Tải bản đầy đủ (.pdf) (83 trang)

nghiên cứu nguyên nhân và biện pháp phòng chống bệnh lùn lụi hại lúa ở miền bắc

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.53 MB, 83 trang )



BỘ KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ BỘ NÔNG NGHIỆP& PTNT
VIỆN KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
VIỆN BẢO VỆ THỰC VẬT





BÁO CÁO TỔNG KẾT
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI




“NGHIÊN CỨU NGUYÊN NHÂN VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG
CHỐNG BỆNH LÙN LỤI HẠI LÚA Ở MIỀN BẮC”









Chủ trì để tài: TS Ngô Vĩnh Viễn








9043


HÀ NỘI, 12/2011
1


MỞ ĐẦU

Vụ lúa mùa năm 2009 ở các tỉnh phía Bắc xuất hiện hiện tượng lúa bị “lùn lụi” về
sau gọi là “Vàng lùn, lùn xoắn lá” gây thiệt hại đáng kể cho sản xuất lúa gạo. Triệu chứng
gây hại được ghi nhận đầu tiên ở Nghệ An vào tháng 8 năm 2009. Cây lúa có triệu chứng
xoắn lùn, không trỗ được bông. Triệu chứng này rất giống với triệu chứng bệnh vi-rút lúa
lùn xoắn lá đang gây hại ở các tỉnh Nam B
ộ. Tháng 9 và tháng 10 năm 2009, nhiều địa
phương ở các tỉnh phía Bắc ghi nhận tác hại của bệnh. Đến cuối tháng 11 đã ghi nhận 19
tỉnh có lúa bị bệnh trên diện tích 42.000 ha, 16 tỉnh ghi nhận bệnh gây hại trên ngô. Đầu
tháng 12 trên lúa chét tại huyện Duy Xuyên và Tiên Phước, tỉnh Quảng Nam đã ghi nhận
sự hiện diện của bệnh.
Hiện tượng lúa phát triển “bình thường” đến giai đoạn làm đòng nhưng không trỗ
bông đượ
c đã ghi nhận ở nhiều địa phương. Nhiều diện tích lúa bị mất trắng mà điển hình
là xã Hồng Thành, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An có tới 270 ha lúa gần như mất trắng.
Ngày 4 tháng 9 năm 2009 tại thành phố Vinh - Nghệ An, Bộ trưởng Cao Đức Phát đã giao
nhiệm vụ chẩn đoán bệnh hại mới này cho Viện Bảo vệ thực vật, thuộc Viện Khoa học
Nông nghiệp Việt Nam thực hi

ện.
Với sự nguy hiểm của bệnh và tốc độ lây lan nhanh để đáp ứng yêu cầu chỉ đạo bảo
vệ sản xuất lúa, bảo đảm an ninh lương thực, Viện Bảo vệ thực vật đã được Bộ Khoa học
và Công nghệ giao thực hiện đề tài:“Nghiên cứu nguyên nhân và biện pháp phòng
chống bệnh lùn lụi hại lúa ở miền Bắc”. Đề tài được thực hiện trong 2 n
ăm: 2010 và
2011 với mục tiêu:
1. Xác định được nguyên nhân gây bệnh lùn lụi hại lúa và phương thức lan truyền.
2. Xây dựng được quy trình tổng hợp phòng chống bệnh lùn lụi hại lúa có hiệu quả.
3. Xây dựng được mô hình thực nghiệm phòng chống hiệu quả bệnh lùn lụi hại lúa tại
các vùng có dịch.






2

CHƯƠNG 1
TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC
1.1. Những nghiên cứu ở nước ngoài
1.1.1. Nghiên cứu về bệnh vi-rút lúa
Theo tổng kết của Hibino (1996)[14] đã ghi nhận tổng số 14 loại vi-rút gây bệnh
trên lúa, trong đó tại châu Á có 12 loại, châu Phi 1 loại và châu Mỹ 1 loại. Gần đây, từ
năm 2001 đã ghi nhận thêm 1 bệnh mới, tạm gọi là bệnh lùn sọc đen phương nam
(Southern Rice Black-Streaked Dwarf Vi-rút, SRBSDV) do rầy lưng trắng (Sogatella
furcifera Horvath) làm môi giới truyền bệnh chính, rầy nâu nhỏ cũ
ng tham gia truyền bệnh
nhưng hiệu quả kém. Bệnh LSĐ-PN được ghi nhận đầu tiên ở tỉnh Quảng Đông và Hải

Nam năm 2001, sau lan rộng ra hầu khắp các tỉnh phía Nam và Đông Nam Trung Quốc
(Zhou et al., 2008; Zhang et al., 2008; và Wang et al., 2010)[46, 45, 41].
Bảng 1.1. Danh sách bệnh do vi-rút lúa đã ghi nhận trên thế giới và Việt Nam
TT Tên vi-rút Viết tắt TT Tên vi-rút Viết tắt
1
Rice Black-Streaked
Dwarf Virus
RBSDV 9
Rice Ragged Stunt Virus

RRSV

2
Rice Bunchy Stunt Virus
RBSV 10
Rice Stripe Necrosis Virus
RSNV
3
Rice Dwarf Virus
RDV 11
Rice Stripe Virus
RSV
4
Rice Gall Dwarf Virus
RGDV 12
Rice Transitory Yellowing Virus

(Synonyme: Rice yellow stunt
virus
RTYV


(TYSV)

5
Rice Giallume Virus
RGV 13
Rice Tungro Bacilliform &

Rice Tungro Spherical Virus

RTBV +
RTSV
6
Rice Grassy Stunt Virus

RGSV
14
Rice Yellow Mottle Virus
RYMV
7
Rice Hoja Blanca Virus
RHBV 15
Southern rice black-streaked
dwarf virus
SRBSDV

8
Rice Necrosis Mosaic
Virus
RNMV

Ghi chú: Các vi-rút đã ghi nhận ở Việt Nam được gạch chân (kết quả nghiên cứu của Viện BVTV)

Dịch bệnh vi-rút mỗi khi xảy ra thường để lại những hậu quả nghiêm trọng đến rất
nghiêm trọng, thường xảy ra luân phiên và tái bùng phát dịch sau 1 khoảng thời gian nhất
định. Dịch vi-rút hại lúa đầu tiên được ghi nhận tại Nhật Bản năm 1897 với bệnh lúa lùn
(RDV) vào năm 1903 với bệnh lúa sọc (RSV). Những năm tiếp sau đó, các loại vi-rút khác
lần lượt được ghi nhận, chủ yếu tập trung vào nh
ững năm 1950 đến 1980. Nguyên nhân
tạo nên bùng phát dịch và xu hướng gia tăng tần xuất cũng như sự rút ngắn khoảng cách
3

giữa các đợt dịch được tập trung nghiên cứu và thảo luận nhiều. Những năm đầu, khi mới
ghi nhận sự hiện diện của các bệnh do vi-rút, với điều kiện canh tác truyền thống như: sử
dụng các giống cổ xưa, năng suất thấp… thì các bệnh vi-rút thường xuất hiện ở nhiều nơi,
nhiều nước, nhưng mức độ thiệt hại thườ
ng thấp hoặc không đáng kể, rất ít tạo nên dịch
bệnh nặng nề. Chỉ đến gần đây, khi nền nông nghiệp phát triển với việc áp dụng các biện
pháp thâm canh cao, sử dụng nhiều giống mới năng suất cao nhưng cũng đồng thời mẫn
cảm với bệnh và côn trùng môi giới, việc tăng cường sử dụng dinh dưỡng vô cơ và thuốc
bảo vệ thực v
ật có nguồn gốc hoá học… đã khiến cho bệnh vi-rút bùng phát và lây lan
mạnh hơn (Bos, 1992)[9].
Theo tác giả Hibino, trong số các loại bệnh vi-rút ấy chỉ có 5 bệnh vi-rút gây hại
nghiêm trọng và phổ biến là: bệnh lúa lùn, bệnh vàng lá tạm thời, bệnh Tungro, bệnh lúa
cỏ và bệnh lúa lùn xoắn lá (Hibino, 1996)[14].
Bệnh lúa lùn (Rice Dwarf - RDV)
: Cây bị bệnh rất lùn, nhiều nhánh thành cụm cỏ,
lá nhỏ, ngắn, cứng và xanh nhạt, thỉnh thoảng có đốm gỉ sắt. Cây bị bệnh trỗ bông ít, bông
nhỏ, hạt lép và có màu nâu đậm. Cây bị bệnh không thấy có triệu chứng xuất hiện trước
khi trỗ bông mà thấy bệnh phát sinh trên lúa chét mọc sau khi thu hoạch. Bệnh này đã phát

hiện và ghi nhận vào năm 1897 tại Nhật Bản. Bệnh có thể gây thiệt hại tới 80 % nă
ng suất
lúa. Môi giới truyền bệnh là rầy xanh đuôi đen (Nephotettix cincticeps, N. Nigropictus và
một số loài Nephotettix spp.) và rầy điện quang (Recilia dorsalis) và nguy hiểm nhất là
mầm bệnh có thể được truyền qua trứng (Hibino, 1996)[14].
Bệnh vàng lá tạm thời (Rice Transitory Yellowing - RTYV)
: Cây bị bệnh có triệu
chứng như bệnh vàng lụi ở các tỉnh phía Bắc nước ta trong những năm 1960 – 1968
(Trung, 1985)[5]. Cây nhiễm bệnh bị lùn, lá bị vàng bắt đầu từ lá của những lá dưới. Trên
cây bị bệnh có những đốm rỉ sắt nhỏ màu nâu xuất hiện trên các lá biến màu. Sau khi bị
vàng lá nặng, cây bị bệnh có thể hồi phục và mọc thêm lá xanh mới, nhưng lá vàng lại
xuất hiện sau đó. Cây lúa nhi
ễm bệnh sớm thường không trỗ bông hoặc có thể trỗ nhưng
bông kém phát triển. Đôi khi bệnh gây thiệt hại từ 68 đến 75 % năng suất lúa. Môi giới
truyền bệnh là rầy xanh đuôi đen. Rầy có thể mang mầm bệnh nhưng không truyền qua
trứng (Hibino, 1996)[14].
Bệnh Tungro (Rice Tungro - RTBV & RTSV)
: Bệnh đã được ghi nhận gây hại ở
nhiều nước khác nhau như Philippines, Indonesia, Malaysia, Thái lan, Ấn Độ, Việt Nam
Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng bệnh xuất hiện khá sớm vào năm 1941 tại Philippines.
Trên giống lúa IR8, nhiễm bệnh ở giai đoạn mạ - 15 ngày tuổi, thì thiệt hại năng suất lên
tới 68%, nhưng nếu nhiễm bệnh ở giai đoạn 75 ngày tuổi thì thiệt hại khoảng 7 % năng
suấ
t thu hoạch. Môi giới truyền bệnh là Rầy xanh đuôi đen (Nephotettix malayanus, N.
nigropictus, N. parus và N. virescens) và rầy điện quang (Recilia dorsalis). Rầy có thể
mang mầm bệnh nhưng không truyền qua trứng (Trung, 1985; Hibino, 1996)[5, 14].
4

Bệnh lúa cỏ (Rice Grassy Stunt - RGSV): Bệnh gây hại ở rất nhiều nước như Thái
Lan, Ấn Độ, Philippines, Indonexia, Nhật Bản, Trung Quốc, Đài Loan, Campuchia, Việt

Nam Cây lúa bị bệnh lùn hẳn xuống, đẻ nhiều nhánh và lá mọc dựng đứng không bình
thường, lá ngắn và phiến lá hẹp, màu xanh vàng nhạt và thường có nhiều đốm nâu gỉ sắt
xuất hiện trên các lá biến vàng. Bệnh lúa cỏ đã ghi nhận gây hại đầu tiên ở Philippines vào
năm 1966 và sau đó ở Malaysia, Thái lan, Ấn
Độ Rầy nâu là môi giới truyền bệnh. Các
nhà khoa học ở Viện nghiên cứu lúa quốc tế chứng minh rằng giống lúa IR8 nhiễm bệnh ở
giai đoạn trước 30 ngày tuổi thiệt hại năng suất tới 69%, nhưng cây lúa bị nhiễm bệnh
muộn sau 60 ngày tuổi thì hầu như không ảnh hưởng đến năng suất lúa.Trên giống lúa IR8
bị bệnh ở giai đoạn 15 ngày tuổi chiều cao cây giảm 55 %, cây lúa bị
bệnh ở giai đoạn 75
ngày tuổi thì chiều cao cây chỉ giảm 1%. Vi-rút gây bệnh lúa cỏ là một thành viên thuộc
nhóm Tenuivirus. Tiểu thể vi-rút có dạng sợi vòng, rộng 6-8 mm, tạo nên bởi đến 4 phân
tử mạch đơn RNA mang điện dương và âm, vỏ bọc protein và enzym tái tổ hợp RNA-
polymerase (Hibino, 1996)[14].
Ở Việt Nam, cây lúa nhiễm bệnh lúa cỏ có biểu hiện triệu chứng còi cọc, đẻ nhiều
nhánh thấp và dựng đứng (trông giống nh
ư 1 bụi cỏ trong ruộng lúa), phiến lá hẹp có màu
xanh nhợt đến vàng nhợt. Triệu chứng khảm cũng có thể quan sát thấy trên cây lúa nhiễm
bệnh (Viễn et al., 2009)[8]. Những dòng vi-rút lúa cỏ gây triệu chứng lá màu vàng cam và
hiện tượng gây chết yểu đã được ghi nhận ở Đài Loan năm 1977, Thái Lan và Philippines
năm 1982-1983 và ở Ấn Độ năm 1984. Dòng vi-rút gây bệnh nặng đã xuất hiện ở Đài
Loan còn được gọi là vi-rút héo lùn (Rice Wilted Stunt Virus). Cây lúa nhiễm vi-rút lúa c

có khả năng sinh sản một loại protein đặc hiệu của vi-rút và có quan hệ huyết thanh gần
với protein tương tự sản sinh bởi cây lúa nhiễm vi-rút lúa sọc (RSV). Tế bào cây lúa
nhiễm vi-rút lúa cỏ chứa đựng vô số vi-rút thể sợi nằm trong nhân và tế bào chất, những
thể màng cũng chứa các thể sợi của vi-rút trong tế bào chất. Các thể ống tạo nên bởi
những thể sợi cùng kích thước, đường kính 18-25nm, có th
ể quan sát được trong hệ thống
mạch dẫn nhựa. Vi-rút lúa cỏ do rầy nâu làm môi giới truyền bệnh theo kiểu bền vững.

Vi-rút sẽ được nhân sinh khối trong cơ thể rầy nâu sau khi rầy đã trích hút lê cây lúa
nhiễm bệnh song không thể truyền qua trứng rầy. (Hibino, 1996)[14].
Rầy nâu - một trong những loại dịch hại nguy hiểm số 1 trên ruộng lúa ở các nước
châu Á, bên cạnh vai trò làm môi giới truyền bệnh vi-rút còn gây hại trực tiếp trên cây lúa
và thườ
ng gây hiện tượng “cháy rầy”. Nhìn chung những cá thể rầy nâu nhiễm vi-rút lúa
cỏ có vòng đời ngắn hơn cũng như có khả năng phát dục kém hơn so với những cá thể rầy
không mang bệnh. Có thể tạo nên một quần thể rầy nâu với khả năng truyền bệnh chủ yếu
bằng cách cho rầy nhiễm vi-rút giao phối với rầy khoẻ . Những tiểu thể tìm thấy trong mô
cây lúa nhiễm bệnh c
ũng được tìm thấy trong các mô mỡ và khí quản của rầy nâu nhiễm
bệnh. Vi-rút lúa cỏ trong tự nhiên chỉ lây nhiễm trên lúa. Nói cách khác, cây lúa trong tự
nhiên là ký chủ “ưa thích” của rầy nâu - môi giới truyền bệnh: rầy nâu mang vi-rút bay từ
5

những ruộng nhiễm bệnh trong vùng hoặc ở những nơi khác đến cánh đồng mới sạ (lúa
non), trích và truyền vi-rút cho cây lúa non (Hibino, 1996)[14].
Ở những vùng nhiệt đới, trên những cánh đồng trồng lúa quanh năm, rầy nâu và vi-
rút lúa cỏ thường là nguồn sẵn có trong tự nhiên. Ở những vùng khí hậu lạnh nơi mà cây
lúa không được trồng trong vụ đông (Ví dụ như Nhật Bản) thì nguồn rầy nâu xuất hiện
hàng năm là do di trú đến theo gió mùa từ nh
ững vùng lân cận. Rầy nâu là một trong số
các loại rầy môi giới có khả năng vượt biên giới, thậm chí vượt đại dương, mang theo vi-
rút lúa cỏ. Gốc rạ của cây lúa nhiễm bệnh và cây lúa dại là một nguồn tàng trữ vi-rút quan
trọng. Khi tỷ lệ nhiễm bệnh vi-rút lúa cỏ tăng cao, cây lúa còn chịu một mối đe dọa khác
gây nên, bên cạnh sự trích hút của rầy nâu, đó là sự cộng hưởng của vi-rút gây bệnh lùn
xo
ắn lá (Rice Ragged Stunt Vi-rút, RRSV) (Hibino, 1996)[14].
Các giống lúa kháng rầy nâu đã được sử dụng phổ biến ở châu Á. Trên những
giống này, tỷ lệ nhiễm bệnh là rất thấp đến không nhiễm. Tuy nhiên, quần thể rầy nâu sẽ

có thể vượt qua được tính kháng ấy của giống và chỉ sau 1 vài năm sử dụng rộng rãi khả
năng kháng rầy của giống lúa đó sẽ bị giảm dần hoặc bị phá vỡ
. Khi quần thể rầy nâu đã
gia tăng số lượng, trích hút và trú ngụ trong ruộng lúa, mặc dù có mang gene kháng bệnh,
nhưng giống lúa ấy cũng không còn thể hiện tính kháng vi-rút lúa cỏ nữa và triệu chứng
lúa cỏ lúc đó sẽ thậm chí biểu hiện rất nặng trên đồng ruộng. Ở một số nước khí hậu Á
nhiệt đới, đã có rất nhiều giống lúa kháng bệnh mang gene kháng vi-rút lúa cỏ được chọn
tạo t
ừ một dòng lúa dại Oryza nivara (Hibino, 1996)[14].
Thực tế cho thấy, dòng vi-rút gây bệnh nặng - còn được gọi là vi-rút lúa cỏ dòng 2
hay tungro-like (vì có triệu chứng lá màu vàng cam và xòe ngang), hiện diện ở Philippines
đã gây nhiễm nặng trên cả các giống lúa kháng. Vi-rút lúa cỏ hiện diện và gây hại ở Nam
và Đông Nam Á, Trung Quốc, Nhật Bản và Đài Loan. Tỷ lệ nhiễm bệnh do vi-rút lúa cỏ
rất cao ở Indonesia những năm 1970-1977; ở Philippines những năm 1973-1977 và 1982-
1983; ở Ấn Độ
, thành phố Kerala những năm 1973-1974 và 1981 và thành phố Tamil
Nadu những năm 1972 và 1984; ở thành phố Kyushu, Nhật Bản năm 1978. Từ năm 1984,
tỷ lệ nhiễm bệnh do vi-rút lúa cỏ là khá thấp ở khu vực châu Á. Mặc dù chưa được nghiên
cứu kỹ song có những nhận định cho rằng vi-rút lúa cỏ hiện diện với tỷ lệ thấp chính là do
sự biến đổi về khả năng lây truyền bệnh của quần thể r
ầy nâu. Ở Philippines, trước năm
1977 tỷ lệ rầy có khả năng truyền bệnh trong quần thể rầy đã được nhiễm vi-rút từ cây lúa
bị bệnh đạt từ 3-50% (Hibino, 1996)[14].
Bệnh lúa lùn xoắn lá (Rice Ragged Stunt - RRSV)
: Bệnh gây hại khá phổ biến ở
Việt Nam, Thái Lan, Indonesia, Philippines Cây lúa nhiễm RRSV biểu hiện triệu chứng
còi cọc, lá biến dạng không bình thường với triệu chứng rách mép lá xoắn đầu lá, gân lá
uốn vằn vèo hoặc hình thành u sần ở mặt dưới phiến lá hoặc mép ngoài bẹ lá. Những u sần
được hình thành do sự phát triển tăng cường về số lượng và kích thước của mô mạch dẫn
6


nhựa. Những cây lúa ở giai đoạn mạ hoặc mới sạ sau khi lây nhiễm RRSV, lá mới hình
thành sẽ biểu hiện triệu chứng điển hình sau 2 tuần và những lá mới sau đó chỉ biểu hiện
triệu chứng trung gian hoặc không còn triệu chứng rõ rệt. Ở giai đoạn trỗ, cây lúa tiếp tục
biểu hiện triệu chứng ở những lá non phía trên và lá đòng. Nhìn chung, cây bị bệnh ở giai
đoạ
n mới gieo sạ thường sẽ chết trước khi trỗ. Bị bệnh muộn hơn thì vẫn cho bông nhưng
bông nhỏ và ngắn, hạt lép nhiều. Vi-rút lúa lùn xoắn lá (RRSV) là thành viên thuộc nhóm
Oryzavirus, họ Reoviridae. Tiểu thể vi-rút có dạng hình đa diện, đường kính 50 nm, bộ
gene gồm 10 phân tử RNA mạch kép với 5 protein chính. (Viễn et al., 2009; Hibino,
1996)[8, 14].
Bệnh lúa lùn xoắn lá xuất hiện vào năm 1977 ở Philippines, Indonesia, Malaysia,
Thái lan và Việt Nam. Bệnh bùng phát ở các nước trồng lúa thuộc vùng Đông Nam Á
cùng v
ới bùng nổ của dịch rầy nâu đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến năng suất lúa ở các
nước này. Giống lúa IR36 kháng rầy nâu được IRRI tuyển chọn và đưa vào sản xuất đã
góp phần hạn chế tác hại của dịch bệnh ở nhiều quốc gia trong đó có Việt Nam. Môi giới
truyền bệnh là rầy nâu (N. Lugens), truyền theo kiểu bền vững và không truyền qua trứng
rầy. Ngoài ra, 2 loài rầ
y nâu khác (N. Bakeri và N. Muiri), gây hại chủ yếu trên cỏ, cũng
tham gia truyền bệnh (Hibino, 1996)[14].
Trong cây lúa nhiễm bệnh, RRSV tập trung ở mạch dẫn nhựa (libe) và các u sần
trên lá và bẹ lá. Những tế bào nhiễm chứa đựng hàm lượng lớn các vi bào và vô số vi thể
của vi-rút. RRSV do rầy nâu và làm môi giới truyền bệnh theo cơ chế bền vững. Vi-rút sẽ
được nhân lên trong cơ thể rầy nâu sau khi rầy trích hút trên cây lúa bệnh nhưng sẽ không
truyền qua tr
ứng rầy. Trong tế bào của rầy mang vi-rút, RRSV tập trung tại hoặc xung
quanh cụm vi-rút (viroplasm) hoặc sắp xếp trong các thể ống trong tế bào chất. Các thí
nghiệm lây nhiễm bệnh nhân tạo sử dụng rầy nâu cho thấy RRSV gây nhiễm trên rất nhiều
cây trồng họ hoà thảo (Viễn et al., 2009; Hibino, 1996)[8, 14].

Tuy nhiên, ngoài tự nhiên, sự lây nhiễm của RRSV trên cỏ dại và các loại cây ngũ
cốc khác là không đáng kể hoặc không quan sát thấy, bởi vì như đã nhận
định trong phần
mô tả bệnh lúa cỏ, cây lúa ngoài tự nhiên là ký chủ “ưa thích” của rầy nâu. Ở những vùng
nhiệt đới thuộc châu Á, vi-rút lúa LXL và rầy nâu thường là nguồn sẵn có trong tự nhiên ở
những khu vực trồng lúa quanh năm. Rầy nâu mang bệnh được coi là nguồn vi-rút ban
đầu. Rầy trưởng thành có cánh di chuyển từ ruộng lúa bị bệnh sang những ruộng mới gieo
cấy lây nhiễm và lan truyền vi-rút. Những giống lúa mang gene kháng rầy nâu đã và đang
đượ
c sử dụng rộng rãi ở các nước châu Á. Những giống trước đây ít hoặc không nhiễm vi-
rút lúa LXL thì sau một vài năm sử dụng cũng trở nên nhiễm nặng một khi mật độ quần
thể rầy nâu tăng cao, nhất là ngay từ đầu vụ (Hibino, 1996)[14].
Bệnh vi-rút lúa LXL đã xảy ra và được ghi nhận đầu tiên năm 1977 ở Indonesia,
Malaysia, Philippines và Thái Lan; năm 1978 bệnh lại xuất hiện và gây hại ở Trung Quốc,
7

Ấn Độ và Srilanka và Đài Loan; và gần đây nhất, năm 1979 ở Nhật Bản. Nguồn gốc xuất
hiện của vi-rút lúa LXL vẫn chưa rõ ràng. Ở các nước đã ghi nhận sự hiện diện của bệnh,
vi-rút lúa LXL thường rất nhanh hình thành dịch. Tỷ lệ nhiễm vi-rút lúa LXL rất cao đã
từng ghi nhận ở Indonesia và Philipines vào những năm 1977-1981; ở Thái Lan những
năm 1980-1982 và 1989-1990. Tỷ lệ nhiễm bệnh RRSV từ sau năm 1982 luôn thấ
p, trừ
Thái Lan và Việt Nam. Vi-rút lúa LXL nhìn chung hiện diện với tỷ lệ nhiễm bệnh thấp
trên ruộng lúa ở các nước châu Á (Hibino, 1996)[14].
Ở những vùng nhiệt đới, mật độ quần thể rầy nâu hay tăng cao bất thường dẫn tới
hiện tượng lúa lùn xoắn lá bùng phát thành dịch ở nhiều nước trong khu vực này vào
những năm cuối thập kỷ 70. Hiện tượng lúa lùn xoắn lá đã được quan sát thấy trong nhiều

m song không được ghi nhận và các nhà khoa học lại cho rằng dường như không phải
do môi giới rầy nâu lan truyền tới, mà họ hoài nghi rằng: vi-rút lúa LXL có thể đã trú ngụ

ở một khu vực nào đó, nơi mà mật độ quần thể của môi giới truyền bệnh khá thấp, vào
những năm đầu của thập kỷ 70. Bởi vì rầy nâu là một loài côn trùng môi giới có khả năng
di chuyển vượt đại dương, nên rất có thể
vi-rút lúa LXL đã từ những khu vực trú ngụ ấy
theo rầy nâu phát tán đi rất xa trong khoảng thời gian 1977-1979 Á (Hibino, 1996)[14].
Bệnh lùn sọc đen phương nam (SRBSDV)

Bệnh lùn sọc đen phương nam là một bệnh vi-rút mới, được ghi nhận đầu tiên tại
Trung Quốc với 2 tên gọi khác nhau: lùn sọc đen phương nam – Southern rice black-
streaked dwarf virus, SRBSDV (Zhou et al., 2008)[46] và lùn sọc đen dòng 2 – Rice
black-streaked dwarf virus 2, RBSDV-2 (Zhang et al., 2008)[45]. Rầy lưng trắng là môi
giới truyền bệnh chính, rầy nâu nhỏ cũng tham gia truyền bệnh nhưng hiệu quả truyền
bệnh kém. Bệnh gây hại trên lúa, ngô, đại mạch và một số loài cỏ dại trên ruộng lúa (Zhou
et al., 2008)[46].
Theo tác giả Zhou Gouhui (
Trường Đại học Hoa Nam, Trung Quốc) bệnh vi-rút lúa
lùn sọc đen phương Nam gây hại đầu tiên ở tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc năm 2001 và
lần đầu tiên ghi nhận rầy lưng trắng tham gia truyền bệnh vi-rút trên lúa (Zhou et al.,
2008)[46]. Cũng cùng năm 2008, các tác giả Viện Hàn lâm Khoa học Nông nghiệp Triết
Giang Trung Quốc (ZAAS) cũng ghi nhận về bệnh và đặt tên khác (lùn sọc đen dòng 2).
Đến năm 2010, Wang và nhóm tác giả của Đại học Hoa Nam Trung Quốc đã công b

trình tự bộ gene của vi-rút này và thống nhất với nhóm tác giả tại Triết Giang tạm thời đặt
tên là lùn sọc đen phương nam (Wang et al., 2010)[41]. Đây cũng là 3 tài liệu duy nhất
trên thế giới về bệnh này cho đến nay. Năm 2010, nhóm tác giả thực hiện đề tài đã phối
hợp với nhóm tác giả tại Triết Giang và Đại học Hoa Nam và TS. Eugenie Hebrard (IRD,
Pháp) cùng xuất bản bài báo thứ 4 về một số kết quả nghiên cứu v
ề bệnh tại Việt Nam và
đã được đăng tải trong số tháng 9 năm 2011 của tạp chí Plant Disease – đây cũng là một
sản phẩm nổi bật của đề tài.

8

Sở dĩ đặt tên gọi lúa lùn sọc đen phương Nam là để phân biệt với bệnh lúa lùn sọc
đen (RBSDV) đã ghi nhận từ nhiều năm trước, gây hại phổ biến ở các vùng trồng lúa phía
Bắc, Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc và rầy nâu nhỏ (Laodelphax striatellus) là môi
giới truyền bệnh. Đến nay, bệnh LSĐ-PN đã được ghi nhận chính thức tại 3 quốc gia là:
Trung Quốc, Việt Nam và Nhật Bản. Tuy nhiên, nhữ
ng thiệt hại về kinh tế bởi bệnh mới
chỉ được ghi nhận tại Trung Quốc và Việt Nam.

1.1.2. Nghiên cứu về rầy lưng trắng – môi giới truyền bệnh
(1) Nghiên cứu về đặc điểm sinh học của RLT

Rầy lưng trắng (RLT) vòng đời tương tự như rầy nâu. Rầy trưởng thành cái có 2
dạng cánh dài và cánh ngắn. Trung bình mỗi trưởng thành cái có thời gian phát dục
khoảng 12 ngày, thời gian tiền đẻ trứng khoảng từ 3 đến 8 ngày và mỗi trưởng thành cái
đẻ từ 200-500 trứng. Rầy non có 5 tuổi. Rầy non tuổi 1 và tuổi 2 chưa xuất hiện chân
cánh, từ tuổi 3 trở đi bắt đầu xuất hiện chân cánh. Các thí nghiệm tại Ấn
Độ đã ghi nhận
trung bình một trưởng thành cánh dài đẻ khoảng 164 trứng (Vaidya et al, 1981)[40]. Một
thí nghiệm khác bởi các nhà khoa học Nhật Bản lại cho rằng trung bình một trưởng thành
cái đẻ khoảng 300 đến 350 trứng trong suốt thời gian phát dục (Suenaga, 1963)[36] .
Thời gian phát dục của trứng khoảng 6 ngày. Rầy non có 5 tuổi, có màu xám hoặc
trắng xám, thời gian phát dục của rầy non kéo dài từ 12 đến 17 ngày (Heinrichs,
1994)[16].
(2) Nghiên cứu về tính kháng của giống lúa với RLT

Các công trình nghiên cứu giữa thập kỷ 80 của thế kỷ trước đã nêu rằng nguồn gen
kháng RLT là rất khác nhau ở cả lúa trồng và lúa dại. Các thí nghiệm đánh giá tính kháng
của giống với RLT đã được Viện nghiên cứu lúa quốc tế (IRRI) tiến hành từ năm 1970.

Đã có khoảng 5000 giống lúa trồng (Oryza sativa) đã được đánh giá với RLT. Khoảng
50% trong tổng số 437 giống lúa dại được đánh giá là kháng. Các giống lúa dại kháng
RLT còn ở dạng nguyên thủy là Oryza minuta, O. nivara, O. officinalis. Ở Ấn Độ các
giống O. officinalis, O. punctata và O. latifolia có sức kháng cao với RLT (Enrique et al.,
1985)[11].
Theo Ramaraju ở Ấn độ có 48 giống đã được công nhận kháng RLT trong nhà lưới
trong đó có 5 giống kháng cao và 24 giống kháng vừa. Rầy non sống trên giống kháng bị
kéo dài thời gian phát dục (12,6-13 ngày, trong khi sống trên giống nhiễm chỉ có 11,6
ngày). Lượng ăn của rầy non trên giống kháng và kháng vừa cũng ít hơn trên giống nhiễm.
Tỷ lệ s
ống sót của rầy non, tốc độ phát triển quần thể trên giống kháng và giống nhiễm
cũng khác nhau có ý nghĩa (Ramaraju, 1996)[30].
9

Giống lúa là yếu tố tiên quyết để RLT có điều kiện phát sinh và phát triển số lượng
lớn trong những năm gần đây, đặc biệt là các giống lúa có nguồn gốc nhập nội từ Trung
Quốc. Đánh giá sức chống chịu của các giống trong điều kiện nhà lưới là bước đầu tiên
trong toàn bộ quá trình khảo nghiệm và chọn lọc giống chống chịu. Tính kháng RLT của
giống CR2035-117-3 được kh
ống chế bởi 2 gen trội Wbph1 và Wbph2 nhưng 2 gen này
độc lập với nhau. Các gen này đã được đưa vào sử dụng trong chương trình tạo giống
kháng RLT (Sen LT, 1994)[32].
Nhiều tác giả nêu rằng có ít nhất 5 gen đã được xác định là kháng RLT đó là
Wbph1 từ giống N22, Wbph2 từ ARC10239, Wbph3 từ ADR52, wbph4 từ Podiwi A8 và
Wbph5 từ Ndiang Marie (Hernandez et al., 1985; Wu et al., 1985)[17, 42].
Cơ chế tính kháng với RLT bao gồm kháng sinh đối với sự đẻ trứng, kháng sinh với
sự gây hại, sống sót và phát triển. Rầy sống trên giống kháng
đẻ ít hơn, cơ thể nhỏ hơn, tỷ
lệ sống sót của rầy non thấp và thời gian rầy non dài hơn, tốc độ phát triển quần thể chậm
hơn và rầy tiết ra ít dịch ngọt hơn (Liu et al., 1995)[21].

Nghiên cứu về vai trò của Silic với tính kháng RLT của giống lúa Mishra và cộng
sự đã chỉ ra rằng ở các giống kháng có hàm lượng Silic cao hơn các giống nhiễm. Phân tử
Silic-dioxit tồn tạ
i ở dạng bọc trong giống kháng Pundia có hàm lượng gấp đôi so với
trong giống nhiễm TN1 (Mishra et al., 1992)[25]. Trong năm tiếp theo, một nghiên cứu
khác của nhóm tác giả cũng đã nêu rằng ở giống kháng RLT có hàm lượng silic, sắt, kẽm
và mangan cao hơn còn nồng độ N, P, K, Ca, Mg, Cu là thấp hơn so với giống nhiễm
TN1. Việc nghiên cứu thành phần hóa học của cây chủ sẽ cho hiểu biết tốt hơn mối quan
hệ giữa côn trùng và cây trồng (Mishra et al., 1993)[26].
Các nghiên c
ứu trong phòng thí nghiệm những năm trước đó của nhóm tác giả còn
cho thấy các giống kháng như Pundia và Landisarakanti có hàm lượng aminoacid, phenol,
đồng và diệp lục tố thấp hơn so với giống nhiễm TN1. Ở khía cạnh gây hại, hàm lượng
aminoacid, phenol tăng lên ở các giống kháng và giảm đi ở các giống nhiễm. Nhưng hàm
lượng đường ở các giống nhiễm lại bị thải nhiều hơn ở các giống kháng và hàm lượng tinh
bột tă
ng lên. Sự phá hủy quá mức của diệp lục tố kết hợp với các nhân tố trên lý giải tại
sao đồng tăng dữ dội và cuối cùng cây héo ở giống nhiễm (Mishra et al., 1991)[24].
Nghiên cứu cơ chế kháng của 15 giống lúa các tác giả đã có kết luận sự hoạt động
của Carboxylesterase, axit và alkalin photphatase ở rầy trưởng thành và rầy non thế hệ thứ
2 là lớn hơn có ý nghĩa khi chúng được nuôi trên các giống nhiễm (Wu et al., 1993)[43].
Theo Shin (1992) xử lý GA3 (chất kích thích sinh trưởng thực vật) có tác dụng tăng
tính kháng ở các giống nhiễm và pp-333 (chất anti GA3) lại làm giảm tính kháng ở các
giống kháng (Shin, 1992)[33].
10

Mishra và cộng sự đã kết luận rằng RLT có định hướng về phía giống nhiễm TN1
hơn là các giống kháng Pundia. Trong vòng 24 h sau khi thả số lượng rầy non tăng đột
biến ở các giống nhiễm trong khoảng 24 đến 72 giờ còn ở các giống kháng thì có sự giảm
đột biến (Mishra et al., 1991)[24].

Ramaraju kết luận mật độ quần thể tối thiểu là 25 rầy trên một cây mới gây giảm
đáng kể đến sứ
c khỏe của cây, chiều cao và trọng lượng hạt của các giống (Ramaraju,
1996)[30].
Theo Liu và cộng sự thì lượng ăn của rầy giảm đi cùng với sự tăng lên của tuổi cây
cả ở giống kháng Rathu-heenati (RHT) và giống nhiễm Taichung-native-1 (TN1). Với
giống nhiễm, đường tổng số trong dịch cây tăng lên cùng với sự tăng lên của tuổi cây.
Phân tích dịch bài tiết của RLT bằng kỹ thuật đa hình cho thấy s
ố lượng sacharose và
fructose ở dịch bài tiết khi rầy sống trên giống kháng RHT là ít hơn có ý nghĩa so với khi
sống trên giống nhiễm TN1 tức là khi sống trên giống kháng RLT ăn ít hơn nhưng sử dụng
tốt dịch thứ cấp. Hoạt động của Glucosa sau khi ăn trên giống kháng RLT là thấp hơn có ý
nghĩa so với ăn trên TN1 và có tương quan thuận với sự thay đổi trọng lượng cơ thể côn
trùng (Liu et al., 1995)[21].
Mộ
t nghiên cứu khác lại thông báo rằng giống lúa lai kháng RLT chủ yếu có thể là
do tính chịu đựng. Ở một số giống cho thấy có thể có tính chịu đựng vào giai đoạn mạ và
tính kháng ở giai đoạn lúa già hơn (Singh, 1990)[34].
Các nhà khoa học IRRI và Trung Quốc đã tiến hành phân tích di truyền tính kháng
ở các giống lúa và xác định được 6 gen kháng RLT. Chúng là các gen Wbph1, Wbph2,
Wbph3 and wbph4 (Hernandez, 1985)[17], Wbph5 (Wu et al., 1985)[42], Wbph6(t) (Li et
al., 1990)[20], trong đó wbph4 là một gen lặn, 5 gen còn lại là gen trội. Một số gen đã
được sử dụng để c
ải tiến giống nhưng chưa có gen nào được lập bản đồ trên bản đồ di
truyền lúa. Sau khi phân tích di truyền tính kháng rầy lưng trắng ở các dòng/giống lúa
P580, Sathra276, Sonpatta45, Sufaid172, ARC10239, Jhinuwa, N32 và Latihgawa các tác
giả đã cho rằng tính kháng được điều khiển bởi hai đơn gen trội. Phân tích tương tự cho
thấy tính kháng ở giống Colombo, 368, W1240 được điều khiển bởi 2 gen lặn (Enrique et
al., 1985)[11].
Một vài loài hoang dại thuộc họ Oryza có tính kháng cao với tất cả các biotype c

ủa
RN, RLT và RXĐĐ. Gần đây phân tích QTL trên quần thể RLT đã xác định sự có mặt của
2 gen kháng rầy lưng trắng. Một gen được định vị ở vai dài của nhiễm sắc thể (NST) số 3
cách đầu mút 1,1 cm và nằm giữa 2 chỉ thị R1925 và G1318. Locus này chịu trách nhiệm
9,6% tính kháng trong quần thể và được đặt là Wbph7. Một gen khác là Wbph8 được định
vị trên vai ngắn của NST số 4 và rất gần vùng tâm động, nằm giữa hai chỉ th
ị R288 và
S11182, chịu trách nhiệm 34,76% tính kháng của quần thể (Tan, 2002)[38]. Các kết quả
nghiên cứu khác cũng đã xác định được 4 QTLs “diệt trứng” định vị trên NST số 1, 4, 5 và
11

6 liên quan đến khả năng làm chết trứng côn trùng - đó là qOVA-1-3, qOVA-4, qOVA-5-1
và qOVA-5-2 (Yamasaki et al., 2003)[44].
Khi nghiên cứu di truyền tính kháng RLT sử dụng giống chuẩn nhiễm là TN1 tác
giả Singh đã phát hiện ra việc điều khiển tính kháng ở Ptb19 và IET6288 là một gen trội,
điều khiển tính kháng ở một loạt các giống khác như ARC5838, ARC6579, ARC6624,
ARC10464, ACR11320, ARC11321, ARC11324, Bamawee, IR2415-90-4-3 là một gen
lặn (Singh, 1990)[34].
Nghiên cứu di truyền tính kháng RLT, nhiều nhà khoa học đã xác định được 6 thể
cho gen kháng (donor). Có 3 donor mang gen đã biết là ADR52 (Wbph3), PodiwiA8
(wbph4) và ARC6650 (wbph4), và 3 donor khác là ARC5984, Velluthecherra và MO1
mang nh
ững gen kháng chưa được biết đến. Phân tích alen cho thấy ADS52 mang 1 gen
trội; còn Podiwi A8, ARC 6650, ARC5984 mang 1 gen lặn; Velluthecherra có 1 gen trội;
MO1 có 1 gen trội và 1 gen lặn. Các nhà khoa học cũng cho rằng gen lặn ở ARC5984 và
ARC6650 cùng alen với gen lặn ở Podiwi A8 - đó chính là gen wbph4 (Li et al, 1990;
Tan, 2002)[20, 38].
Như vậy, cho tới thời điểm này, người ta đã xác định được 8 gen và 4 QTL kháng
RLT thông qua phân tích allen. Trong đó mới chỉ có 3 gen Wbph6, Wbph7 và Wbph8 và 4
QTL là đã được định vị một cách sơ bộ trên NST của bộ gene lúa với một số lượ

ng ít ỏi
vài chỉ thị phân tử liên kết gen. Tác giả Tan cũng đã kết luận rằng 2 gen Wbph7 và Wbph8
cùng chung locus với 2 gen kháng rầy nâu (Tan, 2002)[38]. Gần đây nhất, phân tích BSA
trên quần thể “Gurjari x Jaya” bằng 50 mồi RAPD đã xác định được chỉ thị OPA08-7 có
tiềm năng liên kết gen kháng ở giống kháng Gurjari. Các gen kháng trên cũng đã được
ứng dụng trong qui tụ gen kháng bằng phương pháp truyền thống (Yamasaki et al.,
2003)[44].
(3) Tình hình sử dụng thuốc với RLT

Tại Ấn Độ, thí nghiệm thử 7 loại thuốc hóa học đối với RLT đã có kết luận rầy
chết 90 % sau 24 h đối với các loại thuốc Quinaphos, Carbaryl, Chlorpyri - phos,
Carbosulphal cho hiệu lực kéo dài 5 ngày (Sasmal et al., 1984)[31]. Ramaraju (1987)[29]
cũng đã tiến hành thử 6 loại thuốc với trứng rầy lưng trắng thì chỉ có Phosphamidon
0,05% và Fenvalerate 0,005% là có tác dụng làm giảm khả năng sinh sản của rầy cái và
duy nhất có Phosphamidon 0,05% là có khả năng diệt trứng. Sontakke và cộng s
ự cũng có
kết luận rằng phun dầu xoan và các thuốc trừ sâu Monocrotophos, Chlopyriphos, Carbaryl
và Quynaphos (cả đơn chất và hợp chất) đều làm giảm số lượng của rầy lưng trắng ở Orisa
của Ấn Độ (Sontakke et al., 1994)[35].
Tại Viện nghiên cứu lúa quốc tế, Valencia và cộng sự (1980)[39] đã thông báo
rằng rầy non tuổi 3 của rầy lưng trắng, rầy nâu và rầy xanh chết khi lột xác hoặc quần thể
bị
hạn chế số lượng khi phun buprofezin nồng độ 0,075%.
12

Tại Nhật Bản, Nagata và cộng sự đã tiến hành so sánh tính mẫn cảm của các quần
thể rầy lưng trắng nhiệt đới và ôn đới (nhiệt đới là Thái lan và Philippines còn ôn đới là
Nhật Bản và Đài Loan) với 8 loại thuốc sâu thì thấy rằng các quần thể rầy lưng trắng ở
Thailand và Philippines mẫn cảm với thuốc sâu hơn các quần thể rầy ở Nhật Bản và Đài
Loan hơn n

ữa chúng sinh ra tỷ lệ rầy cánh ngắn cao hơn quần thể rầy của Nhật Bản khi
được nuôi trên mạ. Điều này cho thấy rằng giữa hai quần thể rầy ôn đới và nhiệt đới có sự
khác nhau về sinh lý và sinh thái (Nagata et al., 1980)[27].
Mani và cộng sự cho rằng nếu phun Flufenoxuron (chất ức chế tổng hợp kitin) vào
giai đoạn trứng vừa đẻ thì trứng chết rất nhanh, còn nếu phun vào lúc ngay trước khi trứng
chuẩ
n bị nở thì rầy non nở ra sẽ bị biến dạng, nếu sử lý lúc rầy đang lột xác thì rầy sẽ kìm
hãm lột xác và chết, các cá thể rầy non hoàn thành phát dục thì khi hoá trưởng thành cánh
sẽ bị biến dạng rất điển hình. Ở nồng độ 600ppm thì hợp chất có tác dụng làm giảm khả
năng sinh sản của rầy (Mani et al., 1991)[23]. Haq và cộng sự đã tiến hành thử hiệu lực
củ
a các loại thuốc có nguồn gốc lân hữu cơ và thảo mộc ở Pakistan với rầy lưng trắng và
đã kết luận: Thuốc lân hữu cơ có hiệu lực cao nhất (93,15 %) sau đó là Methidathion
(89,16 %), Nicotin (61,63 %) và cuối cùng là dầu Neem (33,39 %) (Haq et al., 1991)[13].
Đánh giá về tính kháng thuốc của rầy lưng trắng: Các nhà khoa học cho rằng những
nhân tố có thể xác định sự phát triển tính kháng thuốc của rầy lưng trắng là: loại rầy, vòng
đời c
ủa nó, giới tính, tập tính di cư và dạng cánh.
Heinrichs (1984)[15] kết luận rằng độ mẫn cảm với thuốc sâu của rầy còn chịu ảnh
hưởng rõ rệt bởi mức độ kháng của rầy với cây chủ. Rầy nuôi trên giống kháng vừa mẫn
cảm với thuốc hơn là nuôi trên giống nhiễm. Dạng cánh dài của rầy nâu và rầy lưng trắng
có trị số LD
50
cao hơn dạng hình cánh ngắn từ 2 đến 10 lần (Nagata et al., 1980)[27].
Trong 3 loài rầy (rầy nâu, rầy lưng trắng và rầy nâu nhỏ) thì ở 2 loài di cư nhiều (rầy nâu
và rầy lưng trắng) tính kháng thuốc có tốc độ phát triển chậm hơn còn rầy nâu nhỏ ít di cư
hơn lại có tốc độ phát triển tính kháng thuốc cao hơn (Nagata et al., 1999)[28].
Trong 3 nhóm thuốc có gốc Clo hữu cơ, Lân hữu cơ và Carbamate được sử dụng
trong 10 năm (1961-1971) ở
Nhật Bản thì rầy nâu và rầy lưng trắng có tốc độ phát triển

tính chống thuốc không tăng còn rầy nâu nhỏ lại tăng khá nhanh. Endo và cộng sự
(1988)[12] đã kết luận tính mẫn cảm với các thuốc Lân hữu cơ, Carbamate và DDT của
rầy lưng trắng ở Nhật bản đã giảm đi theo thời gian (năm 1987 so với 1980) nhưng độ
mẫn cảm với Lindan thì hầu như không thay đổi (1967 so v
ới 1987). Nhưng từ năm 1989
đến nay, rầy lưng trắng ở các nước của Châu Á hầu như cũng đều phát triển tính kháng với
các thuốc dùng để phòng trừ chúng trên đồng ruộng. Tính kháng tăng cao nhất đối với
thuốc Fipronil gấp 40-100 lần ở Philippines và Trung Quốc.
Các loại thuốc có tác dụng chọn lọc, ít có hại cho thiên địch như Buprofezin nên
được sử dụng (Heinrichs, 1984)[15].
13

1.2. Những nghiên cứu trong nước
Cho đến nay đã ghi nhận 5 loại bệnh vi-rút hiện diện tại các vùng trồng lúa khác
nhau trên cả nước. Bao gồm: (i) bệnh vàng lá di động
: ở các tỉnh miền núi phía Bắc và 1
số tỉnh đồng bằng sông Hồng); (ii) bệnh tungro
: ở 1 số tỉnh ven biển miền Trung, rải rác ở
các tỉnh phía Nam; (iii) bệnh lúa cỏ
: ở các tỉnh phía Nam và (iv) bệnh lúa lùn xoắn lá: ở
các tỉnh phía Nam và rải rác 1 số điểm ở miền Bắc; và hiện nay là (v) bệnh lùn sọc đen
phương nam: đã và đang gây hại ở hầu khắp các tỉnh phía Bắc và miền Trung đến Phú
Yên. Ngoài ra còn ghi nhận bệnh “vàng héo lá” do Mycoplasma (nay gọi là Phytoplasma)
gây nên, đã ghi nhận tại huyện Tràng Định tỉnh Lạng Sơn (Trung, 1985)[5].
1.2.1. Nghiên cứu về bệnh vi-rút lúa
(1) Chẩn đoán nhanh vi-rút gây bệnh

+ Viện BVTV đã xây dựng và tối ưu qui trình chẩn đoán nhanh vi-rút gây bệnh
VL&LXL hại lúa bằng kỹ thuật DAS-ELISA và one-step RT-PCR (Anh et al.,
2009)[1]. Qui trình RT-PCR đã ứng dụng hữu hiệu trong công tác chẩn đoán bệnh

nhằm phát hiện sớm sự hiện diện của vi-rút trên đồng ruộng, trong quần thể rầy môi
giới và góp phần hữu hiệu cho các nghiên cứu khác về bệnh.
+ Hiện nay Viện BVTV có kháng huyết thanh đặc hiệu vớ
i vi-rút gây bệnh VL&LXL
và các cặp mồi đặc hiệu cho vi-rút lúa cỏ (RGSV), lùn xoắn lá (RRSV), vàng lụi
(RYSV), lùn sọc đen (RBSDV), lúa sọc (RSV), tungro (RTSV) và lùn sọc đen
phương nam (SRBSDV). Ngoài ra, các cặp mồi đặc hiệu cho các bệnh do vi-rút
hoặc tương tự vi-rút khác trên lúa cũng sẵn có: phytoplasma.
(2) Bệnh vàng lụi (Rice yellow stunt vi-rút,RYSV)

hay còn gọi vàng lá di động (Rice transitory yellowing vi-rút, RTYV)
Theo tác giả Hà Minh Trung (1985)[5] và 1 số tác giả khác thì bệnh được
gọi là “vàng lá di động” (Rice transitory yellowing vi-rút, RTYV). Tuy nhiên,
những nghiên cứu gần đây liên quan đến các đặc điểm ở mức độ phân tử thì bệnh
được gọi là “vàng lụi” (Rice yellow stunt vi-rút, RYSV) (Hiraguri et al., 2010)[18].
Theo tác giả Trung thì bệnh vàng lá di động ở Việt Nam có những triệu
chứng hoàn toàn giống với những mô tả của các tác giả Đài Loan. Bệnh phân bố

1 số tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam (Trung, 1985)[5].
Vào những năm 1957 – 1958, tại nhiều tỉnh ở Tây Bắc (Sơn La, Yên Bái,
Hòa Bình…) xuất hiện bệnh mới trên lúa. Cây lúa bị bệnh thấp lùn và lụi chết,
người dân gọi là bệnh ”vàng lụi”. Trong khoảng thời gian đó, một số thí nghiệm lây
bệnh nhân tạo của Viện BVTV sử dụng rầy xanh đuôi đen (RXĐĐ) đã cho thấy:
bệnh vàng lụi là do vi-rút và RXĐĐ
là môi giới truyền bệnh. Các cây lúa khỏe bị
14

RXĐĐ (đã được nuôi trên cây lúa bệnh) chích hút đã biểu hiện các triệu chứng
bệnh tương tự (Trung, 1985)[5].
Những năm đầu thập kỷ 80 của thế kỷ trước, bệnh “vàng lụi” lại tái phát ở 1

số tỉnh Tây Bắc (Sơn La, Điện Biên, Tuyên Quang, Lạng Sơn…). Viện BVTV cử 2
nhóm cán bộ tiến hành các thí nghiệm lây bệnh nhân tạo tại các địa phương:
(1) Các thí nghiệm LBNT tiến hành tại Đ
iện Biên cũng như kết quả chụp hiển vi
điện tử (tại Viện Vệ sinh Dịch tễ TW) cùng cho thấy bệnh giống với bệnh
“vàng lụi” trước đây (Trung, 1985)[5];
(2) Các thí nghiệm thực hiện tại Lạng Sơn (huyện Tràng Định) cho thấy cây lúa
bị bệnh biểu hiện triệu chứng lá vàng và héo rất nhanh nên được gọi là bệnh
“vàng héo lá`”. Chụp hiển vi điện tử (t
ại Viện Vệ sinh Dịch tễ) cho thấy vật
gây bệnh có hình thái giống với Mycoplasma (nay gọi là Phytoplasma). Sau
thời gian đó, không có nghiên cứu nào thêm về bệnh này (Trung, 1985)[5].
Từ năm 2004, hiện tượng “vàng lá” lúa tại huyên Hiệp Hòa tỉnh Bắc Giang
hàng năm gây hại trên lúa mùa. Nguyên nhân gây bệnh đã được tìm hiểu nhiều
song phải đến cuối tháng 8/2010 bằng RT-PCR Viện BVTV và Trường ĐH Nông
nghiệp Hà Nội cùng đưa ra kết quả dương tính với vi-rút “vàng lụ
i” hay vàng lá
tạm thời. Hình ảnh chụp qua kính hiển vi điện tử cho thấy tiểu thể vi-rút có dạng
hình đầu đạn, có lỗ hổng ở giữa phần đáy.
(3) Bệnh lúa cỏ (RGSV) và lùn xoắn lá (RRSV)

+ Triệu chứng bệnh:
 Lúa cỏ
: Cây thấp lùn, đẻ nhiều nhánh còi cọc, phiến lá hẹp, dựng đứng, có màu
xanh nhợt đến vàng nhợt, đôi khi xuất hiện các vết đốm gỉ sắt (Viễn et al.,
2009)[8].
 Lùn xoắn lá
: Cây thấp lùn, đẻ ít, phiến lá ngắn, xoắn lá hoặc xoắn đầu lá, rách
mép lá (Viễn et al., 2009)[8]
 Cả 2 bệnh

: nếu cây lúa nhiễm bệnh sớm thì triệu chứng biểu hiện rất rõ và đặc
trưng. Càng muộn thì triệu chứng kém đặc trưng hơn. Sau 40 ngày mới bị bệnh
thì hầu như không biểu hiện triệu chứng, nhưng lúa chét sau đó lại biểu hiện
triệu chứng điển hình. Trên đồng ruộng, khá phổ biến hiện tượng 1 cây lúa
mang triệu chứng đặc trưng của cả 2 vi-rút (một s
ố dảnh biểu hiện các triệu
chứng đặc trưng của RGSV, các dảnh khác lại biểu hiện triệu chứng đặc trưng
của RRSV) và những cây lúa này thường chết sớm hơn so với những cây lúa
chỉ biểu hiện triệu chứng của 1 bệnh (Viễn et al., 2009)[8]

15

+ Quan hệ “vi-rút /lúa /rầy nâu”:
 Cây lúa càng non càng mẫn cảm với bệnh. Lúa TN1 (chuẩn nhiễm) 10 ngày
tuổi bị nhiễm bệnh thì trung bình 7-10 ngày sau sẽ biểu hiện triệu chứng bệnh
điển hình. Thời gian lây nhiễm càng muộn thì quá trình tiềm ẩn của bệnh trong
cây càng kéo dài. Cây lúa được lây nhiễm sau 40 ngày tuổi thì hầu như không
có khả năng biểu hiện triệu chứng nhưng các triệu chứng điển hình sẽ biểu hiệ
n
trên lúa chét (Viễn et al., 2009)[8].
 Rầy nâu sau khi được tiếp xúc với cây lúa bệnh thì trung bình 7-10 ngày sau có
thể truyền được bệnh. Một khi đã có khả năng truyền bệnh thì RN có thể truyền
bệnh cho đến chết, mặc dù quá trình truyền bệnh là ngắt quãng. Thời gian tối
thiểu để vi-rút có thể tiếp tục được truyền cho cây lúa tiếp theo là 6-7 tiếng
(Viễn et al., 2009)[8].
 Một RN trưởng thành nếu có khả năng truyền bệnh thì trong pha trưở
ng thành
có khả năng truyền bệnh đến 18 cây lúa, trong điều kiện nhà lưới, với lúa TN1
(chuẩn nhiễm) (Viễn et al., 2009) [8].
 1 cá thể RN nếu có điều kiện tiếp xúc với nguồn bệnh mang cả 2 vi-rút gây

bệnh VL&LXL thì 1 RN có thể truyền được cả 2 vi-rút. Tuy nhiên, hầu hết các
trường hợp, mỗi vi-rút phát triển và biểu hiện triệu chứng đơn lẻ trên các cây
riêng biệt. Chưa ghi nhận trên 1 cây có cả 2 triệu chứng b
ệnh mặc dù có cả 2
loại bệnh biểu hiện trên các cây lúa khác nhau sau khi lây bệnh nhân tạo với
cùng 1 RN mà dương tính với cả 2 vi-rút (RT-PCR) (Viễn et al., 2009)[8].
 Trong vùng dịch bệnh, tỷ lệ RN mang vi-rút trong quần thể tự nhiên luôn quan
hệ chặt với tỷ lệ và mức độ bệnh trên ruộng lúa cũng như khoảng thời gian giãn
nghỉ giữa các vụ. Nói cách khác, tỷ lệ RN mang vi-rút cũng như tỷ lệ RN
truyền được bệnh trong quầ
n thể tự nhiên tỷ lệ thuận với tỷ lệ bệnh và mức độ
phân bố bệnh trong vùng. Tại các vùng chuyên canh lúa liên tục trong năm, RN
luôn hiện diện trên đồng ruộng và dễ dàng di chuyển từ ruộng này sang ruộng
khác mang theo nguồn bệnh và phát tán bệnh. Thời gian ngắt vụ tối thiểu 3-4
tuần có hiệu quả đáng kể trong việc phòng ngừa và giảm thiểu nguy cơ bệnh
xâm nhập vào ruộng mới s
ạ (Viễn et al., 2009)[8].

1.2.2. Nghiên cứu về rầy lưng trắng
(1) Nghiên cứu về đặc điểm sinh học và sinh thái của RLT
Theo tác giả Đinh Văn Thành và cộng sự, trong điều kiện nhiệt độ 27,3 – 29,3
o
C và
ẩm độ 80,7 – 98,0% pha rầy non của RLT có 5 tuổi và pha này kéo dài 12 – 13 ngày, vòng
đời từ 23 – 27 ngày và trưởng thành sống 7 – 14 ngày. RLT mỗi năm có 6 – 7 đợt gây hại
16

trên lúa ở các tỉnh phía Bắc. Các giống lúa có nguồn gốc từ Trung Quốc thường có mật độ
RLT cao hơn so với các giống lúa có nguồn gốc từ IRRI (Thành et al., 2011)[4].
(2) Nghiên cứu về tính kháng của giống lúa với RLT

Nghiên cứu về di truyền tính kháng RLT trên 6 giống kháng địa phương của đồng
bằng sông Cửu Long, bao gồm Xoài cát, Base, Keo cha A, Ronglem, La và BR46, đã
được tiến hành lai lần, lần lượt từng giống với giống chuẩn nhiễm TN1 để có các thế
hệ
con lai F1, F2 và F3, sau đó cho nhiễm nhân tạo bằng thả RLT tuổi 2-3 và tiến hành đánh
giá. Kết quả cho thấy: Ở thế hệ F1 tất cả các cặp lai là kháng - tức là tính kháng được qui
định bởi các gene trội ở tất cả 6 giống (Sen LT, 1994)[32].
Kết quả ở quần thể F2 cho thấy: từ các cặp lai của TN1 với Base, Ronglem, Keo
cha A và La được phân ly với tỷ lệ 3:1 (3 kháng /1 nhiễm) cho thấy có một gen đơn trội
điều khi
ển tính kháng. Quần thể F2 của cặp lai TN1 với BR46 và với Xoài cát tương ứng
với tỷ lệ phân ly là 13:3 tức là tính kháng ở 2 giống được điều khiển bởi 1 gen lặn và 1
gen trội (Sen LT, 1994)[32].
Kết quả ở quần thể F3 đã khẳng định kết luận rút ra từ quần thể F2: Tất cả các tổ hợp
lai, trừ 2 tổ hợp “TN1 x Xoài cát” và “TN1 x BR46”, đều có tỷ lệ “kháng:phân ly:nhiễm”
là 1:2:1 và tính kháng là do gen đơn
điều khiển. Còn các tổ hợp lai TN1 x Xoài cát có tỷ lệ
kháng, phân ly và nhiễm là 7:8:1 và tính kháng cũng do gen đơn điều khiển (Sen,
1994)[32].
(3) Nghiên cứu về tình hình sử dụng thuốc với RLT
Trong danh mục thuốc đăng ký trừ rầy ở Việt nam tính đến 2010 có 168 tên hoạt
chất và hỗn hợp với 390 tên thương phẩm thì hầu hết chỉ đăng ký trừ rầy nâu mà duy nhất
có 3 loại thuốc đăng ký trừ rầy l
ưng trắng là Lobby 10WP, Shertin 3.6EC và Penalty
40WP. Tuy nhiên, trong các khảo nghiệm trên đồng ruộng trước đây cũng có những kết
quả đánh giá hiệu lực của một số thuốc đối với rầy lưng trắng như:
Các thí nghiệm tiến hành năm 1968-1969 so sánh 13 loại thuốc hạt đối với trứng,
rầy non tuổi nhỏ và rầy non tuổi lớn đó là BHC, Terracus, Thymet, Cyolane, S.6625,
Diazinon, Lebaycid, Disyston, Unden, Orthobiex, Nyphonrt, Sevindol, Solvirex. Kết quả
cụ thể được tóm tắt nh

ư sau:
- Đối với rầy non mới nở: Thymet, Terracus, Lebaycid, Diazinon, Disyston, Unden,
Dyfonate và Solvirex có hiệu quả cao, các thuốc BHC, Cyolane, S.6625 có hiệu
quả kém nhất.
- Đối với trứng rầy: Terracus, Thymet, Orthobiex, Dyfonate, Solvirex có hiệu quả
cao nhất. S.6625, Diazinon, Lebaycid và Unden có hiệu quả kém chút ít so với các
loại trên. Cyolane là kém nhất.
17

- Tác dụng của thuốc tồn lưu đối với rầy non thành thục, các loại thuốc xếp thứ tự từ
cao xuống thấp về hiệu lực là: S.6625, Terracus, Dyfonate Lebaycid, Disyston,
Thymet, Orthobiex, Solvirex, Unden, BHC, Sevindol, Diazinon, Cyolane.
- Tác dụng của thuốc tích lũy với rầy non thành thục: Trừ Cyolane, Diazinon và
BHC còn các loại khác là ngang nhau.
Các thí nghiệm trong nhà lưới tại Viện lúa đồng bằng sông Cửu Long, Trương Thị
Ngọc Chi (1990)[2] đã đánh giá hiệu lự
c của 13 lọai thuốc thảo mộc đối với rầy lưng trắng
trên giống lúa TN1 và cho nhận xét như sau:
- Phun thuốc dung dịch chiết từ hạt bình bát nồng độ 10% và thuốc lá 10% thì sau
36 giờ hiệu quả diệt rầy lưng trắng đạt 100% tương tự như Bassa 50ND 0,2%.
- Phun dung dịch chiết từ rễ cây ruốc cá và bạch đàn chanh ở nồng độ 15% có thể
làm giảm mật độ
rầy lưng trắng và tăng dần hiệu quả sau 72 giờ phun thuốc.
- Các dung dịch chiết từ thân cây xương rồng, thân cây nghệ nồng độ 10%, thân
ngồng tỏi và lá xoan nồng độ 15% không thấy có hiệu lực sau phun 36 và 72 giờ
Kết quả đánh giá một số loại thuốc với RLT cho thấy: hiệu lực của Actara 25WG
đạt 86,1%, Confidor 10WP đạt 80,9%, Bassa 50EC đạt 81,8%, trong khi đó Regent
800WG chỉ đạt 68,7% . Năm 2010, kết quả đánh giá m
ột số loại thuốc hóa học (Me et al.,
2011)[3] đã ghi nhận rằng:

- Các loại thuốc có hiệu lực trên 90% sau 5 ngày gồm có: Elsin 10EC,Oshin 20WP,
Penalty Gol 50EC và Dantotsu16WSG
- Các loại thuốc có hiệu lực trên 80% sau 5 ngày: Bassa 50EC, Alika 10EC.
- Các loại thuốc có hiệu lực trên 70% sau 5 ngày: Confidor 100SL, Chess50WG
- Các loại thuốc có hiệu lực trên 60% sau 5 ngày: Sutin 5EC, Elincol 12ME, Oncol
25WP
- Các loại thuốc có hiệu lực thấp sau 5 ngày: Regent 800WG, Metarhizium
anisopliae, Butyl 10WP, Exin 4.5HP.
- Đối với thuốc xử lý hạt giống lúa: năm 2007 lần
đầu tiên tại đồng bằng sông Cửu
Long, Viện Bảo Vệ Thực vật đã tiến hành thử nghiệm xử lý hạt giống bằng thuốc
Cruiser Plus 312.5FS với mục đích trừ rầy nâu – môi giới truyền bệnh vàng lùn và
lùn xoắn lá. Kết quả thí nghiệm đã được nhân rộng và được Bộ Nông nghiệp đặc
cách đưa vào quy trình phòng trừ rầy nâu, bệnh vàng lùn và lùn xoắn lá tại các tỉnh
đồng bằng sông Cửu Long. Đế
n vụ mùa năm 2009, tại các tỉnh miền Bắc và miền
Trung xuất hiện bệnh lùn sọc đen trên lúa và do chính rầy lưng trắng là môi giới
truyền bệnh. Viện Bảo vệ thực vật đã tiến hành các thí nghiệm một số thuốc để xử
lý hạt giống như: Cruiser plus 312.5FS, Enaldo 40FS, các loại thuốc này cũng
mang lại kết quả rất tốt trong việc phòng trừ rầy lưng trắng khi chúng bắ
t đầu xâm
nhập vào ruộng để truyền bệnh.
18

CHƯƠNG 2
MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Mục tiêu nghiên cứu
(1) Xác định được nguyên nhân gây bệnh lùn lụi hại lúa và phương thức lan truyền.
(2) Xây dựng được quy trình tổng hợp phòng chống bệnh lùn lụi hại lúa có hiệu quả.

(3) Xây dựng được mô hình thực nghiệm phòng chống hiệu quả bệnh lùn lụi hại lúa tại
các vùng có dịch.

2.2. Nội dung nghiên cứu
2.2.1. Điều tra, đánh giá sự phân bố, mức độ thiệt hại và các y
ếu tố liên quan đến sự phát
sinh, gây hại của bệnh lùn lụi lúa tại một số vùng sản xuất lúa chính ở miền Bắc và miền
Trung.
2.2.2. Xác định tác nhân gây nên hiện tượng lùn lụi lúa và phương thức lan truyền.
2.2.3. Nghiên cứu quan hệ “tác nhân gây bệnh – môi giới truyền bệnh – cây trồng” và
những tác động qua lại.
2.2.4. Nghiên cứu các giải pháp phòng chống và đề xuất qui trình phòng trừ tổng hợp bệnh
lùn lụi lúa.
2.2.5. Xây dựng mô hình thử nghi
ệm và hoàn thiện qui trình
Để chuẩn bị thực hiện đề tài đồng thời thực hiện nhiệm vụ chẩn đoán nhanh tác
nhân gây bệnh của Bộ Nông nghiệp và PTNT giao phó, Viện Bảo vệ thực vật đã tập trung
lực lực lượng nghiên cứu và thu được kết quả bước đầu về tác nhân gây bệnh và con
đường lây lan của chúng.
Cuối tháng 12/2009, Viện BVTV đã có báo cáo trình Bộ Nông nghiệp và PTNT kết
quả xác định nguyên nhân gây hiệ
n tượng “lùn lụi” lúa tại Nghệ An, các tỉnh khác ở miền
Bắc và miền Trung là do vi-rút lúa lùn sọc đen phương Nam (gọi tắt là lùn sọc đen) gây
nên, rầy lưng trắng là môi giới truyền bệnh.
Các kết quả nghiên cứu của đề tài đã được sử dụng làm cơ sở để xây dựng hệ
thống biện pháp chỉ đạo chống dịch của Bộ Nông nghiệp và PTNT mà điển hình là Thông
t
ư số 58/2010/TT-BNNPTNT ngày 5 tháng 10 năm 2010, qui định biện pháp phòng, trừ
bệnh lùn sọc đen hại lúa.
19


Với sự đồng thuận cao của người sản xuất lúa, đến nay bệnh vi-rút lúa lùn sọc đen
đã từng bước bị đẩy lùi trong các vùng ổ dịch góp phần ổn định sản xuất lúa gạo ở các tỉnh
phía Bắc và duyên hải Trung Bộ.
2.3. Vật liệu và phương pháp nghiên cứu
2.3.1. Vật liệu và dụng cụ nghiên cứu
- Cây lúa nhiễm bệnh thu thập ngoài đồng ruộng và các nguồn cây nhiễm bệnh
được
phân lập trên giống lúa chuẩn nhiễm Taichung-Native-1 (TN1) được lưu giữ và duy
trì trong lồng lưới cách ly tại các nhà lưới chống côn trùng của Viện BVTV.
- Cây lúa TN1 sạch được gieo từ hạt, duy trì và lưu giữ trong lồng lưới cách ly tại các
nhà lưới chống côn trùng của Viện BVTV.
- Các nguồn rầy bệnh thu trên ruộng bệnh và thu từ bẫy đèn tại các địa phương, bao
gồm rầy thu giữ sống và rầy bảo quả
n trong cồn tuyệt đối phục vụ các mục đích
khác nhau.
- Các loại dụng cụ chuyên dùng phục vụ công tác điều tra, thu thập mẫu lúa cũng như
mẫu rầy ngoài đồng ruộng và các thí nghiệm lây bệnh nhân tạo (LBNT): vợt, máy
hút rầy, tube, bẫy vàng, khay điều tra, khung 1 m
2
, dầu diezel…
- Các loại dụng cụ và máy móc chuyên dùng phục vụ công tác nuôi sinh học RLT
cũng như nhân nuôi và duy trì các quần thể rầy môi giới phục vụ các thí nghiệm
LBNT trong nhà lưới.
- Buồng nuôi sâu tiêu chuẩn, theo yêu cầu các mức nhiệt độ khác nhau
- Các giống lúa thu thập ở các địa phương, cơ quan chuyên môn… phục vụ các thí
nghiệm đánh giá tính kháng với RLT.
- Hạt giống TN1 phục vụ các thí nghiệm LBNT…
- Các loại dụng c
ụ, hóa chất phân tích và máy móc thiết bị chuyên dùng phục vụ

công tác chẩn đoán.
- Các loại thuốc BVTV có sẵn trên thị trường và do các Công ty cung ứng.

2.3.2. Phương pháp nghiên cứu
2.3.2.1. Điều tra, đánh giá sự phân bố, mức độ thiệt hại và các yếu tố liên quan đến sự
phát sinh, gây hại của bệnh lùn lụi lúa tại một số vùng sản xuất lúa chính ở miền Bắc
và Trung


20

(1) Điều tra phân bố bệnh ở các vùng sinh thái
- Kết quả điều tra xác định phân bố của bệnh chủ yếu dựa vào các nguồn: (i) số liệu
tập hợp của các Chi Cục BVTV: (ii) kết quả giám định mẫu thu thập tại tất cả các
tỉnh và do cán bộ Chi Cục BVTV các tỉnh và cán bộ Viện BVTV điều tra và thu
thập gửi về giám định tại Việ
n BVTV; và (iii) kết quả điều tra đánh giá và thu thập
mẫu bổ sung của cán bộ Viện BVTV tại các vùng có các dạng triệu chứng khác
thường, vùng bệnh nặng… được thông báo bởi các địa phương và đồng nghiệp.
- Tiến hành điều tra tại 4 vùng (Đồng bằng sông Hồng, miền trung, trung du, miền
núi phía Bắc). Thống nhất và hướng dẫn cán bộ địa phương và cán bộ Chi Cục
BVTV các tỉnh tiến hành chọ
n điển hình ít nhất 3 ruộng/điểm x 3 điểm/xã x 3
xã/huyện x 3 huyện/tỉnh rồi tập hợp và đánh giá chung.
- Tiêu chí: diện tích nhiễm, diện tích nhiễm nặng và diện tích tiêu hủy
- Số lần điều tra: 2 lần/vụ x 2 vụ= 4 lần (20 và 60 ngày sau cấy)
- Điều tra và lấy mẫu theo phương pháp của Viện BVTV-1997
(2) Điều tra đánh giá tình hình thiệt hại do bệnh lùn lụ
i gây ra
Tiến hành điều tra kết hợp với kết quả tổng hợp của các Chi Cục BVTV tại các tỉnh

đã được đánh giá là nhiễm nặng, vừa và nhẹ trong vụ mùa 2009 – khi bệnh mới hình
thành. Thống nhất và hướng dẫn cán bộ địa phương và cán bộ Chi Cục BVTV các tỉnh
tiến hành chọn điển hình ít nhất 3 ruộng/điểm x 3 điểm/xã x 3 xã/huyện x 3 huyện/tỉnh rồi
t
ập hợp và đánh giá chung.
- Phương pháp điều tra
+ Điều tra mỗi ruộng theo 5 điểm chéo góc, mỗi điểm 1m² theo khung điều tra,
đếm tất cả các cây trong khung và các cây bị bệnh, tính toán tỷ lệ bệnh theo
công thức: Tỷ lệ bệnh (%) = số cây bị bệnh/tổng số cây điều tra
+ Thang đánh giá mức độ tác hại theo qui định:
 Hại nhẹ: T
ỷ lệ bệnh: 1-10%
 Hại trung bình: Tỷ lệ : 10-30%
 Hại nặng: Tỷ lệ bệnh 30-50%
 Hại rất nặng: Tỷ lệ bệnh trên 50%
- Thời điểm điều tra: sau trỗ: có thể là chín sữa
- Điều tra bổ sung, lấy số liệu ở địa phương
- Số lần điều tra: 1 lần/vụ, 2 tỉnh/vùng
-
Các tiêu chí đánh giá:
+ Điều tra theo vùng khác nhau
21

+ Điều tra trên các giống khác nhau
+ Điều tra tại các thời vụ khác nhau
+ Điều tra trên các nền thâm canh khác nhau: kém, trung bình và cao.
(3) Điều tra qui luật phát sinh phát triển của bệnh lùn lụi và vec tơ
- Phương pháp điều tra: Mỗi ruộng điều tra 5 diểm chéo góc (dùng bẫy dính vàng với
rầy môi giới: 30 khóm lúa/điểm,1m²/ điểm với bệnh)
- Số điểm điều tra: 4 vùng x 1 tỉnh/vùng x 3 huy

ện/tỉnh x 3 xã /huyện x 3 ruộng/xã x
5 điểm/ruộng = 540 điểm/ 1 kỳ điều tra
- Điều tra định kỳ 10 ngày/lần từ khi gieo mạ đến thu hoạch, 10 kỳ/vụ, điều tra liên
tiếp trong 4 vụ. Tổng số lần điều tra: 540 điểm/kỳ x 10 kỳ/vụ x 4 vụ = 21600 điểm
điều tra
- Chỉ tiêu theo dõi:
+ Thời điể
m bắt đầu xuất hiện triệu chứng bệnh, rầy môi giới
+ Diễn biến của bệnh và rầy môi giới trên đồng ruộng qua các lần điều tra
+ Tỷ lệ bệnh (%)
+ Mật độ quần thể rầy môi giới: số con/bẫy (sử dụng bẫy dính vàng)
2.3.2.2. Xác định tác nhân gây nên hiện tượng lùn lụi lúa và phương thức lan truyền.
- Phân tích triệu chứng
: thu thập các loại triệu chứng điển hình ở các giai đoạn sinh
trưởng khác nhau của cây lúa, thu thập ở các vùng khác nhau, cả những khu vực bị
nhiễm nặng và khu vực nhiễm nhẹ, theo dõi diễn biến phát triển triệu chứng… so
sánh với các mô tả trước đây của các tác giả trong và ngoài nước. Tập hợp và so
sánh để loại trừ và khu trú đối tượng nghi ngờ nhằm định hướng cho các bước tiếp
theo
-
Chẩn đoán bắng hiển vi điện tử: thu mẫu với triệu chứng điển hình nhất, gửi mẫu
sang Pháp (Viện Nghiên cứu Phát triển – IRD, Montpellier, CH Pháp); Trung Quốc
(Viện Hàn Lâm Khoa học Nông nghiệp Triết Giang – tp. Hangzhou, Trung Quốc:
trực tiếp mang mẫu sang và tiến hình cùng chuyên gia); đồng thời, gửi mẫu tiến
hành tại Viện Vệ sinh dịch tễ TW (NIHE, Hà Nội). Sử dụng phương pháp nghiền
đồng thể tại Pháp và Trung Quốc, và phương pháp lát sắt siêu mỏng tại NIHE, Việt
Nam.
-
Chẩn đoán bằng ELISA và RT-PCR:
+ Sử dụng kỹ thuật DAS-ELISA theo phương pháp của IRRI với kháng huyết

thanh đặc hiệu với vi-rút vàng lùn (RGSV) và lùn xoắn lá (RRSV) nhập từ
Nhật Bản và IRRI.
22

+ Sử dụng kỹ thuật one-step RT-PCR (Anh et al., 2009)[1]:
 Sử dụng các cặp mồi đặc hiệu với vi-rút gây bệnh vàng lùn (RGSVs3/as3,
763 bp) và lùn xoắn lá (RRSVs3/as3, 825 bp) nhằm xác định sự hiện diện
của 2 vi-rút này
 Sử dụng cùng qui trình, cùng kit với các cặp mồi đặc hiệu của vi-rút lúa sọc
(RSV: RSV1F/R, 445 bp, theo Lijun et al., 2003 [23], lùn sọc đen (RBSDV:
RBSDV-S10s/as, theo Lee et al., 2005 [19]
 Thiết kế mới các cặp mồi đặc hiệu của SRBSDV (phối hợp với TS Hà Viế
t
Cường – ĐH Nông nghiệp I, Hà Nội: RBSDVS10F1/R1 – 1800 bp và
RBSDVS10F2/R2 – 600 bp); tham khảo cặp mồi do TS Zhou Guo-Hui (ĐH
Hoa Nam Trung Quốc: SRBSDVS10F3/R3 - 525 bp) và cặp mồi do TS
Zhang Heng-Mu (Viện Hàn Lâm Khoa học Nông nghiệp Triết Giang – tp.
Hangzhou, Trung Quốc: RBSDV-2S3-16/18: 529 bp) và sử dụng cùng qui
trình để giám định cùng các mẫu thu thập được nhằm so sánh kết quả cũng
như đánh giá tính đặc hiệu của các cặp mồi sử dụng.
 Nhằm tìm hiểu và xác định cặp mồi đặc hiệu riêng cho SRBSDV, Tạ Hoàng
Anh (
2009)[1] thiết kế 1 cặp mồi trên trình tự gene đoạn S7 (cung cấp bởi
TS Zhang Hengmu – ZAAS, Trung Quốc) để thử cùng.
+ Giải trình tự 1 số sản phẩm PCR, so sánh với trình tự trên GenBank: dùng phần
mềm MEGA5, Vector-NTI-11…
- Sản xuất thử và thử nghiệm kháng huyết thanh
: Tinh sạch vi-rút từ mẫu lúa nhiễm
bệnh và tiến hành sản xuất kháng huyết thanh theo các phương pháp chuẩn của
IRRI trên thỏ. Sau khi tinh lọc kháng huyết thanh, tiến hành thử nghiệm độ nhạy và

đặc hiệu trên mẫu lúa và mẫu ngô, mẫu tươi và mẫu khô.
- Lây bệnh nhân tạo xác định môi giới truyền bệnh
: theo chu trình Koch
+ Lây bệnh cá thể:
 Giống lúa thí nghiệm: Bắc thơm số 7.
 Tuổi lúa thí nghiệm: 10 ngày tuổi
 Phương pháp cách ly: cây lúa thí nghiệm được gieo ở các chậu có đường
kính 25cm, cao 30 cm , chậu được chụp bằng các lồng lưới cách ly đường
kính 20 cm, cao 100 cm.
 Thả 1 rầy mang nguồn bệnh vào 1 cây lúa trồng trong 1 chậu
 Rầy thí nghiệm: rầy tuổi 5 hoặc trưởng thành đã được cho tiếp xúc với cây
bệ
nh 5-7 ngày
23

 Thời gian tiếp xúc của rầy: cho rầy tiếp xúc với cây lúa khỏe 24 và 48 giờ
sau đó dùng ống hút bắt rầy ra và phun thuốc diệt rầy non khi chúng xuất
hiện.
 Tiến hành phun thuốc trừ rầy định kỳ 3 ngày/lần với cây lúa thí nghiệm để
đảm bảo sự cách ly tuyệt đối với rầy.
+ Lây bệnh quần thể
 Thả 100 rầy mang nguồn bệnh vào 1 ô trồng 100 cây lúa Bắ
c Thơm 10 ngày
tuổi, cách ly bằng các lồng lưới có kích thước: 1m x 1m x 1m
 Rầy thí nghiệm: rầy tuổi 5 hoặc trưởng thành đã được cho tiếp xúc với cây
bệnh 5-7 ngày
 Thời gian tiếp xúc của rầy: cho rầy tiếp xúc với cây lúa khỏe 24 và 48 giờ
sau đó dùng ống hút bắt rầy ra và phun thuốc diệt rầy non khi chúng xuất
hiện.
 Tiến hành phun thuốc trừ rầy định kỳ 3 ngày/lần với cây lúa thí nghiệ

m để
đảm bảo sự cách ly tuyệt đối với rầy
+ Chỉ tiêu theo dõi:
 Ngày biểu hiện bệnh của từng cây lúa
 Số cây lúa biểu hiện bệnh/ tổng số cây lúa thí nghiệm
+ Giám định cây nhiễm bệnh sau LBNT và rầy sử dụng nhằm tái hiện tác nhân
gây bệnh: áp dụng cùng qui trình, cùng kit và cùng cặp mồi đặc hiệu đã cho
phản ứng dương tính với mẫu lúa thu thập ngoài
đồng ruộng. Giải trình tự và so
sánh 1 số mẫu dương tính.
2.3.2.3. Nghiên cứu quan hệ “tác nhân gây bệnh – môi giới truyền bệnh – cây trồng” và
những tác động qua lại.
- Tiến hành các thí nghiệm LBNT theo phương pháp cá thể và quần thể như mục
trên.
- Tiến hành các thí nghiệm nhằm xác định phương thức truyền bệnh khác nhau:
+ Truyền bệnh qua hạt giống: Hạt giống lúa Bắc Thơm số 7 thu tại Nghệ
An trên
các cây lúa nhiễm bệnh (vụ hè thu 2009) được gieo và cấy trong lồng lưới cách
ly trong nhà lưới chống côn trùng của Viện BVTV.
+ Truyền bệnh qua đất và nước: Cây lúa nhiễm bệnh thu tại Nghệ An (vụ hè thu
2009) được trồng cùng với cây lúa sạch bệnh TN1 10 ngày tuổi trong cùng 1
chậu vại. Cách ly bằng lồng lưới chống côn trùng và đặt trong nhà lưới chống
côn trùng của Viện BVTV.
24

+ Truyền bệnh bằng sát thương cơ giới: Nghiền lá lúa nhiễm bệnh thu thập tại
Nghệ An (vụ hè thu 2009) trong dung môi HEPES 1M (pH 7,4) rồi tiến hành
lây bằng phương pháp gây sát thương cơ giới sử dụng Silica.
Chăm sóc tốt với hàm lượng đạm cao hơn nhằm tăng cường khả năng biểu hiện
triệu chứng bệnh. Theo dõi sự biểu hiện triệu chứng bệnh. Giám định mẫu b

ằng
RT-PCR những mẫu cây có biểu hiện triệu chứng khác thường (nếu có).
- Tiến hành thử nghiệm với các phương thức khác nhau nhằm tìm hiểu: thời gian ủ
bệnh trong cơ thể RLT và cây lúa, hiệu quả truyền bệnh ở các pha phát dục khác
nhau của RLT, đánh giá hiệu quả truyền bệnh của RLT, xác định các loài môi giới
khác bên cạnh RLT, xác định hiệu quả truyền bệnh và mức độ ảnh hưởng c
ủa vi-rút
khi LBNT trên các tuổi lúa khác nhau…
+ Thời gian ủ bệnh trong cơ thể RLT: Cho rầy non tuổi 2 – 3 sạch bệnh tiếp xúc
với cây lúa bệnh 48h. Sau đó luân phiên liên tục trên mỗi cá thể rầy cho tiếp
xúc với lúa non TN1 10 ngày tuổi trong 24h. Sau khi LBNT tiến hành thay cây
và cấy cây lúa đã LBNT vào ô thí nghiệm trong lồng cách ly trong nhà lưới
chống côn trùng. Cấy song song cây không LBNT làm đối chứng khỏe và chăm
sóc với hàm lượng đạm cao hơn. Theo dõi sự xuất hiện triệu chứng bệnh. Tiến
hành trên ít nh
ất 10 cá thể rầy mỗi đợt LBNT.
+ Thời gian ủ bệnh trong cây lúa: Thống kê từ các thí nghiệm LBNT khác nhau,
tính các ngày đầu tiên có cây lúa đầu tiên xuất hiện triệu chứng, ngày xuất hiện
rộ và ngày xuất hiện muộn nhất kể từ ngày bắt đầu tiến hành LBNT.
+ Hiệu quả truyền bệnh ở các pha phát dục khác nhau của RLT: Cho rầy non tuổi
2 – 3 sạch tiếp xúc với cây lúa nhiễm bệnh 48h. Sau đó tạ
i mỗi pha phát dục
tiếp theo tiến hành bắt rầy dưỡng trên các nguồn cây lúa sạch khác để thời gian
ủ bệnh đạt ít nhất 10 ngày trước khi tiến hành LBNT trên lúa non TN1 10 ngày
tuổi. Thống kê số lượng cây biểu hiện triệu chứng từ các nguồn rầy khác nhau
để xác định và so sánh hiệu quả truyền bệnh của pha rầy non và rầy trưởng
thành.
+ Đánh giá hiệu quả truyền bệnh của RLT: Tiến hành các thí nghiệm LBNT theo
ph
ương pháp tương tự. Tiến hành LBNT sử dụng RLT và nguồn bệnh là cây

lúa để sau này lây cho lúa và cho ngô và ngược lại, thử nghiệm lây chéo với
nguồn bệnh là cây ngô bệnh để sau này lây cho lúa.
+ Xác định các loài môi giới khác bên cạnh RLT: Sử dụng các loại rầy môi giới
khác nhau, bao gồm rầy nâu, rầy nâu nhỏ và rầy lưng trắng. Cho rầy non mỗi
loại tuổi 2 – 3 sạch bệnh tiếp xúc với cây lúa nhiễm bệnh 48h. Sau đó dưỡng
rầy trên lúa TN1 ít nh
ất 10 ngày trước khi bắt đầu LBNT hoặc duy trì rầy trên

×