Tải bản đầy đủ (.pdf) (163 trang)

Nghiên cứu xây dựng quy trình chế biến hắc phụ, bạch phụ và bào chế cao phụ tử ở quy mô pilot

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (3.15 MB, 163 trang )

















































BỘ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ




BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI HỖ TRỢ KINH PHÍ NHÀ
NƯỚC THEO NGHỊ ĐỊNH 119/1999/NĐ-CP CỦA CHÍNH PHỦ


Tên đề tài:
NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG QUY TRÌNH CHẾ
BIẾN HẮC PHỤ, BẠCH PHỤ VÀ BÀO CHẾ CAO
PHỤ TỬ Ở QUY MÔ PILOT


Chủ nhiệm đề tài: TS. Bùi Hồng Cường
Đơn vị chủ trì đề tài: Công ty CP TRAPHACO








7410
17/6/2009




Hà Nội - 2009

















































BỘ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ





BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI HỖ TRỢ
KINH PHÍ NHÀ NƯỚC THEO NGHỊ ĐỊNH
119/1999/NĐ-CP CỦA CHÍNH PHỦ



Tên đề tài:
NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG QUY TRÌNH
CHẾ BIẾN HẮC PHỤ, BẠCH PHỤ VÀ BÀO
CHẾ CAO PHỤ TỬ Ở QUY MÔ PILOT


Chủ nhiệm đề tài: TS. Bùi Hồng Cường
Đơn vị chủ trì đề tài: Công ty CP TRAPHACO
Cấp quản lý: Bộ Khoa học và Công nghệ
Thời gian thực hiện: từ tháng 1 năm 2007 đến tháng 6 năm 2009
Tổng kinh phí thực hiện đề tài: 1.500 triệu đồng
Trong đó: kinh phí SNKH: 400 triệu đồng
Nguồn kinh phí tự có: 1.100 triệu đồng




Hà Nội - 2009
BO CO KT QU NGHIấN CU TI H TR
KINH PH NH NC THEO NGH NH 119/1999/N-CP
CA CHNH PH

1. Tờn ti: NGHIấN CU XY DNG QUY TRèNH CH BIN
HC PH, BCH PH V BO CH CAO PH T QUY Mễ
PILOT
2. Ch nhim ti: TS. Bựi Hng Cng
3. n v ch trỡ ti: Cụng ty c phn TRAPHACO
4. Cp qun lý ti: B Khoa hc v Cụng ngh
5. Danh sỏch nhng ngi thc hin chớnh:
TS. Bùi Hồng Cờng
PGS.TS. Phùng Hòa Bình
PGS.TS. Nguyễn Trọng Thông
PGS.TS. Vũ Thị Ngọc Thanh
ThS. Vũ Thị Thuận
ThS. Nguyễn Huy Văn
ThS. Hoàng Thị Hờng
ThS. Chu Thế Ninh
DS. Đỗ Tiến Sỹ
DS. Phạm Thị Thờng
ThS. Nguyễn Thị Thu Hằng
ThS. Lâm Thị Bích Hồng
TS. Phạm Văn Thanh
DS. Lê Văn Khoai
BS. Phan Thnh Trinh


6. Thi gian thc hin ti t thỏng 1 nm 2007 n thỏng 6 nm 2009

1

A. TÓM TẮT CÁC KẾT QUẢ NỔI BẬT CỦA ĐỀ TÀI

1. Báo cáo tóm tắt những đóng góp mới của đề tài
Phụ tử là một vị thuốc quý nhưng có độc tính cao, Phụ tử dùng trong
nhất thiết phải chế biến nhằm giảm độc tính. Đề tài nhằm mục tiêu xây dựng
được quy trình chế biến Hắc phụ, Bạch phụ và bào chế cao Phụ tử ổn định ở
quy mô pilot và xây dựng được tiêu chuẩn cơ sở của sản phẩm.
Phương pháp nghiên cứu thường quy và hiện đại như phương pháp chế
biến cổ truyền, phương pháp sắc ký lỏng hiệu năng cao, các phương pháp
nghiên cứu tác dụng dược lý …, được thực hiện tại các phòng thí nghiệm đầu
ngành ở Việt Nam.
Từ nguồn nguyên liệu Phụ tử ở Sa Pa, chúng tôi đã lựa chọn được mùa
thu hoạch thích hợp, xây dựng được phương pháp chế biến Hắc phụ, Bạ
ch
phụ, bào chế cao Phụ tử ở quy mô pilot.
Nghiên cứu về hoá học, chúng tôi đã xác định được hàm lượng alcaloid
toàn phần, diester alcaloid, aconitin trong Phụ tử sống và trong các mẫu chế
biến, bào chế.
Nghiên cứu về độc tính và tác dụng dược lý cho thấy các chế phẩm có
độc tính thấp, có tác dụng tăng biên độ co bóp và tăng lưu lượng mạch vành
tim thỏ cô lập, không ảnh hưởng đến tần số tim.
Căn cứ kế
t quả nghiên cứu về bào chế, hóa học, tác dụng sinh học,
chúng tôi đã nghiên cứu xây dựng tiêu chuẩn cơ sở các sản phẩm: Phụ tử, Hắc
phụ, Bạch phụ, cao khô Phụ tử
Tóm lại, đề tài đã thực hiện đầy đủ các nội dung đã đăng ký và đạt

được các mục tiêu đề ra trong đề cương đã được duyệt.
2. Kết quả nổi bật của đề tài
Vấn đề chế biến Phụ tử an toàn, hiệu lực đã được nhiều nhà khoa học
trong và ngoài nước quan tâm nghiên cứu. Tuy nhiên, các nhà khoa học cũng

2

thừa nhận tác dụng và độc tính của Phụ tử chế phụ thuộc nhiều yếu tố như
nguồn gốc nguyên liệu, mùa thu hoạch, phương pháp chế biến, kinh nghiệm
chế biến,… Đề tài đã đề cập đến nhiều lĩnh vực nghiên cứu nhằm mục tiêu
xây dựng được phương pháp chế biến Hắc phụ, Bạch phụ, bào chế cao Phụ tử
ổn đị
nh, thu được sản phẩm an toàn, hiệu lực từ nguyên liệu trong nước nhằm
nghiên cứu sản xuất các bài thuốc có Phụ tử. Các kết quả chính có thể tóm tắt
như sau:
2.1. Xây dựng quy trình chế biến Hắc phụ, Bạch phụ và bào chế cao Phụ
tử an toàn.
- Đã thu hoạch Phụ tử Sa Pa, chọn thời gian thu hoạch tập trung trong tháng 9
phù hợp với điều kiện sản xuất tại Sa Pa. Đã xây d
ựng phương pháp thu
hoạch, hướng dẫn phương pháp thu hoạch để thu được nguyên liệu đạt tiêu
chuẩn đưa vào chế biến, bào chế. Hàm lượng alcaloid toàn phần trong Phụ tử
là 0,87±0,02%, diester alcaloid 0,25±0,01%, aconitin 0,0094±0,0008%.
- Đã xây dựng được quy trình chế biến Hắc phụ, Bạch phụ ở quy mô pilot
50kg/mẻ, triển khai ổn định tại Sa Pa. Hàm lượng alcaloid toàn phần trong
Hắc phụ là 0,41±0,01%, diester alcaloid 0,044±0,002%, aconitin
0,0021±0,0002%. Hàm lượng alcaloid toàn phần trong B
ạch phụ là
0,24±0,02%, diester alcaloid 0,033±0,003%, aconitin 0,0013±0,0002%.
- Đã xây dựng được quy trình bào chế cao khô Phụ tử ở quy mô pilot

10kg/mẻ, triển khai ổn định tại Sa Pa và Công ty CP Traphaco. Hàm lượng
alcaloid toàn phần trong cao khô Phụ tử là 2,39±0,05%, diester alcaloid
0,18±0,01%, không có aconitin.
2.2. Độ an toàn và tác dụng sinh học của Hắc phụ, Bạch phụ, cao Phụ tử:
- Tác dụng trên tim cô lập: Hắc phụ, Bạch phụ và cao Phụ tử đều có tác dụng
có tác dụng tăng biên độ
co bóp của tim thỏ cô lập, tăng lưu lượng mạch vành
và không gây loạn nhịp tim.

3

- Độc tính cấp: Cao Hắc phụ, Bạch phụ và cao Phụ tử được thử độc tính cấp
trên chuột nhắt trắng đến liều tối đa 35,0 g/kg (gấp 145,8 lần liều có tác dụng
tương đương trên người) không thấy dấu hiệu bất thường nào trong 7 ngày
theo dõi và không có chuột nào chết trong vòng 72 giờ sau uống thuốc thử. Vì
vậy, chưa xác định được độc tính cấp và chưa tính được LD
50
của cao Hắc
phụ, Bạch phụ và cao Phụ tử trên chuột nhắt trắng theo đường uống.
- Độc tính bán trường diễn: Cao Hắc phụ, Bạch phụ, cao Phụ tử không gây
độc tính bán trường diễn trên thỏ khi cho thỏ uống liều 60 mg/kg/ngày (liều
tương đương với liều dùng ở người) trong 4 tuần liền. Tất cả các chỉ số theo
dõi về tình trạng chung, cân nặng, chức năng tạo máu, chứ
c năng gan, chức
năng thận và mô bệnh học gan, thận đều nằm trong giới hạn bình thường,
không có sự khác biệt rõ rệt so với lô chứng. Khi cho thỏ uống cao Hắc phụ,
Bạch phụ, cao Phụ tử liều cao gấp 5 lần liều thường dùng trên người (300
mg/kg/ngày), có biểu hiện gây tổn thương thoái hóa nước, thoái hóa hạt, thoái
hóa hốc nhẹ tế bào gan.
2.3. Xây dựng tiêu chuẩn cơ sở Hắc phụ, Bạch ph

ụ và cao Phụ tử Sa Pa
Đã xây dựng Tiêu chuẩn cơ sở Phụ tử, Hắc phụ, Bạch phụ, cao khô Phụ
tử, bổ sung các chỉ tiêu hàm lượng alcaloid toàn phần, giới hạn diester
alcaloid, aconitin.
3. Đánh giá thực hiện đề tài đối chiếu với đề cương đã được duyệt.
3.1. Tiến độ.
Theo đề cương được duyệt và công văn số 3206/BKHCN-KHCNN,
ngày 22/12/2008 của Bộ KH&CN về việc gia hạn th
ời gian thực hiện đề tài
theo Nghị định 119/1999/NĐ-CP (Phụ lục), đề tài được thực hiện trong 30
tháng (từ tháng 1/2007 đến tháng 6/2009). Chúng tôi đã hoàn thành đề tài
đúng tiến độ, tuy nhiên để có được những kết quả ổn định và đủ số liệu khoa
học, chúng tôi đã thực hiện đề tài từ năm 2003 các nội dung thu hoạch và chế
biến Phụ tử, nghiên cứu về hoá học và thăm dò một số
tác dụng dược lý.

4

3.2. Thực hiện mục tiêu và các nội dung nghiên cứu.
Chúng tôi đã hoàn thành đầy đủ các nội dung nghiên cứu và hoàn thành
được mục tiêu đề ra trong đề cương đã được duyệt (vượt kế hoạch về nội dung
xây dựng Tiêu chuẩn cơ sở Phụ tử):
- Đã thu hoạch Phụ tử, chọn thời gian thu hoạch thích hợp, định
lượng alcaloid toàn phần, diester alcaloid, aconitin trong các mẫu
Phụ tử sống.
- Đ
ã xây dựng quy trình chế biến Hắc phụ, Bạch phụ và bào chế cao
Phụ tử ở quy mô pilot; khảo sát hàm lượng alcaloid toàn phần,
diester alcaloid, aconitin trong các sản phẩm.
- Đã nghiên cứu tác dụng trên tim, động mạch vành tim thỏ cô lập,

độc tính cấp, độc tính bán trường diễn của các chế phẩm Hắc phụ,
Bạch phụ và cao Phụ tử.
- Đã xây dựng tiêu chuẩn cơ sở của Phụ tử, Hắc ph
ụ, Bạch phụ và cao
Phụ tử.
3.3. Kết quả đào tạo và các công trình đã công bố.
Trong quá trình thực hiện, đề tài đã góp phần đào tạo 1 Tiến sĩ Dược
học, 2 Thạc sĩ Dược học, 5 Dược sĩ đại học.
Kết quả của đề tài đã được đăng tải trong 5 bài báo khoa học ở Tạp chí
Dược học, Tạp chí Dược liệu và Tạp chí Hóa họ
c, một số nội dung của Đề tài
đã được báo cáo tại Hội nghị Dược Đông dương (2007).
3.4. Đánh giá về sử dụng kinh phí.
- Kinh phí được duyệt thuộc ngân sách nhà nước: 400 triệu đồng
- Nguồn vốn tự có: 1100 triệu đồng
Chúng tôi đã sử dụng kinh phí theo đúng dự toán và đúng kế hoạch đã được
duyệt.



5

B. BÁO CÁO CHI TIẾT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
ĐẶT VẤN ĐỀ
Ô đầu, Phụ tử là những vị thuốc quý, được sử dụng khá phổ biến trong
y - dược học cổ truyền phương Đông, nhất là ở Trung Quốc. Những vị thuốc
này được lấy từ củ mẹ (củ cái, Ô đầu) và củ con (củ nhánh, Phụ tử) của một
số loài thuộc chi Aconitum L. (chi Ô đầu). Loài A. carmichaelii Debx. (Xuyên
ô) đã được đưa vào Dược
điển Trung Quốc (2005), Dược điển Hàn Quốc

(2002) và trong nhiều tài liệu khác.
Ô đầu và Phụ tử đều rất độc, Ô đầu chỉ dùng ngoài, Phụ tử được y học
cổ truyền dùng trong nhưng nhất thiết phải chế biến nhằm giảm độc tính. Phụ
tử chế có tác dụng bổ dương, bổ hoả để trị dương hư, hoả hư; tác dụng hồi
d
ương cứu nghịch để trị thoát dương, vong dương. Hải Thượng Lãn Ông coi
vị thuốc Phụ tử là “thánh dược để hồi sinh”. Nhiều công trình nghiên cứu cho
thấy phương pháp chế biến khác nhau thì tác dụng và độc tính khác nhau.
Ở Việt Nam, ngay từ những năm đầu của thập kỷ 70 thế kỷ trước, cây
Ô đầu đã được nhập trồng tại vùng Sa Pa, Bắc Hà (tỉnh Lào Cai), Sìn Hồ (tỉnh
Lai Châu) và Quản Bạ, Đồ
ng Văn (tỉnh Hà Giang). Trong chiến tranh biên
giới phía Bắc (1979), cây thuốc này đã bị phá hủy nhiều. Từ năm 1990 trở lại
đây, Ô đầu đã được người dân ở xung quanh thị trấn Sa Pa (Lào Cai) khôi
phục và phát triển trồng trở lại. Song, phần lớn dược liệu Ô đầu và Phụ tử
được sử dụng ở Việt Nam hiện nay vẫn là do nhập khẩu không chính thức từ
Trung Quốc, không có tiêu chuẩn chất lượ
ng nên không đảm bảo an toàn, gây
tâm lý lo ngại trong giới thầy thuốc và nhân dân.
Nhân dân Sa Pa và một số vùng trồng cây Ô đầu đã thu hoạch Phụ tử
để chế biến làm thuốc theo kinh nghiệm, và coi đây là một vị thuốc quý, sử
dụng để bồi bổ cơ thể, tăng cường thể lực và chữa đau lưng, đau nhức xương,
khớp Tuy nhiên, quy trình chế biến không thống nhất và không kiểm tra
độc tính nên sản ph
ẩm không đảm bảo an toàn, thực tế đã có nhiều vụ ngộ độc

6

xảy ra. Các doanh nghiệp dược cũng gặp khó khăn khi đề cập đến việc sản
xuất các thuốc có Phụ tử vì chưa có những công trình nghiên cứu đầy đủ về

chế biến, tác dụng sinh học và độc tính của Phụ tử chế. Hơn nữa, quy trình
chế biến được nêu trong các tài liệu y dược học cổ truyền sử dụng nguyên liệu
là củ tươi ngay sau thu hoạch sẽ khó thực hi
ện nếu sản xuất ở quy mô lớn.
Vậy, từ nguồn nguyên liệu quý trong nước, nghiên cứu chế biến như
thế nào để có thể áp dụng được ở quy mô công nghiệp, thu được sản phẩm an
toàn, hiệu quả làm nguyên liệu bào chế thuốc nhằm ứng dụng rộng rãi trong
phòng và chữa bệnh là vấn đề cấp thiết cần được giải đáp.
Từ những lý do trên, đề tài: “Nghiên cứ
u xây dựng quy trình chế
biến Hắc phụ, Bạch phụ và bào chế cao Phụ tử ở quy mô pilot” được tiến
hành nghiên cứu với 2 mục tiêu sau:
- Xây dựng được quy trình chế biến Hắc phụ, Bạch phụ và bào chế cao
Phụ tử ổn định ở quy mô pilot an toàn làm nguyên liệu sản xuất thuốc.
- Xây dựng được tiêu chuẩn cơ sở của Hắc phụ, Bạch phụ và cao Phụ
tử.
Để đạt được các mục tiêu trên, đề tài đã thực hiện các nội dung sau:
1. Xây dựng quy trình chế biến Hắc phụ, Bạch phụ và bào chế cao Phụ
tử an toàn.
- Nghiên cứu chế biến Hắc phụ, Bạch phụ, bào chế cao Phụ tử.
- Nghiên cứu hàm lượng alcaloid trong các mẫu nghiên cứu.
2. Nghiên cứu tác dụng sinh học:
- Thử độc tính cấp, độc tính bán trường diễn của Hắc phụ, Bạch
phụ và cao Ph
ụ tử.
- Nghiên cứu tác dụng trên tim cô lập của Hắc phụ, Bạch phụ và
cao Phụ tử.
3. Xây dựng Tiêu chuẩn cơ sở của Phụ tử, Hắc phụ, Bạch phụ và cao
Phụ tử.


7

Chương I. TỔNG QUAN

1.1. THỰC VẬT HỌC CHI ACONITUM L. VÀ NGUỒN GỐC CÂY Ô
ĐẦU TRỒNG Ở SA PA
1.1.1. Phân loại chi Aconitum L.
Chi Ô đầu (Aconitum L.) là một chi cây thuốc nổi tiếng, lần đầu tiên
được nhà thực vật học Carl Linnaeus xác lập năm 1753. Theo các nhà hệ
thống học thực vật gần đây như Takhtajan (1987), Cronquist (1981), Young
(1982), chi Aconitum L. thuộc họ Hoàng liên (Ranunculaceae), bộ Hoàng liên
(Ranunculales), phân lớp Hoàng liên (Ranunculidae), lớp Mộc lan
(Magnoliopsida), ngành Mộc lan (Magnoliophyta) [1], [4], [43].
Đề cập về
phân loại chi Aconitum L. trên thế giới, dường như đã đạt
được sự đồng thuận trong việc sắp xếp chi này thành 3 phân chi (subgenera)
[41], [81], [130], [142] như sau:
- Phân chi Aconitum L.: Cây thảo, sống hai năm [41], giả một năm [81],
có rễ củ [41], [81]. Đài hoa không hoặc gần như không có móc; lá đài trên
hình mũ, hình thuyền hoặc cong hình lưỡi liềm, hiếm khi hình trụ. Phiến cánh
hoa có mô tiết ở đỉnh hoặc rìa; môi rõ hoặc không; cựa ngắn hoặc dài, hiếm
khi v
ắng mặt. Lá noãn 3-5(-9) [81].
- Phân chi Lycoctonum (de Candolle) Petermann: Cây thảo, sống lâu
năm, có thân rễ [41], [81]. Đài hoa không có móc; lá đài trên hình trụ hoặc
hình mũ cao, hiếm khi hình thuyền. Phiến cánh hoa có mô tiết ở đỉnh, có cựa
hình túi hoặc uốn cong; môi thường thẳng hoặc rất ngắn. Lá noãn 3(-8) [81].
- Phân chi Gymnaconitum (Stapf) Rapaics: Cây thảo, sống một năm
[41], [81]. Lá chia 3 phần hình chân vịt. Đài hoa có móc, lá đài trên hình
thuyền. Cánh hoa không có cựa; môi rộng, hình quạt, rìa có răng. Lá noãn 6-

13 [81].

8

Gần đây, Kadota (2001) bổ sung thêm phân chi thứ 4 là Tangutica
(W.T.Wang) Kadota và loài mới A. qinghaiense Kadota [74]. Tuy nhiên, sau
đó, một số tác giả khác đã xếp phân chi này là một nhóm (series) thuộc phân
chi Aconitum L. [142].
1.1.2. Tính đa dạng của chi Aconitum L.
Aconitum L. là một chi lớn, những năm gần đây không ngừng được bổ
sung những loài mới [73], [74], [75], [142]. Trong cuốn “Trung Quốc cao
đẳng thực vật đồ giám” (1972) [146], các nhà thực vật học đã mô tả 27 loài có
ở Trung Quốc; Nhưng đến năm 1979, trong “Th
ực vật chí Trung Quốc” đã
mô tả ở Trung Quốc có tới 162 loài [140]. “Thực vật chí Đài Loan” (1996) đã
đề cập chi Aconitum L. trên toàn thế giới có khoảng 300 loài, trong đó, ở
Trung Quốc có 167 loài [126]. Trong khi đó “Thực vật chí Quảng Tây”
(1991) ghi trên thế giới có 350 loài, Trung Quốc có 170 loài và ở Quảng Tây
chỉ có 2 loài (A. sinomontanum Nakai và A. carmichaelii Debx.) [137]. Năm
2000, “Thực vật chí Vân Nam” lại ghi ở Trung Quốc có 208 loài, ở Vân Nam
có 66 loài và trong đó cũng có loài A. carmichaelii Debx. [147]. Gần đây nhất
(2001), bộ “Th
ực vật chí Trung Quốc” đã cho biết trên thế giới có 400 loài,
phân bố chủ yếu ở vùng ôn đới Bắc Bán cầu và riêng ở Trung Quốc có tới
211 loài (trong đó có 166 loài đặc hữu) [81]. Nếu kể cả những taxon dưới loài
thì ở Trung Quốc có tới 365 taxon khác nhau [66] và trên thế giới có 845
taxon [67]. Song, loài đặc hữu A. fletcheranum G. Taylor ở Himalaya hiện đã
trở nên hiếm gặp, có nguy cơ bị tuyệt chủng [99].
Tuy nhiên, có một vài loài có thể do tác động củ
a điều kiện môi trường

(khí hậu, thổ nhưỡng…) có đặc điểm hình thái bên ngoài hơi khác nhau,
nhưng qua nghiên cứu về mặt di truyền học, các nhà khoa học đã xếp gộp lại
với nhau. Ví dụ như A. delavayi Franch. và A. stapfianum Hand Mazz. [130];
A. noveboracense A. Gray và A. columbianum Nutt. [49]; A. acutiusculum

9

H.R. Fletcher & Lauener và A. acutiusculum var. aureopilosum W.T. Wang
[125].
1.1.3. Nguồn gốc cây Ô đầu trồng ở Sa Pa – Lào Cai hiện nay
Cây Ô đầu trồng ở Việt Nam hiện nay có xuất xứ nhập nội từ hai
nguồn: Nguồn thứ nhất do ngành y tế chính thức nhập giống từ Trung Quốc
[2], được trồng đầu tiên ở Sa Pa từ những năm đầu của thập kỷ 70 của thế kỷ
trước, còn được trồng ở
Bắc Hà (tỉnh Lào Cai), Sìn Hồ (tỉnh Lai Châu).
Nguồn thứ hai do cộng đồng người Hoa ở huyện Quản Bạ và Đồng Văn (tỉnh
Hà Giang) tự động nhập giống Ô đầu từ bên kia biên giới về trồng ở vườn gia
đình và nương rẫy [2].
Có tài liệu cho rằng cây Ô đầu Việt Nam mọc hoang ở vùng cao tỉnh
Lào Cai, Hà Giang, Nghĩa Lộ [8], [9], [19]. Tuy nhiên, một số tác giả khác
cho rằng chỉ có ở thung lũng Tà Cố Y thuộ
c xã Chế Cu Nha, huyện Mù Cang
Chải, tỉnh Nghĩa Lộ (cũ) có cây Ô đầu mọc trong trạng thái hoang dại. Thực
chất những cây này trước đó vốn được nhân dân trồng, khi người dân bỏ đi,
cây trở nên hoang dại hoá [2].
Về tên khoa học của cây Ô đầu ở Việt Nam, theo một số tài liệu hiện
có, cây được ghi nhận bởi hai tên là A. fortunei Hemsl. [2], [3], [8], [10], [11],
[15], [16], [17], [19], [29], [135] và A. carmichaelii Debx. [9], [14], [20],
[25], [28]. Dược điển Việt Nam III nêu cả hai loài trên trong hai chuyên luận
“Ô đầu” (

A. fortunei Hemsl.) và “Phụ tử” (A. carmichaelii Debx.) [7], [13].
1.2. THÀNH PHẦN HOÁ HỌC CỦA CHI ACONITUM L. VÀ MỘT SỐ
PHƯƠNG PHÁP KIỂM ĐỊNH ALCALOID CỦA CHI NÀY
1.2.1. Thành phần hoá học chi Aconitum L.
Đến nay, đã có tới hàng trăm công trình nghiên cứu về thành phần hoá
học của trên 96 loài thuộc chi Aconitum L. [133]. Thành phần hoá học chính

10

trong chi Aconitum L. là alcaloid, flavonoid, polysaccharid, ngoài ra còn có
một số chất thuộc nhóm glycosid, sterol, acid hữu cơ,… [41], [42], [139].
1.2.1.1. Alcaloid
Các nhà nghiên cứu trên thế giới đã xác định được thành phần có hoạt
tính sinh học mạnh nhưng độc tính cao thuộc nhóm alcaloid, trong đó được
quan tâm nhiều nhất là các alcaloid diterpenoid. Một số tác giả đã phân lập
được một số alcaloid thuộc các nhóm khác, đặc biệt là 1-benzyl-
tetrahydroisoquinolin và aporphin là những alcaloid có hoạt tính sinh học
mạnh [41].
a. Alcaloid diterpenoid
Alcaloid diterpenoid là các alcaloid có độc tính cao và đặc trưng của
chi Aconitum L. Că
n cứ vào cấu trúc của khung diterpenoid, nhiều tác giả đã
chia các alcaloid này thành 2 khung chính: Khung C
19
-diterpenoid alcaloid và
C
20
-diterpenoid alcaloid [32], [38], [41], [149]. Gần đây, một số tác giả bổ
sung thêm 2 khung ít gặp hơn: Khung C
18

-diterpenoid alcaloid [83], [136]
(gồm 2 nhóm: Lappaconin và Ranaconin [142]) và khung Bisditerpenoid
alcaloid [53], [142]. Cấu trúc chung của khung C
18
-, C
19
- và C
20
-diterpenoid
alcaloid được nêu ở Hình 1.1
N
H
18
16
15
17
14
13
12
11
10
9
8
7
6
5
4
3
2
1

R

N
H
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12
13
14
17
18
19
15
16
R

N
H
H
20
19

18
17
16
15
14
13
12
11
10
9
8
7
6
5
4
3
2
1
R
C
18
-diterpenoid [83] C
19
-diterpenoid [136] C
20
-diterpenoid [136]
Hình 1.1. Khung diterpenoid alcaloid Aconitum
Nếu căn cứ vào số liên kết ester vào khung diterpenoid, các alcaloid
này lại được chia thành 3 nhóm [32]:


11

- Nhóm diester alcaloid: Trong phân tử có 2 nhóm ester liên kết vào
khung diterpenoid, nhóm này có độc tính cao và có tác dụng giảm đau mạnh
(aconitin, mesaconitin, ) [32], [115].
- Nhóm monoester alcaloid: Có 1 nhóm ester liên kết vào khung
diterpenoid, có độc tính thấp hơn, có tác dụng giảm đau, chống viêm và
chống động kinh mạnh (benzoylaconin, benzoylmesaconin, ) [32], [115].
- Nhóm alkamin: Không có dây nối ester trong phân tử, độc tính thấp
hơn rõ rệt so với 2 nhóm trên, không ảnh hưởng đến hoạt động thần kinh
nhưng có tác dụng chống loạn nhịp tim (aconin, mesaconin, ) [32], [115].
+ C
19
-diterpenoid alcaloid
Các alcaloid C
19
-diterpenoid được tìm thấy trong nhiều loài Aconitum
spp. Theo Da-Yuan Zhu và cộng sự (1993), đã có trên 250 hợp chất đã được
công bố [133]. Các tác giả đã chia C
19
-diterpenoid alcaloid thành 4 nhóm
[136], [142]: Nhóm Aconitin (vị trí C
7
không có nhóm OR), nhóm
Lycoctonin (vị trí C
7
có nhóm OR), nhóm Heteratisin (nhóm Lacton) và nhóm
Pyrodelphinin (nhóm Pyro) (Hình 1.2).

N

R
R
OR
OR
OR

N
R
R
OR
OR
OR
H
OR

Nhóm Aconitin Nhóm Lycoctonin
N
R
R
OR
OR
O
O

N
R
R
OR
OR


Nhóm Heteratisin (Lacton) Nhóm Pyrodelphinin (Pyro)
Hình 1.2. Cấu trúc hoá học chung các alcaloid C
19
-diterpenoid

12

- Nhóm Aconitin
Nhóm này có thể chia thành 5 phân nhóm, các nhóm thế khác nhau sẽ
cho các alcaloid khác nhau [136]. Công thức chung và một số alcaloid điển
hình được trình bày ở Hình 1.3 và Bảng 1.1.
O
R
1
'
R
2
'
1'
2'
3'
4'

Vr = Veratroyl- (R
1
’ = R
2
’ = OCH
3
) Ac = Acetyl-

As = Anisoyl- (R
1
’ = H, R
2
’ = OCH
3
) Et = Ethyl-
N
R
1
R
6
R
7
R
2
R
5
OCH
3
R
4
R
3
H
3
CO
1
2
3

4
5
6
7
8
9
10
11
12
13
14
15
16
17
18
19
R
8

Bz = Benzoyl- (R
1
’ = R
2
’ = H) Me = Methyl-
Hình 1.3. Alcaloid nhóm Aconitin [38], [61], [136]

Bảng 1.1. Một số alcaloid điển hình nhóm Aconitin
R
1
R

2
R
3
R
4
R
5
R
6
R
7
R
8

Alcaloid
C(1) C(3) C(6) C(8) C(13) C(14) C(15) N
I. Phân nhóm Aconitin
Aconitin OCH
3
OH OCH
3
OAc OH OBz OH Et
Mesaconitin OCH
3
OH OCH
3
OAc OH OBz OH Me
Hypaconitin OCH
3
H OCH

3
OAc OH OBz OH Me
II. Phân nhóm Pseudaconitin
Pseudaconitin OCH
3
OH OCH
3
OAc OH OVr H Et
Yunaconitin OCH
3
OH OCH
3
OAc OH OAs H Et
Indaconitin OCH
3
OH OCH
3
OAc OH OBz H Et
Faleoconitin OCH
3
OH OCH
3
OAc OH OVr H CHO
Ludaconitin OCH
3
OH OCH
3
OH OH OBz H Et
III. Phân nhóm Bikhaconitin
Bikhaconitin OCH

3
H OCH
3
OAc OH OVr H Et
Crassicaulin A OCH
3
H OCH
3
OAc OH OAs H Et
Chasmaconitin OCH
3
H OCH
3
OAc OH OBz H Et
IV. Phân nhóm Neolin
Falconericin OCH
3
H OCH
3
OAc H OVr H Et
Falconerin OCH
3
OH OCH
3
OH H OVr H Et
Falconeridin OCH
3
H OCH
3
OH H OVr H Et

Neolin OH H OCH
3
OH H OH H Et
Senbusin OH H OH OH H OH OH Et
V. Phân nhóm Isotalatizidin
Isotalatizidin OH H H OH H OH H Et

13

- Nhóm Lycoctonin
Cấu trúc hoá học một số chất điển hình được trình bày ở Hình 1.4.
OCH
3
N
OCH
3
H
H
3
CO
OH
OCH
3
OH
RO
Lycoctonin: R=H
Anthranoyllycoctonin: R= -CO-C
6
H
4

-o-NH
2

Ajacin: R= -CO-C
6
H
4
-o-NHAc
Lycaconitin: R=
CO C
6
H
4
o
N
CO
CO
CH
2
CH
2

Avadharidin:
R= -CO-C
6
H
4
-o-NH.CO.(CH
2
)

2
.CO.NH
2

Hình 1.4. Alcaloid nhóm Lycoctonin [38], [41]
- Nhóm Heteratisin (Lacton) và Pyrodelphinin (Pyro)
Cấu trúc hoá học một số chất điển hình được trình bày ở Hình 1.5 và
Hình 1.6.
N
OH
O
O
OMe
H
OR


Heteratisin: R = H
Benzoylheteratisin: R = Bz
N
OR
OCH
3
OH
CH
3
O
HO
OMe
OCH

3

Falaconitin: R = Vr
Mithaconitin: R = Bz
Hình 1.5. Alcaloid nhóm Heteratisin
(Lacton) [38], [96]
Hình 1.6. Alcaloid nhóm Pyrodelphinin
(Pyro) [38], [136]
+ C
20
-diterpenoid alcaloid
Các alcaloid C
20
-diterpenoid cũng được tìm thấy trong nhiều loài thuộc
chi Aconitum L. Nhiều tác giả đã chia C
20
-diterpenoid thành 2 nhóm:
Veatchin và Atisin [41], [97], [149]. Một số tác giả khác chia thành 7 nhóm:
Atisin, Denudatin, Hetidin, Hetisin, Veatchin, Nappelin và Anopterin [142].

14

- Nhóm Veatchin
Cấu trúc hoá học một số chất điển hình được trình bày ở Hình 1.7.

Alcaloid R
3
R
1
R

2

Norsongorin H O H
Songorin C
2
H
5
O H
15-Acetylsongorin C
2
H
5
O Ac
Napellin (luciculin) C
2
H
5
H, α-OH H
12-Acetylnapellin C
2
H
5
H, α-OAc H
R
3
N
H
OH
OR
2

R
1
20
19
18
17
16
15
14
13
12
11
10
9
8
7
6
5
4
3
2
1
Lucidusculin C
2
H
5
H, α-OH Ac
Hình 1.7. Alcaloid nhóm Veatchin [41]
- Nhóm Atisin
Cấu trúc hoá học một số chất điển hình được trình bày ở Hình 1.8.

N
H
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12
16
15
14
13
17
18
19
20

N
H
CH
2
O
OH
H


N
H
CH
2
OH
HO
R

Công thức chung [149] Atisin [96] Kobusin: R=H và
Pseudokobusin: R=OH [149]
Hình 1.8. Alcaloid nhóm Atisin [149]
b. Alcaloid thuộc các nhóm khác
Một số tác giả đã nghiên cứu tác dụng dược lý của các phân đoạn chiết
từ Phụ tử và nhận thấy các phân đoạn này có những tác dụng rất khác nhau:
tác dụng giống aconitin, tác dụng ức chế tim và tác dụng trợ tim. Khi Phụ tử
được chế biến đun sôi với nước thì các alcaloid như aconitin giảm xuống và
phần trung tính, không tan trong cloroform tăng lên, phần này có tác dụ
ng trợ

15

tim. Tiếp tục nghiên cứu theo hướng này, các tác giả đã thu được chất có tác
dụng lên hệ tim mạch từ Phụ tử hấp hơi nước ở 100-130
0
C trong 40 phút.
Chất này không tan trong ether, cloroform, tan trong nước. Một thử nghiệm
khác cũng phân lập được những chất có hoạt tính lên tim từ cao chiết nước
của Phụ tử [41]. Các chất này không có cấu trúc diterpenoid đặc trưng của các
loài Ô đầu, chúng bao gồm các isoquinolin và các amin.

+ Isoquinolin alcaloid
- Nhóm Higenamin
Higenamin, một alcaloid thuộc nhóm 1-benzyl-tetrahydroisoquinolin
được phân lập từ A. japonicum Thunb. với lượng rất nhỏ (0,00007%) nhưng
có tác dụng cường tim mạnh [41].
N-demethylcolletin và O-methylarmepavin, những alcaloid tương tự
higenamin cũng được phân l
ập từ phần trên mặt đất của A. wardii H.R.
Fletcher & Lauener var. wardii [41].
Một số chất điển hình thuộc nhóm này được trình bày ở Hình 1.9.
Alcaloid R
1
R
2
R
3
R
4

Higenamin H H H H
N-demethylcolletin CH
3
H CH
3
CH
3

NR
4
R

1
O
R
2
O
R
3
O

O-methylarmepavin CH
3
CH
3
CH
3
CH
3
Hình 1.9. Alcaloid nhóm Higenamin [41]
- Nhóm Corydin
Những alcaloid tương tự aporphin được phân lập từ một số loài
Aconitum spp.: isoboldin từ phần trên mặt đất của A. karakolicum Rapaics,
corydin và glaunidin từ phần trên mặt đất của A. wardii H.R. Fletcher &
Lauener var. wardii; magnoflorin từ rễ củ của A. carmichaelii Debx., A.
napellus L. và A. vulparia Reichb. [41]. Một số chất điển hình được trình bày
ở Hình 1.10.

16


NR

3
H
3
CO
HO
H
3
CO
R
1
R
2

Alcaloid R
1
R
2
NR
3

Isoboldin H OH NCH
3
Corydin OCH
3
H NCH
3

Magnoflorin OH H N
+
(CH

3
)
2

N
+
CH
3
H
3
CO
HO
H
3
CO
H
3
CO
O

Glaunidin
Hình 1.10. Alcaloid nhóm Corydin [41]
+ Amin
Trong khi nghiên cứu các thành phần có tác dụng lên hệ tim mạch, các
tác giả nhận thấy cao methanol từ Phụ tử A. carmichaelii Debx. sau khi loại
alcaloid bằng cloroform, phân đoạn tan trong nuớc có tác dụng tăng huyết áp
mạnh. Các tác giả đã phân lập được dopamin metoclorid. Một số amin khác
cũng được phân lập từ một số loài Aconitum spp. như: N-methyladrenalin từ
rễ củ A. nasutum Fisch. ex Reichb.; noradrenalin, dopamin và tyramin từ rễ củ
A. napellus L. và

A. paniculatum Lam.; N-phenyl-β-naphthylamin từ phần
trên mặt đất của A. karakolicum Rapaics [41]. Một số chất điển hình được
trình bày ở Hình 1.11

CH
2
CH
2
NH
2
OH

R
OH
OH

Tyramin Dopamin R=CH
2
CH
2
NH
2
Dopamin metoclorid
(corynein clorid)
R=CH
2
CH
2
N
+

(CH
3
)
3
.Cl
-
NHPh

Noradrenalin R=CH(OH)CH
2
NH
2

N-phenyl-β-naphthylamin N-methyladrenalin R=CH(OH)CH
2
N(CH
3
)
2
Hình 1.11. Cấu trúc hoá học một số amin [41]

17

c. Hàm lượng alcaloid trong một số loài thuộc chi Aconitum L.
Hàm lượng alcaloid toàn phần, nhóm diester alcaloid cũng như các
alcaloid trong Ô đầu, Phụ tử khác nhau, tuỳ thuộc vào loài, thời kỳ thu hái, bộ
phận dùng cũng như vùng trồng. Đối với cây A. carmichaelii Debx. trồng ở
Hokkaido và Ibaraki (Nhật Bản), vào thời kỳ ra hoa, hàm lượng alcaloid trong
Ô đầu giảm dần, trong khi đó hàm lượng của aconitin và mesaconitin trong
Phụ tử tăng dần [110]. Nhiệt độ môi trường trồng cây cũng ảnh h

ưởng đến
hàm lượng alcaloid, ở nhiệt độ 15
0
C hàm lượng aconitin tăng cao nhất trong
khi mesaconitin và hypaconitin cho hàm lượng ở 20
0
C cao hơn ở 10 và 15
0
C
[101]. Hàm lượng alcaloid toàn phần trong Phụ tử trồng cao hơn trong Phụ tử
mọc tự nhiên, trong Phụ tử chế Trung Quốc thấp hơn trong Phụ tử chế Nhật
Bản, trong khi đó, hàm lượng hypaconitin trong Phụ tử chế Trung Quốc cao
hơn trong Phụ tử chế Nhật Bản [112]. Hàm lượng alcaloid toàn phần, diester
alcaloid và một số alcaloid chính trong một số loài thuộc chi Aconitum L.
được trình bày ở Bảng 1.2.
Bảng 1.2. Hàm lượng alcaloid trong mộ
t số loài thuộc chi Aconitum L.
Tên, bộ
phận
Địa phương
AlcTP
(%)
Diester
alc (%)
Một số alcaloid chính
Tài liệu
tham
khảo
(1) (2) (3) (4) (5) (6)
A. carmichaelii Debx.

Trung Quốc
0,82-
1,56
0,07-
0,17
Hypaconitin (0,179%),
mesaconitin (0,027%),
deoxyaconitin (0,013%),
aconitin (0,003%)
[41],
[119],
[139],
[141]
Phụ tử
Tứ Xuyên 0,77
Mesaconitin (0,4%),
hypaconitin, aconitin
[41]
Shensi 0,32
Hypaconitin (0,1%),
aconitin, talatisamin,
chuanwu base A, B
[41]
Xuyên
ô
Đài Loan 0,58 0,27
Aconitin, mesaconitin,
hypaconitin
[41]


18

(1) (2) (3) (4) (5) (6)
Nhật Bản
(Hokkaido)
1,04-
1,1

Mesaconitin, aconitin,
hypaconitin
[41]
Ô đầu
Nhật Bản,
(Honshu)
1.09-
1.32

Mesaconitin, aconitin,
hypaconitin
[41]
Thảo ô Đài Loan 0,41 0,2
Aconitin, mesaconitin,
hypaconitin
[41]
A. kusnezoffii Reichb.
Bắc Ô
đầu
Trung Quốc
0,7-
1,3


Mesaconitin,
hypaconitin, aconitin,
yunaconitin, jesaconitin
[41]
Bắc
Thảo ô
Nội Mông
Cổ
0,3
Mesaconitin (0,051%),
aconitin (0,017%),
beiwutin, hypaconitin,
deoxyaconitin
[41]
A. brachypodum Diels
Củ Vân Nam 1,25
Bullatin A, neolin,
aconitin
[41]
A. nagarum Stapf
Củ Vân Nam 1,3
Bullatin A và D, neolin,
14-acetylneolin, aconitin
[41]
A. coreanum (H. Lév.) Rapaics
Trung Quốc
0,8-
2,13
[41] Quan

Bạch
phụ
Liêu Ninh 0,97
Guanfu base A (0,17%),
guanfu base B, C, D, E
[41]
A. episcopale H. Lév.
Củ Vân Nam 2,2 Delavaconitin (1,54%) [41]
Thân,

Vân Nam 0,58 Delavaconitin (0,43%) [41]
A. forrestii Stapf
Củ Vân Nam 0,42 Foresaconitin (0,2%) [41]
A. vilmorinianum Kom.
Củ Vân Nam 0,43 Vilmorinianin A và B [41]
A. pterocaule Koidz. var. pterocaule
Thân rễ Kiangsi 4
Delsolin (0,21%),
avadcharidin, lycoctonin
[41]

19

(1) (2) (3) (4) (5) (6)
A. karakolicum Rapaics
Kungey
(Kirgiz)
1,23
Karacolin (0,27%),
songorin, napellin,

karakolidin
[41]
Củ

Terskey
(Kirgiz)
1,64
Songorin (0,49%),
aconitin (0,44%),
sogoramin (0,03%)
[41]
A. wardii H.R. Fletcher et Lauener
Kazakh 2,52 [41]
Talasskiy
(Kirgiz)
4,9 Mesaconitin [41]
Thân rễ
Tyan’ Shan’
(Kirgiz)
3 Lappaconitin (1,6%) [41]
A. chasmanthum Stapf
Củ Ấn Độ 4,5 [44]
1.2.1.2. Flavonoid
Các công trình nghiên cứu về flavonoid trong chi Aconitum L. không
nhiều. Các tác giả đã phân lập được một số flavonoid glycosid từ phần trên
mặt đất và hoa của một số loài: A. noveboracense A. Gray và A. columbianum
Nutt. [127], A. chiisanense Nakai [71], A. paniculatum Lam. [56], A.
napellus L. subsp. neomontanum (Wulfen) Gáyer [57] và một số loài
Aconitum spp. khác [52], [58], [102], [109]. Các flavonoid trên đều là những
dẫn chất của kaempferol và quercetin, một số chất có tác dụng chống oxy hoá

và quét gốc tự do [42].
1.2.1.3. Polysaccharid
Những nă
m gần đây, một số tác giả đã quan tâm tới nhóm hoạt chất
polysaccharid của Phụ tử. Tomoda và cộng sự (1986) đã phân lập được 4
polysaccharid là aconitan A, B, C, D từ Phụ tử sống A. carmichaelii Debx. có
tác dụng hạ glucose huyết. Cấu trúc của hoạt chất chính aconitan A đã được

20

xác định là α-(1→6)-D-glucopyranose, có trọng lượng phân tử 8700, [α]
D
=
+190
0
[114], [139].
Zhao và cộng sự (2006) cũng phân lập được một polysaccharid tan
trong nuớc từ loài này đặt tên là FPS-1 có tác dụng kích thích miễn dịch. FPS-
1 có cấu trúc α-(1→6)-
D-glucan, có trọng lượng phân tử 14000 [132].
1.2.1.4. Một số thành phần khác
- Glycosid: Fuzinosid (glycerol-2-O-β-D-galactofuranosy 1→3 β-D-
galactofuranosid) có tác dụng cường tim, được phân lập từ cao chiết nước của
Phụ tử (A. carmichaelii Debx.) [143]; yokonosid glucosid [41].
- Acid coumaric glycosid [88]
- Sterol: β-sitosterol, 24-ethylcholesterol [139].
- Acid hữu cơ: acid oleic, acid linoleic, acid palmitic, và acid trans-p-
hydroxycinnamic, acid ferulic, acid aconitic, acid caffeic, acid chronogenic,
acid citric, acid isocitric, acid itaconic, acid malic, acid quinic v.v [139].
1.2.2. Kiểm định alcaloid của chi Aconitum L.

1.2.2.1. Định tính alcaloid
+ Định tính bằng phản ứng hoá học: Bằng các thuốc thử chung của
alcaloid: TT Mayer, TT Bouchardat, TT Dragendorff [7], [17].
+
Định tính bằng sắc ký lớp mỏng: Định tính alcaloid trong Ô đầu,
Phụ tử và kiểm tra giới hạn aconitin [7], [17].
+ Định tính bằng quang phổ tử ngoại: Dược điển Việt Nam, Trung
Quốc, Hàn Quốc và nhiều tài liệu quy định phương pháp định tính alcaloid
trong Ô đầu, Phụ tử bằng phương pháp quang phổ tử ngoại: Kiềm hoá dược
liệu, chiết xuất alcaloid bằng ether, chiết lại alcaloid bằng dung dịch H
2
S0
4

0,5N, quét phổ UV trong khoảng bước sóng 200-300nm. Phổ UV alcaloid
trong Ô đầu và Phụ tử sống cho hấp thụ cực đại ở bước sóng λ
max
= 231nm
[113], phổ UV alcaloid trong Phụ tử chế cho hấp thụ cực đại ở hai bước sóng
λ
max1
= 231nm và λ
max2
= 274nm [7], [50], [113].

21

1.2.2.2. Định lượng
a. Định lượng alcaloid toàn phần: Theo phương pháp acid-base [7], [113].
b. Định lượng diester alcaloid: Diester alcaloid là nhóm chất có độc tính cao

nhất của chi Aconitum L., các phương pháp chế biến đều làm giảm đáng kể
hàm lượng diester alcaloid. Nhóm này dễ hoà tan trong ether, vì vậy, trước
đây người ta đã định lượng alcaloid hoà tan trong ether để biểu thị độc tính
của Ô đầu [141]. DĐTQ (2005) quy định giới hạn diester alcaloid trong
Xuyên ô chế, Thảo ô chế được định lượng bằng ph
ương pháp đo độ hấp thụ,
không được vượt quá 0,15% tính theo aconitin [113].
c. Định lượng aconitin và một số alcaloid khác
* Giới hạn aconitin trong Phụ tử chế: Xác định bằng phương pháp sắc
ký lớp mỏng. Giới hạn aconitin trong Phụ tử chế không được vượt quá
0,017% [7], [113]; 0,02% [50].
* Định lượng aconitin và một số thành phần alcaloid khác: Một số
phương pháp đã được xây dựng để định lượng aconitin và các alcaloid trong
Ô đầu, Phụ t
ử và các sản phẩm như:
- Phương pháp sắc ký lỏng hiệu năng cao (HPLC) [47], [64] [69], [82],
[121], [138].
- Phương pháp sắc ký lỏng hiệu năng cao pha đảo (RP-HPLC) [72],
[80].
- Phương pháp điện di mao quản - khối phổ (CE-MS) [55].
- Phương pháp sắc ký khí - khối phổ (GC-MS) [70] …
1.3. TÁC DỤNG SINH HỌC VÀ ĐỘC TÍNH
Phụ tử rất độc nhưng đã được nhân dân chế biến để sử dụng làm thuốc
từ lâu đời. Các nhà khoa học đã công bố nhi
ều tác dụng của Phụ tử chế có giá
trị để vận dụng điều trị nhiều chứng bệnh và làm sáng tỏ kinh nghiệm chữa
bệnh của nhân dân.

22


1.3.1. Tác dụng lên hệ tim mạch
1.3.1.1. Tác dụng lên lực co bóp cơ tim
Phụ tử chế là vị thuốc “hồi dương cứu nghịch”, được sử dụng để cấp
cứu suy tuần hoàn cấp, suy tim, do đó đã có rất nhiều nghiên cứu về tác dụng
cường tim của vị thuốc này [143], [145]. Kết quả nghiên cứu trên thực
nghiệm cho thấy nước sắc Phụ tử có tác dụng tăng lực co cơ
tim đối với tim
cô lập bình thường hoặc trên mô hình gây suy tim ở động vật máu lạnh (ếch,
cóc) và động vật máu nóng (chuột cống trắng, thỏ) [18], [68], [139], [141],
[144]. Bằng đường tiêm tĩnh mạch, nước sắc Phụ tử cũng gây tăng biên độ co
của tim ở chó và mèo, đặc biệt ở mèo bị suy tim thì nước sắc Phụ tử có tác
dụng tăng co bóp tim mạnh hơn [141]. Theo một số tác giả, thành phần có
hoạt tính tăng co bóp tim c
ủa Phụ tử là phân đoạn hòa tan trong nước [18],
[139]. Kéo dài thời gian sắc không làm giảm tác dụng tăng co bóp tim, mà chỉ
làm giảm hoặc mất tác dụng phụ gây loạn nhịp tim của thuốc. Tác dụng tăng
co bóp tim có thể do tác động trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua sự kích thích
β-adrenergic [139].
Nước sắc sản phẩm Xuyên ô (A. carmichaelii Debx.) sống và chế, Thảo
ô (A. kusnezoffii Reichb.) chế đều có tác dụng tăng co bóp đối với tim ếch cô
lậ
p. Liều cao gây loạn nhịp tim, ức chế tim [139], [141].
Theo một số tác giả, thành phần có tác dụng tăng co bóp tim của Phụ tử
gồm chủ yếu các chất higenamin (demethylcoclaurin), corynein clorid,
salsolinol, uracil … [94], [139], [143], [144].
Higenamin ở nồng độ 0,001-1µg/ml gây tăng rõ rệt lực co bóp và tăng
cung lượng tim cóc, thỏ, chuột và tim chó cô lập… [41], [139], [148]. Tiêm
tĩnh mạch chó đã được gây mê, higenamin gây tăng lực co bóp tâm thất trái,
giảm sức cản của động mạch não, động mạch vành và động mạch ngo
ại vi.

Higenamin có tác dụng càng rõ rệt đối với tim suy [139], tăng tưới máu cho
cơ tim thiếu máu [144]. Đối với chó và mèo bị suy tim, higenamin tiêm tĩnh

×