Tải bản đầy đủ (.doc) (146 trang)

Đề cương bài giảng triết học dành cho cao học và sau đại học không chuyên ngành triết học

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (378.27 KB, 146 trang )

Đề cơng bài giảng triết học
T.s Vũ Minh Tuyên

Đề cơng bi giảng triết học

(Số ĐVHT: 5 tín chỉ)
Mục tiêu môn học:
Đây là môn học cơ bản dành cho học viên cao học và nghiên cứu sinh
không thuộc chuyên ngành triết học. Trong triết học Mác-Lênin, lý luận và
phơng pháp thống nhất hữu cơ với nhau; chủ nghĩa nghĩa duy vật thống nhất
với phép biện chứng làm cho triết học Mác trở thành lý luận khoa học, có khả

dnh cho cao học v sau đại học không chuyên ngnh triết
học

năng nhận thức đúng đắn giới tự nhiên, đời sống xà hội và cả t duy con
ngời.
Thông qua việc học triết học Mác-Lênin là cơ sở để cho học viên tiếp
nhận một thế giới quan khoa học và xác định một phơng pháp luận đúng đắn.
Trang bị cho ngời học những nguyên lý cơ bản của triết học Mác-Lênin để từ
đó có thế giới quan khoa học và phơng pháp luận biện chứng để nhận thức
các môn khoa học khác.
Phơng pháp đánh giá môn học:
Kiểm tra:
Tiểu luận:
Thi hết môn:
1 bài - hệ sè 0,1
2 bµi - hƯ sè 0,3
1 bµi - hƯ sè 0,6
1



Đề cơng bài giảng triết học
Chơng I
T.s Vũ Minh Tuyên
Triết học v vai trò của triết học trong đời sống x∙ héi
(2 tiÕt lý thuyÕt 1 tiÕt th¶o luËn)
1.1 - khái niệm triết học v đối tợng nghiên cứu
của triết học
1.1.1. Khái niệm triết học
Triết học ra đời khoảng từ TKVIII - VI Tr.CN
ở phơng Tây, khái niệm triết học có nguồn gốc từ triết học Hy Lạp cổ
đại. Theo tiếng Hy Lạp cổ đại, khái niệm triết học là Philosophia có nghĩa là
yêu mến sự thông thái.
ở phơng Đông, khái niệm triết học bắt nguồn từ chữ triết trong tiÕng
Trung Qc cã nghÜa lµ trÝ, lµ sù hiĨu biÕt sâu sắc của con ngời về thế giới.
Còn trong triết học ấn độ, khái niệm triết học là darshana có nghĩa là con
đờng suy ngẫm để dẫn dắt con ngời kiếm tìm chân lý.
Nh vậy cho dù ở Phơng Đông hay Phơng Tây, ngay từ đầu triết học
học đà là hoạt động tinh thần biểu hiện khả năng nhận thức, đánh giá của con
ngời, nó tồn tại với t cách một hình thái ý thức xà hội.
Khái quát lại: Triết häc lµ hƯ thèng tri thøc lý ln chung nhÊt của con
ngời về thế giới, về bản thân con ngời và vị trí của con ngời trong thế
giới đó.
Với t cách là một hệ thống tri thức lý luận chung nhÊt, triÕt häc kh«ng
xt hiƯn cïng víi sù xt hiƯn của xà hội loài ngời,
nó chỉ ra đời khi có những điều kiện sau:
Nguồn gốc nhận thức: Triết học chỉ xuất hiện khi nhận thức của con
ngời đạt tới trình độ trừu tợng hoá, khái quát hoá, hệ thống hoá trong quá
trình phản ánh thế giới khách quan, để từ đó xây dựng nên các học thuyết, lý
luận khoa học.

2


Đề cơng bài giảng triết học
T.s Vũ Minh Tuyên
Nguồn gốc xà hội: Triết học chỉ xuất hiện khi trình độ phân công lao
động xà hội phát triển đến mức có sự phân công lao động thành lao động trí óc
và lao động chân tay, tức là vào thời kỳ xà hội có giai cấp đầu tiên trong lịch
sử - xà hội chiếm hữu nô lệ. Nh vậy, từ khi mới ra đời, tự bản thân triết học
đà mang tính giai cấp, phục vụ lợi ích cho những giai cấp nhất định.
Hai nguồn gốc trên có quan hệ mật thiết với nhau, sự phân chia chúng
chỉ có tính chất tơng đối
1.1.2- Đối tợng của triết học.
Khi mới ra đời (khoảng từ TK VIII - TKVI Tr.CN) triết học cổ đại đợc
gọi là triết học tự nhiên. Triết học đợc coi là m«n khoa häc bao gåm tri thøc
cđa mäi khoa häc. Đây chính là nguyên nhân dẫn đến quan niệm coi triết học
là khoa học của mọi khoa học.
Đến thời kỳ trung cổ ở Tây Âu, khoảng từ thế kỷ V đến thế kỷ XV,
tôn
giáo chiếm địa vị thống trị trong đời sống tinh thần xà hội, triết học trở thành
nô lệ của thần học. Triết học tự nhiên cổ đại bÞ thay thÕ bëi triÕt häc kinh viƯn
chØ tËp trung vào nhiệm vụ chứng minh cho sự tồn tại của Thợng Đế và tính
đúng đắn của những nội dung trong Kinh thánh
Sự hình thành phơng thức sản xuất t bản chủ nghĩa cùng với sự khôi
phục và phát triển mạnh của KHTN đà tạo ra cơ sở xà hội và cơ sở tri thức
vững chắc cho sự phục hng và phát triển của triết học, nhất là triết học duy
vật, mà đỉnh cao là CNDV TK XVII - XVIII ở Anh, Pháp, Hà Lan. Mặt khác
t tởng triết học cũng đợc phát triển trong các học thuyết triết học duy tâm
mà đỉnh cao là triết học Heghen, đại biểu của triết học cổ điển Đức.
Do nhu cầu của thực tiễn xà hội, các môn khoa học chuyên ngành dần

dần tách ra thành những môn khoa học độc lập, có đối tợng và phơng pháp
nghiên cứu riêng đà từng bớc phá vì tham väng cđa triÕt häc mn lµ "khoa
häc cđa mọi khoa học". Hêghen chính là ngời cuối cùng có tham vọng đó,
ông muốn xây dựng triết học của mình thành một hệ thống phổ biến của nhận
thức, trong đó các ngành khoa học cụ thể chỉ là những mắt khâu phụ thuộc
vào triết học.
3


Đề cơng bài giảng triết học
T.s Vũ Minh Tuyên
Hoàn cảnh kinh tế- xà hội và sự phát triển mạnh mẽ của khoa học đầu thế
kỷ XIX đà dẫn đến sự ra đời của triết học Mác. Đoạn tuyết với quan niƯm coi
“TriÕt häc lµ khoa häc cđa mäi khoa häc”, triết học Mác xác định đối tợng
nghiên cứu của mình là: tiếp tục giải quyết mối quan hệ giữa vật chất và ý
thức trên lập trờng CNDV triệt để và nghiên cứu các quy luật chung nhất
của tự nhiên, xà hội và t duy.
1.13- Vấn đề cơ bản của triết học
Triết học với t cách là một khoa học, nó quan tâm nghiên cứu nhiều
vấn đề chung về thế giới, trong đó có một vấn đề trọng tâm nổi lên đợc coi là
nền tảng cho việc giải quyết những vấn đề khác đợc gọi là vấn đề cơ bản của
triết học. Theo Ăngghen "vấn đề cơ bản lớn của mọi triết học, nhất là triết học
hiện đại, là vấn đề giữa tồn tại và t duy" (hay giữa vật chất và ý thức).
- Vấn đề cơ bản của triết học có hai mặt:
+ Mặt thứ nhất, trả lời câu hỏi giữa vật chất và ý thức, cái nào có trớc,
cái nào có sau và cái nào quyết định cái nào ?
+ Mặt thứ hai, trả lời câu hỏi: con ngời có khả năng nhận thức thế giới
không ?
1.2- Tính quy luật về sự hình thành, phát triển của triết học
Sự hình thành thành, phát triển của của triết học có tính quy luật

của nó. Trong đó, các quy luật chung là: sự hình thành, phát triển của triết học
gắn liền víi ®iỊu kiƯn kinh tÕ -x· héi, víi cc ®Êu tranh giữa các giai cấp, các
lực lợng xà hội; với các thành tựu khoa học tự nhiên và khoa học xà hội; với
sự thâm nhập và đấu tranh giữa các trờng phái triết học với nhau.
Là một hình thái ý thức xà hội, sự hình thành, phát triển của triết học gắn
liền với các điều kiện kinh tế -xà hội, với cuộc đấu tranh của các giai cấp, các
lực lợng xà hội.
Là một hình thái ý thức xà hội có tính khái quát, sự phát triển của triết
học không thể tách rời các thành tựu của khoa học tự nhiên và khoa học xÃ
hội. Sự phát triển của Triết học, một mặt phải khái quát đợc các thành tựu
4


Đề cơng bài giảng triết học
T.s Vũ Minh Tuyên
của khoa học, mặt khác phải đáp ứng yêu cầu phát triển của khoa học trong
từng giai đoạn lịch sử. Vì vậy, với mỗi giai đoạn phát triển của khoa học, nhất
là khoa học tự nhiên, thì triết học cũng có một bớc phát triển. Đúng nh
Ăngghen đà nhận định: Mỗi khi có những phát minh mới của khoa học tự
nhiên thì chủ nghĩa duy vật cũng thay đổi hình thức. Do đó, việc nghiên cứu
các t tởng triết học không thể tách rời các giai đoạn phát triển của khoa học,
nhất là khoa học tự nhiên.
Trong lịch sử triết học luôn luôn diễn ra cuộc đấu tranh giữa các trờng
phái triết học, mà điển hình nhất là cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật và
chủ nghĩa duy tâm.Trong quá trình đấu tranh đó, các trờng phái triết học vừa
gạt bỏ lẫn nhau, vừa kế thừa lẫn nhau, và mỗi trờng phái không ngừng biến
đổi, phát triển lên một trình độ mới cao hơn. Chính cuộc đấu tranh giữa các
trờng phái triết học đà làm cho triết học không ngừng phát triển. Đó là lôgíc
nội tại trong quá trình phát triển của triết học.
Sự phát triển triết học không chỉ diễn ra quá trình thay thế lẫn nhau giữa

các học thuyết triết học mà còn bao hàm sự kế thừa lẫn nhau giữa chúng. Đó
chính là sự phủ định biện chứng trong lịch sử phát triển t tởng triết học.Việc
nhiên cứu các t tởng triết học đòi hỏi phải nghiên cứu sự kế thừa lẫn nhau
giữa các t tởng triết học.
Sự phát triển của triết học không chỉ gắn liền với từng quốc gia dân tộc,
mà còn có sự tác động qua lại lẫn nhau, thâm nhập lẫn nhau giữa các t tởng
triết học của các quốc gia, dân tộc cũng nh giữa các vùng với nhau.Sự tác
động qua lại lẫn nhau, thâm nhập lẫn nhau đó góp phần thúc đẩy t tởng triết
học nhân loại nói chung, t tởng triết học từng dân tộc nói riêng phát triển.
Sự phát triển cña t− t−ëng triÕt häc võa cã tÝnh giai cÊp, vừa có tính dân tộc,
vừa có tính nhân loại.
Sự phát triển của triết học không chỉ trong sự tác động qua lại lẫn nhau,
thâm nhập lẫn nhau giữa các t tuởng triết học, mà còn giữa triết học với
chính trị, tôn giáo, nghệ thuật. Sự tác động qua lại lẫn nhau đó làm cho hình
thức phát triển của triết học rất đa dạng. Triết học không chỉ là cơ sở lý luËn
5


Đề cơng bài giảng triết học
T.s Vũ Minh Tuyên
cho các hình thái ý thức xà hội khác, nh thể hiện thông qua chính trị, thông
qua tôn giáo, thông qua nghệ thuật. Điều đó cho thấy, nhiều khi nghiên cứu
các t tởng triết học phải thông qua nghiên cứu, khái quát từ các hình thái ý
thức xà hội khác.
1.3 - Vai trò của triết học trong đời sống x hội
1.3.1- Vai trò thế giới quan và phơng pháp luận của Triết học
Những vấn đề triết học đặt ra và giải quyết, trớc hết là những vấn đề thế
giới quan. Đó là một trong những chức năng cơ bản của Triết học. Thế giới
quan là toàn bộ những quan điểm, quan niệm của con ngời về thế giới xung
quanh, về bản thân con ngời, về cuộc sống và vị trí của con ngời trong thế

giới đó. Thế giới quan đợc hình thành, phát triển trong quá trình sinh sống và
nhận thức của con ngời; đến lợt mình, thế giới quan lại trở thành nhân tố
định hớng cho con ngời tiếp tục quá tr×nh nhËn thøc thÕ giíi xung quanh,
cịng nh− tù nhËn thức bản thân mình, và đặc biệt là, từ đó con ngời xác định
thái độ, cách thức hoạt động và sinh sống của mình. Thế giới quan đúng đắn
là tiền đề hình thành nhân sinh quan tích cực, tiến bộ.
Nh đà trình bày ở phần trên, thế giới quan có vai trò đặc biệt trong cuộc
sống của con ngời. Có thể coi thế giới quan là một "thấu kính", thông qua đó
con ngời nhìn nhận thế giới xung quanh và tự xem xét đánh giá chính bản
thân mình để xác định mục đích, ý nghĩa cuộc sống và lựa chọn phơng thức
hoạt động đạt đợc ý nghĩa, mục đích đó.
Thế giới quan có nhiều trình độ khác nhau: thế giới quan huyền thoại, thế
giới quan tôn giáo, thế giới quan triết học. Triết học ra đời với t cách là hƯ
thèng lý ln chung nhÊt vỊ thÕ giíi quan, lµ hạt nhân lý luận của thế giới
quan, đà làm cho thế giới quan phát triển lên một trìnhd độ tự giác dựa trên cơ
sở tổng kết kinh nghiệm thức tiễn và tri thức khoa học mang lại.
Triết học với t cách là hạt nhận lý luận của thế giới quan, làm cho thế
giới phát triển nh một quá trình tự giác trong quá trình nhận thức và hoạt
động thực tiễn cđa con ng−êi. Víi ý nghÜa nh− vËy, triÕt häc có chức năng thế
giới quan.
6


Đề cơng bài giảng triết học
T.s Vũ Minh Tuyên
Cùng với chức năng thế giới quan, triết học còn có chức năng phơng
pháp luận. Phơng pháp luận là lý luận về phơng pháp, bao gồm một hệ
thống các quan điểm, các nguyên tắc xuất phát chỉ đạo con ngời trong việc
xác định lựa chọn phơng pháp để đạt tới mục đích đà đặt ra. Căn cứ vào vai
trò của nó, có thể chia phơng pháp luận thành 3 cấp độ: phơng pháp luận

chuyên ngành, phơng pháp luận chung và phơng pháp luận chung nhất.
+ Phơng pháp luận chuyên ngành: của một ngành khoa học cụ thể.
+ Phơng pháp luận chung: đợc sử dụng cho một số ngành khoa học.
+ Phơng pháp luận chung nhất là phơng pháp luận triết học, cơ sở cho
các loại phơng pháp luận nêu trên.
Với t cách lµ hƯ thèng tri thøc chung nhÊt cđa con ng−êi về thế giới và
vai trò của con ngời trong thế giới đó và nghiên cứu các quy luật chung nhất
của tự nhiên, xà hội và t duy, triết học có chức năng phơng pháp luận chung
nhất.
Trong triết học mác-xít, chủ nghĩa duy vật và phép biện chứng thống
nhất chặt chẽ víi nhau: chđ nghÜa duy vËt lµ chđ nghÜa duy vật biện chứng;
còn phép biện chứng là phép biện chứng duy vật. Sự thống nhất đó đà làm cho
triết học macxít trở thành thế giới quan và phơng pháp luận thËt sù khoa häc
trong nhËn thøc vµ thùc tiƠn hiƯn nay vì sự tiến bộ của xà hội
1.3.2- Vai trò của triết học đối với các khoa học cụ thể và đối với t
duy lý luận.
Sự hình thành, phát triển của triết học không thể tách rời sự phát triển của
khoa học cụ thể, qua khái quát các thành tựu của khoa học cụ thể. Tuy nhiên,
triết học lại có vai trò rất to lớn đối với sự phát triển cđa khoa häc cơ thĨ, nã lµ
thÕ giíi quan vµ phơng pháp luận cho khoa học cụ thể, là cơ së lý ln cho
c¸c khoa häc cơ thĨ trong viƯc đánh giá các thành tựu đà đạt đợc, cũng nh
vạch ra phơng hớng, phơng pháp cho quá trình nghiên cứu khoa häc cơ
thĨ.
7


Đề cơng bài giảng triết học
T.s Vũ Minh Tuyên
Trong lịch sử triết học, chủ nghĩa duy vật đóng vai trò tích cực đối với sự
phát triển của khoa học; ngợc lại chủ nghĩa duy tâm thờng đợc sử dụng

làm công cụ biện hộ cho tôn giáo và cản trở khoa học phát triển.
Sự ra đời và phát triển của chủ nghĩa duy vật biện chứng luôn luôn gắn
với các thành tựu của khoa học hiện đại, là sự khái quát các thành tựu khoa
học mang lại; đồng thời, nó lại đóng vai trò to lớn đối với sự phát triển của
khoa học hiện đại. Chủ nghĩa duy vật biện chứng là thế giới quan và phơng
pháp luận thật sự khoa học cho các khoa học cụ thể đánh giá đúng các thành
tựu đà đạt đợc, cũng nh xác định đúng phơng hớng và phơng pháp trong
nghiên cứu. Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay, cuộc cách mạng khoa học và
công nghệ đang đạt đợc nhiều thành tựu to lớn làm thay đổi sâu sắc nhiều
mặt của đời sống xà hội, tình hình thế giới đang có nhiều biến động phức tạp,
thì nắm vững thế giới quan và phơng pháp luận duy vËt biƯn chøng cµng cã ý
nghÜa quan träng. Tuy nhiên, chủ nghĩa duy vật biện chứng không thể thay thế
đợc các khoa học khác. Theo yêu cầu của sự phát triển đòi hỏi phải có sự liên
minh chặt chẽ giữa triết học với các khoa học khác.
Triết học không chỉ có vai trò to lớn đối với các khoa học cụ thể, mà còn
có vai trò to lớn đối với rèn luyện năng lực t duy của con ngời. Ph.Ăngghen
chỉ ra:một dân tộc muốn đứng vững trên đỉnh cao của khoa học thì không thể
không có t duy lý luận và để hoàn thiện năng lực t duy lý luận, không có
một cách nào khác hơn là nghiên cứu toàn bộ triết học thời trớc.
Câu hỏi thảo luận và ôn tập
1. Triết học là gì? ( Nêu khái niệm, nguồn gốc chức năng và vấn đề cơ
bản của triết học)
2. Trình bày khái quát sự thay thế có tính quy luật các thời kỳ cơ bản
của lịch sử triết học. Từ đó chỉ ra sự đối lập của phơng pháp t duy biện
chứng và phơng pháp t duy siêu hình trong triết học.
3. Triết học có vai trò nh thế nào trong đời sống x hội, đặc biệt đối
với sự phát triển của khoa học?
Tài liệu tham khảo
8



Đề cơng bài giảng triết học
1994, t.20.
T.s Vũ Minh Tuyên
1. C. Mác- Ph. Ăngghen. Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội,
2. C. Mác- Ph. Ăngghen. Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội,
1995, t.21
3. V.I Lênin.Toàn tập, Nxb TiÕn bé, Matxcowva, 1980, t. 18, 23, 29.
9


Đề cơng bài giảng triết học
Chơng 2
T.s Vũ Minh Tuyên
khái lợc lịch sử triết học phơng đông
(8 tiết lý thuyết 4 tiết thảo luận 2 tiết tự nhiên cứu)
2.1. Triết học ấn độ cổ, trung đại
2.1.1. Điều kiện ra đời, phát triển và nét đặc thù của triết học ấn Độ
cổ, trung đại
2.1.1.1. Điều kiện ra đời của triết học ấn Đồ cổ, trung đại: là một đất
nớc có điều kiện tự nhiên và dân c đa dạng phức tạp: địa hình có nhiều núi
non trùng điệp, có nhiều sông ngòi với những đồng bằng trù phú; khí hậu có
vùng nóng, ẩm, ma nhiều, có vùng lạnh giá quanh năm tuyết phủ, lại có
những sa mạc khô khan. Nét nổi bËt vỊ kinh tÕ - x· héi cđa Ên §é cổ đại là sự
tồn tại sớm và kéo dài kết cấu kinh tế xà hội theo mô hình công xà nông
thôn.
Những điều kiện trên luôn tác động mạnh đến con ngời, để lại dấu ấn
tâm linh đậm nét, tạo nên cơ sở ra đời và quy định nội dung tính chất của nền
triết học ấn Độ cổ, trung đại. Nét đặc thù của nền triết học ấn Độ là nền triết
học chịu ảnh hởng của những t tởng tôn giáo có tính chất hớng nội. Vì

vậy, việc lý giải và thực hành những vấn đề nhân sinh quan dới góc độ tâm
linh tôn giáo nhằm đạt tới sự giải thoát lµ xu h−íng tréi cđa nhiỊu häc
thut triÕt häc - tôn giáo ấn Độ cổ đại.
2.1.1..2. Quá trình hình thành và phát triển của triết học tôn giáo ấn
Độ cổ, trung đại.
Ngời ta phân chia quá trình hình thành và phát triển của triết học ấn Độ
cổ, trung đại thành ba thêi kú chÝnh.
Thêi kú thø nhÊt lµ thêi kú Vêđa (khoảng thế kỷ XV tr.CN đến thế kỷ
VIII tr.CN). ở thời kỳ này, t tởng thần thoại mang tính chất đa thần tự nhiên
10


Đề cơng bài giảng triết học
T.s Vũ Minh Tuyên
phát triển thành t tởng thần thoại có tính nhất nguyên. Đồng thời với t
tởng triết lí về các vị thần đà xuất hiện một số t tởng duy vật, vô thần tản
mạn, với những khái niệm, phạm trù triết học duy vật thô sơ. Những t tởng
trên biểu hiện trong kinh sách cổ có tính tổng hợp tri thức và giáo lý tôn giáo
lớn nh kinh Vêđa, Upanisad, đạo Bàlamôn.
Thời kỳ thứ hai là thời kỳ cổ điển hay còn gọi là thời kỳ Bàlamôn - Phật
giáo (khoảng thế kỷ VI tr.CN ®Õn thÕ kû VI). HƯ t− t−ëng chÝnh thèng thời kỳ
này là giáo lí đạo Bàlàmôn và triết lý Vêđa, Upanisad. Do có những biến động
lớn về kinh tế, chính trị, xà hội, t tởng, các trờng phái triết học - tôn giáo
thời kỳ này đà đợc chia làm hai hệ thống: chính thống và không chính thống.
Hệ thống chính thống thừa nhận uy thế của kinh Vêđa, biện hộ cho giáo lí
Bàlamôn, bảo vệ chế độ đảng cấp xà hội, gồm sáu trờng phái: Sàmkhya,
Vêdànta, Nyaya, Vaisesika, Mimànsa, Yoga. Hệ thống không chính thống
phủ định uy thế kinh Vêđa, phê phán giáo lý Bàlamôn, lên án chế độ đẳng cấp
xà hội, gồm ba trờng phái: Lokàyata, Phật giáo, đạo Jaina.
Thời kỳ thứ ba gọi là thời kỳ sau cổ điển hay còn gọi là thời kỳ xâm nhập

của Hồi giáo (khoảng thế kỷ VII-XVIII).
Từ thế kỷ VII đạo Hồi xâm nhập vào ấn Độ. ở bình diện t tởng, cuộc
cạnh tranh uy thế giữa đạo Phật, đạo Bàlamôn và đạo Hồi diễn ra ngày càng
quyết liệt. Đợc sự ủng hộ của giai cấp thống trị là tín đồ của Hồi giáo, đạo
Hồi từng bớc phát triển. Sự phát triển của đạo Hồi đà làm cho đạo Phật suy
yếu và đến thế kỷ XII và đến đầu kỷ nguyên mới đạo Bàlamôn phát triển
thành đạo Hinđu.
Nh vậy, triết lí của đạo Hồi là triết lí duy tâm, ngoại lai, xâm nhập vào
ấn Độ, nó là hệ t tởng của giai cấp thống trị ở ấn Độ trong thời kỳ chế độ
phong kiến suy tàn.
2.1.2. Một số nội dung triết học ấn Độ cổ, trung đại.
T tởng triết học ấn Độ cổ, trung đại là đà đặt ra và giải quyết nhiều
vấn đề triết học nh bản thể luận, nhận thức luận v.v.. Do chịu ảnh hởng lớn
11


Đề cơng bài giảng triết học
T.s Vũ Minh Tuyên
của những t tởng tôn giáo, nên nội dung t tởng triết học ấn Độ cổ, trung
đại thể hiện nét đặc thù khi trình bày các nội dung triết học chung.
2.12.1. T tởng bản thể luận
- Bản thể luận thần thoại tôn giáo.
Tự nhiên, xà hội nơi sinh trởng và tồn tại của con ngời luôn ẩn dấu
những điều bí ẩn, kỳ diệu, luôn gây cho con ngời nhiều tai hoạ. Để giải thích
những hiện tợng có thật ấy, ngời ấn Độ đà sáng tạo nên một thế giới các vị
thần có tính chất tự nhiên. Các vị thần đợc ngời ấn Độ thờ phụng đầu tiên
tợng trng cho sức mạnh của các lực lợng, sự vật tự nhiên đó là trời, đất,
mặt trời, mặt trăng, lửa, ánh sáng, gió, ma... Về sau, ngời ấn Độ lại sáng tạo
nên những vị thần để lý giải các hiện tợng xà hội, luân lý đạo đức nh thần
ác, thần thiện, thần công lý. Ngời ấn Độ giải thích rằng vũ trụ tồn tại ba thế

lực có liên hệ mật thiết với nhau là thiên giới, trần thế, địa ngục.
Thần linh đối với ngời ấn Độ là bậc siêu việt mang tính tự nhiên và
mang đậm nhân tính. Thần cũng có vợ, có chồng, cũng uống rợu, cũng có
những tật xấu. Nhìn chung đối với ngời ấn Độ, thần linh bao giờ cũng đại
diện cho sự tốt lành.
Về sau, quan niệm tự nhiên về các vị thần dần dần mờ nhạt, thay vào đó
là những nguyên lý trừu tợng duy nhất tối cao đợc coi là nguồn gốc vũ trụ
và đời sống con ngời. Đó là thần sáng tạo tối cao Brahman và một tinh
thần tối cao Bahman. T tởng này biểu hiện trong giáo lí Bàlamôn, trong
triết lí Upanisad. Thần sáng tạo tối cao có nguồn lực sáng tạo và mặt đối lập
với nó là huỷ diệt, nên có thần huỷ diệt Shiva. Có huỷ diệt thì có bảo tồn nên
có thần bảo vệ là Vishnu. Sáng tạo, huỷ diệt và bảo tồn là ba mặt thống nhất
trong quá trình biến hoá vũ trụ.
Nh vậy, quá trình hình thành, phát triển t tởng triết học, tôn giáo
trong kinh Vêđa là từ sự giải thích các sự vật hiện tợng cụ thể của thế giới,
qua biểu tợng các vị thần có tính chất tự nhiên, ngời ấn Độ đi tới phát hiện
cái chung, cái bản chất, đó là bản nguyên tối cao của thế giới Đấng sáng tạo
12


Đề cơng bài giảng triết học
quan thần thoại sang thế giíi quan triÕt häc.
-T− duy triÕt häc vỊ b¶n thĨ luận.
T.s Vũ Minh Tuyên
tối cao hay tinh thần vũ trụ tối cao Brahman. Đó là bớc chuyển từ thế giới
Kinh Upanisad ra đời sớm vào khoảng thế kỷ VIII-VI tr.CN. Nội dung
căn bản của Upanisad là vạch ra nguyên lí tối cao bất diệt là bản thể của vũ trụ
vạn vật, giải thích bản tính con ngời và mối quan hệ giữa đời sống tinh thần
của con ngời với nguồn sống bất diệt của vũ trụ, từ đó tìm ra con đờng giải
thoát cho con ngời ra khỏi sự ràng buộc của thế giới sự vật, hiện tợng hữu

hình, hữu hạn nh phù du này. Với nội dung t tởng triết học phong phú và
sâu sắc nh vậy, Upanisad trở thành gốc triết lí cho hầu hết tất cả các hệ thống
triết học tôn giáo ấn Độ, là cơ sở lí luận cho Bàlamôn và đạo Hinđu sau này.
Để nhận thức đợc bản thể luận tuyệt đối tối cao của vũ trụ, Upanisad đÃ
phân chia nhận thức thành hai trình độ hiểu biết khác nhau: trình độ nhận thức
hạ trí và thợng trí.
Cái thực tại đầu tiên tối cao nhất, là căn nguyên của tất cả theo Upanisad
là tinh thần vị trơ tèi cao Brahman. Tinh thÇn vị trơ tèi cao biĨu hiƯn trong
con ng−êi vµ chóng sinh lµ linh hồn tối cao bất diệt átman, nó là bộ phận của
Brahman. Không ở đâu không có Brahman tồn tại tác động, chi phối. Brahman
là cái bản ngà vũ trụ đại đồng thì átman là cái bản ngà cá nhân. Vì átman
đồng nhất với Brahman nên bản chất linh hồn cũng tồn tại vĩnh viễn, bất diệt
nh tinh thần vũ trụ tối cao Brahman. Song do những tình cảm, ý trí, dục vọng
và những hành động của thể xác nhằm làm thoả mÃn mọi ham muốn của con
ngời đà che lấp bản tính của mình, gây nên hậu quả là linh hồn bất tử, đầu
thai hết thân xác này đến thân xác khác với hình thức khác nhau từ kiếp này
sang kiếp khác gọi là luân hồi.
2.12.2) T tởng giải thoát của triết học tôn giáo ấn Độ
Triết học ấn Độ cổ, trung đại có nhiều trờng phái song cái chung của
nhiều trờng phái là đều tập trung vào việc lí giải vấn đề then chốt nhất- đó là
vấn đề bản chất, ý nghĩa của đời sống, nguồn gốc nỗi khổ cđa con ng−êi vµ
13


Đề cơng bài giảng triết học
T.s Vũ Minh Tuyên
con đờng, cách thức giải thoát cho con ngời khỏi bể khổ của cuộc đời. Mục
đích, nhiệm vụ của các trờng phái triết học ấn Độ cổ đại là giải thoát.
Phơng tiện, con đơng, cách thức của mỗi trờng phái có thể khác nhau,
nhng mục đích là một. Giải thoát là phạm trù triết học tôn giáo ấn Độ dùng

để chỉ trạng thái tinh thần, tâm lí, đạo đức của con ngời thoát khỏi sự ràng
buộc của thế giới trần tục và nỗi khổ của cuộc đời. Đạt tới sự giải thoát, con
ngời sẽ đạt tới sự giác ngộ, nhận ra chân bản của mình, thực tớng của vạn
vật, xoá bỏ vô minh, diệt mọi dục vọng, vợt ra khỏi nghiệp báo, luân hồi, hoà
nhập vào bản thể tuyệt đối Brahman hay Niết bàn.
Để đạt tới giải thoát con ngời phải dày công tu luyện hành động đạo đức
theo giới luật, tu luyện trí tuệ, trực giác thực nghiệm tâm linh, chiêm nghiệm
nội tâm lâu dài. Đạt tới sự giải thoát cũng chính là lúc con ngời đạt tới sự
siêu thoát, vợt ra khái sù rµng bc cđa thÕ tơc, hoµn toµn tự do, tự tại.
Cội nguồn của t tởng giải thoát trong triết học tôn giáo ấn Độ trớc
hết là do điều kiện tự nhiên và kinh tế- xà hội cổ đại ấn Độ quy định. Chính
điều kiện khách quan ấy quy định nội dung tính chất nền triết học ấn Độ cổ
đại nói chung, quy định sự hình thành và phát triển t tởng giải thoát. Thứ
hai, về lôgíc nội tại của nó các nhà t tởng ấn Độ ít chú trọng ngoại giới coi
trọng t duy hớng nội, đi sâu khái quát đời sống tâm linh con ngời.
T tởng giải thoát trong triết học tôn giáo ấn Độ cổ, trung đại thể hiện
tính chất nhân bản , nhân văn sâu sắc. Đó là kết quả phản ánh những đặc điểm
yêu cầu của đời sống xà hội ấn Độ đơng thời. Dù vậy do giải thích cha
đúng nguồn gốc của nỗi khổ cho nên t tởng giải thoát này mới dừng lại ở sự
giải phong con ngời về mặt tinh thần, tâm lý, đạo đức chứ không phải là biến
đổi cách mạng hiện thực.
2.2- triết học trung quốc cổ, trung đại
2.2.1. Điều kiện ra đời, phát triển và nét đặc thù của triết học Trung
Quốc cổ, trung đại.
14


Đề cơng bài giảng triết học
T.s Vũ Minh Tuyên
2.2.1.1. Điều kiƯn ra ®êi cđa triÕt häc Trung Qc cỉ, Trung đại

Về tự nhiên, Trung Quốc cổ đại là vùng đất rộng lớn, chia làm hai miền.
Miền Bắc xa biển, khí hậu lạnh, đất đai khô khan, cằn cỗi, sản vật nghèo.
Miền Nam, khí hậu ấm áp, cây cối xanh tơi, phong cảnh đẹp, sản vật phong
phú.
Về kinh tế- xà hội, thời Đông Chu (770-221 tr.CN) quyền sở hữu tối cao
về đất đai thuộc về tầng lớp giai cấp địa chủ, chế độ sở hữu t nhân về ruộng
đất hình thành. Nguyên nhân kinh tế này làm xuất hiện sự phân hoá sang hèn
dựa trên cơ sở tài sản, sự tranh giành địa vị xà hội của các thế lực cát cứ và
đẩy xà hội Trung Quốc cổ đại vào tình trạng chiến tranh khốc liệt. Điều kiện
lịch sử ấy đòi hỏi giải thể chế độ nô lệ thị tộc nhà Chu để xây dựng chế độ
phong kiến; giải thể nhà nớc của chế độ gia trởng; xây dựng nhà nớc
phong kiến nhằm giải phóng LLSX, mở đờng cho xà hội phát triển. Thực
trạng ấy của xà hội đà làm xuất hiện những tụ điểm, những trung tâm kẻ sĩ
luôn tranh luận về trật tự xà hội cũ và đề ra những hình mẫu cho một xà hội
tơng lai, dẫn tới hình thành những nhà t tởng và các trờng phái triết học
khá hoàn chỉnh. Theo sách Hán th có tất cả 103 học phái nh: Nho gia, Mặc
gia, Đạo gia, Danh gia, Pháp gia, Âm Dơng gia, Nông gia, Binh gia, Tung
hoành gia, Tiểu thuyết gia, Tạp gia với các nhà triết học nổi danh nh KhổngMạnh- Tuân của Nho gia; LÃo - Trang của Đạo gia, Quản Trọng, Lí Khôi, Tử
sản, Ngô Khởi, Thơng Ưởng, Thân Bất Bại, Lí T, Hàn Phi của Pháp gia;
Mặc Tử của Mặc gia; Huệ Thi, Công Tôn Long của Danh gia. Trong đó có sáu
phái chủ yếu là Nho, Mặc, Đạo, Danh, Pháp, Âm Dơng, có ảnh hởng lớn
nhất là ba phái Nho, Mặc, Đạo.
Điều kiện trên quy định nội dung, tính chất của triết học. Nét đặc thù của
triết học Trung Quốc cổ, trung đại là hầu hết các học thuyết có xu hớng đi
sâu giải quyết những vấn đề thực tiễn chính trị- đạo đức của xà hội với nội
dung bao trùm là vấn đề con ngời, xây dựng con ngời, xà hội lí tởng và
con đờng trị nớc.
15



Đề cơng bài giảng triết học
Quốc cổ, trung đại
T.s Vũ Minh Tuyên
2.2.1.2. Về quá trình hình thành và phát triển cđa triÕt häc Trung
MÇm mèng t− t−ëng triÕt häc Trung Quốc bắt nguồn từ thần thoại thời
tiền sử Thợng cổ. T− t−ëng triÕt häc Trung Qc xt hiƯn vµo thêi Tam đại
(Hạ Thơng, Chu) từ thiên niên kỉ II-I tr.CN với các biểu tợng nh đế,
thợng đế, quỷ thần, âm dơng, ngũ hành. T tởng triết học hệ
thống đợc hình thành vào thời Đông Chu (770- 221 tr.CN) thời đại quá độ từ
chế độ chiếm hữu nô lệ sang chế độ phong kiến. Các hệ thống triết học thời kì
này là cội nguồn t tởng triết học cổ đại Trung Quốc, đó là mầm mống ban
đầu của các loại thế giới quan và phơng pháp luận. Hệ thống phạm trù triết
học thời kì này đà quy định tiến trình phát triển của t tởng triết học Trung
Quốc.
Từ thời Tần Hán, thiên hạ thống nhất, dựa vào quyền lực chính trị trong
tay, giai cấp thống trị yêu cầu thống nhất t tởng hoặc tôn Nho, hoặc sùng
Đạo, hoặc sùng Phật. Các nhà t tởng thời tiên Tần thuộc Nho, Đạo, Danh,
Pháp, Âm Dơng lần lợt dung hợp với Phật giáo từ ngoài truyền vào tạo nên
con đờng diễn biến độc đáo của t tởng triết học Trung Quốc. Lỡng Hán
rồi Nguỵ- Tấn, Tuỳ- Đờng kế tiếp nhau thịnh hành: Kinh học do Nho làm
chủ, Huyền học do Đạo làm chủ, Phật học do Phật làm chủ để tập hợp các học
phái. Sự phát triển mạnh t tởng triết học thời kì này là cơ sở để dân tộc
Trung Hoa sáng tạo nên một nền văn hoá huy hoàng, xán lạn trong thời kì cực
thịnh của xà hội phong kiến
Từ thời Tống trë vỊ sau, x· héi phong kiÕn Trung Qc b−íc vào hậu kì.
T tởng triết học Trung Quốc phải trải qua quá trình phát triển gần một vòng,
đến đời Tống, Nho học lại đợc đề cao và phát triển đến đỉnh cao> Hình thức
biểu hiện của nó là Lí học- dung hợp đạo Phật vào Nho. Các nhà t tởng đời
Thanh nh Hoàng Tông Hy, Cố Viêm Võ, Vơng Phu Chi đề xớng Thực
học, tiến hành tổng kết một cách duy vật các cuộc tranh cÃi hơn nghìn năm về

hữu và vô (động và tĩnh),tâm và vật (tri và hành).
2.2.2. Mét sè néi dung cđa triÕt häc Trung Qc cỉ, trung đại
16


Đề cơng bài giảng triết học
2.2.2.1. T tởng bản thể luận
T.s Vũ Minh Tuyên
T tởng về bản thể luận của triết học Trung Quốc cổ, trung đại không rõ
ràng nh các trung tâm triết học khác. Dù vậy các hệ thống triết học cũng có
những quan điểm riêng của mình.
Trong häc thut Nho gia, Khỉng Tư th−êng nãi ®Õn trêi, đạo trời và
mệnh trời. T tởng của ông về các lĩnh vực này không rõ ràng là duy vật hay
duy tâm. Mục đích của Khổng Tử khi bàn về các vấn đề trên là làm chỗ dựa
để ông đi sâu các vấn đề chính trị- đạo đức xà hội. Về sau, trong quá trình
phát triển những quan niệm của Khổng Tử đà đợc các nhà triết học của
trờng phái Nho gia trong các thời kì bổ sung khác nhau.
Học thuyết Đạo gia coi bản nguyên của vũ trụ là Đạo. Đạo sáng tạo
ra vạn vật theo trình tự đạo sinh ra mét, mét sinh hai, hai sinh ba, ba sinh ra
vạn vật (Đạo Đức kinh, chơng 21, 34, 42).
Học thuyết Âm Dơng gia coi âm dơng là hai khí, hai nguyên lí tác
động qua lại lẫn nhau sản sinh ra mọi sự vật, hiện tợng trong trời đất. Kinh
Dịch sau này bổ sung thêm nguồn gốc của vũ trụ là Thái cực. Thái cực là khí
tiên thiên, trong đó tiềm phục hai nguyên tố ngợc nhau về tính chất âmdơng. Từ đây, lịch trình tiến hoá trong vũ trụ theo logíc: Thái cực sinh lỡng
nghi, lỡng nghi sinh tứ tợng, tứ tợng sinh bát quái, bát quái sinh vạn vật.
Mặt tích cực của triết học duy vật là đà làm lu mờ vai trò của thần thánh
của lực lợng siêu nhiên, những lực lợng không có trong hiện thực khách
quan, do chủ nghĩa duy tâm tôn giáo tạo ra. Nhng, do còn mang tính trực
quan, ớc đoán, cha có chứng minh nên các luận điểm trên cha khuất phục
đợc t tởng duy tâm, cha trở thành công cụ, giải phóng con ngời khỏi

quan điểm duy tâm thần bí.
2.2.2.2. T tởng vỊ mèi quan hƯ gi÷a vËt chÊt víi ý thøc
Tư tởng về mối quan hệ giữa vật chất và ý thức đợc thể hiện trong các
cặp phạm trù thần- hình, t©m- vËt, lÝ- khÝ.
17


Đề cơng bài giảng triết học
T.s Vũ Minh Tuyên
Cặp phạm trù thần- hình xuất hiện vào thời nhà Hán. Hình thức thể hiện
của triết học thời nhà Hán là Kinh häc. Kinh häc lµ thø triÕt häc kinh viƯn,
biÕn mét số t tởng triết học thời tiên- Tần thành cứng nhắc, thần bí, thể hiện
trong cuốn Xuân thu phồn lộ cđa §ỉng Träng Th− (174 -104 tr.CN). Khi biƯn
ln vỊ thần- hình ông chủ chơng thần là bản nguyên của hình, hình là phái
sinh từ thần. Đại biểu cho các nhà duy vật thời kì này là Vơng Sung (27107) đà phát triển mặt tích cực của triết học duy vật cổ đại, phê phán việc thần
học hoá triết học của Kinh học, phê phán tính mục đích của thần học Đổng
Trọng Th. Vơng Sung dựa vào thuyết nguyên khí là cội nguồn của thế giới,
quả quyết rằng thế gian không tồn tại tinh thần vô hình, phủ nhận một cách có
hệ thống thần học. Trọng Trờng Thông đà coi thần học, mê tín là do kẻ thống
trị đề xớng.
Cặp phạm trù tâm- vật xuất hiện vào thời Tuỳ - Đờng - thời kì Phật giáo
làm chủ của nền triết học Trung Quốc. Các tông phái Phật giáo thời kì này đi
sâu nghiên cứu tỉ mỉ cái tâm nhằm bổ cøu cho sù khiÕm khut cđa triÕt häc
Trung Qc ®· xa rời sự nghiên cứu lĩnh vực tinh thần. Khi bàn tới mối quan
hệ giữa tâm với vật, các tông phái Phật giáo đều cho rằng mọi hiện tợng giữa
thế gian và trong cõi xuất thế đều do thanh tịnh tâm tuỳ duyên mà sinh ranghĩa là coi tâm là bản nguyên cuối cùng của thế giới.
Cặp phạm trù lí- khí xuất hiện thời nhà Tống. Lí học hình thái ý thức
giữ vị trí chủ đạo trong xà hội phong kiến hậu kì. Khi bàn tới mối quan hệ
giữa lí- khí (đạo- khí), Trình Hạo (1033-1107), Trình Di (1023- 1085) cho
rằng Vạn vật đều chỉ một lẽ trời, Âm dơng nhị khí cùng với ngũ hành chỉ

là tài liệu để Lí sáng tạo ra vạn vật trong trời đất. Nh vậy quan điểm của
hai anh em họ Trình coi lí có trớc, sản sinh ra tất cả. Đại biểu cho các nhà
triết học thời kì này là Vơng Phu Chi đà phủ định thuyết đạo ngoại khí,
đạo trớc khí của lí học và chỉ rõ quan hệ giữa đạo và khÝ lµ quy lt nãi
chung cđa thùc thĨ vËt chÊt, là quan hệ nhiều kiểu, nhiều dạng của các vật
chất cơ thĨ, “trong trêi ®Êt chØ cã khÝ”, “lÝ ë trong khÝ”.
18


Đề cơng bài giảng triết học
T.s Vũ Minh Tuyên
Trong điều kiện xà hội Trung Quốc cổ, trung đại, các quan điểm duy tâm
về mối quan hệ giữa vật chất và ý thức luôn chiếm vai trò thống trị vì nó là
quan niệm của giai cấp thống trị, đợc giai cấp thống trị cổ vũ. Các quan điểm
của các nhà duy vật về vấn đề này có tính chất hiện thực, khoa học vì nó dựa
vào sự quan sát khách quan, vào những kiến thức tự nhiên. Do vậy nó là cơ sở
cho các quan niệm khoa học, tiến bộ, có tác dụng phê phán các quan niệm tôn
giáo, duy tâm, thần bí.
2.2.2.3. T tởng biện chứng
Khi bàn tới bản tính thÕ giíi, triÕt häc Trung Qc cã quan ®iĨm ®éc đáo
về vấn đề này thể hiện ở phạm trù biến dịch. T tởng này tuy còn có những
hạn chế nhất định nhng đó là những triết lí đặc sắc mang tÝnh duy vËt vµ biƯn
chøng cđa ng−êi Trung Qc thêi cỉ, cã ¶nh h−ëng to lín tíi thÕ giíi quan
triÕt học sau này không những của ngời Trung Hoa mà cả những nớc chịu
ảnh hởng của nền triết học Trung Hoa.
BiÕn dÞch theo quan niƯm chung cđa triÕt häc Trung Hoa cổ là trời đất,
vạn vật luôn luôn vận động và biến đổi. Nguyên nhân của sự vận động và biến
đổi là do trời đất, vạn vật vừa đồng nhất vừa mâu thuẫn với nhau: Trời và đất,
lửa và nớc, âm và dơng, trời và ngời, đạo và lí, thể chất và tinh thần, chân
lí và sai lầm...

Quan điểm về biến dịch của vũ trụ là sản phẩm của phơng pháp quan sát
tự nhiên - một phơng pháp chung của nhận thức ở trình độ thu nhận tri thức
kinh nghiệm. Sự quan sát của sự thay đổi bốn mùa; quan sát sự ra đời của sinh
vật (đực - cái); quan sát độ cao thấp của trời - đất. Nhờ phơng pháp quan sát
tự nhiên ấy mà lí luận về sự biến dịch của vũ trụ không phải là sự bịa đặt chủ
quan, mà là phép biện chứng tự phát về thÕ giíi kh¸ch quan. So víi biƯn chøng
kh¸ch quan, phÐp biện chứng này còn nhiều hạn chế nh: đơn giản hoá sự
phát triển; có biến hoá nhng không phát triển, không xuất hiện cái mới; biến
hoá của vũ trụ có giới hạn, bị đóng khung trong hai cực.
2.2.2.4) T tởng vÒ nhËn thøc
19


Đề cơng bài giảng triết học
T.s Vũ Minh Tuyên
Khổng Tử ngời sáng lập Nho gia đà tổng kết đợc nhiều quy lt nhËn
thøc nh−ng tËp trung chđ u lµ thùc tiễn giáo dục và phơng pháp học hỏi.
Thuyết chính danh, lấy danh để định thực đà đề cập đến bản thân nhận thức
luận.
Mặc Tử ngời sáng lập Mặc gia đà đề xuất quan hệ Thực và Danh
nh một phạm trù triết học. Ông chủ trơng lấy thực đặt tên, cho rằng khái
niệm rối rắm khó làm rõ đúng sai, chỉ rõ cách tuyển chọn cái đúng trong thực
tế khách quan mới có thể phán đoán đúng sai. Có ba tiêu chuẩn cụ thể: lập
luận phải có căn cứ; lập luận ph¶i cã chøng minh; lËp ln ph¶i cã hiƯu qu¶.
Ba tiêu chuẩn phải có quan hệ nội tại, cái sau cµng quan träng. Thut “tam
biĨu” lõng danh nµy lµ thut phản ánh của chủ nghĩa duy vật chất phác, các
học thuyết cùng thời không thể sánh kịp. Các nhà Mặc gia về sau đà xây dựng
hệ thống lôgíc hình thức trên cơ sở đó, trở thành bớc mở đầu của sự phân tích
logíc của Trung Quốc.
Huệ Thi và Công Tôn Long thuộc trờng phái Danh gia có quan điểm

khác nhau vỊ “danh” vµ “thùc”. H Thi coi träng thùc cho rằng to đến mức
không có cái bên ngoài gọi là đại nhất, nhỏ đến mức không có cái bên trong
gọi là tiểu nhất.
Các nhà Mặc gia đời sau cũng có t− t−ëng minh biƯn. Dùa vµo tri thøc
khoa häc tù nhiên phong phú của mình họ đà đạt tới sự khái quát các phạm trù
vận động, không gian, thời gian.
Trong triết học Đạo gia, LÃo Tử và Trang Tử đề cao t duy trừu tợng,
coi khinh việc nghiên cứu sự vật hiện tợng cụ thể, cho rằng không cần ra
cửa mà biết cả thiên hạ, không cần nhòm qua khe cửa mà biết đạo trời. Sự
thực, không thể biết ranh giới giữa nhận thức sự vật cụ thể và nắm vững quy
luật chung. Trang Tử xuất phát từ nhận thức luận tơng đối của mình mà chỉ
ra rằng nhận thức cđa con ng−êi ®èi víi sù vËt th−êng cã tÝnh phiến diện, tính
hạn chế. Nhng ông lại trợt xuống thuyết bất khả tri, cảm thấy đời ta có bờ
bến, mà sự hiểu biết lại vô bờ bến, lấy cái có bờ bến theo đuổi cái vô bờ bến là
không đợc.
20


Đề cơng bài giảng triết học
T.s Vũ Minh Tuyên
Vào thời Tuỳ- Đờng, sự dung hợp Nho, Đạo, Phật lần thứ ba lấy Phật
giáo làm chủ của triết học Trung Quốc. Các phái Phật giáo Thiên đài, Hoa
nghiêm, Thiền tông xuất hiện, đánh dấu bớc đầu hoàn thành việc Trung
Quốc hoá PhËt gi¸o. NhËn thøc ln cđa triÕt häc PhËt gi¸o đợc thể hiện
trong thuyết đốn ngộ. Đốn ngộ là loại nhận thức luận tiên nghiệm. Phật cho
rằng mỗi một con ngời đều có năng lực nhận thức trời cho siêu nghiệm.
2.2.2.5. T tởng về con ngời và xây dựng con ngời
-T tởng về con ngời.
Khi đặt vấn đề nguồn gốc của con ngời, Khổng Tử và Mặc Tử đều cho
rằng trời sinh ra con ngời và muôn vật. LÃo Tử khác với Khổng Tử và Mặc

Tử ở chỗ ông cho rằng trớc khi có trời đà có Đạo. Trời, đất, ngời, vạn vật
đều do Đạo sinh ra.
Khi xác định vị trí và vai trò của con ngời trong mối quan hệ với trời,
đất, con ngời và vạn vật trong vũ trụ, các nhà t tởng luôn đề cao vị trí của
con ngời.
Khi bàn tới quan hệ giữa trời với ngời, các nhà duy tâm đi sâu phát triển
t tởng thiên mệnh của Khổng Tử.
Khi bàn tới bản tính con ngời, Khổng Tử cho rằng:Tính tơng cận, tập
tơng viễn. Mạnh Tử cho rằng bản tính con ngời là thiện. Tuân Tử cho rằng
bản tính con ngời là ác.
-T tởng về xây dựng con ngời.
Vấn đề xây dựng con ngời của các học phái triết học Trung Quốc cổ,
trung đại là coi trọng sự nỗ lực của cá nhân, sự quan tâm của gia đình và xÃ
hội.
Đạo gia cho rằng bản tính của nhân loại có khuynh hớng trở về cuộc
sống với tự nhiên. Vì vậy, LÃo Tử khuyên mọi ngời phải trừ khử cái thái quá,
nâng đỡ cái bất cập, hớng con ngời vào cuộc sống thanh cao trong sạch, gần
gũi với thiên nhiên, tránh cuộc sống chạy theo nhu cầu vËt chÊt.
21


Đề cơng bài giảng triết học
T.s Vũ Minh Tuyên
Nho giáo đặt vấn đề xây dựng con ngời một cách thiết thực. Mục tiêu
xây dựng con ngời của Nho gia là giúp con ngời xác định đợc năm mối
quan hệ cơ bản(ngũ luân) và làm tròn trách nhiệm trong năm mối quan hệ ấy.
Về những đức tính thờng xuyên phải trau dồi, nhiều danh nho nêu năm đức
(ngũ thờng): Nhân, nghĩa, lễ, trí, tín. Với các đệ tử nói chung, các danh nho
nêu lên sáu đức: hiếu, đễ, trung, tín, lễ, nghĩa. Đối với ngời có vị trí trọng
trách, các danh nho gộp lại còn có ba đức: nhân, trí, dũng.

2.2.2.6 T tởng về xà hội lý tởng và con đờng trị quốc
T tởng về xà hội lý tởng điển hình là t tởng về một xà hội đại đồng
của Khổng Tử. Đặc trng cơ bản của xà hội này là thái bình ổn định, có trật tự
kỷ cơng, mọi ngời đợc chăm sóc bình đẳng và mọi cái đều là của chung;
đó là xà hội có đời sống vật chất ®Çy ®đ, cã quan hƯ ng−êi víi ng−êi tèt ®Đp;
®ã là xà hội có giáo dục, mọi ngời trong xà hội đợc giáo hoá.
Về đờng lối trị quốc, có hai thuyết cơ bản là thuyết nhân trị và thuyết
pháp trị. Địa vị của t tởng Pháp gia là ở giá trị thực tiễn của nó, các nhà
thống trị Trung hoa đều sử dụng "pháp" để giành và củng cố chính quyền.
2.3. Lịch sử t tởng Việt Nam
2.3.1. - Những nội dung triÕt häc thĨ hiƯn lËp tr−êng
duy vËt vµ duy tâm
Do đặc điểm lịch sử quy định, cuộc đấu tranh giữa CNDV và CNDT
trong lịch sử t tởng Việt Nam không thành trận tuyến , trờng phái và
không trải khắp mọi vấn đề t tởng nh ở các khu vực khác trên thế giới.
Lập trờng duy vật hoặc duy tâm trong lÞch sư t− t−ëng ViƯt Nam thĨ
hiƯn trong viƯc giải quyết mối quan hệ giữa tâm và vật, giữa linh hồn và thể
xác, giữa lý và khí lập trờng đó còn đợc biểu hiện trong việc giải thích
nguồn gốc, nguyên nhân tạo ra những sự kiện của đất nớc, xà hội, con ngời,
vấn đề bản tính con ngời, vấn đề đạo Trời, đạo ngời.
Chủ nghĩa duy tâm trong lịch sử t tởng Việt Nam, mang đậm màu sắc
tôn giáo. Các nhà triết học duy tâm cho rằng: trời sinh ra vạn vật và con ngời,
22


Đề cơng bài giảng triết học
T.s Vũ Minh Tuyên
mỗi ngời có một mệnh do Trời quy định gọi là "mệnh trời". Kẻ thống trị
phơng bắc dựa vào cái gọi là "mệnh trời" để bao che cho những cuộc xâm
lợc nớc ta: "nớc nhỏ sợ mệnh trời thờ nớc lớn" còn giai cấp thống trị

trong nớc thì dựa vào "mệnh trời" để cai trị đất nớc.
Đạo Phật cho rằng: số mệnh con ngời không phải do trời quy định, mà do
mình rạo ra, do "nghiệp" và "kiếp" đà đợc bản thân gây ra từ quá khứ.
Về nguồn gốc trị loạn, theo các nhà duy tâm, nếu "thiên lý" (đạo đức
phong kiến) thắng thì xà hội trị, còn nếu "nhân dục" (ham muốn của con
ngời) thắng thì xà hội loạn, để xà hội trị thì con ngời phải "tiết dục" (hạn
chế lòng ham muốn).
Đối lập với quan điểm "mệnh trời" có tính chất duy tâm thần bí, những
nhà t tởng có xu hớng duy vật cho rằng: trời là một lực lợng tự nhiên bên
ngoài con ngời, trời là "chính lý" (lẽ phải), là lòng dân ở mức độ cao hơn, có
ngời khẳng định con ngời có thể làm thay đổi "mệnh trời".
Đối lập với quan điểm "mệnh trời" còn có quan điểm về "thời" chủ
trơng theo "thời" chứ không theo "mệnh".
Đối lập với các quan điểm trên, quần chúng nhân dân nêu lên luận điểm:
"đợc làm vua, thua làm giặc " hoặc "con vua thất thế lại ra quét chùa". Từ
chính hoạt động thực tiễn hàng ngày, họ rút ra đợc nh÷ng t− t−ëng triÕt lý
mang tÝnh duy vËt.
2.3.2 - Nh÷ng néi dung t− t−ëng yªu n−íc ViƯt Nam
2.3.2.1. T− t−ëng về dân tộc và độc lập dân tộc
Cộng đồng ngời Việt Nam đợc hình thành rất sớm trong lịch sử có tên
là Lạc Việt (để phân biệt với các tộc Việt ở Trung Quốc). T tởng về dân tộc
và độc lập dân tộc trớc hết khẳng định: dân tộc Việt Nam, đất nớc Việt
Nam, có vị trí địa lý, có lịch sử truyền thống hình thành phát triển lâu đời bền
vững và hoàn toàn có quyền sánh vai ngang hàng với các quốc gia khác. Điều
này thể hiện rõ trong bài thơ "Nam quốc sơn hà" của Lý Thờng Kiệt , Đại
cáo bình ngô của Nguyễn TrÃi (TK XV).
23


Đề cơng bài giảng triết học

T.s Vũ Minh Tuyên
2.3.2.3. Quan niệm về nhà nớc của một quốc gia độc lập chủ quyền:
Trong quá trình đấu tranh giàng và giữ độc lập dân tộc, ông cha ta luôn
tìm cách khẳng định sự tồn tại của một nhà nớc độc lập. Việc xây dựng nhà
nớc gắn liền với việc xác định quốc hiệu, quốc đô, đế hiệu, niên hiệu để các
danh hiệu đó vừa thể hiện đợc độc lập dân tộc vừa thấy sự phát triển bền
vững ngang hàng với quốc gia phơng bắc. Lý Bí xoá bỏ các tên nớc bị áp đặt
nh: "Giao Chỉ", Giao Châu" và đặt tên nớc ta là Vạn Xuân. Nhà Đinh đặt tên
nớc là Đại Cồ Việt, nhà Lý gọi là Đại Việt Tên hiệu đứng đầu quốc gia từ
Vơng đổi thành Đế, ngang hàng với Đế phơng Bắc.
2.3.2.4. Nhận thức về nguồn gốc và động lực của cuộc đấu tranh cứu
nớc và giữ nớc
Coi trọng sức mạnh đoàn kết dân tộc là nguồn gốc, động lực tạo nên mọi
thắng lợi trong sự nghiệp dựng nớc và giữ nớc. Trần Quốc Tuấn yêu cầu:
"Trên dới một lòng, lòng dân không chia vì "Vua tôi đồng lòng, anh em hoà
mục, nớc nhà góp sức, giặc tự bị bắt". Còn Nguyễn TrÃi thì nói "Thết quân
rợu hoà nớc, trên dới đều một dạ cha con" . Đến chủ tịch Hồ Chí Minh:
"Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công, thành công, đại thành công".
T tởng trọng dân là t tởng xuyên suốt và có vị trí đặc biệt quan trọng
đối với sự nghiệp dựng nớc, giữ nớc của ông cha ta. Lý Công Uẩn cho rằng:
"Trên vâng mệnh trời, dới theo ý dân, thấy thuận tiện thì thay đổi" . Trần
Nhân Tông nói: "Ngày thờng thì có thị vệ hai bên, đến khi nhà nớc hoạn
nạn thì chỉ có bọn ấy (gia nô) theo thôi". Còn Nguyễn TrÃi khẳng định: "Chở
thuyền là dân, mà lật thuyền cũng là dân" và "việc nhân nghĩa cốt để yên
dân".
2..3.3. Quan niệm về đạo lm ngời
Các nhà t tởng Việt Nam trong lịch sử rất quan tâm vấn đến "Đạo"
(còn gọi là "Đạo trời", "Đạo ngời"). Quan niệm về "Đạo" này chịu ảnh hởng
sâu sắc từ lịch sử t t−ëng triÕt häc Trung Quèc nhÊt lµ Nho gia (xem phần
lịch sử triết học phơng Đông). Khi thực dân Pháp xâm lợc nớc ta, "Đạo"

24


Đề cơng bài giảng triết học
Yêu "đạo" là yêu nớc, xả thân về nớc.
T.s Vũ Minh Tuyên
đợc xem là quốc hồn, quốc tuý , trở thành truyền thống yêu nớc thơng nòi.
Tóm lại, do hạn chế về lịch sử, những t tởng triết học của ông cha ta
trớc đây cha đợc trình bày thành hệ thống. Những t tởng triết học đó đÃ
góp phần to lớn vào quá trình dựng nớc và giữ nớc của dân tộc ta.
câu hỏi thảo luận và ôn tập
1. Triết học ấn độ cổ, trung đại
2- triết học trung quốc cổ, trung đại
3. Lịch sử t tởng Việt Nam
4 Những nội dung t tởng yêu nớc Việt Nam
3. Quan niệm về đạo làm ngời
25


×