cung ứng dưới nhiều hình thức. Trong nhóm này có sự
đan xen giữa công và tư; chi phí cho việc cung cấp này được trả theo nhiều
cách (một phần hoặc toàn phần), trong đó có cả việc chi trả theo các nguyên
tắc của cơ chế thị trường.
+ Nhóm 3: Những dịch vụ mang tính chất cá nhân, cho một nhóm
người hoặc t
ừng thành viên riêng lẻ trong xã hội. Dịch vụ này do thị trường
cung cấp, giá cả các được qui định theo qui luật cung - cầu

Từ cách phân chia trên, các tác giả đi đến định nghĩa: "Dịch vụ công


16
là hoạt động cung cấp những loại hàng hóa, dịch vụ cơ bản cho công chúng,
bao gồm cả những loại dịch vụ phục vụ hoạt động QLNN, trong đó Nhà
nước đóng vai trò không chỉ là nhà quản lý mà còn là một trong những nhà
cung cấp bên cạnh nhiều nhà cung cấp khác"
1
.
- Tiếp cận từ lý luận về "hàng hóa công cộng và lựa chọn công cộng".
DVC được xác định dựa trên những phân tích về:
+ Hàng hóa công cộng
2
. Xuất phát từ những tính chất đặc thù của
hàng hóa công cộng như: tính phi lợi nhuận, không thể chia cắt, nên thị
trường không thể cung cấp, hoặc cung cấp không đủ; do đó, buộc chính phủ
phải đứng ra thực hiện vai trò là người cung ứng hàng hóa này.
+ Xuất phát từ tính vị kỷ của con người. Những hoạt động, quyết định
của con người đều dựa trên sự tính toán có lợi cho riêng mình. Do đó, các
vấn
đề liên quan đến lợi ích chung, lợi ích gián tiếp đối với cá nhân sẽ ít
được quan tâm, chia sẻ với tư cách cá nhân riêng lẻ.
+ Xuất phát từ sự "thất bại của thị trường". Là một thuật ngữ kinh tế
học miêu tả tình trạng thị trường không phân bổ thật hiệu quả các nguồn lực.
Các nhà kinh tế chính thức sử dụng thuật ngữ này từ năm 1958.
Những "thất bại của thị trường" thường thấy là việc người ta tập trung
vào cung ứng những hàng hóa có lợi cho bản thân, mang lại lợi nhuận cao;
còn những hàng hóa khác thì không, thị trường không thể tự điều tiết được.
Nguyên nhân của "thất bại thị trường" là: độc quyền, ảnh hưởng ngoại lai,

tài nguyên thuộc sở hữu chung, thông tin phi đối xứng, chi phí giao dịch

1
Xem: Võ Kim Sơn (2002), Dịch vụ công - một vài cách tiếp cận, trong Nguyễn Ngọc Hiến
(2002), Nhà nước trong cung ứng dịch vụ công- Nhận thức, thực trạng và giải pháp, Nxb. Văn
hóa thông tin, Hà Nội, tr. 51-53.
2
Hàng hóa công cộng là những hàng hóa, sản phẩm có đặc tính không loại trừ và không cạnh
tranh trong tiêu dùng (non- excludable, non rival).


17
Có sự tồn tại của "thất bại thị trường" là động lực của việc đề xuất
Nhà nước phải can thiệp vào thị trường. Tuy nhiên, có rất nhiều nhà kinh tế
không tin rằng có sự tồn tại của thất bại thị trường và rằng sự can thiệp của
Nhà nước vào thị trường tự do chỉ dẫn tới cái gọi là thất bại của chính phủ.
Để khắ
c phục những vấn đề trên, những người ủng hộ trường phái
"lựa chọn công cộng" cho rằng công dân cần phải có những hành động
mang tính tập thể, cùng nhau lựa chọn cho mình người đại diện để thúc đẩy
những hành động vì lợi ích chung. Nhà nước chính là người đại diện đó,
Nhà nước sinh ra để khắc phục những thất bại của thị trường, hay nói cách
khác, nó phải khắc phục nhữ
ng ảnh hưởng tiêu cực từ sự tính toán mang tính
vị kỷ của cá nhân. Việc đảm bảo hoạt động cung ứng hàng hóa công cộng
của Nhà nước cho các công dân gọi là DVC, cung cấp các dịch vụ, hàng hóa
này là chức năng của Nhà nước
1
.
Quan niệm về DVC có sự thay đổi tùy thuộc vào hoàn cảnh của mỗi

nước. Ở Việt Nam, mặc dù có nhiều cách quan niệm khác nhau về DVC,
nhưng theo chúng tôi, DVC là những loại dịch vụ mà Nhà nước cung ứng
dựa trên chức năng phục vụ xã hội của Nhà nước, mà không bao gồm các
chức năng công quyền, như lập pháp, hành pháp, tư pháp, ngoại giao, Thứ
nhất, đó là những dịch vụ tối cần thi
ết cho cộng đồng nhưng không phải tư
nhân nào cũng có thể đảm nhận, vì nó đòi hỏi nguồn lực lớn và thường
mang lại lợi nhuận thấp (như tiêm chủng, phòng cháy ). Mặt khác, những
dịch vụ này nếu để cho tư nhân cung ứng thì có thể xảy ra các vấn đề như
độc quyền, bất bình đẳng xã hội (như y tế, giáo dục, cung cấp nước sạch )
Thứ hai, đó là nh
ững dịch vụ do Nhà nước cung ứng gắn với chức năng và
thẩm quyền quản lý nhà nước mà Nhà nước cần phải đáp ứng vì nó liên

1
Xem thêm: Chu Văn Thành (2006), Dịch vụ và xã hội hóa dịch vụ công trong công cuộc cải
cách nền hành chính nhà nước ở Việt Nam, Báo cáo tổng hợp đề tài khoa học độc lập cấp Nhà
nước, mã số: ĐTĐL- 2004/13, tr. 25-26.


18
quan trực tiếp đến lợi ích của công dân (như công chứng, chứng thực, cấp
phép, đăng ký )
Nhóm thứ nhất gọi là DVCC, ở nhóm thứ hai gọi là DVHCC.
Dựa vào tính chất và tác dụng của dịch vụ được cung ứng, có thể chia
DVC thành các loại như: (1). Dịch vụ sự nghiệp công; (2). Dịch vụ công
cộng; (3). DVHCC.
Sơ đồ 1.1: Phân loại dịch vụ công dựa theo tính chất và tác dụng
của dịch vụ
được cung ứng






(1). Dịch vụ sự nghiệp công, là loại DVC được cung ứng cho dân cư
như: giáo dục, y tế, văn hóa, khoa học, thể dục thể thao, nghỉ ngơi giải trí, bảo
hiểm, an sinh xã hội… Đây là những DVC do Nhà nước cung ứng theo
nguyên tắc có thu phí. Nhà nước cũng có thể từng bước xã hội hóa lĩnh vực
này bằng cách ủy quyền cho các cơ sở ngoài Nhà nước thực hiện. T
ại nhiều
nước, Nhà nước chỉ cung ứng những DVC nào mà xã hội không có đủ
nguồn lực thực hiện, hoặc không muốn làm; đối với những DVC khác, Nhà
nước sẽ chuyển giao cho khu vực tư nhân và các tổ chức phi chính phủ. Các
loại dịch vụ sự nghiệp công ở Việt Nam bao gồm: (i). Dịch vụ chăm sóc sức
khỏe; (ii). Dịch vụ giáo dục; (iii). Dịch vụ văn hóa, thông tin…
(2). Dịch vụ công cộ
ng, là các dịch vụ có thu phí nhằm đáp ứng các
nhu cầu bức thiết của công dân mang tính phi lợi nhuận do các cơ sở thực
DVC
DV HCC
DV
sự nghiệp công
DV
công cộng


19
hiện theo yêu cầu của Nhà nước như: cấp thoát nước; thu gom rác thải;
chiếu sáng; phục vụ tang lễ; vận tải hành khách công cộng…

(3). DVHCC là loại dịch vụ gắn liền với chức năng QLNN nhằm đáp
ứng yêu cầu của người dân. Đó là các hoạt động của bộ máy hành pháp nhà
nước cung ứng trực tiếp cho các tổ chức và công dân các DVC theo luật
định nhằm duy trì và đảm bảo sự vận hành bình thường củ
a xã hội.
Các DVHCC gồm có: cấp phép; cấp giấy xác nhận; chứng thực, công
chứng… Những dịch vụ này được cung ứng dựa trên nguyên tắc bình đẳng;
nó không theo qui luật cung cầu, ngang giá trên thị trường, nó được chi trả
trực tiếp thông qua việc đóng lệ phí hoặc phí nhất định; phần phí, lệ phí này
chỉ mang tính chất hỗ trợ cho ngân sách nhà nước, không vì mục tiêu lợi
nhuận; hoặc chi trả gián tiếp qua việc đóng thuế.
Ở Việt Nam hiện nay DVHCC bao gồm các hoạt động như: (1). Hoạt
động cấp phép; (2). Cấp các loại giấy xác nhận, chứng thực trong lĩnh vực
hộ tịch, tư pháp; (3). Thu các khoản góp vào ngân sách nhà nước; (4). Giải
quyết khiếu nại, tố cáo của công dân và xử lý các vi phạm hành chính; (5).
Cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở
Trong nghiên cứu này, nhóm tác giả tiếp cận DVHCC dưới góc độ

loại dịch vụ gắn liền với chức năng QLNN nhằm đáp ứng yêu cầu của người
dân. Đó là các hoạt động của bộ máy hành pháp nhà nước cung ứng trực tiếp
cho các tổ chức và công dân các DVC theo luật định nhằm duy trì và đảm
bảo sự vận hành bình thường của xã hội.
1.1.2. Đặc trưng của dịch vụ hành chính công
- DVHCC luôn gắn với thẩm quyền hành chính - pháp lý của tổ
ch
ức cung ứng; là các hoạt động phục vụ công tác QLNN.
Để đảm bảo cho đời sống xã hội diễn ra một cách bình thường, Nhà


20

nước sẽ thực hiện chức năng quản lý của mình thông qua việc đảm nhận
cung ứng DVHCC cho công dân và xã hội. Các DVHCC mà Nhà nước cung
ứng có tác động, ảnh hưởng trực tiếp tới lợi ích kinh tế - xã hội, quyền làm
làm chủ của người dân; đây là những lợi ích, nhu cầu không thể loại trừ của
công dân và xã hội, đòi hỏi Nhà nước phải có nghĩa vụ cung ứng. Đó là các
DVHCC như cấp, công chứng, ch
ứng thực các loại giấy tờ liên quan đến
nhân thân (giấy khai sinh, giấy chứng minh nhân dân, hộ khẩu, hộ chiếu ),
đến tài sản (giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu công nghiệp,
sở hữu trí tuệ; các hợp đồng mua bán, trao đổi, tặng cho tài sản ).
Bảng 1.1: Phân biệt hoạt động cung ứng dịch vụ hành chính công
và hoạt động quản lý nhà nước
Hoạt động cung ứng DVHCC Hoạt động QLNN
- Phản ánh mối quan hệ trực tiếp giữa
người cung ứng dịch vụ và khách hàng
- Phản ánh mối quan hệ giữa chủ thể
quản lý và đối tượng bị quản lý
- Là các giao dịch cụ thể giữa cơ quan hành
chính nhà nước với khách hàng
- Phản ánh mối quan hệ tương tác giữa
các cơ quan hành chính nhà nước trong
việc đề xuất và thực thi các nhiệm vụ
phát triển kinh tế - xã hội; còn mối quan
hệ giữa các cơ quan hành chính nhà nước
và công dân chỉ được thể hiện một cách
gián tiếp
- Là những hoạt động phục vụ trực tiếp nhu
cầu, quyền và nghĩa vụ cụ thể của các tổ
chức và công dân
- Các hoạt động này xuất phát từ yêu cầu

quản lý của bản thân bộ máy nhà nước
- Được thu tiền trực tiếp từ khách hàng
dưới dạng phí, hoặc lệ phí đối với một số
dịch vụ theo qui định
- Không thu tiền trực tiếp, mà được bù
đắp từ ngân sách nhà nước
Nguồn: Lê Chi Mai, Dịch vụ hành chính công, Nxb. Lý luận chính trị, Hà Nội, tr. 29.


21
Đây là những dịch vụ thiết yếu của công dân; một mặt, nó cần phải
được Nhà nước cung ứng để thỏa mãn nhu cầu của công dân; mặt khác,
thông qua hoạt động cung ứng DVHCC, Nhà nước sẽ thực hiện chức năng
QLNN của mình đối với xã hội và thông qua đó tạo ra cơ sở để công dân
thực hiện quyền làm chủ của mình cũng như thực hiện các nghĩa vụ đối v
ới
Nhà nước.
DVHCC là một loại hàng hóa đặc biệt, việc cung ứng nó luôn gắn liền
với vai trò của Nhà nước, và vì vậy nó thể hiện tính công rất rõ ràng. Tính
công là yếu tố quan trọng, nó thể hiện qua việc nhân danh quyền lực công để
cung ứng. Với tư cách là người tổ chức cung ứng, Nhà nước giữa một vai trò
đặc biệt quan trọng. Việc thực hiện chức năng cung ứng DVHCC của Nhà
nướ
c cũng dựa trên cùng những nguyên tắc chi phối vai trò quản lý. Cung
ứng DVHCC phải do một cơ quan công quyền thực hiện mới có đủ khả
năng, niềm tin, nguồn lực và đạt được các mục tiêu chung, trong đó có mục
tiêu duy trì trật tự trong QLNN.
Nhà nước cung ứng các DVHCC dựa trên thẩm quyền hành chính -
pháp lý của mình. Với tư cách là người quản lý xã hội, Nhà nước có địa vị
pháp lý đặc biệt mà các chủ thể khác không thể có được, nó gắ

n với việc
Nhà nước sử dụng quyền lực của mình để quản lý xã hội. Chỉ có Nhà nước
mới có thẩm quyền, địa vị pháp lý sử dụng các quyền này điều hành xã hội
thông qua việc xây dựng chính sách, ban hành các văn bản pháp luật, cung
ứng các DVHCC đáp ứng yêu cầu của công dân và thực hiện các mục tiêu
phát triển kinh tế - xã hội.
- Việc cung ứng DVHCC không xuất phát từ mục tiêu lợi nhuận.
Nh
ư đã trình bày ở trên, DVHCC là những dịch vụ tối cần thiết do
Nhà nước cung cấp nhằm đáp ứng nhu cầu của công dân và xã hội; mặt
khác, việc cung ứng DVHCC xuất phát từ việc sử dụng quyền lực công

×