Tải bản đầy đủ (.pdf) (91 trang)

Các biện pháp cắt giảm chi phí của một số doanh nghiệp trên thế giới trong thời kỳ khủng hoảng tài chính đề xuất cho doanh nghiệp Việt Nam

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.14 MB, 91 trang )

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH
CHUYÊN NGÀNH KINH DOANH QUỐC TẾ
***



KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP


Đề tài:

CÁC BIỆN PHÁP CẮT GIẢM CHI PHÍ CỦA MỘT SỐ DOANH
NGHIỆP TRÊN THẾ GIỚI TRONG THỜI KỲ KHỦNG HOẢNG
TÀI CHÍNH ĐỀ XUẤT CHO DOANH NGHIỆP VIỆT NAM






Sinh viên thực hiện : Nguyễn Thị Mai
Lớp : Anh 3
Khoá : 44
Giáo viên hướng dẫn : ThS. Nguyễn Thị Tuyết Nhung





Hà Nội, 05/2009



11
LỜI MỞ ĐẦU
Chúng ta biết rằng khủng hoảng tài chính xuất hiện đầu tiên ở Mỹ rồi lan
rộng khắp toàn cầu kéo dài hơn một năm nay đã gây nên rất nhiều khó khăn đối với
nền kinh tế khắp các quốc gia trên thế giới. Khủng hoảng tài chính toàn cầu là một
vấn đề lớn của xã hội mà dường như ai cũng phải quan tâm đến nó, nhất là những
nhà lãnh đạo, nhà phân tích kinh tế, hoạch định chính sách…Xung quanh chủ đề về
khủng hoảng tài chính sẽ có không biết bao nhiêu vấn đề phải bàn luận như: nguyên
nhân của nó ra sao?, khủng hoảng tác động như thế nào?, chúng ta cần làm gì để đối
phó với những khó khăn mà khủng hoảng đã gây ra? Những vấn đề cấp thiết ấy là
mối quan tâm của tất cả các quốc gia và Việt Nam cũng không nằm ngoài số đó.
Cuộc khủng hoảng tài chính có ảnh hưởng lớn tới nền kinh tế Việt Nam hay không
và chính phủ cùng các doanh nghiệp Việt Nam cần làm gì trước những nguy cơ của
cuộc khủng hoảng?
Bầt kỳ một nhà quản trị nào cũng phải nắm rõ và kiểm soát chặt chẽ mọi hoạt
động của công ty trong đó có kiểm soát chi phí. Chi phí gắn liền với mọi hoạt động
sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nên quản lý chi phí tốt vẫn là một bài toán
nan giải đối với các nhà quản lý kinh tế. Đặc biệt, trong thời kỳ khủng hoảng như
hiện nay, các công ty đều gặp khó khăn về tài chính nên việc quản lý chi phí tốt
càng trở nên cấp thiết hơn nữa. Một trong những vấn đề quan tâm hàng đầu của các
doanh nghiệp trong việc quản lý chi phí là vấn đề cắt giảm chi phí thời kỳ khủng
hoảng này.
Xuất phát từ thực tiễn ấy, dưới sự hướng dẫn của cô Nguyễn Thị Tuyết
Nhung và được sự đồng ý của khoa Quản trị kinh doanh em đã lựa chọn đề tài:
“Các biện pháp cắt giảm chi phí của một số doanh nghiệp trên thế giới trong thời
kỳ khủng hoảng tài chính, đề xuất cho doanh nghiệp Việt Nam” làm đề tài cho
khóa luận tốt nghiệp của mình với mục đích muốn tìm hiểu về cuộc khủng hoảng tài
chính này và các biện pháp cắt giảm chi phí của một số doanh nghiệp trên thế giới
trong cơn khủng hoảng, từ đó đưa ra một số kiến nghị, đề xuất cho các doanh

nghiệp Việt Nam với hy vọng các doanh nghiệp sẽ cắt giảm chi phí tốt, vượt qua
những khó khăn của khủng hoảng tài chính và phát triển bền vững.

22
*Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của đề tài:
Các biện pháp cắt giảm chi phí của một số doanh nghiệp trên thế giới trong
thời kỳ khủng hoảng tài chính, đưa ra đề xuất cho doanh nghiệp Việt Nam.
*Phương pháp nghiên cứu:
- Thu thập thông tin, số liệu
- Phân tích, đánh giá, so sánh, tổng hợp
*Kết cấu của khoá luận : Ngoài lời mở đầu, kết luận, nội dung của khoá luận được
chia làm 3 chương.
- Chương I: Những lý luận chung về chi phí và quản lý chi phí trong doanh
nghiệp
- Chương II: Khủng hoảng tài chính toàn cầu và các biện pháp cắt giảm chi
phí của một số doanh nghiệp trên thế giới
- Chương III: Giải pháp và định huớng cho các doanh nghiệp Việt Nam trong
việc cắt giảm chi phí
Nhân đây, cho phép em được gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến cô Nguyễn
Thị Tuyết Nhung đã tận tình hướng dẫn em khoá luận tốt nghiệp này. Em cũng xin
cảm ơn khoa Quản trị Kinh doanh, Ban giám hiệu nhà trường cùng tất cả các thầy
cô giáo dạy dỗ em suốt 4 năm học qua đã tạo cho em những điều kiện học tập,
nghiên cứu tốt nhất!
Hà Nội, ngày 2/4/2009
Sinh viên:
Nguyễn Thị Mai







33
CHƢƠNG I
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHI PHÍ VÀ
QUẢN LÝ CHI PHÍ TRONG DOANH NGHIỆP

I.Tổng quan về chi phí trong doanh nghiệp
1. Khái niệm chi phí
Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam, chuẩn mực số 01- chuẩn mực chung, chi
phí được định nghĩa như sau:
Chi phí: Là tổng giá trị các khoản làm giảm lợi ích kinh tế trong kỳ kế toán
dưới hình thức các khoản tiền chi ra, các khoản khấu trừ tài sản hoặc phát sinh nợ
dẫn đến làm giảm vốn chủ sở hữu, không bao gồm khoản phân phối cho cổ đông
hoặc chủ sở hữu.
Từ định nghĩa như vậy, có thể thấy ngay kiểm soát và tiết kiệm chi phí tốt sẽ
đem lại nhiều lợi ích cho doanh nghiệp. Chi phí là một trong những thông tin quan
trọng hàng đầu trong quá trình tổ chức điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh của
các nhà quản trị và đứng trên giác độ kế toán, các thông tin mà các nhà quản trị cần
hầu hết liên quan đến chi phí.
Dưới góc độ quản lý hay dưới góc độ kế toán quản trị, chi phí không đơn
giản được nhận thức theo quan điểm của kế toán như trên, mà nó được nhìn nhận
theo nhiều phương diện khác nhau để đáp ứng thông tin một cách toàn diện nhất
cho các nhà quản trị trong việc hoạch định, kiếm soát và ra quyết định. Theo đó, chi
phí có thể là những phí tổn thực tế phát sinh gắn liền với hoạt động sản xuất kinh
doanh hàng ngày của doanh nghiệp, chi phí cũng có thể là những phí tổn ước tính
để thực hiện một dự án hoặc những lợi nhuận mất đi do lựa chọn phương án, hy
sinh cơ hội kinh doanh.
2. Phân loại chi phí
Về mặt lý thuyết, có nhiều tiêu thức khác nhau để phân loại chi phí, mỗi tiêu

thức đều có ý nghĩa khác nhau đối với quá trình quản trị doanh nghiệp.


44

2.1 Phân loại chi phí theo cách ứng xử của chi phí
Theo cách phân loại này, căn cứ vào mối quan hệ của chi phí và kết quả sản
xuất kinh doanh, chi phí được chia thành hai dạng cơ bản:
* Chi phí biến đổi hay còn gọi là biến phí là các khoản chi phí thường tỷ lệ
thuận với kết quả sản xuất hay quy mô hoạt động, ví dụ như chi phí nguyên vật liệu
chính dùng để sản xuất ra sản phẩm….
Chi phí biến đổi có đặc điểm là tỷ lệ thuận với khối lượng sản phẩm sản
xuất, nhưng khi tính cho một đơn vị kết quả thì cố định. Do vậy để kiểm soát các
chi phí biến đổi các nhà quản trị doanh nghiệp thường xây dựng mức chi phí biến
đổi cho mỗi đơn vị kết quả sản xuất.
Tổng biến phí Biến phí đơn vị

Y=ax Y=ax

Mức độ hoạt động Mức độ hoạt động


- Chi phí biến đổi của doanh nghiệp có thể chia làm hai dạng: chi phí biến
đổi tuyến tính và chi phí biến đổi cấp bậc.
+ Chi phí biến đổi tuyến tính đó là các khoản chi phí biến đổi hoàn toàn tỷ lệ
thuận với kết quả sản xuất, ví dụ như chi phí nguyên vật liệu chính dùng để sản xuất
hoặc hoa hồng cho người bán hàng được tính theo tỷ lệ doanh thu. Do đó, việc
hoạch định, xây dựng và hoàn thiện định mức biến phí tuyệt đối sẽ là tiền đề tiết
kiệm, kiểm soát chi phí một cách chặt chẽ hơn.
+ Chi phí biến đổi cấp bậc đó là các khoản chi phí cũng thay đổi nhưng gắn

với phạm vi và quy mô hoạt động của công ty, ví dụ như chi phí vật liệu phụ để bảo
dưỡng máy móc, thiết bị. Những chi phí này cũng thay đổi tỷ lệ thuận với mức độ
hoạt động của doanh nghiệp nhưng chúng chỉ thay đổi khi quy mô sản xuất, mức độ
hoạt động của máy móc thiết bị đạt đến một phạm vi nhất định.

55
* Chi phí cố định hay còn gọi là định phí đó là các khoản chi phí thường
không thay đổi trong phạm vi giới hạn của quy mô hoạt động
Chi phí cố định có đặc điểm là xét trong giới hạn của quy mô hoạt động thì
tổng chi phí không thay đổi, nhưng trong giới hạn đó mà sản lượng sản phẩm sản
xuất thay đổi thì chi phí cố định tính cho một đơn vị sản phẩm thay đổi. Định phí
tính trên một đơn vị mức độ hoạt động (sản phẩm) tỷ lệ nghịch với mức độ hoạt
động: mức độ hoạt động càng cao thì định phí cho một đơn vị hoạt động càng thấp.
Như vậy, dù doanh nghiệp có hoạt động hay không hoạt động thì định phí vẫn tồn
tại. Do vậy các nhà quản trị doanh nghiệp muốn giảm chi phí cần khai thác hết công
suất của các tài sản cố định đã đầu tư vì hầu như các tài sản cố định đều tạo ra các
khoản chi phí cố định.
Tổng định phí Định phí đơn

Y=a Y=b/x

Mức độ hoạt động Mức độ hoạt động


Chi phí cố định của doanh nghiệp có thể chia làm hai dạng là định phí thuộc
tính và định phí bắt buộc.
- Định phí thuộc tính đó là các khoản chi phí cố định thường gắn với hoạt
động của các bộ phận trong tổ chức doanh nghiệp, ví dụ như chi phí thuê nhà xưởng
của các phân xưởng, chi phí quảng cáo, nghiên cứu, giao dịch,…Do vậy, khi các bộ
phận không tồn tại thì các định phí thuộc tính cũng mất đi.

- Định phí bắt buộc là các khoản chi phí thường gắn với cấu trúc của một tổ
chức kinh tế, do vậy khi các bộ phận không tồn tại thì định phí bắt buộc vẫn phát
sinh, ví dụ như tiền thuê văn phòng hoạt động của doanh nghiệp. Định phí bắt buộc
có hai đặc điểm cơ bản:
+ Chúng tồn tại lâu dài trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp.
+ Chúng không thể cắt giảm đến bằng không trong một thời gian ngắn.

66
Các nhà quản trị muốn kiểm soát các khoản chi phí cố định thường căn cứ
vào mức độ hoạt động của quy mô hoạt động và công suất của các tài sản đang sử
dụng.
* Chi phí hỗn hợp đó là các khoản chi phí bao gồm cả yếu tố biến phí và
định phí. Thường ở mức độ hoạt động căn bản thì chi phí hỗn hợp thể hiện định phí,
khi vượt khỏi mức độ hoạt động căn bản thì chi phí hỗn hợp bao gồm cả biến phí.
Trong thực tế hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, chi phí hỗn hợp thường thể
hiện như chi phí sản xuất chung, chi phí sử dụng máy móc, chi phí bán hàng, chi phí
quản lý doanh nghiệp.
Việc phân loại chi phí theo cách ứng xử giúp doanh nghiệp:
- Doanh nghiệp thiết kế, xây dựng các mô hình chi phí trong mối quan hệ
giữa chi phí - khối lượng - lợi nhuận.
- Phân tích chi phí, phân tích điểm hoà vốn để đưa ra quyết định kinh doanh
phù hợp.
- Xác định đúng đắn phương hướng sử dụng và nâng cao hiệu quả sử dụng
các loại chi phí.
2.2 Phân loại chi phí theo chức năng hoạt động
2.2.1 Chi phí sản xuất và tiêu thụ sản phẩm
2.2.1.1 Chi phí sản xuất của doanh nghiệp
Trong quá trình sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp phải tiêu hao các loại vật
tư, nguyên vật liệu, hao mòn máy móc thiết bị,trả công cho người lao động,…Do

vậy,có thể hiểu chi phí sản xuất của doanh nghiệp là biều hiện bằng tiền của tất cả
hao phí về vật chất và về lao động mà doanh nghiệp phải bỏ ra để sản xuất sản
phẩm trong một thời kỳ nhất định. Các chi phí này phát sinh có tính thường xuyên
và gắn liền với quá trình sản xuất sản phẩm. Do đặc điểm của chi phí sản xuất là chi
phí hàng ngày của doanh nghiệp gắn liền với từng vị trí sản xuất,từng loại sản phẩm
và từng loại hoạt động sản xuất-kinh doanh, việc tổng hợp, tính toán chi phí sản
xuất cần được tiến hành trong từng khoảng thời gian nhất định, không phân biệt các
sản phẩm để sản xuất đã hoàn thành hay chưa hoàn thành. Để quản lý và kiểm tra
chặt chẽ việc thực hiện các định mức chi phí, tính toán được kết quả tiết kiệm chi

77
phí ở từng bộ phận sản xuất và toàn doanh nghiệp, kiểm tra và phân tích quá trình phát
sinh chi phí và hình thành giá thành sản phẩm người ta cần phân loại chi phí sản xuất.
Thông thường người ta sử dụng một số cách thức phân loại chi phí như sau:
Thứ nhất: Phân loại chi phí sản xuất theo yếu tố, tức là sắp xếp các chi phí
có cùng tính chất kinh tế vào một loại, mỗi loại là một yếu tố chi phí sản xuất bao
gồm 3 nhóm yểu tố sau:
+ Chi phí vật tư
+ Lương nhân công trực tiếp
+ Chi phí sản xuất chung
Thứ hai: Phân loại chi phí sản xuất theo khoản mục tính giá thành. Cách
phân loại này dựa vào công dụng kinh tế và địa điểm phát sinh của chi phí để sắp
xếp chi phí thành những khoản mục nhất định, qua đó, phân tích tác động của từng
khoản mục chi phí đến giá thành.
Thứ ba: Phân loại chi phí sản xuất thành chi phí cố định và chi phí biến đổi.
Phân loại chi phí theo cách này để có phương thức quản lý phù hợp với từng loại
chi phí.
Để quản lý tốt chi phí, ngoài phân loại chi phí, các doanh nghiệp cần phải xem xét
cơ cấu chi phí sản xuất để định hướng thay đổi tỷ trọng mỗi loại chi phí sản xuất.
Cơ cấu chi phí sản xuất là tỷ trọng giữa các yếu tố chi phí trong tổng số chi phí sản

xuất. Các doanh nghiệp trong cùng một ngành và giữa các ngành khác nhau có cơ
cấu chi phí sản xuất khác nhau. Cơ cấu chi phí sản xuất chịu tác động của nhiều
nhân tố như: loại hình và quy mô sản xuất của từng doanh nghiệp, trình độ kỹ thuật,
trang thiết bị, điều kiện tự nhiên, công tác tổ chức, năng lực quản lý, trình độ tay
nghề của công nhân…
Nghiên cứu cơ cấu chi phí sản xuất nhằm:
- Xác định tỷ trọng và xu hướng thay đổi của từng yếu tố chi phí sản xuất.
- Kiểm tra giá thành sản phẩm và có biện pháp hạ gia thành sản phẩm.
2.2.1.2 Chi phí tiêu thụ sản phẩm
Đối với các doanh nghiệp, tiêu thụ sản phẩm là hết sức quan trọng. Khối
lượng sản phẩm hàng hoá tiêu thụ ảnh hưởng quyết định tới quy mô sản xuất kinh

88
doanh của doanh nghiệp. Để thực hiện tiêu thụ sản phẩm, doanh nghiệp cũng phải
bỏ ra những chi phí nhất định.
Chi phí lưu thông sản phẩm bao gồm: Chi phí trực tiếp tiêu thụ sản phẩm,
chi phí hỗ trợ marketing và phát triển.
Chi phí trực tiếp tiêu thụ sản phẩm bao gồm: Chi phí chọn lọc, đóng gói; chi
phí bao bì, vận chuyển, bảo quản, chi phí thuê kho, bến bãi…
Chi phí hỗ trợ marketing và phát triển bao gồm: Chi phí điều tra nghiên cứu
thị trường, chi phí quảng cáo, giới thiệu sản phẩm; chi phí bảo hành sản phẩm…Tỷ
trọng của chi phí có xu hướng tăng trong điều kiện nền kinh tế thị trường phát triển.
2.2.1.3 Giá thành sản phẩm
Nghiên cứu chi phí sản xuất và tiêu thụ sản phẩm chưa cho biết lượng chi phí
cần thiết để hoàn thành sản xuất và tiêu thụ một loại sản phẩm hoặc một đơn vị sản
phẩm nhất định. Mặt khác, trong hoạt động kinh doanh, khi quyết định lựa chọn
phương án kinh doanh một loại sản phẩm nào đó, doanh nghiệp cần phải tính đến
lượng chi phí bỏ ra để sản xuất và tiêu thụ một sản phẩm hoặc khối lượng sản phẩm
đó. Do vậy, doanh nghiệp cần xác định giá thành của sản phẩm.
Giá thành sản phẩm là biểu hiện bằng tiền toàn bộ chi phí của doanh nghiệp

bỏ ra để hoàn thành việc sản xuất hoặc để sản xuất và tiêu thụ một loại sản phẩm
nhất định.
Giữa giá thành sản phẩm và chi phí sản xuất có sự giống nhau và khác nhau:
chi phí sản xuất hợp thành giá thành sản phẩm nhưng không phải toàn bộ chi phí
sản xuất phát sinh trong kỳ đều được tính vào giá thành sản phẩm trong kỳ. Giá
thành sản phẩm phản ánh lượng chi phí để hoàn thành sản xuất hoặc sản xuất và
tiêu thụ 1 đơn vị hay khối lượng sản phẩm nhất định còn chi phí sản xuất và lưu
thông sản phẩm thể hiện số chi phí mà doanh nghiệp bỏ ra để sản xuất và tiêu thụ
sản phẩm trong một thời kỳ nhất định, thời kỳ này thường là một năm.
Trong phạm vi sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, có thể phân biệt giá thành sản
xuất sản phẩm và giá thành tiêu thụ sản phẩm. Giá thành sản xuất sản phẩm (đối
với sản phẩm xây dựng là giá thành thi công) bao gồm toàn bộ chi phí bỏ ra để hoàn
thành việc sản xuất sản phẩm. Giá thành tiêu thụ sản phẩm còn gọi là giá thành toàn

99
bộ sản phẩm bao gồm toàn bộ chi phí để hoàn thành cả sản xuất và tiêu thụ sản
phẩm.
Trên giác độ kế hoạch hoá, giá thành sản phẩm của doanh nghiệp được phân
biệt thành giá thành kế hoạch và giá thành thực tế.
Các doanh nghiệp hoạt động luôn phải quan tâm tới giảm chi phí, hạ giá
thành sản phẩm. Hạ giá thành sản phẩm là điều kiện căn bản để doanh nghiệp thực
hiện tốt tiêu thụ sản phẩm, doanh nghiệp có thể hạ giá bán để tiêu thụ sản phẩm và
thu hồi vốn nhanh. Đồng thời, hạ giá thành là yếu tố cơ bản để tăng lợi nhuận.
Hạ giá thành sản phẩm trong kỳ được xác định cho những sản phẩm so sánh
được thông qua hai chỉ tiêu: Mức giảm giá thành và tỷ lệ hạ giá thành sản phẩm.
Riêng đối với sản phẩm xây dựng cơ bản, người ta chỉ so sánh giá thành thực
tế với giá thành kế hoạch hoặc giá thành dự toán của khối lượng sản phẩm trong
cùng một kỳ.
Các nhân tố ảnh hưởng tới chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm doanh nghiệp:
- Sự tiến bộ của khoa học - kỹ thuật và công nghệ

- Tổ chức lao động khoa học và chiến lược sử dụng lao động
- Tổ chức quản lý sản xuất kinh doanh và quản lý tài chính
2.2.2 Chi phí hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
Chi phí hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp bao gồm các chi phí có liên
quan đến quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Đây cũng là
một cách tiếp cận phổ biến trong nền kinh tế thị trường.
Dựa vào tính chất các yếu tố chi phí: chi phí hoạt động kinh doanh được chia thành
các loại sau:
- Chi phí nguyên vật liệu, nhiên liệu, động lực (gọi tắt là chi phí vật tư)
- Chi phí vật tư phụ thuộc vào hai yếu tố là mức tiêu hao vật tư và giá vật tư.
- Chi phí khấu hao tài sản cố định (KHTSCĐ)
Chi phí KHTSCĐ được xác định dựa vào nguyên giá TSCĐ cần tính khấu hao và tỷ
lệ KHTSCĐ.
- Chi phí tiền lương và các khoản phụ cấp có tính chất tiền lương.
- Chi phí bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và kinh phí công đoàn.

1010
- Chi phí dịch vụ mua ngoài.
- Thuế và các chi phí khác.
Dựa vào nội dung các yếu tố chi phí: Chi phí hoạt động kinh doanh được
chia thành các khoản mục chi phí trực tiếp và chi phí gián tiếp.
Chi phí sản xuất trực tiếp bao gồm:
- Chi phí vật tư trực tiếp
- Chi phí nhân công trực tiếp
- Chi phí sản xuất chung
* Giá thành sản xuất
Giá thành sản xuất = Chi phí sản xuất + Chênh lệch sản phẩm dở dang
Chênh lệch sản phẩm dở dang = Sản phẩm dở dang đầu kỳ - Sản phẩm dở
dang cuối kỳ
* Giá vốn hàng bán

Giá vốn hàng bán = Giá thành sản xuất + chênh lệch thành phẩm tồn kho
Chênh lệch thành phẩm tồn kho = Thành phẩm tồn kho đầu kỳ - Thành phẩm
tồn kho cuối kỳ
Riêng đối với doanh nghiệp thương mại:
Giá vốn hàng bán = Giá vốn hàng mua + Chênh lệch hàng hoá tồn kho
Chênh lệch hàng hoá tồn kho = Hàng hoá tồn kho đầu kỳ - Hàng hoá tồn kho
cuối kỳ
* Chi phí bán hàng: Gồm các chi phí phát sinh trong quá trình tiêu thụ sản
phẩm hàng hoá và dịch vụ như tiền lương, các khoản phụ cấp phải trả cho nhân viên
bán hàng, tiếp thị, đóng gói, bảo quản, khấu hao TSCĐ, chi phí vật liệu, bao bì,
dụng cụ, đồ dùng, chi phí dịch vụ mua ngoài, chi phí bảo hành, quảng cáo.
* Chi phí quản lý doanh nghiệp: Gồm các chi phí quản lý kinh doanh, quản
lý hành chính và các chi phí chung khác có liên quan tới toàn bộ hoạt động kinh
doanh của doanh nghiệp như: tiền lương và các khoản phụ cấp trả cho ban giám đốc
và nhân viên quản lý ở các phòng ban, chi phí vật liệu dùng để dùng cho văn phòng,
KHTSCĐ dùng chung cho doanh nghiệp, các khoản thuế, lệ phí, bảo hiểm, chi phí
dịch vụ mua ngoài thuộc văn phòng doanh nghiệp và các chi phí khác chung cho

1111
toàn doanh nghiệp như lãi vay, dự phòng, phí kiểm toán, tiếp tân, tiếp khách, công
tác phí…
2.2.3 Chi phí hoạt động tài chính và chi phí hoạt động bất thường
Chi phí hoạt động tài chính bao gồm: Chi phí liên doanh liên kết, chi phí
thuê tài sản, chi phí vay nợ, chi phí mua, bán chứng khoán.
Chi phí hoạt động bất thường bao gồm: Chi phí nhượng bán thanh lý TSCĐ,
giá trị tổn thất sau khi đã giảm trừ và chi phí bất thường khác.
Cách phân chia chi phí theo chức năng hoạt động và từng yếu tố chi phí có ý
nghĩa đối với các nhà quản trị kinh doanh trong việc xây dựng các dự toán chi phí
nhằm đáp ứng nhu cầu của hoạt động kinh doanh.
2.3 Phân loại chi phí theo mối quan hệ với kỳ tính kết quả kinh doanh

- Chi phí sản phẩm đó là các khoản chi phí gắn liền với quá trình sản xuất
và quá trình mua hàng. Đối với một đơn vị sản xuất chi phí sản phẩm chính là chi
phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp, chi phí sản xuất chung.
Đối với một đơn vị kinh doanh thương mại chi phí sản phẩm chính là giá mua và
chi phí mua hàng. Chi phí sản phẩm phát sinh và ảnh hưởng đến nhiều kỳ báo cáo,
nói cách khác, sự phát sinh và khả năng bù đắp của chi phí sản phẩm trải qua nhiều
kỳ sản xuất kinh doanh khác nhau. Vì vậy khi xác định chi phí sản phẩm, chúng ta
cần xem xét đến các giai đoạn chuyển tiếp và mức độ chuyển tiếp của chúng.
- Chi phí thời kỳ thường liên quan và ảnh hưởng đến lợi nhuận của doanh
nghiệp trong một thời kỳ. Chi phí thời kỳ không phải là một phần của giá trị sản
phẩm sản xuất hoặc hàng hoá mua vào mà chúng là những dòng chi phí được khấu
trừ vào kỳ tính lợi nhuận. Chi phí thời kỳ trong hoạt động sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp tồn tại khá phổ biến như chi phí hoa hồng, bán hàng, quảng cáo…
Cách phân chia này giúp các nhà quản trị kinh doanh xác định tương đối
chính xác lợi nhuận của doanh nghiệp trong kỳ hạch toán.
2.4 Phân loại chi phí dựa vào mối quan hệ của chi phí và đối tượng chịu chi phí
- Chi phí trực tiếp đó là các khoản chi phí mà kế toán có thể tập hợp trực tiếp
cho đối tượng chịu chi phí. Ví dụ, vật liệu trực tiếp, nhân công trực tiếp… Một đối

1212
tượng chi phí mà có tỷ trọng chi phí cao thì độ chính xác của chỉ tiêu giá thành, kết
quả của đối tượng càng cao.
- Chi phí gián tiếp đó là các khoản chi phí mà kế toán không thể tập hợp trực
tiếp cho các đối tượng chịu chi phí, do vậy đối với từng yếu tố chi phí gián tiếp kế
toán phải phân bổ cho từng đối tượng chịu chi phí. Ví dụ, tiền lương của nhân viên
phân xưởng…Độ chính xác của chi phí giàn tiếp cần phân bổ còn phụ thuộc vào
tiêu thức phân bổ. Tiêu thức phân bổ phải lựa chọn cho phù hợp và thường dựa vào
những căn cứ khoa học như : Thuận tiện cho việc tính toán, thống nhất cả kỳ hạch
toán, có tính đại diện cao cho chi phí gián tiếp cần phân bổ.
2.5 Một số loại chi phí khác

- Chi phí kiểm soát được : đó là các khoản chi phí phát sinh trong phạm vi
quyền của các nhà quản trị đối với các khoản chi phí đó. Như vậy đối với các nhà
quản trị cao có phạm vi quyền rộng rãi hơn các nhà quản trị thấp.
- Chi phí không kiểm soát được: đó là các khoản chi phí phát sinh ngoài
phạm vi kiểm soát của các cấp quản trị doanh nghiệp.
Sự nhận thức đâu là chi phí kiểm soát được và đâu là chi phí không kiểm soát được
tuỳ thuộc vào hai nhân tố cơ bản:
 Đặc điểm phát sinh chi phí trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh
của doanh nghiệp.
 Sự phân cấp quản lý trong cơ cấu tổ chức sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp.
Việc phân biệt chi phí kiểm soát được và không kiểm soát được giúp các nhà
quản trị hoạch định được ngân sách chi phí chính xác hơn, tránh rơi vào tình trạng
bị động về vốn và tài sản.
- Chi phí chênh lệch: các nhà quản trị thường phải đứng trước sự lựa chọn
các phương án khác nhau, quyết định sẽ hình thành chủ yếu dựa trên cơ sở chi phí
tồn tại từng phương án, nhưng thực tế lại có những chi phí có ở phương án này
nhưng lại chỉ có một phần hoặc không có ở phương án khác. Tất cả những sự thay
đổi đó hình thành nên chi phí chênh lệch và chính nó sẽ là căn cứ để người quản lý
lựa chọn phương án.

1313
- Chi phí cơ hội: đó là lợi ích bị mất đi vì chọn phương án và hành động này
thay cho phương án và hành động khác. Chi phí cơ hội không xuất hiện trên bất kỳ
một sổ sách kế toán nào nhưng lại là cơ sở rất cần thiết để lựa chọn một phương án
hành động này mà không phải là phương án hành động khác.
- Chi phí chìm: Là những chi phí phát sinh trong quá khứ mà doanh nghiệp
phải chịu và vẫn còn phải chịu trong tương lai bất kể doanh nghiệp lựa chọn phương
án kinh doanh nào.
II. Quản lý chi phí và các biện pháp quản lý chi phí trong doanh nghiệp

1. Khái niệm quản lý và quản lý chi phí
Quản lý đó là một quy trình gồm các bước: lập kế hoạch, tổ chức thực hiện
kế hoạch và kiểm soát tình hình thực hiện kế hoạch, trên cơ sở đó để ra quyết định.
Các quyết định này lại được cụ thể hoá vào giai đoạn tiếp theo.
Để thực hiện tốt quy trình hay công tác quản lý điều cốt lõi là phải có thông
tin. Thông tin là cơ sở để ra quyết định.
Quản lý chi phí là một trong những phạm trù nhỏ của quản lý nói chung, vì
vậy quản lý chi phí cũng không nằm ngoài quy trình của quản lý nói chung.
Nếu hiểu một cách đơn thuần, quản lý chi phí là việc nắm bắt đầy đủ thông
tin về chi phí, hiểu được “hành vi” hay bản chất, sự biến động của chi phí. Từ
những thông tin về chi phí, người quản lý sẽ phải tìm ra nguyên nhân phát sinh chi
phí (ở sản phẩm hay ở cơ cấu tổ chức, ở bộ phận bán hàng hay bộ phận quản lý…).
Trên cơ sở đó người quản lý sẽ đưa ra những quyết định ngắn hạn và dài hạn trong
kinh doanh. Các quyết định này lại làm phát sinh chi phí cho doanh nghiệp và cần
tiếp tục được quản lý. Như vậy, quá trình quản lý chi phí là một quá trình liên tục,
có hệ thống, đòi hỏi các biện pháp phù hợp với tính chất của chi phí, chiến lược, kế
hoạch kinh doanh của đơn vị.
Còn nếu hiểu theo quan điểm trên, quản lý chi phí cũng bao gồm ba bước:
lập kế hoạch chi phí, triển khai thực hiện kế hoạch, kiểm soát tình hình thực hiện kế
hoạch chi phí.
Lập kế hoạch chi phí là việc ước tính bao nhiêu nguồn lực cần sử dụng để
hoàn thành một sản phẩm, dịch vụ hay một dự án của doanh nghiệp. Dựa trên

1414
những số liệu từ những kỳ kinh doanh trước, nguồn lực hiện có của doanh nghiệp
và các thông tin liên quan khác, các yêu cầu về nguồn lực sẽ được thiết lập. Từ
những yêu cầu về nguồn lực đó, doanh nghiệp sẽ ước tính chi phí cần thiết cho mỗi
hoạt động.
Trên cơ sở lập kế hoạch chi phí, doanh nghiệp triển khai thực hiện theo kế
hoạch đã đề ra và bước cuối cùng của quy trình quản lý chi phí là kiểm soát chi phí.

Kiểm soát chi phí được thực hiện trong suốt quá trình thực hiện kế hoạch chi phí để
bảo đảm duy trì chi phí trong giới hạn đã đề ra hoặc có những điều chỉnh để kế
hoạch hợp lý hơn mà vẫn duy trì được hiệu quả. Để quản lý về chi phí thật tốt,
thông tin về chi phí phải được cập nhật đẩy đủ, kịp thời và chính xác. Thông tin chi
phí chính là nguồn nguyên liệu đầu vào rất quan trọng cho quá trình ra quyết định
của doanh nghiệp bởi hầu hết các quyết định của doanh nghiệp ở trong nhiều ngành
như là các quyết định về định giá bán sản phẩm, quyết định tự sản xuất hay mua
ngoài, quyết định mở rộng hay thu hẹp sản xuất, quyết định đầu tư cho một dự án
mới…đều liên quan đến chi phí. Chính vì vậy việc tổ chức tập hợp để phân tích chi
phí chính xác, kịp thời sẽ đem lại hiệu quả cao cho công tác quản lý chi phí.
2. Nội dung và vai trò của quản lý chi phí
Từ khái niệm về chi phí, có thể thấy quản lý chi phí bao gồm những nội dung
cụ thể sau:
- Hạch toán đầy đủ chính xác các khoản chi phí phát sinh trong đơn vị nhằm
cung cấp thông tin cho các bộ phận có liên quan.
- Tiến hành phân tích và đánh giá tình hình chi phí phát sinh tại doanh
nghiệp. Trên cơ sở đó, đưa ra các biện pháp nhằm kiểm soát được chi phí, giảm
thiểu chi phí đồng thời vẫn đảm bảo được hiệu quả của hoạt động kinh doanh.
- Sử dụng thông tin về chi phí để kiểm soát tình hình tài sản, nguồn vốn của
doanh nghiệp, tránh tình trạng lãng phí, sử dụng tài sản sai mục đích và kém hiệu
quả. Đồng thời, các nhà quản lý sẽ sử dụng thông tin về chi phí để đánh giá hiệu
quả, hiệu năng của từng bộ phận, phòng ban, từng ngành hàng, từng thị trường để
đưa ra quyết định kinh doanh phù hợp.

1515
Với nội dung như trên, quản lý chi phí có vai trò đặc biệt trong hoạt động
kinh doanh của mỗi doanh nghiệp.
Quản lý chi phí không chỉ giúp phân tích và đánh giá các khoản mục chi phí
của doanh nghiệp mà từ đó còn chỉ ra được những mặt mạnh cũng như những thiếu
sót của doanh nghiệp trong từng thời kỳ. Quản lý chi phí còn giúp giám đốc hoạch

định chiến lược chi tiêu ngắn hạn và dài hạn của công ty dựa trên sự đánh giá tổng
quát cũng như từng khía cạnh cụ thể của các yếu tố chi phí có ảnh hưởng tới sự tồn
tại của công ty như: xác định chiến lược tài chính cho các chương trình, các dự án
của doanh nghiệp là mở rộng hay thu hẹp sản xuất…
Như vậy, quản lý tốt các khoản chi phí không những nâng cao hiệu quả kinh
doanh của doanh nghiệp, mang lại lợi nhuận cho các chủ sở hữu mà còn góp phần
quan trọng vào công tác quản lý tài sản, nguồn vốn và nguồn nhân lực của đơn vị.
Các bộ phận, phòng ban có thành tích trong việc cắt giảm chi phí sẽ được doanh
nghiệp đánh giá đúng mức, qua đó tạo động lực cho người lao động tham gia vào
quá trình liên tục nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh.
3. Các biện pháp quản lý chi phí
Như đã trình bày, để quản lý chi phí hiệu quả nhất, ngươì quản lý cần thu
thập đầy đủ những thông tin về chi phí. Càng biết và hiểu nhiều về chi phí trong
doanh nghiệp của mình, người quản lý càng dễ dàng trả lời được những câu hỏi liên
quan đến chi phí, đoán trước được khó khăn và kiểm soát được chi phí. Muốn vậy,
các doanh nghiệp phải có những biện pháp phù hợp với tính chất, chiến lược, kế
hoạch kinh doanh của doanh nghiệp và đảm bảo cung cấp thông tin chi phí kịp thời,
chính xác để xử lý.
3.1 Xây dựng định mức chi phí và lập dự toán ngân sách
3.1.1 Xây dựng định mức chi phí
Quản lý và kiểm soát các chi phí là rất cần thiết, nhưng làm thế nào để biết
doanh nghiệp đang quản lý những khoản chi đúng? Và nên giảm những khoản chi
này bao nhiêu là đủ, là hợp lý? Chính vì vậy, trong quản lý và kiểm soát chi phí cần
quyết định khoản nào cần chi rồi kiểm soát các khoản chi trong thực tế để đạt được
chi phí như định mức đã đề ra.

1616
Định mức chi phí (hay chi phí tiêu chuẩn) có liên quan đến từng đơn vị sản
phẩm cụ thể. Mỗi sảm phẩm chế tạo hay dịch vụ đều có một định mức phí.
Định mức chi phí là khoản chi phí được xác định trước bằng cách lập ra

những tiêu chuẩn gắn với từng trường hợp hay từng điều kiện việc làm cụ thể.
Định mức chi phí không những chỉ ra được một khoản chi phí dự kiến là bao
nhiêu mà còn xác định nên chi trong trường hợp nào.
*Công dụng của chi phí định mức
- Là cơ sở để doanh nghiệp lập dự toán hoạt động vì muốn lập dự toán chi
phí nguyên vật liệu phải có định mức nguyên vật liệu, chi phí nhân công phải có
định mức số giờ công.
- Giúp các nhà quản lý kiểm soát được hoạt động kinh doanh của doanh
nghiệp vì chi phí định mức là tiêu chuẩn, cơ sở để đánh giá.
- Gắn liền trách nhiệm của công nhân đối với việc sử dụng nguyên vật liệu
sao cho tiết kiệm.
Định mức chi phí có thể áp dụng cho mọi khoản chi ở doanh nghiệp, có thể
bao gồm:
- Chi phí lao động trực tiếp
- Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
- Chi phí chung (có thể là chi phí cố định hay chi phí biến đổi)
Lưu ý rằng chi phí luôn thay đổi vì vậy các định mức cần phải được xem xét
lại thường xuyên để đảm bảo tính hợp lý của chúng.
*Phương pháp xác định chi phí định mức
* Phương pháp kỹ thuật: Phương pháp này đòi hỏi sự kết hợp của các chuyên
gia kỹ thuật để nghiên cứu thời gian thao tác công việc nhằm mục đích xác định
lượng nguyên vật liệu và lao động hao phí cần thiết để sản xuất sản phẩm trong điều
kiện về công nghệ, khả năng hiện có và nguồn nhân lực hiện có tại doanh nghiệp.
* Phương pháp phân tích số liệu lịch sử: Xem lại giá thành đạt được ở những
thời kỳ trước như thế nào, tuy nhiên phải xem lại kỳ này có gì thay đổi và phải xem
xét những chi phí phát sinh những kỳ trước đã phù hợn hay chưa, nếu không hợp lý,
hợp lệ thì bỏ hay xây dựng lại.

1717
* Phương pháp điều chỉnh: Điều chỉnh chi phí định mức cho phù hợp với

điều kiện trong tương lai của doanh nghiệp.
*Hai loại định mức thường sử dụng là: Định mức lý tưởng và định mức
dự kiến
- Định mức lý tưởng dựa trên điều kiện làm việc hoàn hảo. Tuy nhiên, hiếm
khi có được điều kiện hoàn hảo, do những nguyên nhân nằm ngoài tầm kiểm soát
của chúng ta. Định mức lý tưởng có thể giúp ta thấy rõ những điểm khác biệt chính
nhưng đối với nhiều người định mức lý tưởng dễ gây nản lòng vì mục tiêu có thể
quá cao.
- Định mức dự kiến thường dễ áp dụng hơn. Đây là các định mức mang tính
thực tế,vì chúng cho phép một mức độ sai lệch chấp nhận khi thực hiện. Nếu như
đội ngũ công nhân được quản lý tốt và sẵn sàng hợp tác thì doanh nghiệp dễ đạt
được định mức dự kiến.
*Xây dựng định mức cho các loại chi phí sản xuất
- Xây dựng định mức chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: Định mức chi phí
nguyên vật liệu trực tiếp được xác định cả ở định mức mặt lượng và định mức mặt
giá.
Về mặt lượng nguyên vật liệu: Lượng nguyên vật liệu cần thiết để sản xuất một sản
phẩm, có cho phép những hao hụt bình thường.
Để sản xuất một sản phẩm thì định mức tiêu hao nguyên vật liệu là: Nguyên vật liệu
cần thiết để sản xuất một sản phẩm, hao hụt cho phép, lượng vật liệu tính cho sản
phẩm hỏng.
Về mặt giá nguyên vật liệu: Phản ánh giá cuối cùng của một đơn vị nguyên vật liệu
trực tiếp sau khi đã trừ đi mọi khoản chiết khấu thương mại, giảm giá hàng bán.
Định mức về giá nguyên vật liệu để sản xuất sản phẩm là:
- Giá mua (trừ đi các khoản chiết khấu thương mại, giảm giá hàng bán)
- Chi phí thu mua nguyên vật liệu
Như vậy ta có:
Định mức về chi phí nguyên vật liệu = Định mức lượng * Định mức giá
- Xây dựng định mức chi phí nhân công trực tiếp


1818
Định mức về giá một đơn vị thời gian lao động trực tiếp: bao gồm không chỉ mức
lượng căn bản mà còn bao gồm cả các khoản phụ cấp lương, bảo hiểm xã hội, bảo
hiểm y tế, kinh phí công đoàn của lao động trực tiếp. Định mức giá 1 giờ công lao
động trực tiếp ở một phân xưởng như sau:
- Mức lương căn bản một giờ
- Bảo hiểm xã hội
Định mức về lượng thời gian cho phép để hoàn thành 1 đơn vị sản phẩm. Có
thể xác định bằng 2 cách:
- Phương pháp kỹ thuật: Chia công việc theo nhiều công đoạn rồi kết hợp với
bảng thời gian tiêu chuẩn của những thao tác kỹ thuật để định thời gian chuẩn cho
từng công việc.
- Phương pháp bấm giờ
Về lượng thời gian để sản xuất 1 sản phẩm được xác định như sau:
Thời gian cần thiết để sản xuất 1 sản phẩm; Thời gian nghỉ ngơi, lau chùi máy; Thời
gian tính cho sản phẩm hỏng.
Như vậy ta có:
Định mức chi phí NCTT = Định mức lượng x Định mức giá
Đinh mức chi phí sản xuất chung
* Định mức biến phí sản xuất chung
Cũng được xây dựng theo định mức giá và lượng. Định mức giá phản ánh
biến phí của đơn giá chi phí sản xuất chung phân bổ. Định mức lượng, ví dụ thời
gian thì phản ánh số giờ của hoạt động được chọn làm căn cứ phân bổ chi phí sản
xuất chung cho 1 đơn vị sản phẩm
* Định mức định phí sản xuất chung
Được xây dựng tương tự như ở phần biến phí. Nhưng việc tách biến phí và
định phí nhằm mục đích phân tích và quản lý chi phí sản xuất chung sau này.
Từ cách xây dựng định mức trên ta có thể xây dựng phương trình hồi quy
dưới dạng tuyến tính thể hiện mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành nên chi phí sản
xuất, rồi sử dụng các kỹ thuật trong môn học kinh tế để giải bài toán này. Từ đó mà

việc phân tích được chính xác và chi tiết, xác định được những nhân tố trực tiếp làm

1919
ảnh hưởng đến sự biến động của chi phí, giúp nhà quản lý có nguồn thông tin chắc
chắn để có giải pháp kịp thời và hiệu quả trong quản lý chi phí.
3.1.2 Lập dự toán sản xuất kinh doanh
Trong xu thế hội nhập kinh tế thế giới hiện nay cùng với môi trường kinh
doanh biến đổi không ngừng, các doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển vững
chắc cần phải có chiến lược kinh doanh hợp lý, cần phải xây dựng những kế hoạch
cho tương lai và lường trước những khó khăn có thể gặp phải. Có như vậy đồng vốn
bỏ ra cho bất kỳ kế hoạch sản xuất nào mới đem lại hiệu quả cao. Vì vậy cụ thể hoá
kế hoạch sản xuất thành những con số chi tiết cụ thể thông qua lập dự toán sản xuất
kinh doanh là hết sức cần thiết.
Lập dự toán sản xuất kinh doanh có ý nghĩa to lớn trong hoạt động quản lý
doanh nghiệp nói chung và quản lý chi phí nói riêng:
- Cung cấp một cách hệ thống về tình hình chi phí từ đó có những hoạch định
phù hợp cho tương lai của doanh nghiệp.
- Xác định cụ thể các chỉ tiêu quản lý phù hợp với yêu cầu quản trị doanh
nghiệp và phù hợp với đặc điểm kinh doanh, trên cơ sở đó làm căn cứ để hệ thống
hoá thông tin chi phí nhằm đánh giá, kiểm soát các chi phí.
- Trên cơ sở lập dự toán chi phí cụ thể, việc quản lý từng khoản mục chi phí
sẽ trở nên chặt chẽ, lường hết được những khó khăn và những nhân tố ảnh hưởng
đến quá trình quản lý chi tiêu để có những điều chỉnh phù hợp.
- Là cơ sở cho việc phân tích tình hình biến động chi phí, xác định rõ nguyên
nhân khách quan cũng như chủ quan trong quá trình thực hiện dự toán. Từ đó thấy
được những mặt mạnh cần phát huy và những tồn tại cần khắc phục.
Dự toán có nhiều loại khác nhau để thích ứng với từng nhu cầu riêng rẽ và
từng hoàn cảnh cụ thể của doanh nghiệp. Trong cùng một dự toán, quá trình thực
hiện dự toán cũng có thể thay đổi. Như vậy dự toán có thể được phân loại theo
những tiêu thức như:

- Dự toán theo đơn vị đo lường (dự toán sản xuất kinh doanh, dự toán tài
chính…);

2020
- Dự toán theo phương pháp phân loại hoạt động (dự toán theo nguồn lực,
theo loại hoạt động…);
- Dự toán theo cách ứng xử của chi phí (Dự toán cố định, dự toán điều
chỉnh…);
Dưới đây là một quy trình dự toán sản xuất kinh doanh thường được sử dụng
ở các doanh nghiệp:
Sơ đồ 1 :Hệ thống dự toán chi phí sản xuất kinh doanh














Dự toán bán hàng (dự toán tiêu thụ): Là khâu quan trọng nhất trong lập dự
toán, nó quyết định và làm cơ sở để lập dự toán khác. Khâu này được thực hiện tại
bộ phận nghiệp vụ, marketing của doanh nghiệp. Dự toán mức doanh thu bán ra
được lập dựa trên cơ sở doanh thu kỳ trước, tình hình kinh tế và các chiến dịch xúc
tiến bán hàng của doanh nghiệp.

- Dự toán sản xuất bao gồm các dự toán nhỏ (Trong sơ đồ 1) như:
+ Dự toán số lượng sản xuất dự kiến số lượng phải sản xuất từ dự toán bán
hàng và mức tồn kho thành phẩm của doanh nghiệp;

2121
+ Dự toán nguồn lực sản xuất: Dự toán nguồn lực được huy động để hoàn
thành sản xuất;
Khi dự toán sản xuất đã được thiết lập cùng với những thông tin phụ trợ và sử
dụng định mức chi phí, có thể xác định được chi phí cho các nguồn lực cần huy động.
- Dự toán báo cáo kết quả kinh doanh: Từ tất cả những thông tin trên doanh
nghiệp có thể lập được dự toán báo cáo kết quả kinh doanh.
- Dựa vào các dự toán trên, doanh nghiệp có thể lập được báo cáo tài chính
dự kiến, dự toán dòng tiền của doanh nghiệp.
Bằng việc lập dự toán, các chi phí cho một dự án sẽ được dự tính trước. Việc dự
tính trước chi phí cho mỗi kế hoạch không những giúp doanh nghiệp chủ động
trong việc tìm nguồn vốn hỗ trợ kinh doanh, đánh giá tính khả thi của dự án trước
khi thực hiện mà còn là chuẩn mực để đánh giá hiệu quả chi phí. Chính vì vậy dự
toán được sử dụng phổ biến nhiều ở doanh nghiệp. Theo một số nghiên cứu, 90%
các doanh nghiệp ở Mỹ lập các dự toán tổng thể, ở Nhật là 93%, 95% ở Úc và
100% ở Anh và Hà Lan.
3.2. Xây dựng trung tâm quản lý chi phí
Nắm bắt kịp thời mọi nguồn phát sinh chi phí cũng như những nguyên nhân
gây ra chi phí để từ đó có những biện pháp cắt giảm chi phí luôn gắn với mục tiêu
tăng trưởng bền vững của doanh nghiệp là việc hết sức cần thiết trong quản lý chi
phí. Bằng cách xây dựng trung tâm quản lý chi phí doanh nghiệp có thể đáp ứng tốt
yêu cầu kiểm soát chi phí một trong các nội dung của quản lý chi phí.
3.2.1. Trung tâm quản lý chi phí
Trung tâm quản lý chi phí là nơi xác định, tập hợp chi phí và sau đó gắn nó
với một đơn vị tính phí. Mỗi doanh nghiệp cần xác định các đơn vị tính phí riêng
của mình. Hay nói cách khác một trung tâm quản lý chi phí là “điểm” tập hợp các

chi phí. Điểm ở đây có nghĩa là: một phòng ban trong một doanh nghiệp, một nơi
làm việc, một cái máy hay một dây chuyền may, một người, chẳng hạn nhân viên
bán hàng.
Việc phân chia chi phí ra thành nhiều trung tâm quản lý chi phí sẽ mang lại
những thuận lợi sau:

2222
- Cho phép thu thập thông tin về chi phí dễ dàng hơn;
- Cung cấp thông tin về chi phí phát sinh ở nhiều bộ phận khác nhau của
doanh nghiệp.
- Người quản lý của một trung tâm quản lý chi phí nào đó có thể được cấp
một khoản ngân sách và thông qua đó anh ta có thể kiểm soát được chi phí.
Việc xác định chi phí nằm trong trung tâm quản lý chi phí giúp xác định
được hiệu quả hoạt động của các bộ phận khác nhau trong doanh nghiệp cũng như
kiểm soát việc chi tiêu của từng phòng ban hay tổ nhóm. Ví dụ như trung tâm quản
lý chi phí có thể giúp nhà quản lý đánh giá hiệu quả của bộ phận săm lốp xe đạp để
từ đó quyết định liệu có nên tiếp tục tự làm săm lốp hay mua từ bên ngoài.
Việc thành lập các trung tâm chi phí không có nghĩa là phải lấp đầy toàn bộ
các bộ phận hoặc các phòng ban trong doanh nghiệp làm trung tâm quản lý chi phí.
Chỉ bộ phận nào muốn tính và kiểm soát chi phí hoạt động của một “điểm” nào đó
trong doanh nghiệp, thì mới thành lập trung tâm quản lý chi phí.
Nếu tập hợp chi phí theo đúng tên gọi của các trung tâm quản lý thì hệ thống
ghi chép sẽ trở nên phức tạp và khó theo dõi. Vì vậy chúng ta nên ghi tắt một cách
khoa học bằng hệ thống mã chi phí.
3.2.2. Mã chi phí
Có 2 loại mã chi phí:
- Một mã đặc biệt cho mỗi trung tâm quản lý chi phí dùng để xác định bất kỳ
khoản chi nào phát sinh trung tâm đó;
- Một mã đặc biệt cho mỗi loại chi phí hay nhóm các chi phí dù cho chúng
phát sinh ở bất kỳ nơi nào trong doanh nghiệp.

Bằng cách kết hợp mã số của các trung tâm quản lý chi phí và mã số của
từng loại chi phí, chúng ta có thể xác định đã chi hết bao nhiêu cho một khoản mục
chi phí cụ thể nào đó tại một trung tâm chi phí bất kỳ và cứ như vậy chi phí sẽ được
kiểm soát trong toàn doanh nghiệp. Điều này cho phép nhà quản lý quyết định cách
sử dụng tốt nhất các nguồn lực của doanh nghiệp.
Một hệ thống mã chi phí có ý nghĩa khi mọi người trong doanh nghiệp đều mô tả
giống nhau về mỗi loại chi phí phát sinh. Những thông tin về chi phí cần đơn giản và
trình bày theo cách đã được chuẩn hoá để có thể diễn giải và phân tích dễ dàng.

2323
Mã số chi phí cấu thành từ mã số trung tâm quản lý chi phí và mã số loại chi phí
cho phép chúng ta theo dõi các chi phí cho từng trung tâm quản lý chi phí. Vì vậy chúng
ta cải thiện được việc kiểm soát chi phí trong doanh nghiệp và quản lý chi phí sẽ hiệu quả
hơn khi chúng ta nắm chắc được từng nguyên nhân gây ra chi phí.
Cũng cần lưu ý rằng việc lựa chọn trung tâm quản lý chi phí phụ thuộc vào ý
định kiểm soát chi phí của nhà quản lý. Và không phải lúc nào kiểm soát chi phí
thông qua tất cả các bộ phận trong doanh nghiệp là phương pháp quản lý tốt nhất.
Tuỳ theo mục đích quản lý chi phí, doanh nghiệp có thể lựa chọn những bộ phận
liên quan và quan trọng nhất làm trung tâm quản lý chi phí.
Như vậy với việc xây dựng trung tâm quản lý chi phí, chúng ta có thể tập hợp
thông tin chi tiết về chi phí của từng đơn vị tính phí theo các nguồn gây ra chi phí và từ
đó dễ dàng hơn trong việc kiểm soát và quản lý chúng. Điều này cho phép quyết định
cách sử dụng tốt nhất các nguồn lực của doanh nghiệp hay cách tiết kiệm nguồn lực.
Có thể thấy qua trung tâm quản lý chi phí với hệ thống mã chi phí khoa học
chúng ta có thể dễ dàng hơn trong việc quản lý chi phí, kiểm soát được sự lãng phí
trong việc sử dụng tài sản của doanh nghiệp.
3.3. Phương pháp chi phí mục tiêu (Target Cost)
Đây là một trong những phương pháp quản lý chi phí hiện đại của Nhật Bản
được áp dụng ở nhiều nước phát triển. Không ai có thể phủ nhận sự thành công của
các Công ty Nhật Bản trên thương trường và một trong các lý do cho sự thành công

đó là: người Nhật luôn xem quản lý chi phí là một động cơ quan trọng cho sự thành
công của mình. Hầu hết các nhà sản xuất Nhật Bản đều nhấn mạnh đến chi phí mục
tiêu, coi đó là công cụ kiểm soát chi phí cơ bản và hiệu quả.
“Phương pháp chi phí mục tiêu là tổng thể các phương pháp, công cụ quản trị
cho phép đạt được mục tiêu chi phí và mục tiêu hoạt động ở giai đoạn thiết kế và kế
hoạch hoá sản phẩm mới. Phương pháp cũng cho phép cung cấp một cơ sở kiểm
soát ở giai đoạn sản xuất và bảo đảm các sản phẩm này đạt được mục tiêu lợi nhuận
đã được xác định phù hợp với chu kỳ sống của sản phẩm”.
Một điểm lưu ý trong định nghĩa này là chi phí mục tiêu liên quan đến khả
năng lợi nhuận của sản phẩm gắn với chu kỳ sống sản phẩm, một cách tiếp cận khác
biệt với các phương pháp truyền thống.
“Phương pháp chi phí mục tiêu là nỗ lực được thực hiện trong các giai đoạn
kế hoạch hoá và sản xuất sản phẩm nhằm đạt được mục tiêu chi phí đã được xác

2424
lập…mục tiêu là cho phép sản xuất ra các sản phẩm với mục tiêu lợi nhuận trong
suốt chu kỳ sống của sản phẩm”.
Như vậy, định nghĩa về phương pháp chi phí mục tiêu nhấn mạnh mục tiêu
cần phải đạt được và thời gian phân tích là chu kỳ sống của sản phẩm. Điều này làm
cho phương pháp chi phí mục tiêu khác với phương pháp chi phí theo định mức
truyền thống. từ đó chi phí mục tiêu trở thành một công cụ quản trị chi phí mà nhà
hoạch định chính sách hoạt động sử dụng trong các giai đoạn thiết kế và sản xuất để
cải tiến quá trình sản xuất, giảm chi phí sản xuất trong tương lai.
- Mô hình phƣơng pháp chi phí mục tiêu:





1



2


3

Sơ đồ 2: Quản trị chi phí theo Sakurai
Khái niệm Kaizen trong sơ đồ 3 có thể được hiểu như là sự xem xét cải tiến
không ngừng chi phí nhằm duy trì liên tục tỷ lệ chi phí/lợi nhuận ở mức tốt nhất.
Kaizen costing quan tâm đến nhận diện những cơ hội để cải tiến chi phí trong giai
đoạn chế tạo.
Phương pháp chi phí mục tiêu được bắt đầu bằng việc ước tính giá bán của
sản phẩm. Giá bán ước tính dựa vào công dụng và thuộc tính của sản phẩm, các đối
thủ cạnh tranh trên thị trường. Trên cơ sở lợi nhuận mong đợi, doanh nghiệp phải
xác định chi phí sản xuất và tiêu thụ có thể chấp nhận để tiến hành sản xuất sản
phẩm. Chi phí mục tiêu được xác lập dựa vào chi phí có thể chấp nhận và chi phí

×