Tải bản đầy đủ (.doc) (24 trang)

de cuong chi tiet cao hoc nguyen ly ke toan khoa 2

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (202.79 KB, 24 trang )

Đề cương chi tiết môn học: NGUYÊN LÝ KẾ TOÁN
CHUYÊN ĐỀ 1
TỔNG QUAN CHUNG VỀ KẾ TOÁN
Chủ đề này cung cấp các vấn đề tổng quan chung về kế toán, bao gồm
các đặc trưng của kế toán, các khái niệm căn bản trong khoa học kế toán, đối
tượng sử dụng thông tin kế toán, yêu cầu cơ bản đối với thông tin kế toán và
các loại hình kế toán.
 Đặc trưng của kế toán
Kế toán có nguồn gốc từ hạch toán, trong quá trình hình thành và phát
triển, kế toán được hiểu theo nhiều cách khác nhau từ nhiều cách tiếp cận
khoa học này. Kế toán có thể xem xét như là một công cụ quản lý, nó cũng
có thể tiếp cận như là một nghề chuyên môn hoặc là một môn khoa học.
Về mặt học thuật, kế toán được khái niệm nhiều cách khác nhau, tuy
nhiên có thể nói rằng cho đến nay, không một khái niệm nào nêu ra được
bản chất và phạm vi của kế toán một cách chính xác. Mỗi một khái niệm đưa
ra, mô tả công việc cần thiết kế toán phải làm, nhưng giới hạn về công việc
của kế toán không được phân định một cách minh bạch. Thay vào đó, người
ta đưa ra những đặc trưng rất căn bản của kế toán như sau:
• Kế toán là quá trình thu nhận, xử lý và cung cấp thông tin kinh tế tài
chính;
• Thông tin kế toán là thông tin tiền tệ về các hoạt động kinh tế tài
chính diễn ra ở đơn vị kế toán cụ thể;
• Thông tin kế toán cung cấp cho các đối tượng sử dụng, giúp họ ra các
quyết định kinh tế hiệu quả liên quan đến đơn vị kế toán.
 Sau khi xuất hiện bút toán kép, đánh dấu cho sự ra đời của kế toán hiện
đại, một loạt vấn đề kế toán nảy sinh. Những vấn đề kế toán này xuất
phát chủ yếu từ loại nghiệp vụ kinh tế tài chính mới phát sinh, môi
HỌC VIỆN TÀI CHÍNH
1/24
Đề cương chi tiết môn học: NGUYÊN LÝ KẾ TOÁN
trường kinh doanh thay đổi dẫn đến sự ra đời của khoa học kế toán quản


trị, kế toán thuế, kiểm toán…
 Các khái niệm căn bản trong khoa học kế toán. Ba khái niệm cơ bản
trong khoa học kế toán; khái niệm đơn vị kế toán, khái niệm thước đo
tiền tệ và khái niệm kỳ kế toán. Mỗi một khái niệm sẽ được phân tích kỹ
lưỡng về hệ quả của nó đến khoa học kế toán.
 Đối tượng sử dụng thông tin kế toán. Đối tượng sử dụng thông tin kế toán
có thể là người ngoài đơn vị kế toán hoặc có thể là đối tượng bên trong.
Mỗi một đối tượng sử dụng thông tin kế toán khai thác, sử dụng thông tin
kế toán từ những góc độ khác nhau.
 Thông tin kế toán phải đảm bảo được những yêu cầu nhất định: những
yêu cầu này là tính hợp lý và tính tin cậy.
 Trong lý luận và thực tiễn, tồn tại nhiều loại hình kế toán khác nhau, ví
dụ như kế toán tài chính-kế toán quản trị, kế toán quỹ-kế toán dồn tích,
kế toán vi mô-kế toán vĩ mô…mỗi một loại kế toán có những nét đặc
điểm riêng, xuất phát từ những cơ sở lý luận nhất định.
Tài liệu tham khảo
1. Eldon S. Hendriken, Michealf.Van Breda (2001), Accounting Theory, Tập
thể dịch: Nguyễn Văn Hiệu, Giang Thị Xuyến, Lê Xuân Trường, Nguyễn
Hữu Hiểu, Ngô Thanh Hoàng.
2. Lee H.Radebaugh, Sidney J.Gray (1996), International Accounting and
Multinational Enterprises, John Wiley & Sons, INC.
3. Vernon Kam, Accounting Theory (1989), Accounting Theory, John Wiley
& Sons.
4. Các bài báo nói về bản chất của kế toán.
HỌC VIỆN TÀI CHÍNH
2/24
Đề cương chi tiết môn học: NGUYÊN LÝ KẾ TOÁN
CHUYÊN ĐỀ 2
CÁC YẾU TỐ BÁO CÁO TÀI CHÍNH
Các yếu tố báo cáo tài chính bao gồm tài sản, nợ phải trả, vốn chủ sở hữu,

thu nhập, chi phí và kết quả hoạt động. Chủ đề này xem xét các yếu tố báo
cáo tài chính theo những quan điểm khác nhau.
I. Tài sản
Những vấn đề kế toán liên quan đến tài sản bao gồm; ghi nhận, tính giá và
trình bày trên các báo cáo tài chính.
Ghi nhận tài sản liên quan khái niệm, các tiêu chuẩn cần thiết để ghi nhận
một khoản là tài sản.
Tính giá tài sản liên quan đến việc dùng thước đo tiền tệ để xác định trị
giá tài sản. Vấn đề này được giải quyết trong chuyên đề III.
Trình bày tài sản trên các báo cáo tài chính là việc xắp xếp các chỉ tiêu
liên quan đến tài sản trên Bảng cân đối kế toán. Vấn đề này được giải quyết
trong chuyên đề III.
Ghi nhận tài sản được xác nhận theo 2 quan điểm: quan điểm cũ và quan
điểm mới.
Theo quan điểm trước đây, tài sản là những nguồn lực do đơn vị kế toán
sở hữu, là kết quả của nghiệp vụ kinh tế tài chính đã xảy ra, có thể đánh giá
được và có thể đem lại lợi ích kinh tế trong tương lai.
Những điều kiện cần thiết để ghi nhận tài sản theo quan điểm trước đây
bao gồm khả năng thu được lợi ích kinh tế trong tương lai, có thể xác định
được giá trị của nó, là kết quả của nghiệp vụ kinh tế đã xảy ra và phải thuộc
quyền sở hữu của đơn vị kế toán.
Theo quan điểm hiện tại, tài sản là những nguồn lực do đơn vị kế toán
kiểm soát, có thể thu được lợi ích kinh tế trong tương lai.
HỌC VIỆN TÀI CHÍNH
3/24
Đề cương chi tiết môn học: NGUYÊN LÝ KẾ TOÁN
Những điều kiện cần thiết để ghi nhận tài sản theo quan điểm trước đây
bao gồm khả năng thu được lợi ích kinh tế trong tương lai, có thể xác định
được giá trị của nó, là kết quả của nghiệp vụ kinh tế đã xảy ra và được đơn
vị kế toán kiểm soát.

Điểm khác biệt căn bản khái niệm về tài sản theo quan điểm hiện tại và
quan điểm trước đây về tài sản đó là khả năng kiểm soát của đơn vị kế toán
đối với tài sản và quyền sở hữu đối với tài sản. Quan điểm mới về tài sản
nhấn mạnh về bản chất kinh tế của tài sản hơn là tính pháp lý của nó.
Trong thực tế, các quốc gia trên thế giới ghi nhận tài sản theo những tiêu
chuẩn cơ bản sau: căn cứ vào luật, dựa trên nguyên tắc thận trọng, bản chất
kinh tế của giao dịch, sự kiện kinh tế và khả năng xác định giá trị của chúng.
Những căn cứ này là cơ sở để đảm bảo tính khách quan của thông tin kế
toán.
II. Nợ phải trả
Tương tự như tài sản, những vấn đề kế toán đối với nợ phải trả bao gồm:
ghi nhận, tính giá và trình bày trên báo cáo tài chính.
Ghi nhận nợ phải trả liên quan khái niệm, các tiêu chuẩn cần thiết để ghi
nhận một khoản là nợ phải trả.
Tính giá nợ phải trả liên quan đến việc dùng thước đo tiền tệ để xác định
trị giá nợ phải trả. Vấn đề này được giải quyết trong chuyên đề III.
Trình bày nợ trên các báo cáo tài chính liên quan đến việc xắp xếp các chỉ
tiêu liên quan đến nợ phải trả trên Bảng cân đối kế toán. Vấn đề này được
giải quyết trong chuyên đề III.
Theo quan điểm trước đây, nợ phải trả là nghĩa vụ pháp lý hiện tại của
đơn vị kế toán phát sinh từ những giao dịch và sự kiện đã xảy ra.
Những điều kiện cần thiết để ghi nhận một khoản là nợ phải trả theo quan
điểm này bao gồm: nghĩa vụ pháp lý hiện tại đơn vị kế toán phải thanh toán,
HỌC VIỆN TÀI CHÍNH
4/24
Đề cương chi tiết môn học: NGUYÊN LÝ KẾ TOÁN
có thể xác định được giá trị của chúng và là kết quả nghiệp vụ kinh tế tài
chính đã xảy ra.
Theo quan điểm hiện tại, nợ phải trả là nghĩa vụ hiện tại của đơn vị đơn kế
toán phát sinh từ những giao dich và sự kiện đã xảy ra.

Những điều kiện cần thiết để ghi nhận một khoản là nợ phải trả theo quan
điểm này bao gồm: nghĩa vụ hiện tại của đơn vị phải thanh toán, có thể xác
định giá trị của chúng và là kết quả nghiệp vụ kinh tế tài chính đã xảy ra.
Điểm khác biệt căn bản về khái niệm nợ phải trả theo quan điểm mới và
quan điểm trước đây đó là nghĩa vụ pháp lý hay chỉ là nghĩa vụ nói chung.
Thực tế, có nhiều khoản không thuộc về nghĩa vụ pháp lý nhưng vẫn được
ghi nhận như là khoản nợ phải trả trên báo cáo tài chính của đơn vị kế toán
như trích trước chi phí sửa chữa lớn tài sản cố định, trích trước tiền lương
nghỉ phép của công nhân trực tiếp sản xuất…
Thực tế, các quốc gia trên thế giới thường căn cứ vào những tiêu chuẩn
sau để ghi nhận nợ phải trả trên báo cáo tài chính: căn cứ vào luật, nguyên
tắc thận trọng, bản chất kinh tế của nghiệp vụ kinh tế tài chính và khả năng
đánh giá các khoản nợ phải trả để đảm bảo tính thích hợp và tính khách quan
của thông tin kế toán.
III. Vốn chủ sở hữu
Vốn chủ sở hữu trong kế toán đơn giản được hiểu là phần chênh lệch giữa
tổng tài sản và nợ phải trả.
Tính giá vốn chủ sở hữu được xác định trên cơ sở tính giá tài sản và nợ
phải trả.
Trình bày vốn chủ sở hữu được giải quyết trong chủ đề III.
Chủ sở hữu và chủ nợ đều là các bên cung cấp nguồn vốn của đơn vị kế
toán, giữa chủ sở hữu và chủ nợ có điểm khác biệt sau:
HỌC VIỆN TÀI CHÍNH
5/24
Đề cương chi tiết môn học: NGUYÊN LÝ KẾ TOÁN
IV. Thu nhập
Thu nhập là sự tăng lên lợi ích kinh tế trong kỳ kế toán, dưới hình thức
dòng tiền vào tăng lên hoặc sự gia tăng của tài sản khác, hoặc sự giảm các
khoản nợ phải trả với kết quả làm tăng vốn chủ sở hữu, khác với các trường
hợp làm tăng vốn chủ sở hữu do chủ sở hữu đóng góp.

Thuật ngữ thu nhập bao gồm cả doanh thu và thu nhập khác. Doanh thu
của một đơn vị kế toán đạt được từ hoạt động kinh doanh thông thường, thể
hiện sự nỗ lực của đơn vị kế toán trong quá trình hoạt động.
Hai (02) vấn đề kế toán đối với doanh thu: ghi nhận và tính giá. Ghi nhận
doanh thu thể hiện doanh thu được ghi nhận vào thời kỳ kế toán nào. Tính
giá doanh thu thể hiện số tiền doanh thu được ghi bằng bao nhiêu.
Thuật ngữ “xác định” thường được sử dụng thay thế cho thuật ngữ “tính
giá” đối với doanh thu. Doanh thu có thể được xác định theo tổng số hoặc có
thể xác định theo số lượng ròng. Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ
được xác định bằng tổng giá bán. Doanh thu chuyển nhượng cổ phiếu, trái
phiếu được xác định theo số chênh lệch giữa giá chuyển nhượng và giá gốc
của số nó.
Nếu xét mối quan hệ giữa doanh thu và kết quả hoạt động thì vấn đề ghi
n: nhận doanh thu quan trọng hơn so với vấn đề xác định.
HỌC VIỆN TÀI CHÍNH
6/24
Đề cương chi tiết môn học: NGUYÊN LÝ KẾ TOÁN
Doanh thu trong kế toán có thể được ghi nhận theo nhiều thời điểm khác
nhau của quá trình kinh doanh như khi thu được tiền-hàng, trong quá trình
sản xuất, kết thúc quá trình sản xuất, giao hàng cho khách…
Mỗi cách ghi nhận doanh thu khác nhau có ưu, nhược điểm riêng biệt.
Trong thực tế, doanh thu thường được ghi nhận khi đơn vị kế toán bán hàng
cho khách hàng. Ưu điểm nổi bật của tiêu chuẩn này là thông tin về doanh
thu vừa mang tính khách quan, tính xác thực của tài sản, sự đảm bảo với
nguyên tắc phù hợp trong kế toán.
V. Chi phí
Chi phí là sự giảm lợi ích kinh tế của đơn vị kế toán trong kỳ kế toán,
dưới hình thực dòng tiền chi ra hoặc sự giảm tài sản, hoặc phát sinh khoản
nợ phải trả, kết quả làm giảm vốn chủ sở hữu, không bao gồm các khoản
làm giảm vốn chủ sở hữu do phân phối cho chủ sở hữu.

Theo nghĩa hẹp, chi phí chỉ bao gồm các khoản chi phí nhằm tạo ra doanh
thu. Các khoản thuộc chi phí theo nghĩa hẹp như giá vốn hàng bán, chi phí
bán hàng, giá vốn thực tế của chứng khoán chuyển nhượng...
Theo nghĩa rộng, chi phí còn bao gồm cả các khoản tổn thất, không liên
quan đến doanh thu như tổn thất do hỏa hoạn, thiên tai, mất trộm….
Nếu doanh thu được ghi nhận theo nguyên tắc thực hiện thì chi phí được
ghi nhận theo nguyên tắc phát sinh.
VI. Kết quả hoạt động
Kết quả hoạt động là phần chênh lệch giữa thu nhập và chi phí. Tùy theo
doanh thu được ghi nhận theo thời điểm nào của quá trình hoạt động kinh
doanh mà chi phí được xác định ở mức tương ứng cho phù hợp để loại trừ
khỏi doanh thu nhằm xác định kết quả hoạt động.
HỌC VIỆN TÀI CHÍNH
7/24
Đề cương chi tiết môn học: NGUYÊN LÝ KẾ TOÁN
Sự phù hợp giữa doanh thu và chi phí có thể được thực hiện nhiều phương
pháp khác nhau: phù hợp theo mối quan hệ nhân-quả, phù hợp theo mức
phân bổ giá vốn thực tế và phù hợp theo cách ghi nhận ngay.
Sự phù hợp giữa doanh thu và chi phí có thể là phù hợp riêng rẽ hoặc phù
hợp định kỳ. Tuy nhiên, trong thực tế, kết quả hoạt động được xác định cho
từng kỳ kế toán ; do vậy toàn bộ các loại phù hợp được gộp chung là phù
hợp định kỳ.
Kết quả hoạt động có thể được xác định giữa số vốn chủ sở hữu cuối kỳ
và vốn chủ sở hữu đầu kỳ sau khi đã loại trừ ảnh hưởng của những giao
dịch, sự kiện liên quan đến vốn chủ sở hữu không phải là kết quả hoạt động.
Tài liệu tham khảo
1. Baillie, Charlie Parker, Greta Isabella, Lily (2006), Financial Accounting-
An Introduction to Concepts, Methods and Uses, Thomson.
2. Harry I. Wolk, Micheal G.Tearney, James L.Dodd (2001), Accounting
Theory, South-Western College Publishing.

3. Jayne Godfey, Allan Hodgson, Scott Holmes (2000), Accounting Theory,
John Wiley & Sons Australia.
4. Vernon Kam (1989), Accounting Theory, John Wiley & Sons.
CHUYÊN ĐỀ 3
PHƯƠNG PHÁP KẾ TOÁN
Hệ thống các phương pháp kế toán là hệ thống phương pháp khoa học
được sử dụng để thu thập, ghi chép, tính toán và tổng hợp thông tin về đối
tượng kế toán nhằm cung cấp các bên sử dụng thông tin kế toán để ra quyết
định.
HỌC VIỆN TÀI CHÍNH
8/24
Đề cương chi tiết môn học: NGUYÊN LÝ KẾ TOÁN
Các phương pháp kế toán được xây dựng trên cơ sở phương pháp luận
khoa học của chủ nghĩa duy vật biện chứng kết hợp với đặc điểm của đối
tượng kế toán.
Các phương pháp kế toán bao gồm phương pháp chứng từ kế toán,
phương pháp tài khoản kế toán, phương pháp tính giá và phương pháp tổng
hợp cân đối kế toán.
I. Phương pháp chứng từ kế toán và tài khoản kế toán
Phương pháp chứng từ kế toán là phương pháp kế toán phản ánh các hoạt
động kinh tế tài chính phát sinh và hoàn thành theo thời gian và địa điểm
phát sinh của chúng vào các bản chứng từ kế toán, phục vụ cho công tác kế
toán và công tác quản lý.
Hình thức biểu hiện của phương pháp chứng từ kế toán bao gồm hai (02)
nội dung. Thứ nhất, một hệ thống chứng từ kế toán cần thiết để sao chụp
toàn bộ nghiệp vụ kinh tế tài chính phát sinh của từng đơn vị kế toán cụ
thể.Thứ hai, chương trình luân chuyển chứng từ kế toán để phục vụ cho công
tác kế toán và cho công tác quản lý của đơn vị kế toán.
Phương pháp chứng từ kế toán hình thành do đặc tính đa dạng của đối
tượng kế toán yêu cầu phải có sự sao chụp lại thông tin ban đầu các nghiệp

vụ kinh tế tài chính phát sinh và hoàn thành, làm cơ sở số liệu cho việc xử lý
và hệ thống hóa thông tin kế toán. Sử dụng phương pháp chứng từ kê stoasn
đảm bảo phản ánh các đối tượng kế toán theo quan điểm lịch sử của phép
duy vật biện chứng.
HỌC VIỆN TÀI CHÍNH
9/24
Thu nhận
thông tin
Xử lý thông
tin
Cung cấp
thông tin
PP CTKT PP TH-CĐ
KT
PP TKKT
PP tính giá
Đề cương chi tiết môn học: NGUYÊN LÝ KẾ TOÁN
Phương pháp tài khoản kế toán là phương pháp kế toán được sử dụng để
phân loại đối tượng kế toán một cách cụ thể, ghi chép, phản ánh một cách
thường xuyên, liên tục và có hệ thống tình hình hiện có và sự vận động của
từng đối tượng kế toán cụ thể đó.
Hình thức biểu hiện của phương pháp tài khoản kế toán bao gồm hai (02)
nội dung. Thứ nhất, tài khoản kế toán và một hệ thống tài khoản kế toán
được sử dụng để phản ánh tình hình hiện có và sự biến động từng đối tượng
kế toán cụ thể. Thứ hai, cách ghi chép trên tài khoản kế toán bao gồm cả
cách ghi đơn và ghi kép.
Phương pháp kế toán được xây dựng trên cở sở tính động và tính tĩnh của
đối tượng kế toán, đồng thời phương pháp này phản ánh các đối tượng kế
toán trong mối quan hệ biện chứng và theo quan điểm phát triển của phép
duy vật biện chứng.

Những cơ sở lý luận và ý nghĩa của bút toán kép sẽ được trình bày cụ thể
trong quá trình nghiên cứu môn học.
II. Phương pháp tính giá
Phương pháp tính giá là phương pháp kế toán sử dụng thước đo tiền tệ để
xác định trị giá thực tế của đối tượng kế toán theo những nguyên tắc nhất
định.
Theo nghĩa rộng, đối tượng tính giá là toàn bộ đối tượng kế toán, bao gồm
tài sản, nợ phải trả, vốn chủ sở hữu, thu nhập, chi phí và kết quả hoạt động.
Theo nghĩa hẹp, đối tượng tính giá chỉ bao gồm tài sản, nợ phải trả và vốn
chủ sở hữu.
Trong khoa học kế toán, nhiều loại giá khác nhau được sử dụng để xác
định trị giá của đối tượng kế toán. Các loại giá đó bao gồm giá vốn thực tế,
giá hợp lý, giá thị trường, giá thấp nhất giữa giá vốn thực tế và giá thị
trường, giá trị hiện tại, giá trị có thể thu hồi được...Mỗi một loại giá khác
HỌC VIỆN TÀI CHÍNH
10/24

×