Tải bản đầy đủ (.doc) (13 trang)

Quan hệ giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (120.79 KB, 13 trang )

Câu7 Quan hệ giữa TTXH và YT XH
1. Khái niệm TTXH
TTXH là sinh hoạt VC và những điều kiện sinh hoạt VC của XH. Trong
những quan hệ XH vật chất, hai loại quan hệ cơ bản là quan hệ giữa người với tự
nhiên và quan hệ VC giữa người với người.
TTXH được nghiên cứu với tính cách vừa là đời sống VC vừa là những
quan hệ VC giữa người với người. Theo ý nghĩa đó thì TTXH không phụ thuộc
vào YTXH và YTXH không bao quát được toàn bộ TT XH.
TTXH gồm các yếu tố cơ bản sau: điều kiện tự nhiên (trước hết là hoàn
cảnh địa lý), dân số và mật độ dân số, phương thức sản xuất vật chất. Trong ba
yếu tố cơ bản đó thì phương thức sản xuất VC là yếu tố cơ bản nhất. Như vậy,
TTXH là mặt VC XH. Mỗi giai đoạn phát triển của loài người có một đời sống
VC riêng - một TTXH riêng. Mặt khác, các yếu tố của TTXH thường xuyên
thay đổi nên TTXH có tính lịch sử.
2. Khái niệm YTXH
a) Định nghĩa
YTXH là mặt tinh thần của đời sống XH, bao gồm toàn bộ những quan
điểm, tư tưởng cùng những tình cảm, tâm trạng, của những cộng đồng XH,
nảy sinh từ TTXH và phản ánh TTXH trong những giai đoạn phát triển nhất
định.
- Cần thấy rõ sự khác nhau tương đối giữa YTXH và YT cá nhân. YT của cá
nhân đều phản ánh TTXH với mức độ khác nhau. Do đó, nó không thể không
mang tính XH. Song YT cá nhân không phải bao giờ cũng thể hiện quan điểm tư
tưởng, tình cảm phổ biến của một cộng đồng, một tập đoàn XH, một thời đại
XH nhất định.
YTXH và YT cá nhân tồn tại trong mối liên hệ hữu cơ, biện chứng với
nhau, thâm nhập vào nhau và làm phong phú nhau.
b) Kết cấu
Lĩnh vực tinh thần của đời sống XH có cấu trúc hết sức phức tạp. Có thể
tiếp cận kết cấu của YTXH từ những phương diện khác nhau.
Theo nội dung và lĩnh vực phản ánh đời sống XH, YTXH bao gồm các


hình thái khác nhau: YT chính trị, YT pháp quyền, YT đạo đức, YT tôn giáo,
YT thẩm mỹ, triết học, Theo trình độ phản ánh có thể phân biệt YTXH thông
thường và YT lý luận.
YTXH thông thường là toàn bộ những tri thức, những quan niệm của
những con người trong một cộng đồng người nhất định, được hình thành một
cách trực tiếp từ hoạt động thực tiễn hàng ngày, chưa được hệ thống hóa, khái
quát hóa thành lý luận. Trong YTXH thông thường, tâm lý XH là bộ phận rất
quan trọng. YTXH thông thường, thường phản ánh sinh động, trực tiếp nhiều
mặt cuộc sống hàng ngày của con người, thường xuyên chi phối cuộc sống đó.
YT thông thường tuy là trình độ thấp so với YT lý luận, nhưng những tri thức
kinh nghiệm phong phú đó có thể trở thành tiền đề quan trọng cho sự hình thành
các lý thuyết XH.
YT lý luận là những tư tưởng, quan điểm đã được hệ thống hóa, khái quát
hóa thành các học thuyết XH, được trình bày dưới dạng những khái niệm, phạm
trù, quy luật. YT lý luận (lý luận khoa học) có khả năng phản ánh hiện thực
khách quan một cách khái quát, sâu sắc và chính xác, vạch ra các mối liên hệ
bản chất của các sự vật và hiện tượng. YT lý luận đạt trình độ cao và mang tính
hệ thống tạo thành các hệ tư tưởng.
Quan hệ giữa tâm lý XH và hệ tư tưởng.
Tâm lý XH bao gồm toàn bộ tình cảm, ước muốn, tâm trạng, tập quán của
con người, của một bộ phận XH hoặc của toàn XH hình thành dưới ảnh hưởng
trực tiếp của đời sống hàng ngày của họ và phản ánh đời sống đó.
Đặc điểm của tâm lý XH là phản ánh một cách trực tiếp điều kiện sinh sống
hàng ngày của con người, là sự phản ánh có tính chất tự phát, thường ghi lại
những mặt bề ngoài của TT XH. Nó không có khả năng vạch ra đầy đủ, rõ ràng,
sâu sắc bản chất các mối quan hệ XH của con người.
Những quan niệm của con người ở trình độ tâm lý XH còn mang tính kinh
nghiệm, chưa được thể hiện về mặt lý luận, yếu tố trí tuệ đan xem với yếu tố
tình cảm. Tuy nhiên, không thể phủ nhận vai trò quan trọng của tâm lý XH trong
sự phát triển của YT XH. C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin và Hồ Chí Minh rất

coi trọng việc nghiên cứu trạng thái tâm lý XH của nhân dân để hiểu nhân dân,
giáo dục nhân dân, đưa nhân dân tham gia tích cực, tự giác vào cuộc đấu tranh
cho một XH tốt đẹp.
Hệ tư tưởng là trình độ nhận thức lý luận về TT XH, là hệ thống những
quan điểm, tư tưởng (chính trị, triết học, đạo đức, nghệ thuật, tôn giáo), kết quả
của sự khái quát hóa những kinh nghiệm XH. Hệ tư tưởng được hình thành một
cách tự giác nghĩa là tạo ra bởi các nhà tư tưởng của những giai cấp nhất định và
được truyền bá trong XH.
Cần phải phân biệt hệ tư tưởng khoa học và hệ tư tưởng không khoa học.
Hệ tư tưởng khoa học phản ánh chính xác, khách quan các mối quan hệ VC của
XH. Hệ tư tưởng không khoa học tuy cũng phản ánh các mối quan hệ VC của
XH, nhưng dưới một hình thức sai lầm, hư ảo hoặc xuyên tạc.
Với tính cách là một bộ phận của YT XH, hệ tư tưởng ảnh hưởng lớn đến
sự phát triển của khoa học. Lịch sử các khoa học tự nhiên đã cho thấy tác dụng
quan trọng của hệ tư tưởng, đặc biệt là tư tưởng triết học đối với quá trình khái
quát những tài liệu khoa học.
Tâm lý XH và hệ tư tưởng XH tuy là hai trình độ, hai phương thức phản
ánh khác nhau của YT XH, nhưng có mối quan hệ tác động qua lại với nhau,
chúng có cùng một nguồn gốc là TT XH, đều phản ánh TT XH. Tâm lý XH tạo
điều kiện thuận lợi cho các thành viên giai cấp tiếp thu hệ tư tưởng của giai cấp.
Mối liên hệ chặt chẽ giữa hệ tư tưởng (đặc biệt là tư tưởng khoa học tiến bộ) với
tâm lý XH, với thực tiễn cuộc sống sinh động và phong phú sẽ giúp cho hệ tư
tưởng XH, cho lý luận bớt xơ cứng, bớt sai lầm. Trái lại hệ tư tưởng, lý luận
XH, gia tăng yếu tố trí tuệ cho tâm lý XH. Hệ tư tưởng khoa học thúc đẩy tâm lý
XH phát triển theo chiều hướng đúng đắn, lành mạnh có lợi cho tiến bộ XH. Hệ
tư tưởng phản khoa học, phản động kích thích những yếu tố tiêu cực của tâm lý
XH phát triển.
Tuy nhiên, hệ tư tưởng không ra đời trực tiếp từ tâm lý XH, không phải là
sự biểu hiện trực tiếp của tâm lý XH.
Bất kỳ tư tưởng nào khi phản ánh các mối quan hệ đương thời thì đồng thời

cũng kế thừa những học thuyết XH, những tư tưởng và quan điểm đã tồn tại
trước đó. Thí dụ, hệ tư tưởng tôn giáo thời trung cổ ở Tây Âu thể hiện lợi ích
của giai cấp phong kiến, nhưng lại ra đời trực tiếp từ những tư tưởng triết học
duy tâm có từ thời cổ đại và những tư tưởng của đạo Cơ đốc thời kỳ đầu Công
nguyên. Hệ tư tưởng Mác - Lênin cũng không trực tiếp ra đời từ tâm lý XH của
giai cấp công nhân lúc đó đang tự phát đấu tranh chống giai cấp tư sản, mà là sự
khái quát lý luận từ tổng số những tri thức của nhân loại, từ những kinh nghiệm
của cuộc đấu tranh giai cấp của giai cấp công nhân, đồng thời kế thừa trực tiếp
các học thuyết kinh tế - XH và triết học vào cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX
Như vậy, hệ tư tưởng XH liên hệ hữu cơ với tâm lý XH, chịu sự tác động
của tâm lý XH, nhưng nó không phải đơn giản là sự "cô đặc" của tâm lý XH.
c) Tính giai cấp của YT XH.
Trong XH có giai cấp, các giai cấp có những điều kiện sinh hoạt VC khác
nhau, những lợi ích khác nhau do địa vị XH của mỗi giai cấp quy định, do đó,
YTXH của các giai cấp có nội dung và hình thức phát triển khác nhau hoặc đối
lập nhau.
Tính giai cấp của YTXH biểu hiện ở tâm lý XH cũng như ở hệ tư tưởng.
Về mặt tâm lý XH, mỗi giai cấp đều có tình cảm, tâm trạng, thói quen riêng, có
thiện cảm hay ác cảm với tập đoàn XH này hoặc tập đoàn XH khác. ở trình độ
hệ tư tưởng thì tính giai cấp của YTXH biểu hiện sâu sắc hơn nhiều. Trong XH
có đối kháng giai cấp bao giờ cũng có những quan điểm tư tưởng hoặc những hệ
tư tưởng đối lập nhau: tư tưởng của giai cấp bóc lột và giai cấp bị bóc lột, của
giai cấp thống trị và giai cấp bị trị. Những tư tưởng thống trị của một thời đại
bao giờ cũng là tư tưởng của giai cấp thống trị về kinh tế và chính trị ở thời đại
đó.
Nếu hệ tư tưởng của giai cấp bóc lột thống trị ra sức bảo vệ địa vị của giai
cấp đó thì hệ tư tưởng của giai cấp bị trị, bị bóc lột thể hiện nguyện vọng và lợi
ích của quần chúng lao động chống lại XH người bóc lột người, xây dựng một
XH công bằng không có áp bức bóc lột.
Chủ nghĩa Mác - Lênin là hệ tư tưởng khoa học và cách mạng của giai cấp

công nhân, ngọn cờ giải phóng của quần chúng bị áp bức, bóc lột, phản ánh tiến
trình khách quan của sự phát triển lịch sử. Hệ tư tưởng Mác - Lênin đối lập với
hệ tư tưởng tư sản - hệ tư tưởng bảo vệ lợi ích của giai cấp tư sản, bảo vệ chế độ
người bóc lột người. Cuộc đấu tranh giai cấp giữa giai cấp tư sản và giai cấp vô
sản hàng thế kỷ nay diễn ra gay gắt trên tất cả các lĩnh vực, trong đó có lĩnh vực
hệ tư tưởng.
Trong điều kiện XH ngày nay, cuộc đấu tranh giai cấp trên lĩnh vực YT hệ
vẫn đang tiếp tục diễn ra. Trước những khó khăn và thử thách trên con đường
phát triển của chủ nghĩa XH, các thế lực thù địch đang ra sức tiến công vào chủ
nghĩa Mác - Lênin, muốn phủ nhận, xoá bỏ nó. Do vậy bảo vệ và phát triển chủ
nghĩa Mác - Lênin trong điều kiện thế giới ngày nay, là một nhiệm vụ quan
trọng của cuộc đấu tranh vì mục tiêu độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa XH
của nhân dân ta và nhân dân tiến bộ trên thế giới nói chung.
Khi khẳng định tính giai cấp của YT XH, chủ nghĩa duy vật lịch sử đồng
thời còn cho rằng, YT của các giai cấp trong XH có sự tác động qua lại với
nhau. Trong XH có áp bức giai cấp, các giai cấp bị trị do bị tước đoạt tư liệu sản
xuất, phải chịu sự áp bức về VC nên không tránh khỏi bị áp bức về tinh thần,
không tránh khỏi chịu ảnh hưởng tư tưởng của giai cấp thống trị, bóc lột. C.Mác
và Ph.Ăngghen viết: "Giai cấp nào chi phối những tư liệu sản xuất VC thì cũng
chi phối luôn cả những tư liệu sản xuất tinh thần, thành thử nói chung tư tưởng
của những người không có tư liệu sản xuất tinh thần cũng đồng thời bị giai cấp
thống trị đó chi phối". Tuy nhiên, mức độ ảnh hưởng của tư tưởng giai cấp
thống trị đối với XH tùy thuộc vào trình độ phát triển YT cách mạng của giai
cấp bị trị.
Không những giai cấp bị trị chịu ảnh hưởng tư tưởng của giai cấp thống trị,
mà trái lại giai cấp thống trị cũng chịu ảnh hưởng tư tưởng của giai cấp bị trị.
Đặc biệt ở thời kỳ đấu tranh cách mạng phát triển mạnh, thường thấy một số
người trong giai cấp thống trị, nhất là những trí thức tiến bộ từ bỏ giai cấp xuất
thân của mình chuyển sang hàng ngũ giai cấp cách mạng, chịu ảnh hưởng tư
tưởng của giai cấp đó. Một số người còn trở thành nhà tư tưởng của giai cấp

cách mạng.
YT cá nhân trong XH có phân chia giai cấp, về bản chất, là biểu hiện mức
độ này hay mức độ khác YT giai cấp, do địa vị và những điều kiện sinh hoạt VC
chung của giai cấp quyết định. Nhưng mỗi cá nhân lại có những hoàn cảnh sinh
sống riêng như hoàn cảnh giáo dục, trường đời mà họ trải qua, ảnh hưởng tư
tưởng chính trị và tư tưởng khác do họ tiếp thu được khi sống trong môi trường
thân cận (gia đình, bạn bè, đồng nghiệp), v.v Tất cả những cái đó làm cho YT
của mỗi người vừa biểu hiện YT giai cấp vừa mang những đặc điểm cá nhân, tạo
thành những cá tính và nhân cách riêng của cá nhân, làm cho thế giới tinh thần
của cá nhân này khác với thế giới tinh thần của những cá nhân khác cùng giai
cấp.
Tuy nhiên, quá nhấn mạnh những điều kiện sinh hoạt của cá nhân, thổi
phồng mặt cá nhân trong YT của con người sẽ dẫn tới hiểu sai bản chất của YT
cá nhân. Vì vậy, khi đánh giá các hiện tượng YT trong XH có giai cấp phải nắm
vững mối quan hệ biện chứng giữa YT giai cấp và YT cá nhân.
Trong XH có giai cấp, YTXH không chỉ mang dấu ấn của những điều kiện
sinh hoạt VC của giai cấp, mà còn phản ánh những điều kiện sinh hoạt chung
của dân tộc; những điều kiện lịch sử, kinh tế, chính trị, văn hóa, XH, điều kiện
tự nhiên hình thành trong quá trình phát triển lâu dài của dân tộc. Vì vậy, trong
YT XH, ngoài tâm lý và hệ tư tưởng XH của giai cấp, còn bao gồm tâm lý dân
tộc, tình cảm, ước muốn, tập quán, thói quen, tính cách, v.v. của dân tộc, phản
ánh những điều kiện sinh hoạt chung của dân tộc, thấm sâu vào mọi lĩnh vực đời
sống tinh thần của dân tộc, truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác tạo thành truyền
thống dân tộc.
Tâm lý dân tộc tuy phản ánh những điều kiện sinh hoạt chung của dân tộc
và mang tính chất toàn dân tộc, nhưng có mối liên hệ hữu cơ với YT giai cấp.
Giai cấp cách mạng tiến bộ phát huy những giá trị tinh thần của dân tộc, ngược
lại những tư tưởng giai cấp phản động mâu thuẫn sâu sắc với các giá trị đó.
Giai cấp công nhân được vũ trang bằng hệ tư tưởng Mác - Lênin luôn luôn
quan tâm sâu sắc đến việc bảo vệ và phát triển những truyền thống văn hóa tốt

đẹp của dân tộc.
3. Quan hệ biện chứng giữa TTXH và YTXH
a) Vai trò quyết định của TTXH đối với YT XH.
Công lao to lớn của C.Mác và Ph.Ăngghen là phát triển chủ nghĩa duy vật
đến đỉnh cao, xây dựng quan điểm duy vật về lịch sử và lần đầu tiên giải quyết
một cách khoa học vấn đề sự hình thành và phát triển của YT XH. Các ông đã
chứng minh rằng, đời sống tinh thần của XH hình thành và phát triển trên cơ sở
của đời sống vật chất, rằng không thể tìm nguồn gốc của tư tưởng, tâm lý XH
trong bản thân nó, nghĩa là không thể tìm trong đầu óc con người mà phải tìm
trong hiện thực vật chất. Sự biến đổi của một thời đại nào đó cũng sẽ không thể
giải thích được nếu chỉ căn cứ vào YT của thời đại ấy. C.Mác viết: " không thể
nhận định về một thời đại đảo lộn như thế căn cứ vào YT của thời đại ấy. Trái
lại, phải giải thích YT ấy bằng những mâu thuẫn của đời sống vật chất, bằng sự
xung đột hiện có giữa các lực lượng sản xuất XH và những quan hệ sản xuất
XH".
Những luận điểm trên đây đã bác bỏ quan niệm sai lầm của chủ nghĩa duy
tâm muốn đi tìm nguồn gốc của YT tư tưởng trong bản thân YT tư tưởng, xem
tinh thần, tư tưởng là nguồn gốc của mọi hiện tượng XH, quyết định sự phát
triển XH và trình bày lịch sử các hình thái YTXH tách rời cơ sở kinh tế - XH.
Chủ nghĩa duy vật lịch sử chỉ rõ rằng TTXH quyết định YT XH, YTXH là sự
phản ánh của TT XH, phụ thuộc vào TT XH. Mỗi khi TT XH, nhất là phương
thức sản xuất biến đổi thì những tư tưởng và lý luận XH, những quan điểm về
chính trị, pháp quyền, triết học, đạo đức, văn hóa, nghệ thuật, v.v. sớm muộn sẽ
biến đổi theo. Cho nên ở những thời kỳ lịch sử khác nhau nếu chúng ta thấy có
những lý luận, quan điểm, tư tưởng XH khác nhau thì đó là do những điều kiện
khác nhau của đời sống VC quyết định.
Quan điểm duy vật lịch sử về nguồn gốc của YTXH không phải dừng lại ở
chỗ xác định sự phụ thuộc của YTXH vào TT XH, mà còn chỉ ra rằng, TTXH
quyết định YTXH không phải một cách giản đơn trực tiếp mà thường thông qua
các khâu trung gian. Không phải bất cứ tư tưởng, quan niệm, lý luận hình thái

YTXH nào cũng phản ánh rõ ràng và trực tiếp những quan hệ kinh tế của thời
đại, mà chỉ khi nào xét đến cùng thì chúng ta mới thấy rõ những mối quan hệ
kinh tế được phản ánh bằng cách này hay cách khác trong các tư tưởng ấy.
Như vậy, triết học Mác - Lênin đòi hỏi phải có thái độ biện chứng khi xem
xét sự phản ánh TTXH của YT XH.
b) Tính độc lập tương đối của YT XH.
Khi khẳng định vai trò quyết định của TTXH đối với YT XH, và YTXH là
sự phản ánh của TT XH, phụ thuộc vào TT XH, chủ nghĩa duy vật lịch sử không
xem YTXH như một yếu tố thụ động, trái lại còn nhấn mạnh tác dụng tích cực
của YTXH đối với đời sống kinh tế - XH, nhấn mạnh tính độc lập tương đối của
YTXH trong mối quan hệ với TT XH. Tính độc lập tương đối đó biểu hiện ở
những điểm sau đây:
- YTXH thường lạc hậu so với TTXH
Lịch sử XH cho thấy, nhiều khi XH cũ đã mất đi, thậm chí đã mất rất lâu,
nhưng YTXH do XH đó sinh ra vẫn tồn tại dai dẳng. Tính độc lập tương đối này
biểu hiện đặc biệt rõ trong lĩnh vực tâm lý XH (trong truyền thống, tập quán,
thói quen, v.v.). V.I.Lênin cho rằng, sức mạnh của tập quán được tạo ra qua
nhiều thế kỷ là sức mạnh ghê gớm nhất.
Khuynh hướng lạc hậu của YTXH cũng biểu hiện rõ trong điều kiện của
chủ nghĩa XH. Nhiều hiện tượng YT có nguồn gốc sâu xa trong XH cũ vẫn tồn
tại trong XH mới như lối sống ăn bám, lười lao động, tệ tham nhũng, v.v
YTXH thường lạc hậu hơn so với TTXH là do những nguyên nhân sau đây:
Một là, sự biến đổi của TTXH do tác động mạnh mẽ, thường xuyên và trực
tiếp của những hoạt động thực tiễn của con người, thường diễn ra với tốc độ
nhanh mà YTXH có thể không phản ánh kịp và trở nên lạc hậu. Hơn nữa,
YTXH là cái phản ánh TTXH nên nói chung chỉ biến đổi sau khi có sự biến đổi
của TT XH.
Hai là, do sức mạnh của thói quen, truyền thống, tập quán cũng như do tính
lạc hậu, bảo thủ của một số hình thái YT XH.
Ba là, YTXH luôn gắn với lợi ích của những nhóm, những tập đoàn người,

những giai cấp nhất định trong XH. Vì vậy, những tư tưởng cũ, lạc hậu thường
được các lực lượng XH phản tiến bộ lưu giữ và truyền bá nhằm chống lại các
lực lượng XH tiến bộ.
Những YT lạc hậu, tiêu cực không mất đi một cách dễ dàng. Vì vậy, trong
sự nghiệp xây dựng XH mới phải thường xuyên tăng cường công tác tư tưởng,
đấu tranh chống lại những âm mưu và hành động phá hoại của những lực lượng
thù địch về mặt tư tưởng, kiên trì xoá bỏ những tàn dư YT cũ, đồng thời ra sức
phát huy những truyền thống tư tưởng tốt đẹp.
- YTXH có thể vượt trước TTXH
Khi khẳng định tính thường lạc hậu hơn của YTXH so với TT XH, triết học
mácxít đồng thời thừa nhận rằng, trong những điều kiện nhất định, tư tưởng của
con người, đặc biệt những tư tưởng khoa học tiên tiến có thể vượt trước sự phát
triển của TT XH, dự báo được tương lai và có tác dụng tổ chức, chỉ đạo hoạt
động thực tiễn của con người, hướng hoạt động đó vào việc giải quyết những
nhiệm vụ mới do sự phát triển chín muồi của đời sống VC của XH đặt ra.
Khi nói tư tưởng tiên tiến có thể đi trước TT XH, dự kiến được quá trình
khách quan của sự phát triển XH thì không có nghĩa nói rằng trong trường hợp
này YTXH không còn bị TTXH quyết định nữa. Tư tưởng khoa học tiên tiến
không thoát ly TT XH, mà phản ánh chính xác, sâu sắc TT XH.
- YTXH có tính kế thừa trong sự phát triển của mình
Lịch sử phát triển đời sống tinh thần của XH cho thấy rằng, những quan
điểm lý luận của mỗi thời đại không xuất hiện trên mảnh đất trống không mà
được tạo ra trên cơ sở kế thừa những tài liệu lý luận của các thời đại trước.
Do YT có tính kế thừa trong sự phát triển, nên không thể giải thích được
một tư tưởng nào đó nếu chỉ dựa vào những quan hệ kinh tế hiện có, không chú
ý đến các giai đoạn phát triển tư tưởng trước đó. Lịch sử phát triển của tư tưởng
cho thấy những giai đoạn hưng thịnh hoặc suy tàn của triết học, văn học, nghệ
thuật, v.v. nhiều khi không phù hợp hoàn toàn với những giai đoạn hưng thịnh
hoặc suy tàn của kinh tế. Tính chất kế thừa trong sự phát triển của tư tưởng là
một trong những nguyên nhân nói rõ vì sao một nước có trình độ phát triển

tương đối kém về kinh tế nhưng tư tưởng lại ở trình độ phát triển cao. Thí dụ,
nước Pháp thế kỷ XVIII có nền kinh tế phát triển kém nước Anh, nhưng tư
tưởng thì lại tiên tiến hơn nước Anh; so với Anh, Pháp thì nước Đức ở nửa đầu
thế kỷ XIX lạc hậu về kinh tế, nhưng đã đứng ở trình độ cao hơn về triết học.
Trong XH có giai cấp, tính chất kế thừa của YTXH gắn với tính chất giai
cấp của nó. Những giai cấp khác nhau kế thừa những nội dung YT khác nhau
của các thời đại trước. Các giai cấp tiên tiến tiếp nhận những di sản tư tưởng tiến
bộ của XH cũ để lại. Thí dụ, khi làm cách mạng tư sản chống phong kiến, các
nhà tư tưởng tiên tiến của giai cấp tư sản đã khôi phục những tư tưởng duy vật
và nhân bản của thời cổ đại. Ngược lại, những giai cấp lỗi thời và các nhà tư
tưởng của nó thì tiếp thu, khôi phục những tư tưởng, những lý thuyết XH phản
tiến bộ của những thời kỳ lịch sử trước. Giai cấp phong kiến các nước Tây Âu
trung cổ ở thời kỳ suy thoái đã ra sức khai thác triết học của Platôn và những
yếu tố duy tâm trong hệ thống triết học của Arixtốt thời kỳ cổ đại Hy Lạp, biến
chúng thành cơ sở triết học của các giáo lý đạo Thiên chúa; hoặc vào nửa sau thế
kỷ XIX và đầu thế kỷ XX các thế lực tư sản phản động đã phục hồi và phát triển
những trào lưu triết học duy tâm, tôn giáo dưới những cái tên mới như chủ nghĩa
Cantơ mới, chủ nghĩa Tômát mới, v.v. để chống lại phong trào cách mạng của
giai cấp công nhân và hệ tư tưởng của nó là chủ nghĩa Mác.
Quan điểm của triết học Mác - Lênin về tính kế thừa của YTXH có ý nghĩa
to lớn đối với sự nghiệp xây dựng nền văn hoá tinh thần của XH XH chủ nghĩa.
V.I. Lênin nhấn mạnh rằng, văn hoá XH chủ nghĩa cần phải phát huy những
thành tựu và truyền thống tốt đẹp nhất của nền văn hoá nhân loại từ cổ chí kim
trên cơ sở thế giới quan mácxít. Người viết: "Văn hoá vô sản phải là sự phát
triển hợp quy luật của tổng số những kiến thức mà loài người đã tích luỹ được
dưới ách thống trị của XH tư bản, XH của bọn địa chủ và XH của bọn quan
liêu".
Nắm vững quan điểm trên đây của triết học Mác - Lênin về tính kế thừa
của YTXH có ý nghĩa quan trọng đối với công cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay
trên lĩnh vực văn hoá, tư tưởng, Đảng ta khẳng định, trong điều kiện kinh tế thị

trường và mở rộng giao lưu quốc tế, phải đặc biệt quan tâm giữ gìn và nâng cao
bản sắc văn hoá dân tộc, kế thừa và phát huy truyền thống đạo đức, tập quán tốt
đẹp và lòng tự hào dân tộc. Tiếp thu tinh hoa các dân tộc trên thế giới, làm giàu
đẹp thêm nền văn hoá Việt Nam.
- Sự tác động qua lại giữa các hình thái YTXH trong sự phát triển của
chúng
Sự tác động qua lại giữa các hình thái YTXH làm cho ở mỗi hình thái YT
có những mặt, những tính chất không thể giải thích được một cách trực tiếp
bằng TTXH hay bằng các điều kiện vật chất.
Lịch sử phát triển của YTXH cho thấy, thông thường ở mỗi thời đại, tùy
theo những hoàn cảnh lịch sử cụ thể có những hình thái YT nào đó nổi lên hàng
đầu và tác động mạnh đến các hình thái YT khác. ở Hy Lạp cổ đại, triết học và
nghệ thuật đóng vai trò đặc biệt to lớn; còn ở Tây Âu trung cổ thì tôn giáo ảnh
hưởng mạnh mẽ đến mọi mặt tinh thần XH như triết học, đạo đức, nghệ thuật,
chính trị, pháp quyền. ở giai đoạn lịch sử sau này thì YT chính trị lại đóng vai
trò to lớn tác động đến các hình thái YTXH khác. ở Pháp nửa sau thế kỷ XVIII
và ở Đức cuối thế kỷ XIX, triết học và văn học là công cụ quan trọng nhất để
tuyên truyền những tư tưởng chính trị, là vũ đài của cuộc đấu tranh chính trị của
các lực lượng XH tiên tiến. Trong sự tác động lẫn nhau giữa các hình thái ý
thức, YT chính trị có vai trò đặc biệt quan trọng, YT chính trị của giai cấp cách
mạng định hướng cho sự phát triển theo chiều hướng tiến bộ của các hình thái
YT khác. Trong điều kiện của nước ta hiện nay, những hoạt động tư tưởng như
triết học, văn học nghệ thuật, v.v. mà tách rời đường lối chính trị đúng đắn của
Đảng sẽ không tránh khỏi rơi vào những quan điểm sai lầm, không thể đóng góp
tích cực vào sự nghiệp cách mạng của nhân dân.
- YTXH tác động trở lại TTXH
Chủ nghĩa duy vật lịch sử không những chống lại quan điểm duy tâm tuyệt đối
hóa vai trò của YT XH, mà còn bác bỏ quan điểm duy vật tầm thường, hay chủ
nghĩa duy vật kinh tế phủ nhận tác dụng tích cực của YTXH trong đời sống XH.
Ph.Ăngghen viết: "Sự phát triển của chính trị, pháp luật, triết học, tôn giáo, văn

học, nghệ thuật v.v. đều dựa trên cơ sở sự phát triển kinh tế. Nhưng tất cả chúng
cũng có ảnh hưởng lẫn nhau và ảnh hưởng đến cơ sở kinh tế".
Mức độ ảnh hưởng của tư tưởng đối với sự phát triển XH phụ thuộc vào
những điều kiện lịch sử cụ thể; vào tính chất của các mối quan hệ kinh tế mà
trên đó tư tưởng nảy sinh; vai trò lịch sử của giai cấp mang ngọn cờ tư tưởng;
vào mức độ phản ánh đúng đắn của tư tưởng đối với các nhu cầu phát triển XH;
vào mức độ mở rộng của tư tưởng trong quần chúng. Cũng do đó, ở đây cần
phân biệt vai trò của YT tư tưởng tiến bộ và YT tư tưởng phản tiến bộ đối với sự
phát triển XH.
Như vậy, nguyên lý của chủ nghĩa duy vật lịch sử về tính độc lập tương đối
của YTXH chỉ ra bức tranh phức tạp của lịch sử phát triển của YTXH và của đời
sống tinh thần XH nói chung; nó bác bỏ mọi quan điểm siêu hình, máy móc, tầm
thường về mối quan hệ giữa TTXH và YT XH.
c) ý nghĩa phương pháp luận
TTXH và YTXH là hai phương diện thống nhất biện chứng của đời sống
XH. Vì vậy công cuộc cải tạo XH cũ, xây dựng XH mới phải được tiến hành
đồng thời trên cả hai mặt TTXH và YT XH. Cần thấy rằng, thay đổi TTXH là
điều kiện cơ bản nhất để thay đổi YT XH; mặt khác, cũng cần thấy rằng không
chỉ những biến đổi trong TTXH mới tất yếu dẫn đến những thay đổi to lớn trong
đời sống tinh thần của XH mà ngược lại, những tác động của đời sống tinh thần
XH, với những điều kiện xác định cũng có thể tạo ra những biến đổi mạnh mẽ,
sâu sắc trong TT XH.
Quán triệt nguyên tắc phương pháp luận đó trong sự nghiệp cách mạng
XHCN ở nước ta, một mặt phải coi trọng cuộc cách mạng tư tưởng văn hoá,
phát huy vai trò tác động tích cực của đời sống tinh thần XH đối với quá trình
phát triển kinh tế và CNH, HĐH đất nước; mặt khác phải tránh tái phạm sai lầm
chủ quan duy ý chí trong việc xây dựng văn hoá, xây dựng con người mới. Cần
thấy rằng chỉ có thể thực sự tạo dựng được đời sống tinh thần của XH XHCN
trên cơ sở cải tạo triệt để phương thức sinh hoạt VC tiểu nông truyền thống và
xác lập, phát triển được một phương thức sản xuất mới trên cơ sở thực hiện

thành công sự nghiệp CNH, HĐH.
4. Vấn đề xây dựng YT mới XHCN ở nước ta hiện nay:
Khái niệm
YT mới là toàn bộ những quan điểm tư tưởng, tình cảm, tâm trạng mang
tính cách mạng, khoa học, đại diện cho lợi ích của giai cấp công nhân, nông dân
và cả dân tộc Việt nam nhằm tạo lập hình thái kinh tế XH mới, nhằm từng bước
phát triển con người tự do hoàn thiện
Vấn đề mang tính quy luật của tri thức hình thành và phát triển YT mới ở
nước ta hiện nay
- Diễn ra trên tất cả lĩnh vực đời sống tinh thần nhưng về cơ bản, lâu dài
triệt để phải xây dựng một TTXH mới, một phương thức sản xuất mới.
- Xây dựng YT mới ở nước ta hiện nay được thực hiện một cách tự giác và
diễn ra trên quy mô toàn XH. Hiện nay giáo dục YT mới theo phương châm
những giá trị YT mới phải phục vụ yêu cầu XH
- Xây dựng YT mới phải gắn liền với việc đấu tranh khắc phục, chống lại
những qaun điểm tư tưởng lỗi thời, tiêu cực lạc hậu.
- Xây dựng YT mới phải đảm bảo trên cơ sở kết hợp hài hoà các lợi ích cá
nhân, tập thể và quốc gia dân tộc.
- Xây dựng YT mới trên cơ sở kết hợp những giá trị dân tộc, thời đại,
truyền thống và hiện đại.

×