Tải bản đầy đủ (.docx) (95 trang)

giáp trình pháp luật hệ trung cấp

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (488.29 KB, 95 trang )

GIÁO ÁN SỐ: 01 + 02 Thời gian thực hiện: 90 phút
Tên bài học trước:
Thực hiện từ ngày: 13/ 01/ 14
Bài 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN NHÀ NƯỚC ( 2 tiết )
A. MỤC TIÊU CỦA BÀI: Giúp học sinh.
- Giải thích được:
Tiết 1: Bản chất, đặc trưng của Nhà nước
Tiết 2: Chức năng của Nhà nước; Bộ máy Nhà nước
-Vận dụng kiến thức đã học để rèn luyện kỹ năng phân tích, so sánh, liên hệ thực tế.
- Xác định đúng động cơ, thái độ học tập, rèn luyện; có ý thức sống, học tập, làm
việc theo Hiến pháp và pháp luật.
B. PHƯƠNG PHÁP: Thuyết giảng, thảo luận nhóm, tích hợp.
C. ĐỒ DÙNG VÀ PHƯƠNG TIỆN DẠY HỌC:
- Giáo trình môn học pháp luật ( Dùng cho hệ Cao đẳng nghê, Trung cấp nghề ),
Nhà xuất bản Lao động – Xã hội.
- Tài liệu tham khảo môn học pháp luật khác.
D. TIẾN TRÌNH LÊN LỚP:
1. Ổn định tổ chức lớp.
2. Thực hiện bài học :
T
T
NỘI DUNG
HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC
T
G
HOẠT ĐỘNG
CỦA
GIÁO VIÊN
HOẠT
ĐỘNG CỦA
HỌC SINH


1 Dẫn nhập:
2
Tiết 1: BẢN CHẤT, ĐẶC TRƯNG
CỦA NHÀ NƯỚC
1. Bản chất của Nhà nước:
- Tính giai cấp : thể hiện ở chỗ Nn là một bộ
máy cưỡng chế đặc biệt nằm trong tay của
g/cấp cầm quyền, là công cụ thể hiện sự
thống trị giai cấp, thiết lập và duy trì trật tự
XH. Thông qua Nn, ý chí của g/cấp thống trị
được hợp pháp hóa thành ý chí của Nn;
đồng thời g/cấp cầm quyền t/hiện sự thống
trị XH trên các mặt : kinh tế, chính trị, tư
* Đặt vấn đề vào bài:
“Nhà nước là sản
phẩm và biểu hiện của
những mâu thuẫn giai
cấp không thể điều hòa
được”
Bản chất của Nhà
nước được thể hiện qua:
Tính giai cấp và tính xã
hội.
- Học sinh
ghi bài, vừa
chú ý lắng
nghe và suy
nghĩ câu hỏi
giáo viên vừa
nêu.

tưởng.
- Tính xã hội: bên cạnh việc bảo vệ lợi
ích của g/cấp cầm quyền, Nn cũng phải chú
ý đến lợi ích chung của toàn XH. Nn phải
g/quyết những v/đề nảy sinh trong XH, bảo
đảm duy trì các g/trị XH đã đạt được; duy
trì trật tự, ổn định XH để phát triền.
2. Đặc trưng của Nhà nước:
- Thứ nhất, Nhà nước thiết lập một
quyền lực công cộng đặc biệt, không còn
hòa nhập với dân cư nữa
- Thứ hai, Nhà nước phân chia dân cư
theo các đơn vị hành chính lãnh thổ, không
phụ thuộc vào huyết thống, nghề nghiệp
hoặc giới tính
- Thứ ba, Nhà nước có chủ quyền quốc
gia.
- Thứ tư, Nhà nước ban hành pháp luật
và thực hiện sự quản lý bắt buộc đối với mọi
công dân.
-Thứ năm, Nhà nước quy định và thực
hiện việc thu các loại thuế dưới các hình
thức bắt buộc, với số lượng và thời hạn ấn
định trước
* Từ việc xem xét bản chất và các đặc
trưng của Nhà nước có thể đưa ra định nghĩa
về Nhà nước như sau:
Nhà nước là hình thức tổ chức xã hội có
giai cấp, là tổ chức quyền lực chính trị công
cộng đặc biệt, có chức năng quản lý xã hội

để phục vụ lợi ích trước hết cho giai cấp
thống trị và thực hiện những hoạt động
* Em hiểu thế nào về
tính giai cấp và tính xã hội
của NN?
- GV chốt nội dung,
ghi bảng
* Hãy nêu những đặc
trưng của Nhà nước ?
- GV chốt nội dung,
ghi bảng
- HS chú ý
lắng nghe, suy
nghĩ, trả lời
câu hỏi.
- HS ghi
nội dung cơ
bản.
- Học sinh
ghi bài, vừa
chú ý lắng
nghe và suy
nghĩ câu hỏi
giáo viên vừa
nêu.
- HS chú ý
lắng nghe, suy
nghĩ, trả lời
câu hỏi.
- HS ghi

nội dung cơ
bản.
3
chung nảy sinh từ yêu cầu của xã hội
Tiết 2: CHỨC NĂNG CỦA NHÀ
NƯỚC, BỘ MÁY NHÀ NƯỚC
3. Chức năng cơ bản của Nhà nước:
- Chức năng đối nội: là những phương
diện hoạt động của nhà nước trong phạm vi
nội bộ đất nước như đảm bảo an ninh chính
trị, trật tự an toàn xã hội, quản lý kinh tế,
bảo vệ môi trường, phát triển văn hóa, trấn
áp các phần tử chống đối chế độ, bảo vệ và
phát triển kinh tế, …;
- Chức năng đối ngoại: là những hoạt
động của nhà nước trong quan hệ với các
quốc gia, dân tộc khác như thiết lập quan hệ
ngoại giao, phòng thủ đất nước, hội nhập
kinh tế quốc tế, …
4. Bộ máy Nhà nước:
Bộ máy nhà nước là tổng thể các cơ quan
* Đặt vấn đề
Chức năng của nhà
nước là những phương
diện hoạt động chủ yếu
của nhà nước nhằm thực
hiện những nhiệm vụ cơ
bản của nó. Chức năng
của nhà nước xuất phát
từ bản chất nhà nước

Căn cứ vào phạm vi
hoạt động của nhà nước,
người ta phân chia
thành hai chức năng.
* Chức năng đối
nội là gì?
(vd :q/lý k/tế, bảo
đảm trật tự an toàn XH,
…)
* Chức năng đối
ngoại là gì?
(vd : phòng thủ
quốc gia, quan hệ
thương mại, giao lưu
v/hóa với các nước
khác,…)
- HS chú ý
lắng nghe, suy
nghĩ, trả lời
câu hỏi.
- HS ghi
nội dung cơ
bản.
nhà nước được thành lập và hoạt động theo
những nguyên tắc, trình tự, thủ tục do pháp
luật quy định; có vị trí, tính chất, chức năng,
cơ cấu tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn khác
nhau nhưng chúng có mối liên hệ và tác
động qua lại lẫn nhau, hợp thành một hệ
thống thống nhất nhằm thực hiện các chức

năng, nhiệm vụ chung của nhà nước.
5. Nhà nước pháp quyền:
Nhà nước pháp quyền là một hình thức tổ
chức nhà nước với sự phân công lao động
khoa học, hợp lý giữa các quyền lập pháp,
hành pháp và tư pháp, có cơ chế kiểm soát
quyền lực, nhà nước được tổ chức và hoạt
động trên cơ sở pháp luật, nhà nước quản lý
xã hội bằng pháp luật, pháp luật có tính
khách quan, nhân đạo, công bằng, tất cả vì
lợi ích chính đáng của con người.

* Gv giảng giải
- Hệ thống cơ
quan quyền lực Nhà
nước gồm Quốc hội và
Hội đồng nhân dân các
cấp.
- Hệ thống cơ
quan chấp hành (cơ quan
quản lý Nhà nước) bao
gồm: Chính phủ, các Bộ
và cơ quan ngang Bộ, cơ
quan thuộc Chính phủ,
UBND các cấp, các Sở,
Phòng, Ban chức năng
của UBND.
- Hệ thống các cơ
quan xét xử bao gồm:
TAND tối cao, TAND

tỉnh, thành phố trực
thuộc TW, TAND huyện,
quận và tương đương,
Tòa án quân sự các cấp.
- Hệ thống cơ
quan kiểm sát gồm có:
VKSNDTC, VKSND
tỉnh, thành phố trực
thuộc TW, VKSND
huyện, quận và cấp
tương đương, VKS quân
sự các cấp.
- Ngoài bốn hệ
thống cơ quan Nhà nước
nói trên, trong tổ chức
bộ máy Nhà nước
CHXHCN Việt Nam còn
có Chủ tịch nước.
- HS chú ý
lắng nghe, suy
nghĩ, trả lời
câu hỏi.
- HS ghi
nội dung cơ
bản.
4 Củng cố kiến thức và kết thúc bài
- Bản chất, đặc trưng Nhà nước
- Chức năng và bộ máy nhà nước
5
Hướng dẫn tự học

Câu hỏi:
Nêu hệ thống các cơ quan trong bộ máy Nhà
nước CHXHCN Việt Nam ?
Yêu cầu:
- Đọc câu
hỏi trong giáo
trình, lưu ý nội
dung chính của
bài để soạn đề
cương theo câu
hỏi
- Đọc
trước bài mới
Huế, ngày……tháng……năm…
TRƯỞNG KHOA

TỔ TRƯỞNG

GIÁO VIÊN

Bài 2 : MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ PHÁP LUẬT ( 2 Tiết )
I/ Bản chất, đặc trưng và vai trò của Pháp luật ( Tiết 1)
1/ Bản chất của Pháp luật
a. Tính giai cấp của pháp luật.
Bản chất của pháp luật cũng giống như Nhà nước là tính giai cấp của nó, không có
“pháp luật tự nhiên hay “pháp luật không có tính giai cấp". Tính giai cấp của pháp luật
trước hết ở chỗ,:
- Pháp luật phản ánh ý chí Nhà nước của giai cấp thống trị, nội dung của ý chí
đó đựơc quy định bởi điều kiện sinh hoạt vật chất của giai cấp thống trị. Nhờ nắm trong
tay quyền lực Nhà nước, giai cấp thống trị đã thông qua Nhà nước để thể hiện ý chí của

giai cấp mình một cách tập trung thống nhất, hợp pháp hoá ý chí của Nhà nước, được Nhà
nước bảo hộ thực hiện bằng sức mạnh của Nhà nước.
- Tính giai cấp của pháp luật còn thể hiện ở mục đích điều chỉnh của pháp
luật. Mục đích của pháp luật trước hết nhằm điều chỉnh quan hệ giữa các giai cấp, tầng
lớp trong xã hội. Vì vậy, pháp luật là nhân tố để điều chỉnh về mặt giai cấp các QHXH
(quan hệ xã hội), nhằm hướng các QHXH phát triển theo một trật tự phù hợp với ý chí của
giai cấp thống trị, bảo vệ củng cố địa vị của giai cấp thống trị. Với ý nghĩa đó, pháp luật
chính là công cụ để thực hiện sự thống trị giai cấp.
- Bất kỳ kiểu pháp luật nào cũng mang tính giai cấp nhưng mỗi kiểu lại có
những cách biểu hiện riêng. Chẳng hạn: đều là công khai qui định và bảo vệ quyền lợi, địa
vị của giai cấp thống trị nhưng đối với pháp luật chủ nô, đó chính là quyền lực vô hạn của
giai cấp chủ nô và tình trạng vô quyền của giai cáp nô lệ; đối với pháp luật phong kiến thì
đặc quyền, đặc lợi của của địa chủ phong kiến và sự đàn áp dã man nhân dân lao động; đối
với pháp luật tư sản lại là ý chí, lợi ích của giai cấp tư sản và quyền tự do, dân chủ một
cách xảo trá, gian dối của chúng với nhân dân lao động; riêng đối với pháp luật XHCN thể
hiện ý chí của giai cấp công nhân và nhân dân lao động.
b. Tính xã hội của pháp luật.
Tính xã hội của pháp luật thể hiện thực tiễn pháp luật là kết quả của sự “chọn lọc tự
nhiên” trong xã hội. Các quy phạm pháp luật mặc dù do các cơ quan Nhà nước có thẩm
quyền ban hành nhằm điều chỉnh các QHXH. Tuy nhiên trong thực tiễn chỉ những quy
phạm nào phù hợp với thực tiễn mới được thực tiễn giữ lại thông qua Nhà nước, đó là
những quy phạm “hợp lý”, “khách quan’’ được số đông trong xã hội chấp nhận, phù hợp
với lợi ích của đa số trong xã hội.
Giá trị xã hội của pháp luật còn thể hiện ở chỗ, QPPL vừa là thước đo của hành vi
con người, vừa là công cụ kiểm nghiệm các quá trình, các hiện tượng xã hội, là công cụ để
nhận thức xã hội và điều chỉnh các QHXH, hướng chúng vận động, phát triển phù hợp
với các quy luật khách quan.
2/ Đặc trưng của Pháp luật
Thuộc tính của pháp luật là những dấu hiệu đặc trưng riêng có của pháp luật
nhằm phân biệt pháp luật với các quy phạm xã hội khác.

Nhìn một cánh tổng quát, pháp luật có những đặc trưng cơ bản sau:
a. Tính quy phạm phổ biến
Pháp luật được tạo bởi hệ thống các quy phạm pháp luật, quy phạm là tế bào của
pháp luật, là khuôn mẫu, là mô hình xử sự chung. Trong xã hội các hành vi xử sự của
con người rất khác nhau, tuy nhiên trong nhưng hoàn cảnh điều kiện nhất định vẫn đưa
ra đươc cách xử sự chung phù hợp với đa số.
Cũng như quy phạm pháp luật, các quy phạm xã hội khác đều có những quy tắc
xử sự chung. Nhưng khác với các quy phạm xã hội, pháp luật có tính quy phạm phổ
biến.
Các quy phạm pháp luật được áp dụng nhiều lần trên lãnh thổ, việc áp dụng các
quy phạm này chỉ bị đình chỉ khi cơ quan Nhà nước có thẩm quyền bãi bỏ, bổ sung, sửa
đổi hoặc thời hiệu các quy phạm đã hết. Tính quy phạm phổ biến của pháp luật dựa trên
ý chí của Nhà nước “được đề lên thành luật”. Pháp luật đã hợp pháp hoá ý chí này làm
cho nó có tính chất chủ quyền duy nhất trong một quốc gia. Chính quyền lực chính trị
đem lại cho pháp luật tính quy phạm đặc biệt - tính quy phạm phổ biến.
b. Tính xác định chặt chẽ về mặt hình thức
Thuộc tính thứ hai của pháp luật là tính xác định chặt chẽ về mặt hình thức, nó là
sự thể hiện nội dung pháp luật dưới những hình thức nhất định.
Nội dung của pháp luật đựơc xác định rõ ràng, chặt chẽ, khái quát trong các
điều, khoản của các điều luật trong một văn bản quy phạm pháp luật cũng như toàn bộ
hệ thống pháp luật do Nhà nước ban hành. Ngôn ngữ sử dụng trong pháp luật là ngôn
ngữ pháp luật, lời văn trong sáng, đơn nghĩa. Trong pháp luật không xử dụng những từ
“vân vân” và các dấu ( ). Một quy phạm pháp luật không cho phép hiểu thế này cũng
được mà hiểu thế khác cũng được.
c. Tính được bảo đảm bằng Nhà nước
Khác với các quy phạm xã hội khác, pháp luật do Nhà nước ban hành hoặc thừa
nhận và được Nhà nước bảo đảm thực hiện. Sự bảo đảm bằng Nhà nước là thuộc tính
của pháp luật. Pháp luật không chỉ do Nhà nước ban hành mà Nhà nước còn bảo đảm
cho pháp luật được thực hiện, có nghĩa là Nhà nước trao cho các quy phạm pháp luật có
tính quyền lực bắt buộc đối với mọi cơ quan, tổ chức và cá nhân. Như vậy pháp luật trở

thành quy tắc xử sự có tính bắt buộc chung nhờ vào sức mạnh quyền lực của Nhà nước.
Tuỳ theo mức độ khác nhau mà Nhà nước áp dụng các biện pháp về tư tưởng, tổ
chức, khuyến khích kể cả biện pháp cưỡng chế cần thiết để đảm bảo cho pháp luật
được thực hiện.
Như vậy, tính được bảo đảm bằng Nhà nước của pháp luật được hiểu dưới hai
khía cạnh. Một mặt, Nhà nước tổ chức thực hiện pháp luật bằng cả hai phương pháp
thuyết phục và cưỡng chế. Mặt khác, Nhà nước là người bảo đảm tính hợp lý và uy tín
của pháp luật, nhờ đó pháp luật được thực hiện thuận lợi trong đời sống xã hội.
3/ Vai trò của Pháp luật
a/ Pháp luật là phương tiện để nhà nước quản lý mọi mặt đời sống xã hội
Quản lý nhà nước bằng pháp luật đó là việc sử dụng pháp luật để điều chỉnh các
quan hệ xã hội nhằm tổ chức, điều hòa, phối hợp hành vi của những người tham gia
các quan hệ theo các mục đích do nhà nước định ra phù hợp với lợi ích của cá nhân
mỗi người và của nhà nước nói chung.
Vì pháp luật là các quy tắc, khuôn mẫu có tính bắt buộc chung nên nó đảm bảo
tính dân chủ, tính thống nhất trong cả nước và tính hiệu lực thực thi ( bằng sức mạnh
cưỡng chế của Nhà nước) trong quá trình quản lý.
Quản lý nhà nước bằng pháp luật đó là quá trình tiến hành đồng thời các họat
động xây dựng, tổ chức thực hiện và bảo vệ pháp luật.
b/ Pháp luật là phương tiện thực hiện và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mỗi
công dân.
Công dân có các quyền và nghĩa vụ do hiến pháp và pháp luật quy định. Sở dĩ Nhà
nước quy định các quyền và nghĩa vụ cho công dân trong pháp luật để nhà nước bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp cho họ, mặt khác để mỗi công dân không thể lợi dụng quyền
gây thiệt hại cho lợi ích của người khác, cho tập thể và cho nhà nước.
Tóm lại : bằng việc quy định trong pháp luật các quyền và nghĩa vụ của công dân
mà pháp luật trở thành phương tiện để :
Công dân thực hiện và bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của mình khỏi sự xâm
hại của người khác, kể cả từ phía nhà nước và các cá nhân có thẩm quyền trong bộ máy
Nhà nước tạo lập sự yên ổn trong các quan hệ xã hội.

Nhà nước thực hiện nghĩa vụ của mình trong việc bảo vệ các quyền của công dân,
ngăn ngừa những biểu hiện lộng quyền, thiếu trách nhiệm đối với công dân. Đồng thời
đảm bảo cho mỗi công dân thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ đối với Nhà nước và các công
dân khác.
⇒Từ các vấn đề bản chất, đặc trưng và vai trò của pháp luật có thể đưa ra định
nghĩa : Pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung, do Nhà
nước ban hành hoặc thừa nhận, thể hiện ý chí và bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị
trong xã hội, được Nhà nước bảo đảm thực hiện nhằm mục đích điều chỉnh các quan hệ
xã hội. Pháp luật là công cụ để thực hiện quyền lực Nhà nước và là cơ sở pháp lý cho
đời sống xã hội có Nhà nước.
II/ Hệ thống Pháp luật ( Tiết 2 )
1/ Khái niệm hệ thống Pháp luật :
Hệ thống Pháp luật là phạm trù thể hiện cấu trúc bên trong ( Hệ thống các ngành
luật) và hình thức biểu hiện bên ngoài (Hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật) của PL
2/ Hệ thống cấu trúc ( Hệ thống các ngành luật)
Hệ thống các ngành luật là một cấu trúc gồm ba thành tố ở ba cấp độ khác nhau :
- Quy phạm pháp luật ( Đơn vị nhỏ nhất của hệ thống)
- Chế định pháp luật ( Ba gồm một số quy phạm)
- Ngành luật ( Gồm các chế định).
a/ Quy phạm pháp luật
Quy phạm pháp luật là quy tắc xử sự trong các trường hợp cụ thể do Nhà nước quy
định, có tính bắt buộc chung và được nhà nước bảo đảm thực hiện. Như vậy Pháp luật
được tạo thành từ rất nhiều quy phạm pháp luật. Mỗi quy phạm pháp luật là một tế bào tạo
nên pháp luật. Nội dung của Quy phạm pháp luật gồm ba bộ phận :
- Một là, giả thiết sự việc xảy ra trong thực tế ( Còn gọi là giả định ). Bộ phận này
nêu ra điều kiện, hoàn cảnh, tình huống có thể xảy ra trong thực tế cuộc sống hay tổ chức,
cá nhân trong điều kiện, hoàn cảnh, tình huống ấy.
- Hai là, quy định mô hình của hành vi (Còn gọi là quy định) Đây là bộ phận quan
trọng nhất của một Quy phạm pháp luật, bởi vì bộ phận này là quy tắc, khuôn mẫu mà
Nhà nước mong muốn con người xử sự. Bộ phận này nêu ra mô hình xử sự đểchủ thể

trong điều kiện, hoàn cảnh, tình huống giả định nêu xử sự theo hoặc phải xử sự theo.
- Ba là, Các biện pháp tác động của Nhà nước nếu không thực hiện hành vi xử sự
theo quy định ( Còn gọi là chế tài ) Tức là chủ thể trong điều kiện, hoàn cảnh, tình huống
giả định nêu lại không xử sự hoặc xử sự trái mô hình xử sự quy định thì phải gánh chịu
hậu quả bất lợi đó.
Ví dụ:
Bộ phận giả định của quy phạm pháp luật trả lời cho câu hỏi: Tổ chức, cá nhân
nào? Khi nào? Trong những hoàn cảnh, điều kiện nào?
Người nào vi phạm pháp luật giao thông đuờng bộ mà gây tai nạn thì phải chịu
trách nhiệm về hành vivi phạm của mình, nếu gây thiệt hại cho người khác thì phải bồi
thường theo qui định của pháp luật”
Bộ phận quy định của quy phạm pháp luật trả lời câu hỏi: Phải làm gì? Được
làm gì? Không được làm gì? Làm như thế nào?
Ví dụ1: “Công dân có quyền tự do kinh doanh theo quy định của pháp luật”
(Điều 57 Hiến phápnăm 1992) (được làm gì)
Bộ phận chế tài của quy phạm pháp luật trả lời cho câu hỏi: Hậu quả sẽ như thế
nào nếu vi phạm pháp luật, không thực hiện đúng mệnh lệnh của Nhà nước đã nêu ở bộ
phận quy định của quy phạm pháp luật.
Ví dụ1: “Người nào xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người
khác, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến 2 năm hoặc phạt tù từ 3 tháng
đến 2 năm” (khoản 1, Điều 121 BLHS 1999).
b/ Chế định pháp luật
Chế định pháp luật là một tập hợp gồm hai hay một số Quy phạm pháp luật điều
chỉnh một nhóm quan hệ xã hội có tính chất chung và liên hệ mật thiết với nhau.
c/ Ngành luật
Ngành luật là tổng hợp các Chế định pháp luật điều chỉnh các nhóm quan hệ xã hội
cùng tính chất.
Như vậy : Các quy phạm pháp luật trong một ngành luật có chung một đối tượng
điều chỉnh là nhóm quan hệ xã hội có cùng tính chất. Các quan hệ xã hội rất đa dạng,
muôn hình, muôn vẻ nhưng dựa vào tính chất giống nhau, gần gũi của chúng mà có thể

xếp thành từng nhóm. Một số nhóm quan hệ xã hội có cùng tính chất hợp thành đối tượng
điều chỉnh của một ngành luật. Ví dụ các nhóm quan hệ về kết hôn, cha mẹ và con cái, ly
hôn.vv… có cùng tính chất là tình cảm vợ chồng, cha mẹ, con cái hợp thành đối tượng
điều chỉnh của ngành luật hôn nhân và gia đình
Hiện nay, ở Việt Nam theo cách phân chia phổ biến trong hệ thống pháp luật có 12
ngành luật:
+ Luật Hiến pháp (Luật Nhà nước);
+ Luật Hành chính;
+ Luật Hình sự;
+ Luật Tố tụng Hình sự;
+ Luật Dân sự;
+ Luật Tố tụng Dân sư;
+ Luật Hôn nhân - Gia đình;
+ Luật Lao động;
+ Luật Kinh tế;
+ Luật Đất đai;
+ Luật Tài chính;
+ Luật Ngân hàng.
3/ Hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật ( Hình thức bên ngoài pháp luật)
Các loại văn bản quy phạm pháp luật có giá trị pháp lý cao thấp khác nhau do cơ
quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành theo một trình tự và thủ tục do pháp luật quy
định, nhưng đều tồn tại trong thể thống nhất.
a/ Đặc điểm của văn bản quy phạm pháp luật :
- Do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành theo trình tự, thủ tục luật định.
- Nội dung chứa đựng những quy tắc xử sự chung.
- Được sử dụng nhiều lần trong thời gian và không gian rộng lớn.
- Được Nhà nước bảo đảm thực hiện.
b/ Hiệu lực của văn bản quy phạm pháp luật :
- Hiệu lực thời gian : Là khoảng thời gian văn bản có hiệu lực được tính từ khi văn
bản bắt đầu có hiệu lực đến khi hết hiệu lực.

- Hiệu lực không gian : Là phạm vi lãnh thổ phải chịu tác động của văn bản. Nói
chung văn bản của cơ quan nhà nước ở trung ương có hiệu lực trong phạm vi lãnh thổ cả
nước, văn bản của cơ quan nhà nước ở địa phương cấp nào có hiệu lực trong phạm vi lãnh
thổ của địa phương đó.
- Hiệu lực đối tượng : Một văn bản quy phạm pháp luật có thể có hiệu lực với
nhóm người này, nhưng lại không có hiệu lực đối với nhóm người khác. Nói chung văn
bản không chỉ rõ đối tượng chịu tác động thì mọi tổ chức, cá nhân đều phải chịu tác động
của văn bản đó ( Trừ một số trường hợp có quy định riêng), văn bản có chỉ rõ đối tượng
thì chỉ những đối tượng đó mới chịu tác động của văn
c/ Các loại văn bản quy phạm pháp luật ở Việt Nam.
Căn cứ vào trình tự ban hành và giá trị pháp lý, các văn bản quy phạm pháp luật
được chia ra thành 2 loại là các văn bản luật và văn bản dưới luật.
* Các văn bản luật: có các hình thức là Hiến pháp và luật (Bộ luật, luật)
Văn bản luật là văn bản quy phạm pháp luật do Quốc hội, cơ quan quyền lực cao
nhất của quyền lực Nhà nước ban hành theo trình tự, thủ tục được qui định trong Hiến
pháp
Các văn bản này có giá trị pháp lý cao nhất. Mọi văn bản khác (văn bản dưới
luật) khi ban hành đều phải dựa trên cơ sở của văn bản luật và không được ttrái với các
quy định trong văn bản đó. Các văn bản dưới luật trái với các đạo luật đều không có
hiệu lực pháp lý và bị bãi bỏ. Chỉ có Quốc hội mới có quyền thông qua, sửa đổi hoặc
hủy bỏ Hiến pháp, các đạo luật và bộ luật. Các đạo luật không chịu sự kiểm tra, phê
chuẩn, đình chỉ của bất cứ cơ quan nào ngoài Quốc hội.
* Các văn bản dưới luật.
Những văn bản này có giá trị pháp lý thấp hơn các văn bản luật, vì vậy khi ban
hành phải chú ý sao cho những quy định của chúng phải phù hợp với những quy định
của Hiến pháp và Luật.
- Pháp lệnh do Uỷ ban thường vụ quốc hội ban hành quy định những vấn đề
được Quốc hội giao. Thẩm quyền ban hành Pháp lệnh của Uỷ ban thường vụ Quốc hội
được quy định trong điều 91 và điều 93 của Hiến pháp năm 1992.
- Nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội được ban hành để giải thích Hiến

pháp, Luật, Pháp lệnh, giám sát việc thi hành Hiến pháp, văn bản quy phạm pháp luật
của Quốc hội và giám sát hoạt động của các cơ quan Nhà nước khác.
- Lệnh, Quyết định của Chủ tịch nước được ban hành để thực hiện những nhiệm
vụ, quyền hạn của Chủ tịch nước do Hiến pháp, Luật quy định.
- Nghị định, Nghị quyết của Chính phủ; Quyết định, Chỉ thị của Thủ tướng
Chính phủ.
- Quyết định, Chỉ thị, Thông tư của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ,
Thủ trưởng các cơ quan khác thuộc Chính phủ.
- Nghị quyết của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao; Quyết định, Chỉ
thị, Thông tư của Chánh án Toà án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân
dân tối cao.
- Nghị quyết, Thông tư liên tịch giữa các cơ quan Nhà nước với nhau (Ví dụ:
giữa các Bộ, giữa các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền với tổ chức CT-XH có quyền
ban hành Nghị quyết, Thông tư liên tịch).
- Nghị quyết của Hội đồng nhân dân các cấp.
- Quyết định, chỉ thị của Uỷ ban nhân dân các cấp.
SƠ ĐỒ TÓM TẮT
HEÄ THOÁNG PHAÙP LUAÄT VIEÄT NAM
Hệ thống các Ngành luật
Các Ngành luật
Các chế đònh Pháp luật
Quy phạm pháp luật
Cơ quan ban hành Tên loại văn bản
Quốc hội Hiến pháp,
Các đạo luật, Bộ luật
Nghị quyết của QH
Ủy ban thường vụ Quốc hội
Pháp lệnh, Nghị quyết
Chủ tịch nước
Lệnh, Quyết định

Chính phủ
Nghị định
Thủ tướng Chính phủ
Quyết định
Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan
ngang bộ
Thơng tư
Tổng kiểm tốn Nhà nước
Quyết định
Chánh án Tòa án nhân dân tối cao;
Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối
cao
Thơng tư
Giữa các cơ quan Nhà nước có
thẩm quyền; giữa các cơ quan Nhà nước
có thẩm quyền với Tổ chức chính trị -
xã hội
Thơng tư liên tịch
Hội đồng nhân dân
Nghị quyết
Ủy ban nhân dân Quyết định
Chỉ thị
HT. các văn bản quy phạm Pháp luật
Bài 3 : THỰC HIỆN PHÁP LUẬT
VI PHẠM PHÁP LUẬT – TRÁCH NHIỆM PHÁP LÝ ( 2 tiết )
I/ Thực hiện pháp luật. ( Tiết 1 )
1/ Thực hiện pháp luật
a/ Khái niệm :
Để điều chỉnh các quan hệ xã hội bằng pháp luật thì trước hết Nhà nước phải tổ
chức xây dựng, ban hành hệ thống các văn bản QPPL. Tuy nhiên, việc ban hành văn bản

không phải là mục đích tự thân của Nhà nước mà điều Nhà nước mong muốn là các quy
định pháp luật phải đi vào cuộc sống, biến các quan hệ xã hội thành quan hệ pháp luật
phục vụ lợi ích và mục đích của Nhà nước và xã hội. Điều đó có thể đạt được khi các
QPPL do Nhà nước đặt ra được các tổ chức và cá nhân trong xã hội thực hiện một cách
chính xác, đầy đủ. Do vậy, vấn đề không phải chỉ là ban hành thật nhiều các văn bản pháp
luật, điều quan trọng là phải thực hiện pháp luật, làm cho các yêu cầu, quy định của chúng
trở thành hiện thực.
Việc thực hiện chính xác, đầy đủ pháp luật XHCN là mối quan tâm không chỉ về
phía Nhà nước XHCN mà từ cả mỗi người dân trong xã hội. Họ tự giác thực hiện pháp
luật và đòi hỏi pháp luật phải được các tổ chức, các cá nhân khác tôn trọng, thực hiện
chính xác và đầy đủ. Thực hiện pháp luật là hành vi ( Hành động hoặc không hành động)
của con người phù hợp với những quy định của pháp luật. Nói khác đi, tất cả những họat
động nào của con người, của các tổ chức mà thực hiện phù hợp với quy định của pháp luật
thì đều được coi là biểu hiện của việc thực hiện thực tế các quy phạm pháp luật.
Dưới góc độ pháp lý thì thực hiện pháp luật là hành vi hợp pháp, hành vi đó không
trái, không vượt quá phạm vi các quy định của pháp luật, phù hợp với quy định của pháp
luật và có lợi cho xã hội, cho Nhà nước và cho cá nhân.
Pháp luật gồm rất nhiều các lọai quy phạm pháp luật khác nhau và với mỗi lọai thì
những cách thức thực hiện chúng cũng khác nhau : Có thể đó là xử sự chủ động ( Hành
đông) nhằm đạt đạt được một cái gì đó như sử dụng quyền hoặc làm nghĩa vụ pháp lý ví
dụ : Thực hiện đội mũ bảo hiểm, làm đơn khiếu nại vv ; Có thể là xử sự bị động, kiềm
chế không làm những điều pháp luật cấm ví dụ ; Không buôn bán ma túy, không vượt đèn
đỏ vv
Do vậy hành vi hợp pháp cũng rất đa dạng, chúng có thể được thực hiện phụ thuộc
ý chí của mỗi cá nhân, nhưng cũng có thể chỉ phụ thuộc ý chí của Nhà nước.
Hành vi hợp pháp có thể được thực hiện trên cơ sở nhận thức sâu sắc của chủ thể là
cần thiết phải xử sự như vậy và do vậy họ tự giác làm theo. Cũng có thể chúng được thực
hiện do ảnh hưởng của những người xung quanh ( Thấy người khác làm như thế thí cũng
làm theo) chứ bản thân người thực hiện hành vi đó chưa hoặc không nhận thức được đầy
đủ tại sao phải làm như vậy. Còn có thể có những hành vi hợp pháp được thực hiện do kết

quả của việc áp dụng những biện pháp cưỡng chế nhà nước hoặc do sợ bị áp dụng những
biện pháp đó. Thực hiện pháp luật có thể là hành vi của mỗi cá nhân nhưng cũng có thể là
họat động của các cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội
Thực hiện pháp luật là hành vi hợp pháp của các chủ thể khi tham gia vào quan hệ
xã hội được các quy định của pháp luật điều chỉnh. Hành vi hợp pháp chính là hành vi
phù hợp với các quy định của pháp luật, cũng có thể hiểu là hành vi làm đúng theo những
gì mà pháp luật quy định.
b/ Các hình thức :
Tuân theo (Tuân thủ) pháp luật : Là một hình thức thực hiện pháp luật, trong đó các
chủ thể pháp luật kiềm chế không tiến hành những họat động mà pháp luật ngăn cấm.
Những QPPL cấm trong luật Hình sự, luật hành chính được thực hiện dưới hình thức
này.
Thi hành (Chấp hành) pháp luật : Là một hình thức thực hiện pháp luật, trong đó
các chủ thể pháp luật thực hiện nghĩa vụ pháp lý của mình bằng cách hành độngtích cực.
Những QPPL bắt buộc được thực hiện dưới hình thức này.
Sử dụng pháp luật : Là một hình thức thực hiện pháp luật, trong đó các chủ thể
pháp luật thực hiện quyền chủ thể của mình ( Thực hiện những hành vi mà pháp luật cho
phép). Những QPPL quy định các quyền tự do dân chủ của công dân được thực hiện dưới
hình thức này. ( Chủ thể không bị ép buộc phải thực hiện).
Áp dụng pháp luật : Là một hình thức thực hiện pháp luật, trong đó Nhà nước
thông qua các cơ quan có thẩm quyền hoặc nhà chức trách tổ chức cho các chủ thể pháp
luật thực hiện những quy định của pháp luật, hoặc tự mình căn cứ vào các quy định của
pháp luật để tạo ra quyết định làm phát sinh, thay đổi, đình chỉ hoặc chấm dứt những quan
hệ pháp luật cụ thể. Trong trường hợp này các chủ thể pháp luật thực hiện các quy định
của pháp luật có sự can thiệp của Nhà nước.
2/ Áp dụng pháp luật
a/ Khái niệm
Pháp luật tác động vào các QHXH, vào cuộc sống đạt hiệu quả cao nhất chỉ khi tất
cả các quy định của nó đều được thực hiện chính xác, triệt để. Nhưng nếu chỉ thông qua
các hình thức tuân theo pháp luật, thi hành pháp luật và sử dụng pháp luật thì sẽ có rất

nhiều QPPL không được thực hiện. Lý do để các chủ thể không muốn thực hiện hoặc
không đủ khả năng tự thực hiện nếu thiếu sự tham gia của cơ quan Nhà nước có thẩm
quyền. Do đó họat động áp dụng pháp luật cần phải được tiến hành trong các trường hợp
sau :
Khi cần áp dụng các biện pháp cưỡng chế nhà nước, hoặc áp dụng các chế tài pháp
luật đối với các chủ thể có hành vi vi phạm pháp luật.
Khi những quyền và nghĩa vụ pháp lý của chủ thể không mặc nhiên phát sinh, thay
đổi hoặc chấm dứt nếu thiếu sự can thiệp của nhà nước Ví dụ : Đ 55 HP quy định " Lao
động là quyền và nghĩa vụ của Công dân", nhưng QHPL lao động với những quyền và
nghĩa vụ lao động cụ thể giữa một công dân với một cơ quan, tổ chức chỉ phát sinh khi có
quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền tuyển dụng người công dân đó vào làm
việc.
Khi xảy ra tranh chấp về quyền chủ thể và nghĩa vụ pháp lý giữa các bên tham gia
QHPL mà các bên đó không tự giải quyết được. Ví dụ : Tranh chấp giữa các bên tham gia
hợp đồng kinh tế hoặc hợp đồng dân sự.
Trong một số QHPL mà nhà nước thấy cần thiết phải tham gia để kiểm tra, giám sát
họat động của các bên tham gia vào quan hệ đó, hoặc nhà nước xác nhận sự tồn tại hay
không tồn tại một số việc, sự kiện thực tế. Ví dụ : Việc xác nhận di chúc, chứng thực thế
chấp.vv
Áp dụng pháp luật là hoạt động mang tính tổ chức, thể hiện quyền lực Nhà nước,
do các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thực hiện (hoặc các tổ chức được trao quyền)
nhằm áp dụng các quy phạm pháp luật vào các trường hợp cụ thể.
Áp dụng pháp luật là họat động thực hiện pháp luật của các cơ quan nhà nước. Nó
vừa là một hình thức thực hiện pháp luật, vừa là cách thức nhà nước tổ chức cho các chủ
thể thực hiện pháp luật.
b/ Đặc điểm :
- Áp dụng pháp luật là họat động mang tính tổ chức, thể hiện quyền lực nhà nước
Họat động áp dụng pháp luật chỉ do cơ quan nhà nước hay nhà chức trách có thẩm
quyền tiến hành. Trong quá trình áp dụng pháp luật mọi khía cạnh, mọi tình tiết đều phải
được xem xét cẩn trọng và dực trên các cơ sở các quy định, yêu cầu của QPPL đã được

xác định đề ra quyết định cụ thể. Như vậy pháp luật là cơ sở xuất phátđiểm để các cơ quan
nhà nước có thẩm quyền áp dụng pháp luật thực hiện chức năng của mình. Có một số
trường hợp cá biệt, khi được nhà nước trao quyền một số tổ chức xã hội cũng có thể tiến
hành áp dụng pháp luật.
Họat động áp dụng pháp luật được tiến hành chủ yếu theo ý chí đơn phương của
các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, không phụ thuộc vào ý chí của chủ thể bị áp dụng
pháp luật.
Áp dụng pháp luật có tính chất bắt buộc đối với chủ thể bị áp dụng và các chủ thể
có liên quan.
Văn bản áp dụng pháp luật chỉ do cơ quan hay nhà chức trách có thẩm quyền áp
dụng pháp luật ban hành. Văn bản áp dụng pháp luật mang tính bắt buộc phải thực hiện
đối với những tổ chức và cá nhân có liên quan. Trong những trường hợp cần thiết, quyết
định áp dụng pháp luật được bảo đảm thực hiện bằng sự cưỡng chế nhà nước.
- Áp dụng pháp luật là họat động có hình thức thủ tục chặt chẽ do pháp luật quy
định.
Do tính chất quan trọng và phức tạp của họat động áp dụng pháp luật , chủ thể bị áp
dụng pháp luật có thể được hưởng các lợi ích rất lớn nhưng cũng có thể phải chịu những
hậu quả rất nghiêm trọng nên pháp luật xác định rõ ràng cơ sở, điều kiện, trình tự, thủ tục,
quyền và nghĩa vụ của các bên. Trong quá trình áp dụng pháp luật phải tuân thủ nghiêm
ngặt các quy định có tính thủ tục đó để tránh những sự tùy tiện có thể dẫn đến việc áp
dụng pháp luật không đúng, không chính xác.
- Áp dụng pháp luật là họat động điều chỉnh cá biệt, cụ thể đối với các quan hệ xã
hội xác định
Đối tượng của họat động áp dụng pháp luật là những QHXH cần đến sự điều chỉnh
cá biệt, bổ sung trên cơ sở những mệnh lệnh chung trong QPPL. Bằng họat động áp dụng
pháp luật những QPPL nhất định được cá biệt hóa một cách cụ thể và chính xác.
- Áp dụng pháp luật là họat động đòi hỏi tính sáng tạo Khi áp dụng pháp luật các
cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải nghiên cức kỹ lưỡng vụ việc, làm sáng tỏ cấu thành
pháp lý của nó để từ đó lựa chọn quy phạm, ra văn bản áp dụng pháp luật và tổ chức thi
hành. Trong trường hợp pháp luật chưa quy định hoặc quy định chưa rõ thì phải vận dụng

một cách sáng tạo bằng cách áp dụng pháp luật tương tự. Để đạt tới điều đó, đòi hỏi các
nhà chức trách phải có ý thức pháp luật cao, có tri thức tổng hợp, có kinh nghiệm phong
phú, có đạo đức cánh mạng và có tay nghề cao.
Từ sự phân tích trên : áp dụng pháp luật là họat động mang tính tổ chức, thể hiện
quyền lực nhà nước, được thực hiện thông qua những cơ quan nhà nước có thẩm quyền,
nhà chức trách hoặc cá nhân tổ chức xã hội khi được nhà nước trao quyền, nhằm cá biệt
hóa những QPPL vào các trường hợp cụ thể đối với các cá nhân, tổ chức cụ thể.
II/ Vi phạm pháp luật trách nhiệm pháp lý. ( Tiết 2 )
1/ Vi phạm pháp luật
a/ Khái niệm :
Vi phạm pháp luật là hành vi (Hành động hoặc không hành động) trái pháp luật và
có lỗi do chủ thể có năng lực trách nhiệm pháp lý thực hiện, xâm hại các quan hệ xã hội
được pháp luật bảo vệ.
Hành vi của con người là những xử sự có ý thức, có định hướng mục đích nhằm tác
động vào tự nhiên, xã hội. Khoa học pháp lý không xem xét tất cả các loại hành vi của con
người, mà chỉ xem xét những hành vi có ý nghĩa đối với việc xác lập, làm thay đổi hay
chấm dứt những quan hệ xã hội được pháp luật điều chỉnh.
Hành vi của con người trong khuôn khổ do pháp luật quy định thường được phân
thành hai loại : Hành vi hợp pháp và hành vi bất hợp pháp. Hành vi hợp pháp còn gọi là
hành vi đúng pháp luật tức là hành vi tuân thủ, thực hiện đúng những quy định của pháp
luật ( Làm những điều mà pháp luật cho phép, luật đòi hỏi hoặc bắt buộc
phải làm, không làm những điều pháp luật cấm, không cho phép). Hành vi bất hợp pháp
còn gọi là hành vi vi phạm pháp luật ( Hành vi trái pháp luật) là những hành vi không phù
hợp với những quy định của pháp luật.
Vi phạm pháp luật là hành vi trái pháp luật có đủ 4 dấu hiệu cơ bản sau :
- Vi phạm pháp luật phải là hành vi ( Hành động hoặc không hành động) xác định
của con người hoặc là họat động của cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội ( các chủ thể pháp
luật) gây nguy hiểm hoặc có khả năng gây nguy hiểm cho xã hội được biểu hiện ra bên
ngoài, không phải là những suy nghĩ hay những đặc tính cá nhân của con người.
- Vi phạm pháp luật là hành vi trái pháp luật , xâm hại tới các quan hệ xã hội được

pháp luật xác lập và bảo vệ: Vi phạm pháp luật không những phải là hành vi nguy hiểm
của các chủ thể pháp luật, mà hành vi đó còn phải trái pháp luật xâm hại tới các quan hệ
xã hội được pháp luật xác lập và bảo vệ. Những hành vi trái với các quy định của các tổ
chức xã hội, trái với quy tắc tập quán hoặc đạo đức mà không trái pháp luật thì không bị
coi là vi phạm pháp luật ( Những gì mà pháp luật không cấm, không xác lập và bảo vệ thì
dù có làm trái, có xâm hại cũng không bị coi là vi phạm pháp luật).
- Hành vi trái pháp luật đó phải chứa đựng lỗi ( Cố ý hoặc vô ý) của chủ thể hành vi
đó. Lỗi là yếu tố chủ quan thể hiện thái độ của chủ thể đối với hành vi trái pháp luật của
mình. Nếu một hành vi trái pháp luật được thực hiện do những điều kiện hòan cảnh khách
quan, chủ thể hành vi không cố ý và cũng không vô ý thực hiện hoặc không thể ý thức
được, từ đó không thể lực chọn được cách xử sự theo yêu cầu của pháp luật thì chủ thể
hành vi đó không thể bị coi là có lỗi và hành vi đó không bị coi là vi phạm pháp luật.
- Chủ thể hành vi trái pháp luật phải có năng lực trách nhiệm pháp lý, tức là người
phải có khả năng nhận thức, điều khiển được việc làm của mình và chịu trách nhiệm về
hành vi của mình ( Trí óc bình thường và đến độ tuổi theo quy định của pháp luật phải
chịu trách nhiệm pháp lý).
Có thể nói, tất cả mọi vi phạm pháp luật đều là hành vi trái pháp luật, nhưng trái
lại, không phải tất cả mọi hành vi trái pháp luật đều là vi phạm pháp luật ( Nếu không đủ
cả 4 dấu hiệu trên).
Cấu thành vi phạm pháp luật Khi có hành vi vi phạm pháp luật phải có căn cứ để
xem xét mức độ nguy hiểm cho xã hội, trên cơ sở đó áp dụng trách nhiệm pháp lý đúng
người, đúng tội, đúng pháp luật tránh để oan sai hoặc lọt người lọt tội cần xem xét các mặt
như sau:
- Mặt khách quan : Phải có hành vi trái pháp luật xảy ra, hành vi đó có gây hậu quả
thiệt hại cho xã hội, mối quan hệ nhân – quả giữa hành vi trái pháp luật và hậu quả. Ngòai
ra cần xem xét về thời gian, không gian, địa điểm, công cụ, phương tiện vv…
- Mặt chủ quan : Có lỗi ( Cố ý hoặc vô ý).Ngòai ra cần xem xét động cơ, mục đích.
- Mặt khách thể : Hành vi xâm hại đến quan hệ xã hội nào được pháp luật bảo vệ.
Mặt khách thể thể hiện mức độ nguy hiểm của hành vi vi phạm pháp luật.
- Mặt chủ thể : Phải là người có năng lực trách nhiệm pháp lý thực hiện. Ngòai ra

cần xem xét nhân thân chủa chủ thể vi phạm pháp luật.
b/ Các loại vi phạm pháp luật thường xảy ra trong xã hội
- Vi phạm hình sự ( Tội phạm)
Là những hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong bộï luật hình sự của
Nhà nước, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hay vô ý,
xâm phạm độc lập, chủ quyền thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của tổ quốc, xâm phạm chế
độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội,
quyền lợi hợp pháp của tổ chức, xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tự
do, tài sản, các quyền , lợi ích hợp pháp khác của công dân .vv…
- Vi phạm hành chính. Là hành vi do cá nhân, tổ chức thực hiện một cách cố ý hay
vô ý, xâm phạm các quy tắc quản lý nhà nước mà không phải là tội phạm hình sự và theo
quy định của pháp luật phải bị xử phạt hành chính.
- Vi phạm dân sự. Là những hành vi trái pháp luật, có lỗi xâm phạm tới những quan
hệ tài sản, quan hệ nhân thân có liên quan tới tài sản, quan hệ phi tài sản .vv…
- Vi phạm kỷ luật Nhà nước. Là những hành vi có lỗi, trái với những quy chế, quy
tắc xác lập trật tự trong nội bộ một cơ quan, xí nghiệp, trường học… không thực hiện
đúng kỷ luật lao động, học tập, phục vụ được quy định trong nội quy, quy chế của cơ
quan, xí nghiệp, trường học…
2/ Trách nhiệm pháp lý.
a/ Khái niệm :
Là một loại quan hệ pháp luật đặc biệt giữa Nhà nước ( thông qua cơ quan có thẩm
quyền) với chủ thể vi phạm pháp luật, trong đó bên vi phạm pháp luật phải gánh chịu
những hậu quả bất lợi, những biện pháp cưỡng chế Nhà nước được quy định ở chế tài các
quy phạm pháp luật.
Trách nhiệm pháp lý luôn gắn liền với những biện pháp cưỡng chế nhà nước. Tuy
nhiên cần chú ý là có một số biện pháp cưỡng chế được nhà nước áp dụng không liên
quan gì đến trách nhiệm pháp lý ví dụ : cách ly người mắc bệnh truyền nhiễm, trưng dụng,
trưng mua tài sản vv
b/ Đặc điểm
- Cơ sở của trách nhiệm pháp lý là vi phạm pháp luật. Có vi phạm pháp luật thì

có trách nhiệm pháp lý. Trách nhiệm pháp lý chỉ áp dụng đối với chủ thể có năng lực
chủ thể thực hiện hành vi trái pháp luật trong trạng thái có lý trí và tự do về ý chí. Nói
cách khác, chủ thể trách nhiệm pháp lý chỉ có thể là cá nhân hoặc tổ chức có lỗi khi vi
phạm các quy định của pháp luật.
- Trách nhiệm pháp lý chỉ do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, người có thẩm
quyền tiến hành theo đúng trình tự, thủ tục luật định. Mỗi loại cơ quan Nhà nước, cán
bộ Nhà nước chỉ có quyền truy cứu một hoặc một số loại trách nhiệm pháp lý theo đúng
trình tự, thủ tục pháp luật đã quy định.
- Trách nhiệm pháp lý liên quan mật thiết tới cưỡng chế Nhà nước. Khi vi phạm
pháp luật xảy ra, thì cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, người có thẩm quyền áp dụng
các biện pháp có tính cưỡng chế khác nhau, nhưng không phải bất cứ biện pháp tác
động nào cũng là trách nhiệm pháp lý. Biện pháp trách nhiệm pháp lý chỉ là những biện
pháp có tính chất trừng phạt, làm thiệt hại hoặc tước đoạt ở một phạm vi nào đó các
quyền tự do, lợi ích hợp pháp mà chủ thể vi phạm pháp luật trong điều kiện bình
thường đáng ra được hưởng.
- Cơ sở pháp lý của việc truy cứu trách nhiệm pháp lý là quyết định có hiệu lực
pháp luật của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.
- Trách nhiệm pháp lý là sự lên án của Nhà nước và xã hội đối với chủ thể vi
phạm pháp luật, là sự phản ứng của Nhà nước đối với hành vi vi phạm pháp luật.
Tóm lại, trách nhiệm pháp lý là một loại quan hệ pháp luật đặc biệt giữa Nhà
nước (thông qua cơ quan Nhà nước có thẩm quyền) và chủ thể vi phạm pháp luật,
trong đó Nhà nước (thông qua cơ quan có thẩm quyền) có quyền áp dụng các biện
pháp cưỡng chế có tính chất trừng phạt được quy định ở chế tài quy phạm pháp luật
đối với chủ thể vi phạm pháp luật và chủ thể đó phải gánh chịu hậu quả bất lợi về vật
chất, tinh thần do hành vi của mình gây ra.
c/ Các loại trách nhiệm pháp lý:
- Phụ thuộc vào các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền áp dụng trách nhiệm pháp
lý, ta có: trách nhiệm do Toà án áp dụng và trách nhiệm do cơ quan quản lý Nhà nước
áp dụng.
- Căn cứ vào mối quan hệ của trách nhiệm pháp lý với các ngành luật, ta có:

trách nhiệm hình sự, trách nhiệm hành chính, trách nhiệm dân sự, trách nhiệm kỷ luật,
trách nhiệm vật chất.
a.Trách nhiệm hình sự được Toà án áp dụng đối với những người có hành vi
phạm tội được quy định trong Bộ luật hình sự. Chế tài trách nhiệm hình sự là nghiêm
khắc nhất.
b. Trách nhiệm hành chính chủ yếu do các cơ quan quản lý Nhà nước hay nhà
chức trách có thẩm quyền áp dụng đối với các chủ thể có hành vi vi phạm hành chính.
c. Trách nhiệm dân sự là loại trách nhiệm pháp lý do Toà án áp dụng đối với các
chủ thể vi phạm pháp luật dân sự.
d. Trách nhiệm kỷ luật là loại trách nhiệm pháp lý áp dụng đối với chủ thể vi
phạm kỷ luật, do thủ trưởng các cơ quan, đơn vị tiến hành.
đ. Trách nhiệm vật chất là loại trách nhiệm pháp lý do các cơ quan, đơn vị áp
dụng đối với cán bộ, công chức, công nhân, người lao động của cơ quan, đơn vị mình
trong trường hợp họ gây thiệt hại về tài sản cho cơ quan, đơn vị.
Bài 5 : Ý THỨC PHÁP LUẬT VÀ PHÁP CHẾ XÃ HỘI CHỦ
NGHĨA ( 2 tiết )
I/ Ý thức pháp luật ( Tiết 1 )
1/ Khái niệm ý thức pháp luật :
Ý thức pháp luật là tổng thể những học thuyết, tư tưởng, quan điểm, quan niệm
hình thành trong xã hội, thể hiện mối quan hệ của con người đối với pháp luật hiện hành,
pháp luật đã qua và pháp luật cần phải có; Thể hiện sự đánh giá về tính hợp pháp hay
không hợp pháp trong hành vi xử sự của con người cũng như trong tổ chức và họat động
của các cơ quan nhà nước và các tổ chức khác trong xã hội.
2/ Cấu trúc ý thức pháp luật :
a/ Cơ cấu của ý thức pháp luật :
Cơ cấu của ý thức pháp luật bao gồm : Tâm lý pháp luật và hệ tư tưởng PL.
+ Tâm lý pháp luật là một bộ phận của ý thức pháp luật được hình thành một cách
tự phát, trực tiếp từ đời sống pháp luật. Tâm lý pháp luật được phản ánh hời hợt, không hệ
thống về đời sống pháp luật và thể hiện dưới dạng tình cảm, tâm trạng đối với pháp luật.
Cụ thể tâm lý pháp luật tồn tại ở một số dạng cơ bản sau:

- Tình cảm pháp luật: Do giao tiếp của con người mà hình thành. Các biểu hiện sợ
hãi trước hành vi vi phạm pháp luật hay phấn khởi do pháp luật được thực hiện nghiêm
túc, có hiệu quả là biểu hiện của tình cảm pháp luật.Tình cảm PL thườngkhông bền vững
và do đó không có tác dụng hình thành khi pháp luật bền vững.
- Tâm trạng : Là một yếu tố linh động của tâm lý pháp luật. Ví dụ : Thái độ thờ ơ,
lãnh đạm với PL hoặc cương quyết, không khoan dung đối với vi phạm pháp luật.
- Những xúc động, sự tự đánh gía biểu hiện cao của lương tâm, có ý nghĩa phòng
ngừa những hành vi lệch chuẩn.
+ Hệ tư tưởng pháp luật là những quan điểm, tư tưởng, học thuyết phản ánh đời
sống pháp luật một cách sâu sắc, hình thành một cách tự giác, là phản ánh bên trong mang
tính chất của đời sống pháp luật ( Về vai trò của pháp luật, bản chất của pháp
luật, giá trị xã hội của pháp luật, mối quan hệ giữa pháp luật với nhà nước, với chính trị,
với dân chủ, tự do, công bằng )
Giữa tâm lý pháp luật và hệ tư tưởng pháp luật có mối quan hệ chắt chẽ và tác động
qua lại lẫn nhau. Tâm lý pháp luật tuy không phản ánh đời sống pháp luật một cách hệ
thống, sâu sắc song đối với mỗi cá nhân thì nó có tác dụng rất to lớn. Lê nin đã từng nói "
Thiếu cảm xúc thì con người không tìm được chân lý". Tình cảm dồi dào sẽ
là " bệ đỡ'" cho hệ tư tưởng phát triển. Ngược lại, nếu nắm được lý luận thì tâm lý càng
đúng đắn, cảm xúc càng phát triển, niềm tin càng vững chắc. Ngày nay, khi trình độ dân
trí ngày càng cao thì sự tin tưởng của người dân phải dựa trên cơ sở tri thức, không thể
dựa trên sự lý thuết một chiều, càng không thể dựa vào sự áp đặt.
b/ Phân lọai ý thức pháp luật :
+ Căn cứ vào cấp độ và giới hạn nhận thức pháp luật có thể chia ý thức pháp luật
thành : ý thức pháp luật thông thường và ý thức pháp luật lý luận.
- Ý thức pháp luật thông thường là những tri thức, những quan niệm của con người
về pháp luật được chia thành một cách trực tiếp trong hành động thực tiễn hàng ngày,
chưa được hệ thống hóa, khái quát hóa. Ý thức pháp luật thông thường phản ánh sinh
động, trực tiếp nhiều mặt của đời sống pháp luật và thường xuyên chi phối cuộc sống của
con người. Đó là tiền đề quan trọng cho sự hình thành các lý luận, lý thuyết về pháp luật.
- Ý thức pháp luật có tính lý luận là những tư tưởng, quan điểm được hệ thống hóa,

khái quát hóa thành các học thuyết pháp lý. Ý thức pháp luật lý luận phản ánh mối quan
hệ bên trong, bản chất của pháp luật. Đây là những tiền đề quan trọng trong việc xây dựng
PL cũng như thực hiện pháp luật của các cơ quan chuyên môn về luật.
+ Căn cứ vào chủ thể của ý thức pháp luật có thể chia thành : ý thức pháp luật xã
hội, ý thức pháp luật nhóm và ý thức pháp luật cá nhân.
- Ý thức pháp luật xã hội là ý thức của bộ phận tiên tiến đại diện cho xã hội, chứa
đựng những tư tưởng, quan điểm khoa học về những vấn đề cơ bản nhất của pháp luật. Vì
nó tiến bộ và có cơ sở khoa học nên ý thức pháp luật xã hội được chính thức hóa trong
tòan xã hội.
- Ý thức pháp luật nhóm chỉ phản ánh những quan điểm, tư tưởng, tình cảm của
một nhóm xã hội nhất định về pháp luật. Ý thức pháp luật nhóm có phạm vi tác động hẹp
hơn so với ý thức pháp luật xã hội.
- Ý thức pháp luật cá nhân phản ánh những quan điểm, tư tưởng, tâm lý, tình cảm,
thái độ của mỗi người đối với pháp luật. Trình độ ý thức pháp luật cá nhân thường thấp
hơn ý thức pháp luật xã hội. Vì vậy, vấn đề đặt ra là phải không ngừng đẩy mạnh công tác
giáo dục pháp luật để đưa ý thức pháp luật cá nhân lên ngang tầm ý thức pháp luật xã hội.
3/ Nâng cao ý thức pháp luật :
Mặc dù trong truyền thống văn hóa của Việt nam ở một số thời kỳ đã chứa đựng
yếu tố pháp luật khá rõ nét song nhìn chung, pháp luật chưa phải là yếu tố chi phối tòan
diện, chủ đạo trong các quan hệ xã hội ở nước ta. Người dân ít chuẩn bị tâm thế để sống
và làm việc theo pháp luật, chỉ khi có việc mới quan tâm. Ngay cả cơ quan nhà nước nhiều
khi cũng xử sự theo cảm tính. Do vậy việc nâng cao ý thức pháp luật ở nước ta đang trở
thành nhu cầu cấp thiết.
Để tiếp nâng cao ý thức pháp luật trong xã hội thì cần phải xây dựng hệ thống pháp
luật hòan chỉnh phù hợp với trình độ phát triển kinh tế, xã hội để tạo ra một đời sống pháp
luật lành mạnh. Hiện nay cần tập trung vào một số giải pháp cơ bản sau :
- Tăng cường tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật bằng nhiều hình thức trong
đó việc đưa pháp luật vào nhà trường ở tất cả các cấp học và trình độ đào tạo là giải pháp
có tính chiến lược.
- Nâng cao chất lượng họat động của các cơ quan thực thi pháp luật như tóa án,

viện kiểm sát, công an, các cơ quan hành chính nhà nước.
- Tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa trong mọi lĩnh vực của đời sống XH.
- Tạo điều kiện cho nhân dân tham gia quản lý xã hội thông qua các hình thức dân
chủ trực tiếp và gián tiếp, các họat động giám sát, phản biện xã hội đối với việc xây dựng
pháp luật và thực hiện pháp luật của nhà nước.
- Kết hợp giáo dục pháp luật với giáo dục đạo đức, nâng cao trình độ văn hóa của
nhân dân.
II/ Pháp chế xã hội chủ nghĩa ( Tiết 2 )
1/ Khái niệm pháp chế XHCN :
Pháp chế XHCN là chế độ đặc biệt của đời sống chính trị - xã hội trong đó Nhà
nước quản lý xã hội bằng pháp luật và theo pháp luật. Các cơ quan nhà nước, tổ chức
chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức kinh tế, đơn vị vũ trang nhân dân; các cán bộ,
công chức, viên chức nhà nước; các thành viên của các tổ chức và mọi công dân đều phải
tôn trọng và thực hiện pháp luật một cách nghiêm chỉnh, triệt để và chính xác; mọi vi
phạm pháp luật đều bị xử lý theo pháp luật.
2/ Yêu cầu cơ bản của pháp chế XHCN :
- Tôn trọng tính tối cao của Hiến pháp và Luật;
- Đảm bảo tính thống nhất của pháp chế trên quy mô toàn quốc;
- Các cơ quan xây dựng pháp luật, tổ chức thực hiện pháp luật, bảo vệ pháp luật
phải hoạt động một cách tích cực, chủ động và có hiệu quả;
- Không tách rời pháp chế với văn hóa và văn hóa pháp lý.
3/ Các biện pháp tăng cường pháp chế XHCN :
Thực tiễn đã chỉ ra rằng muốn tăng cường pháp chế XHCN thì phải tiến hành đồng
bộ cả việc xây dựng hệ thống pháp luật, tổ chức đưa pháp luật vào cuộc sống, kiểm tra xử
lý các vi phạm pháp luật. Ở nước ta, các họat động này phải đặt dưới sự lãnh đạo của
Đảng vì lịch sử đã chứng minh sự lãnh đạo của Đảng luôn giữ vai trò quyết định mọi
thắng lợi của cách mạng nước ta và thực chất quá trình tăng cường pháp chế XHCN ở
nước ta cũng là quá trình thực hiện hóa đường lối lãnh đạo của Đảng.
Cần tiến hành đồng bộ các giải pháp sau :
a/Hoàn thiện hệ thống pháp luật .

Pháp luật là cơ sở của pháp chế. Có pháp luật thì mới có pháp chế. Vì vậy việc
hòan thiện hệ thống pháp luật là giải pháp đầu tiên để tăng cường pháp chế. Nếu pháp luật
không tốt, không phù hợp với xã hội thì khó đi vào cuộc sống.
b/ Tích cực tổ chức đưa pháp luật vào cuộc sống.
Pháp luật dù tốt đến đâu cũng không thể tự thân đi vào cuộc sống mà phải thông
qua quá trình tổ chức một cách chủ động, tích cực của các chủ thể liên quan. Trước hết
cần tuyên truyền, phổ biến, giáo dục mọi người nắm được các quy định, hiểu được lợi ích
của việc làm theo pháp luật và e ngại những chế tài mà nhà nước dự định áp dụng nếu vi
phạm xảy ra, từ đó điều chỉnh hành vi của mình theo những yêu cầu của pháp luật. Bên
cạnh việc tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật cần có kế họach cụ thể và các điều
kiện về vật chất cần thiết để thực hiện pháp luật. Việc tổng kết tình hình thực hiện pháp
luật cũng như nghiên cứu khoa học về pháp lý cũng hết sức quan trọng góp phần đề ra
những giải pháp phù hợp với từng giai đọan khác nhau.
c/ Giám sát, kiểm tra, xử lý vi phạm pháp luật.
Trong xã hội bao giờ cũng có những đối tượng chậm nắm bắt các yêu cầu của pháp
luật hoặc cố tình chống lại pháp luật, vì vậy muốn pháp luật được thực hiện nghiêm chỉnh
thì cần phải có sự giám sát, kiểm tra thường xuyên để phát hiện kịp thời các
hành vi vi phạm để xử lý đúng người, đúng vi phạm, đúng pháp luật. Bởi lẽ nơi nào xảy ra
vi phạm pháp luật thì pháp chế ở nơi đó bị phá vỡ, trật tự xã hội bị ảnh hưởng xấu. Cũng
qua kiểm tra việc thực hiện pháp luật mà phát hiện những quy định không phù hợp để kiến

×