Tải bản đầy đủ (.docx) (151 trang)

Lv ths luật học mối quan hệ giữa pháp luật và luật tục êđê (qua thực tiễn xét xử của tòa án nhân dân tỉnh đaklak)

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (504.34 KB, 151 trang )

Mở Đầu

1. Tính cấp thiết của luận văn
Dân tộc ÊĐê là một trong 54 dân tộc anh em trong cộng
đồng người Việt Nam, sống chủ yếu ở năm tỉnh Tây Ngun
đơng nhất là ở DakLak, DakNơng và sau đó là Gia Lai, Kon
Tum và Lâm Đồng. Dân số khoảng 250.000 người. Từ xưa đến
nay đồng bào dân tộc thiểu số ÊĐê sống và điều chỉnh hành vi
bằng luật tục của dân tộc mình ít quan tâm đến pháp luật của
Nhà nước. Do vậy, có khơng ít những phong tục, tập quán lạc
hậu đã cản trở sự phát triển lành mạnh của đồng bào dân tộc
thiểu số ÊĐê. Mặt khác, có những phong tục tập quán tiến bộ
kết tinh từ bao đời nay của người ÊĐê lại chưa được pháp luật
Nhà nước ta ghi nhận. Vì vậy, pháp luật đi vào cuộc sống của
đồng bào dân tộc thiểu số ÊĐê chưa thật sự tự nhiên và ít
hiệu quả. Điều này tạo nên sự cách biệt, thậm chí là xung đột
khơng đáng có giữa cộng đồng người ÊĐê với người Kinh trong
thời gian vừa qua.
Trong công cuộc xây dựng nhà nước pháp quyền của
dân, do dân và vì dân của Nhà nước ta hiện nay, pháp luật đã
được xác định là công cụ quan trọng nhất để nhà nước quản
lý xã hội. Vì vậy, Nhà nước ta đã sử dụng nhiều phương pháp
để đưa pháp luật đi vào cuộc sống của đồng bào dân tộc thiểu
số ÊĐê. Mặt khác, vai trò của luật tục ÊĐê cũng được nâng lên
một bước.
Tuy nhiên, về mặt lý luận, mối quan hệ giữa pháp luật
với luật tục nói chung và luật tục ÊĐê nói riêng chưa được giải
quyết một cách triệt để, đó là một trong những nguyên nhân
1



dẫn đến trong thực tiễn xây dựng, tổ chức thực hiện và bảo vệ
pháp luật ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số ÊĐê trong thời
gian qua còn nhiều hạn chế và khiếm khuyết. Điều đó cho
thấy cần thiết phải nghiên cứu một cách toàn diện và sâu sắc
mối quan hệ giữa pháp luật và luật tục ÊĐê nhằm chỉ rõ
những điểm tương đồng, điểm khác biệt đồng thời nêu những
mặt tích cực cũng như những hạn chế của từng yếu tố trong
quản lý xã hội, chỉ rõ sự tác động qua lại, hỗ trợ, bổ sung cho
nhau giữa chúng… Trên cơ sở đó đánh giá một cách khách
quan, tồn diện thực trạng mối quan hệ giữa pháp luật và luật
tục ÊĐê trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền ở
nước ta hiện nay. Từ đó có cơ sở đề ra những giải pháp tăng
cường mối quan hệ giữa pháp luật với luật tục ÊĐê sao cho
pháp luật và luật tục ÊĐê được sử dụng một cách có hiệu quả
nhất trong việc quản lý cộng đồng người dân tộc thiểu số ÊĐê
trong thời gian tới.
Với lý do trên, tác giả chọn đề tài: "Mối quan hệ giữa
pháp luật và luật tục ÊĐê (qua thực tiễn xét xử của Tòa
án nhân dân tỉnh ĐakLak)" để nghiên cứu và viết luận văn
thạc sĩ luật học.
2. Tình hình nghiên cứu
Qua tìm hiểu nghiên cứu đề tài này, tác giả nhận thấy từ
trước đến nay đã có nhiều cơng trình nghiên cứu về luật tục của
các dân tộc Việt Nam nói chung và một số cơng trình nghiên cứu
luật tục của đồng bào dân tộc thiểu số ÊĐê, cụ thể:
- Luật tục ÊĐê, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, 1996.
Cơng trình này tác giả thống kê, sắp xếp các quy định của
luật tục ÊĐê từ khi hình thành đến năm 1996, bằng hai thứ

2



tiếng Việt - ÊĐê. Đồng thời, nêu những nét khái quát về sự
hình thành và phát triển của luật tục ÊĐê, vị trí vai trị của
luật tục ÊĐê trong đời sống của người ÊĐê từ trước tới nay.
- Luật tục và phát triển nông thôn hiện nay ở Việt Nam,
Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, 2000. Trong cơng trình này
ngoài các phần viết về luật tục của các dân tộc trên lãnh thổ
Việt Nam nói chung, có phần viết về lịch sử hình thành luật
tục ÊĐê, vai trị của luật tục ÊĐê trong đời sống cộng đồng
người ÊĐê và nêu một số thực trạng tranh chấp và giải quyết
tranh chấp đất đai trong các thời kỳ lịch sử gắn liền với sự
phát triển của luật tục ÊĐê.
- Luật tục Tây Nguyên - giá trị văn hóa pháp lý, quản lý
cộng đồng và mối quan hệ với pháp luật (Hoàng thị Kim Quế,
Tạp chí Khoa học kinh tế luật, số 1/2005).
- Vai trò của người điều hành và thực thi luật tục; Giải
quyết tranh chấp về dân sự trong luật tục ÊĐê; Hiệu lực của
luật tục ÊĐê trong dời sống dân sự hiện đại (Y Nha, Nguyễn
Lộc - Tòa án nhân dân tỉnh DakLak). Các cơng trình này tác
giả viết dưới dạng đề tài khoa học nghiên cứu các vấn đề liên
quan đến vai trò của các già làng, trưởng buôn trong giải
quyết tranh chấp dân sự phát sinh trong đời sống của cộng
đồng người ÊĐê và nghiên cứu tính hiệu lực trên thực tế của
luật tục ÊĐê.
- Những quy định của luật tục ÊĐê về hợp đồng và bồi
thường thiệt hại ngoài hợp đồng (luật sư Phùng Trung Tập).
Nêu trình tự thủ tục giao kết hợp đồng dân sự, giải quyết
tranh chấp hợp đồng dân sự và giải quyết bồi thường thiệt hại
ngoài hợp đồng theo quy định của luật tục ÊĐê


3


Ngồi ra, cịn có một số cơng trình nghiên cứu của một số
tác giả về lĩnh vực hôn nhân gia đình, lĩnh vực văn hóa dân
gian, lĩnh vực mơi trường v.v…
Như vậy trong thời gian qua, đã có rất nhiều cơng trình
nghiên cứu về luật tục ÊĐê, mỗi cơng trình tiếp cận nghiên
cứu luật tục ÊĐê ở các góc độ khác nhau, nhưng chưa có đề
tài nào riêng biệt nói về mối quan hệ giữa pháp luật và luật
tục của đồng bào dân tộc thiểu số ÊĐê trong công cuộc xây
dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam hiện nay. Vì vậy, việc
nghiên cứu mối quan hệ giữa pháp luật với luật tục ÊĐê đáp
ứng yêu cầu cấp bách cả lý luận và thực tiễn hiện nay ở Việt
Nam nói chung và Tây Nguyên nói riêng.
3. Phạm vi nghiên cứu
* Về đối tượng nghiên cứu của luận văn:
Luận văn nghiên cứu một số vấn đề lý luận và thực tiễn
trong mối quan hệ giữa pháp luật và luật tục ÊĐê (thông qua
hoạt động xét xử của Tòa án nhân dân tỉnh DakLak) trên một
số lĩnh vực nhất định.
* Về thời gian:
Trong phạm vi của một luận văn thạc sĩ, tác giả chỉ
nghiên cứu mối quan hệ giữa pháp luật và luật tục ÊĐê dựa
trên số liệu điều tra xã hội học tại các buôn làng đồng bào
dân tộc thiểu số ÊĐê trên địa bàn tỉnh DakLak và thông qua
hoạt động xét xử các loại án ở Tòa án nhân dân DakLak.
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục đích nghiên cứu:


4


Mục đích của luận văn là trên cơ sở nghiên cứu lý luận,
phân tích và đánh giá thực trạng mối quan hệ giữa pháp luật
với luật tục của đồng bào dân tộc thiểu số ÊĐê, luận văn nêu
ra một số giải pháp tăng cường giải quyết tốt mối quan hệ
giữa pháp luật và luật tục ÊĐê hiện nay.
* Nhiệm vụ nghiên cứu:
Nhiệm vụ của luận văn, phân tích cơ sở lý luận của mối
quan hệ giữa pháp luật với luật tục của đồng bào dân tộc
thiểu số ÊĐê cụ thể là:
- Xác định vị trí, vai trị của pháp luật và luật tục của
đồng bào thiểu số ÊĐê trong công cuộc xây dựng nhà nước
pháp quyền hiện nay.
- Phân tích những nét tương đồng, khác biệt và mối
quan hệ giữa pháp luật và luật tục của đồng bào dân tộc thiểu
số ÊĐê.
- Nêu bật được thực trạng mối quan hệ giữa pháp luật
và luật tục của đồng bào dân tộc thiểu số ÊĐê hiện nay, có số
liệu cụ thể chứng minh thực trạng lấy từ việc điều tra xã hội
học ở các buôn làng dân tộc thiểu số ÊĐê trên địa bàn tỉnh
DakLak và thống kê được từ hoạt động xét xử các loại án ở
Tòa án nhân dân tỉnh DakLak.
- Trên cơ sở phân tích lý luận và thực trạng về mối
quan hệ giữa pháp luật và luật tục của đồng bào dân tộc
thiểu số ÊĐê hiện nay, rút ra mặt được và mặt chưa được,
nguyên nhân của thành cơng và tồn tại. Từ đó đưa ra quan
điểm và giải pháp tăng cường mối quan hệ giữa pháp luật và


5


luật tục của đồng bào dân tộc thiểu số Ê Đê trong giai đoạn
xây dựng nhà nước pháp quyền hiện nay.
5. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận
của triết học Mác - Lênin về chủ nghĩa duy vật biện chứng, tư
tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm của Đảng Cộng sản Việt
Nam về xây dựng nhà nước pháp quyền nói chung và chính
sách dân tộc nói riêng.
Phương pháp nghiên cứu: Luận văn được nghiên cứu dựa
trên các phương pháp: phân tích - tổng hợp, lịch sử - cụ thể;
kết hợp các phương pháp điều tra xã hội học, phương pháp
thống kê tổng hợp số liệu thông qua hoạt động xét xử các loại
án ở Tòa án nhân dân tỉnh DakLak.
6. ý nghĩa của luận văn
Về lý luận:
Luận văn góp phần làm phong phú thêm kho tàng lý
luận nhà nước và pháp luật về mối quan hệ giữa pháp luật với
các quy phạm xã hội khác.
Về thực tiễn:
Luận văn có thể làm tài liệu nghiên cứu, tham khảo
trong việc xây dựng pháp luật về chính sách dân tộc của Nhà
nước ta trong giai đoạn xây dựng nhà nước pháp quyền hiện
nay.

6



Luận văn nghiên cứu vấn đề về mối quan hệ tương tác
giữa pháp luật và luật tục của đồng bào dân tộc thiểu số ÊĐê
trong khi ở địa bàn bốn tỉnh Tây Nguyên đang có nhiều cuộc
bạo loạn của đồng bào dân tộc thiểu số ÊĐê nổi lên đòi thành
lập nhà nước Đề Ga độc lập. Tác giả mong muốn kết quả
nghiên cứu của bản luận án này góp phần tích cực về việc hài
hịa mối quan hệ giữa pháp luật và luật tục của đồng bào dân
tộc thiểu số ÊĐê; làm cầu nối cho người dân tộc thiểu số ÊĐê
chung sống hịa bình, tự nhiên với cộng đồng người Việt trên
đất nước Việt Nam.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham
khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về mối quan hệ giữa pháp luật
và luật tục ÊĐê.
Chương 2: Thực trạng mối quan hệ giữa pháp luật và
luật tục.
Chương 3: Quan điểm và giải pháp nhằm tăng cường
giải quyết tốt mối quan hệ giữa pháp luật và luật tục ÊĐê ở
tỉnh ĐăkLăk hiện nay.

7


Chương 1
CƠ Sở Lý Luận Về Mối QUAN Hệ
Giữa Pháp Luật Và Luật Tục ÊĐÊ

1.1. Khái niệm, đặc điểm, vị trí, vai trị của pháp

luật và luật tục ÊĐê
1.1.1. Khái niệm, đặc điểm, vị trí, vai trị của pháp
luật
Khái niệm: Pháp luật ra đời và tồn tại một cách khách
quan để đáp ứng nhu cầu quản lý các mặt khác nhau của đời
sống xã hội. Nó tồn tại song song với nhiều hiện tượng xã hội
khác cùng thực hiện chức năng điều chỉnh xã hội. Quá trình
điều chỉnh các mặt khác nhau của đời sống xã hội, pháp luật
thể hiện tính vượt trội so với các hiện tượng xã hội khác trong
việc đáp ứng nhu cầu quản lý đời sống xã hội, đồng thời nó
cũng bộc lộ tính phức tạp thu hút sự quan tâm nghiên cứu của
các nhà luật học trong nước và thế giới. Cho đến hiện nay, khái
niệm pháp luật vẫn chưa được nhận thức một cách hoàn toàn
thống nhất. Quan điểm truyền thống cho rằng: Pháp luật là hệ
thống các quy tắc xử sự có tính bắt buộc chung do Nhà nước
đặt ra hoặc thừa nhận, thể hiện ý chí Nhà nước của giai cấp
thống trị trên cơ sở ghi nhận các nhu cầu về lợi ích của toàn xã
hội, được đảm bảo thực hiện bằng nhà nước nhằm điều chỉnh
các quan hệ xã hội với mục đích trật tự và ổn định xã hội vì sự
bền vững của xã hội [18, tr. 288]. Có thể nói, hầu hết các sách
báo pháp lý, các luật gia, nhà khoa học đều thừa nhận cách
hiểu này. Tuy vậy cũng có một số tác giả khơng hồn tồn tán
thành cách hiểu cụm từ: Pháp luật là hệ thống các quy tắc xử
8


sự. Xuất phát từ quan điểm cho rằng quy tắc xử sự là những
mơ hình, khn mẫu cho hành vi con người, nó xác định rõ
trong điều kiện, hồn cảnh hay tình huống nào thì chủ thể
được làm gì, phải làm gì, làm như thế nào hay khơng được

làm gì…., một số tác giả cho rằng, pháp luật được hiểu là hệ
thống những quy tắc xử sự sẽ không bao quát hết những sự
vật mà nó phản ánh, bởi lẽ trong pháp luật cịn có rất nhiều
quy định do nhà nước ban hành nhưng không phải là quy tắc
xử sự. Tác giả cho rằng lập luận này có phần gị bó cứng
nhắc. Thực tế, đúng là có rất nhiều quy định do Nhà nước ban
hành chỉ là để qui định cách hiểu về một thuật ngữ, giải thích
một khái niệm hay nêu lên một tư tưởng, một nguyên tắc nào
đó, chúng không phải là những quy tắc xử sự bởi chúng không
đưa ra một phương án xử sự cụ thể nào để chủ thể thực hiện
theo. Tuy nhiên, chúng lại có ý nghĩa rất quan trọng trong
việc giúp các chủ thể nhận thức và thực hiện một cách đúng
đắn, đầy đủ những quy tắc của hành vi mà nhà nước đã đề ra.
Mặt khác, pháp luật là hiện tượng xã hội nên không thể là một
phép cộng giản đơn của những quy tắc xử sự do nhà nước ban
hành mà nó cịn bao gồm những tư tưởng, những ngun tắc,
những khái niệm, thuật ngữ nào đó tạo thành chất keo liên kết
những quy tắc xử sự thành một thể thống nhất. Bởi vậy, theo
tác giả, quan niệm pháp luật là hệ thống những quy tắc xử
sự là hồn tồn chính xác.
Đặc điểm: Từ khái niệm trên ta có thể nhận dạng pháp
luật một cách tương đối rõ ràng trong vô vàn hiện tượng xã
hội khác nhau đang tồn tại trong xã hội:
Trước hết, pháp luật mang tính quy phạm, phổ biến, bắt
buộc chung. Quy phạm pháp luật là quy tắc hành vi có giá trị
9


như những khuôn mẫu xử sự, hướng dẫn, kiểm tra, đánh giá
hành vi của các cá nhân, các quá trình xã hội. Luật tục ÊĐê

nói riêng và các loại cơng cụ điều chỉnh quan hệ xã hội khác
cũng có tính quy phạm nhưng nó khơng có tính phổ biến, bắt
buộc chung. Nếu như các quy phạm luật tục ÊĐê chỉ có giá trị
áp dụng bắt buộc đối với các thành viên trong cộng đồng
người ÊĐê thì pháp luật lại có tính phổ biến và bắt buộc chung
đối với tất cả các thành viên trong xã hội. Các quy phạm pháp
luật được áp dụng lặp đi lặp lại nhiều lần trong khơng gian và
thời gian. Nó chỉ phát sinh hiệu lực khi được các cơ quan nhà
nước có thẩm quyền ban hành và hết hiệu lực áp dụng khi các
cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước sửa đổi, bổ sung hoặc
hủy bỏ. Điều này thể hiện điểm khác biệt của pháp luật so với
các hiện tượng xã hội khác đó là tính quyền lực nhà nước hay
ý chí nhà nước.
Đặc điểm thứ hai: Pháp luật có tính xác định chặt chẽ
về hình thức. Đối với các quy phạm luật tục ÊĐê và các quy
phạm xã hội khác như quy phạm đạo đức, tập quán…có thể lưu
truyền bằng miệng trong dân gian, riêng pháp luật phải được
thể hiện dưới dạng thành văn, ngôn ngữ trong các quy phạm
pháp luật phải mang tính phổ thơng và đễ hiểu. Mặt khác pháp
luật có tính chính xác cao, giúp cho các chủ thể hiểu một cách
rõ ràng những điều pháp luật cho phép, những điều pháp luật
buộc phải làm và những điều ngăn cấm. Từ đó chủ thể lựa
chọn cho mình một cách xử sự đúng với yêu cầu của pháp
luật.
Đặc điểm thứ ba của pháp luật là tính được bảo đảm
thực hiện bằng nhà nước. Chỉ có nhà nước mới được ban hành
pháp luật, và cũng chỉ có nhà nước mới có đủ quyền lực áp

10



dụng các biện pháp cưỡng chế thực hiện pháp luật trong
phạm vi toàn xã hội. Pháp luật sẽ trở nên vơ nghĩa khi khơng
có một bộ máy bảo đảm thực hiện đó là nhà nước. Các quy
phạm xã hội khác cũng được bảo đảm thực hiện bằng nhiều
hình thức như lương tâm, niềm tin tín ngưỡng, áp lực dư luận
cộng đồng…nhưng khơng có tính bảo đảm thực hiện bằng nhà
nước. Ngồi ba đặc điểm này pháp luật cịn có một số đặc
điểm khác như tính hệ thống, tính ổn định tương đối… Vì vậy,
khi nghiên cứu các đặc điểm của pháp luật cần phải có cách
nhìn nhận tổng qt tồn diện để phân biệt các quy phạm
pháp luật với các quy phạm xã hội khác.
Vị trí vai trị của pháp luật: Pháp luật ra đời đáp ứng
nhu cầu điều chỉnh các mối quan hệ xã hội trong điều kiên
các giai cấp đối kháng nhau về quyền lợi. Có thể nói pháp luật
xuất hiện như một tất yếu khách quan, là công cụ bảo vệ giai
cấp thống trị, củng cố, xác lập trật tự xã hội. Khơng có pháp
luật thì khơng có trật tự xã hội và khơng một cộng đồng, một
xã hội nào có thể tồn tại được trong điều kiện xã hội có giai
cấp. Điều này cho thấy vị trí vai trị to lớn của nó trong đời
sống xã hội.
1.1.2. Khái niệm, đặc điểm, vị trí, vai trị, nội dung
của luật tục ÊĐê
Khái niệm: Luật tục thuộc phạm trù tập quán. Theo
các quan điểm phổ biến hiện nay, luật tục được hiểu là những
phong tục tập quán tồn tại dưới dạng truyền khẩu và thành
văn, là hệ thống những quy tắc xử sự điều chỉnh mọi mặt của
đời sống cộng đồng. Điểm khác biệt của luật tục so với những
phong tục tập qn bình thường đó là luật tục không phải
tổng hợp mọi phong tục tập quán mà chỉ bao gồm những


11


phong tục, tập quán, quy lệ tác động đến những hành vi cá
nhân trong cộng đồng hay giữa các cộng đồng với nhau như
là những quy tắc xử sự mang tính bắt buộc, gắn với những
hình thức xử phạt và khen thưởng.
Luật tục và tập quán là những khuôn mẫu ứng xử được
đặt ra trong một cộng đồng. Nó có những điểm giống nhau và
cũng có những điểm khác nhau đó là: Luật tục và tập qn đều
được hình thành từ những thói quen, khn mẫu ứng xử được
mọi người tn theo. Tập qn có biên độ rộng cịn luật tục
thường có biên độ hẹp hơn, quy định rõ những điều cụ thể. Tập
quán được mọi người chấp nhận tự giác, cịn luật tục có tính
cưỡng chế, gây áp lực bắt buộc mọi cá nhân trong cộng đồng
phải tuân theo. Luật tục bắt nguồn từ tập quán, trong quá trình
áp dụng tập quán từ thế hệ này sang thế hệ khác, sự tuyển
chọn tự nhiên của con người dẫn đến một số tập quán đáp
ứng được những nhu cầu cần thiết cho việc bảo vệ lợi ích của
một cộng đồng người đã trở thành luật tục.
Nói theo ngơn ngữ pháp lý hiện đại thì luật tục vừa chứa
đựng các quy định về luật nội dung và luật hình thức, nó
chính là những hành động, những khuôn mẫu ứng xử ừ tuân
theo chuẩn mực luân lý, chính trị và thẩm mỹ của một cộng
đồng. Đặc biệt, luật tục có tính cưỡng chế cao, nó quy định
những điều được phép làm và những điều ngăn cấm.
Luật tục ÊĐê khơng nằm ngồi phạm trù tập qn. Nó
là những khn mẫu ứng xử được hình thành, lưu truyền trong
cộng đồng người dân tộc thiểu số ÊĐê dưới dạng truyền

miệng, được sàng lọc, tuyển chọn từ hệ thống tập quán của
đồng bào dân tộc thiểu số ÊĐê qua nhiều thế hệ. Cho đến giai
đoạn hiện nay khơng ai khẳng định được một cách chính xác

12


luật tục ÊĐê ra đời từ thời điểm cụ thể nào. Vào những năm
đầu thập niên ba mươi của thế kỷ XX viên Công sứ Pháp ở tỉnh
DakLak: L.Sabatier đã tổ chức sưu tầm luật tục của người ÊĐê
bằng cách ghi âm tiếng ÊĐê và dịch ra bằng chữ ÊĐê, đó là
loại chữ được các cố đạo người Pháp xây dựng và đưa vào bộ
vần chữ la tinh. Sưu tập này được gọi là Tập quán pháp ca
[19, tr. 22] và cơng bố cơng trình này vào năm 1926. Đến
năm 1940 D.Antomarchi đã dịch và công bố luật tục này trên
tạp chí Trường Viễn Đơng Bác Cổ (B.E.F.E.O).
Sau năm 1975 nhà Tây Nguyên học Nguyễn Hữu Thấu
đã dịch bản luật tục này ra tiếng việt qua bản in tiếng pháp.
Trên cơ sở văn bản luật tục ÊĐê của L. Sabatier, Nguyễn Hữu
Thấu tham khảo thêm hai bộ luật tục mới sưu tầm được đó là
bản luật tục ÊĐê của Chu Thái Sơn, Bế Viết Đăng, Nguyễn
Nam Tiến sưu tầm và bản luật tục chữ ÊĐê do Chu Thái Sơn
sưu tầm. Đến năm 1996 luật tục ÊĐê được Nhà xuất bản
Chính trị quốc gia cho xuất bản bằng hai thứ tiếng Việt - ÊĐê
[19, tr. 23]. Như vậy xét về mặt lịch sử, luật tục ÊĐê được
hình thành như là một đạo luật dân gian có vai trị điều hành,
ổn định cuộc sống của đồng bào dân tộc thiểu số ÊĐê từ thế
hệ này sang thế hệ khác. Nó trở thành một thứ văn hóa
truyền thống của một tộc người.
Về bản chất luật tục ÊĐê được quan niệm như là: một

loại luật được sử dụng, lưu truyền trong dân gian, bắt nguồn
từ phong tục, tập quán và gắn liền với phong tục tập quán,
khu biệt với luật nhà nước… Nói tóm lại, có thể khái quát
những nét nhận diện cơ bản về luật tục ÊĐê đó là:
- Luật tục ÊĐê là những quy tắc xử sự chung của người
ÊĐê, được người ÊĐê sáng tạo nên và lưu truyền trong cộng

13


đồng người ÊĐê qua nhiều thế hệ, được mọi thành viên trong
cộng đồng mặc nhiên thừa nhận và thi hành.
- Luật tục ÊĐê có phạm vi điều chỉnh rộng. Nó chứa
đựng cả luật nội dung và luật tố tụng. Có thể coi luật tục ÊĐê
là tiêu chí cho xử sự của các thành viên trong cộng đồng
người ÊĐê trên tất cả các lĩnh vực đạo đức, luân lý và tình
cảm
- Luật tục ÊĐê xuất phát từ phong tục tập quán và trở
lại điều chỉnh các quan hệ nảy sinh trong cộng đồng người
ÊĐê, bảo vệ các phong tục tập quán, có quan hệ chặt chẽ với
tín ngưỡng và tơn giáo.
Từ sự khái quát này, tác giả rút ra khái niệm luật tục
ÊĐê như sau:
Luật tục ÊĐê là những quy tắc xử sự chứa đựng những
tiêu chí về đạo đức, luân lý, các phong tục tập quán, lễ nghi
tôn giáo; do nhiều thế hệ trong cộng đồng người ÊĐê có quan
hệ huyết thống xây dựng nên và lưu truyền cho tới ngày nay,
để điều chỉnh các quan hệ xã hội, nhằm điều hòa và bảo vệ
xã hội truyền thống trong cộng đồng người ÊĐê; được mọi
thành viên trong cộng đồng người ÊĐê chấp nhận, thực hiện

một cách tự giác.
Đặc điểm: Luật tục của đồng bào dân tộc thiểu số Ê Đê
bắt nguồn từ đời sống xã hội cộng đồng của người ÊĐê. Xã hội
trong luật tục ÊĐê là xã hội của cộng đồng người dân tộc
thiểu số ÊĐê sống chủ yếu ở bốn tỉnh DakLak, Gia Lai, Dak
Nông, Lâm Đồng thuộc vùng Tây Nguyên Nam Trung Bộ. Luật
tục ÊĐê chịu ảnh hưởng sâu sắc của điều kiện kinh tế, văn
hóa, xã hội của đồng bào dân tộc thiểu số ÊĐê. Nền kinh tế tự

14


cung tự cấp của đồng bào dân tộc ÊĐê trên cao nguyên Nam
Trung Bộ được phản ánh rõ nét trong luật tục ÊĐê. Trong 11
chương, 236 diều của luật tục ÊĐê có nhiều điều quy định về
các hành vi trao đổi vật ngang giá mà khơng có điều nào quy
định các vấn đề liên quan đến các hành vi mang tính chất
thương mại hiện đại.
Do được hình thành một cách tự phát theo nhu cầu điều
chỉnh các mối quan hệ trong cộng đồng người dân tộc thiểu
số ÊĐê - một cộng đồng người sống gắn liền với nền sản xuất
nhỏ mang tính tự cung tự cấp, phụ thuộc vào thiên nhiên, tin
tưởng vào các lực lượng siêu nhiên nên luật tục ÊĐê chứa
đựng nhiều quy định bảo vệ lễ nghi tơn giáo, tín ngưỡng của
đồng bào dân tộc thiểu số ÊĐê, được lưu truyền dưới dạng
truyền miệng, phát triển qua nhiều thế hệ và được coi là một
cơng trình lập tục tập thể [23]. Vì vậy, luật tục ÊĐê đi vào ý
thức của đồng bào dân tộc thiểu số ÊĐê một cách tự nhiên và
được cộng đồng người ÊĐê chấp nhận một cách tự giác. Ngôn
ngữ trong luật tục ÊĐê mộc mạc, mang đậm chất thi ca, gần

gũi với thiên nhiên làm cho người đọc dễ hiểu và dễ áp dụng
Cuộc sống của đồng bào dân tộc thiểu số ÊĐê có tính
gắn kết cộng đồng cao. Điều hành cơng việc chung của cộng
đồng người ÊĐê ở các buôn làng là các Trưởng bn. Đồng
bào dân tộc thiểu số ÊĐê ví Trưởng buôn như "Cây sung đầu
suối, Cây đa đầu làng" (Luật tục ÊĐê, Điều 26). Người Trưởng
buôn được dân làng bầu ra, có quyền lực tối cao trong làng và
phải chịu ràng buộc chặt chẽ của luật tục khi thực hiện hành
vi quản lý, điều hành buôn làng. Luật tục ÊĐê dành hẳn
chương II và III quy định về việc bầu Trưởng buôn, quyền hạn

15


của Trưởng bn và mơ tả các hành vi "có tội" của Trưởng
bn kèm theo hình phạt khá nặng nề và chi tiết đối với
Trưởng buôn trong khi thi hành nhiệm vụ quản lý, điều hành
và xử lý các công việc của buôn làng giao.
Luật tục ÊĐê là bức tranh phản ánh sâu sắc toàn cảnh
lịch sử xã hội mẫu hệ kéo dài từ hàng trăm năm và vẫn tồn tại
khá điển hình trong xã hội hiện đại. Trong luật tục ÊĐê các
chương bảo vệ quyền thừa kế theo dòng họ mẹ, các chương
hơn nhân gia đình chiếm phần lớn nội dung của luật tục.
Trong sự phân bố 236 điều của luật tục ÊĐê, có 48 điều quy
định vấn đề hơn nhân gia đình. Như vậy cho thấy vấn đề hôn
nhân trong luật tục ÊĐê được chú trọng hàng đầu, đó là quan
hệ hơn nhân theo truyền thống mẫu hệ: người phụ nữ chủ
động trao vịng tay cầu hơn người đàn ông và cưới người
chồng về cư trú tại nhà mình, con sinh ra mang họ mẹ…
Luật tục ÊĐê phát triển mạnh ở những cộng đồng nhỏ

người ÊĐê có tính huyết thống cao. Nó bao gồm những quy định
về đạo đức và trí thức dân gian bản địa về con người, tự nhiên
và xã hội để hình thành nên những quy tắc ứng xử của cá nhân
và cộng đồng người ÊĐê. Do được hình thành từ cuộc sống gắn
với tự nhiên của cá nhân và cộng đồng người ÊĐê, nên luật
tục ÊĐê có những đặc điểm cơ bản nổi trội vừa gần gũi với
pháp luật, vừa khác biệt với pháp luật.
Luật tục ÊĐê vừa chứa đựng các quy định về luật nội
dung và luật tố tụng, tính cưỡng chế cao và có hiệu lực trên
thực tế. Mặt khác, luật tục ÊĐê có phạm vi điều chỉnh rộng,
bao qt tồn bộ các lĩnh vực quan hệ xã hội. Hình phạt trong
luật tục ÊĐê có điểm đặc trưng đó là phạt đền bằng hiện vật.
16


Vị trí vai trị của luật tục ÊĐê trong đời sống của đồng
bào dân tộc thiểu số ÊĐê: Luật tục ÊĐê trước hết là một kho
tàng trí thức dân gian được tích lũy từ thực tế đời sống của
nhiều thế hệ đồng bào dân tộc thiểu số ÊĐê. Nó đề cập đến
hầu hết các lĩnh vực khác nhau trong đời sống của đồng bào
dân tộc thiểu số ÊĐê, từ sản xuất, tổ chức xã hội và quan hệ
cộng đồng, quan hệ nam nữ, lễ nghi tôn giáo, phong tục… ở
từng lĩnh vực, các tri thức dân gian này đều được định hình và
trở thành các nguyên tắc nhằm giáo dục răn đe mọi người,
ngăn chặn những hành vi làm thương tổn lợi ích của cá nhân
và của cộng đồng, phù hợp với nhận thức và trình độ xã hội
của đồng bào dân tộc thiểu số ÊĐê.
Trong xã hội cổ truyền cũng như trong xã hội hiện đại,
luật tục ÊĐê vẫn phát huy vai trò điều chỉnh mọi mối quan hệ
xã hội ở các buôn làng đồng bào dân tộc thiểu số ÊĐê. Đối với

đồng bào dân tộc thiểu số ÊĐê hiện nay luật tục vẫn là chuẩn
mực trong mọi hành vi ứng xử hàng ngày. Trong giao tiếp với
cá nhân, cộng đồng, khi gặp phải tình huống phải lựa chọn,
đồng bào dân tộc thiểu số ÊĐê thường nghĩ ngay đến những
câu luật tục mang đậm chất thơ để định hướng cho những
hành vi ứng xử khỏi đi ra ngoài quy định của luật tục. Còn đối
với những người được giao trọng trách xử kiện (Khoa Pin Ea),
họ gần như thuộc lòng các vần điệu của luật tục để dẫn ra
từng câu, từng đoạn thích hợp nhằm phân tích phải trái và
luận tội, buộc tội một cách chính xác bảo đảm quyền lợi cho
mỗi cá nhân cũng như của cộng đồng. Điều đó thể hiện sức
sống mãnh liệt của luật tục ÊĐê và chứng minh cho sự hợp lý,
sự cần thiết của nó trong việc điều chỉnh các mối quan hệ xã

17


hội ở các buôn làng của đồng bào dân tộc thiểu số ÊĐê trong
giai đoạn hiện nay.
Nghiên cứu luật tục ÊĐê ta có thể thấy đây là một hình
thái pháp luật sơ khai đã được đồng bào dân tộc thiểu số ÊĐê
sáng tạo nên và hồn thiện nó qua nhiều thế hệ. Nội dung
của luật tục ÊĐê xác lập vị trí của mỗi cá nhân trong cộng
đồng, hình thành nên mối quan hệ giữa từng thành viên trong
cộng đồng với nhau, giữa cá nhân và cộng đồng, góp phần
quản lý cộng đồng một cách chặt chẽ, hiệu quả trong quá khứ
và vẫn tiếp tục giữ vai trò đáng kể trong cuộc sống hiện đại
nhất là trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt
Nam hiện nay.
Xã hội hiện đại với xu thế hội nhập toàn cầu đang diễn

ra ở khắp mọi nơi trên thế giới nói chung và ở Việt nam nói
riêng. Đây là xu hướng phù hợp với sự phát triển của quy luật
tự nhiên. Như vậy, đồng bào dân tộc thiểu số ÊĐê không phải
là những thực thể xã hội biệt lập và không thể mãi mãi thu
hẹp hành vi của mình trong phạm vi luật tục của buôn làng.
Trong xã hội mới, đồng bào dân tộc thiểu số ÊĐê phải cùng 54
dân tộc anh em trong cả nước vận hành trong một hành lang
pháp lý chung đó là pháp luật của nhà nước. Tuy nhiên, luật
tục ÊĐê với những quy định mang tính chất tiến bộ sẽ làm
nhiệm vụ hậu thuẫn đắc lực cho pháp luật, làm mềm các quy
định vốn cứng nhắc của pháp luật, bổ sung, bù đắp những
quy định có tính khái qt cao của pháp luật trong việc điều
chỉnh các mối quan hệ xã hội ở các buôn làng đồng bào dân
tộc thiểu số ÊĐê và đặc biệt luật tục ÊĐê chuyển đổi các ngôn
ngữ hiện đại của pháp luật thành các ngôn ngữ dân gian, gần

18


gũi với thiên nhiên, đưa pháp luật đi vào đời sống của đồng
bào dân tộc thiểu số ÊĐê một cách tự nhiên và hiệu quả. Mặt
khác, sự tiếp cận pháp luật tuy mới chỉ là ít ỏi của đồng bào
dân tộc thiểu số ÊĐê trong thời gian qua đã làm cho luật tục
ÊĐê có những thay đổi về chất. Một số hủ tục lạc hậu như
đánh đuổi người bị coi là ma lai ra khỏi làng, con đã thành
niên vi phạm luật tục buộc cha mẹ phải bồi thường… nay đã
được loại bỏ. Trong xã hội mới, sự tiếp cận pháp luật của đồng
bào dân tộc thiểu số ÊĐê trên diện rộng sẽ làm cho luật tục
ÊĐê ngày càng được sàng lọc và hoàn thiện trở thành những
quy tắc ứng xử tiến bộ, hướng hành vi của đồng bào dân tộc

thiểu số ÊĐê vừa đi vào quỹ đạo chung của pháp luật nhà
nước vừa không làm trái những tập quán lâu đời của buôn
làng.
Nội dung của luật tục ÊĐê: Theo cuốn Luật tục ÊĐê
(Tập quán pháp) Nhà xuất bản Chính trị quốc gia năm 1996 thì
Iuật tục ÊĐê được tập hợp thành 11 chương và 236 điều:
Chương I: Các quy định mở đầu, gồm có 23 điều (từ Điều
1 đến Điều 23)
Trong chương I luật tục ÊĐê đề cập tới các yếu tố cấu
thành tội phạm. Mặc dù việc xác định một người phạm tội
trong luật tục ÊĐê còn ở mức độ sơ khai nhưng có những
điểm khá gần gũi với pháp luật như việc mô tả hành vi lừa
đảo: Hắn là kẻ biến mủ cây đa thành mủ cây sung, biến voi
cái thành voi đực, biến người này thành người kia… như vậy
có việc phải đưa hắn ra xét xử (Điều 20 luật tục ÊĐê). Mặt
khác, trong chương này luật tục còn quy định việc xem xét
chứng cứ cụ thể là những bằng chứng, tang chứng trong khi

19


xét xử, đồng thời xác định về các hình thức tịng phạm như
chứa chấp, bao che người có tội … Điển hình là quy định về
tang chứng: Phải tóm được chân hắn, phải nhìn tận mặt hắn,
phải tóm cổ được hắn bằng giữ được cái gùi hắn đeo, bằng
nắm được cánh tay của hắn, phải nhận được mặt mũi hắn thật
chắc chắn (Điều 4 luật tục ÊĐê). Nghiên cứu các quy định này
ta thấy luật tục ÊĐê bước đầu vươn lên đến trình độ của một
tục lệ, một tập quán pháp trong xã hội tiền giai cấp.
Chương II và III: Gồm có 33 điều (từ Điều 24 đến Điều

67). Trong đó, quy định các tội xúc phạm đến người Trưởng
bn, gồm có 22 điều; và quy định về các tội của người
Trưởng bn gồm có 11 điều.
Hai chương này trực tiếp đề cập đến mối quan hệ then
chốt trong xã hội mang tính cộng đồng điển hình của đồng
bào dân tộc thiểu số ÊĐê. Như ta đã biết, thiết chế xã hội
truyền thống của dân tộc ÊĐê là buôn, tương tự như làng
người Việt, bản người Thái… đó là một tàn dư của hình thức
cơng xã láng giềng ngun thủy bước sang xã hội có giai cấp
[19, tr. 25]. Bn của người ÊĐê vừa là một cộng đồng cư trú,
vừa là một tổ chức xã hội và văn hóa. Nguyên tắc bao trùm
trong buôn là quan hệ cộng đồng. Trong đó quan hệ giữa
người đứng đầu bn với các thành viên là rất quan trọng. Có
thể khái quát các nguyên tắc này như sau:
Về phía các thành viên: Khơng được xúc phạm tới danh
dự nhân phẩm của Trưởng buôn. Không được mua chuộc đe
dọa Trưởng buôn. Mọi người phải tôn trọng Trưởng buôn, phải
tuân thủ các quy định của cộng đồng mà Trưởng buôn là người
điều hành.

20



×