Tải bản đầy đủ (.pdf) (87 trang)

Đề tài khoa học Các giải pháp phát triển thị trường bán lẻ ở Việt nam

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (974.09 KB, 87 trang )

1



HỌC VIỆN TÀI CHÍNH
KHOA TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP



Tên công trình:
CÁC GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG
BÁN LẺ Ở VIỆT NAM




Sinh viên thực hiện: Nguyễn Hữu Tân
Lớp: CQ48/11.07
GV hướng dẫn:Th.S Phạm Thị Thanh Hoà







Hà Nội, tháng 3 năm 2012
2


MỤC LỤC


Mục lục 1
Danh mục từ viết tắt 5
Danh mục biểu đồ, bảng biểu 6
Mở đầu 7
Chương 1: TỔNG QUAN THỊ TRƯỜNG BÁN LẺ 9
1.1. Lý luận chung về bán lẻ. 9
1.1.1. Khái niệm 9
1.1.2.Các loại bán lẻ. 10
1.1.2.1. Bán lẻ tại cửa hàng. 10
1.1.2.2. Bán lẻ không qua cửa hàng. 13
1.1.2.3. Bán lẻ dịch vụ. 13
1.1.3.Vai trò của hoạt động bán lẻ. 13
1.1.4.Chức năng của hoạt động bán lẻ. 14
1.2.Tổng quan về thị trường bán lẻ. 16
1.2.1.Khái niệm thị trường bán lẻ. 16
1.2.2.Cấu trúc kênh phân phối của thị trường bán lẻ. 17
1.2.3.Các yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển của thị trường bán lẻ
21
1.2.3.1. Các chính sách của Nhà nước. 21
1.2.3.2. Các yếu tố kinh tế. 22
1.2.3.3. Dân cư. 22
1.2.3.4. Cơ sở hạ tầng. 22
1.2.3.5. Yếu tố khoa học kĩ thuật. 23
1.3. Kinh nghiệm phát triển thị trường bán lẻ ở một số nước và bài học áp
dụng cho Việt Nam 23
3



1.3.1. Một số kinh nghiệm của Nhật Bản 23

1.3.2. Một số kinh nghiệm của Hoa Kỳ 25
1.3.3. Một số kinh nghiệm của Trung Quốc 26
1.3.4.Một số bài học kinh nghiệm cho Việt Nam 30
Chương 2: THỰC TRẠNG THỊ TRƯỜNG BÁN LẺ VIỆT NAM. 33
2.1. Thực trạng thị trường bán lẻ Việt Nam. 33
2.1.1. Tổng mức bán lẻ hàng hóa, dịch vụ 33
2.1.2. Mạng lưới phân phối 36
2.1.3. Sự phát triển về số lượng doanh nghiệp bán lẻ ở Việt Nam. 37
2.1.3.1. Hệ thống chợ truyền thống. 38
2.1.3.2. Hệ thống các cửa hàng bán lẻ truyền thống, kinh doanh nhỏ lẻ. 39
2.1.3.3. Hệ thống các chuỗi cửa hàng bán lẻ 39
2.1.3.4. Hệ thống siêu thị, các trung tâm thương mại. 39
2.1.4. Sự dịch chuyển cơ cấu thị phần trên thị trường bán lẻ .40
2.1.4.1. Cán cân bán lẻ dịch chuyển dần về phía các kênh bán lẻ hiện đại. 41
2.1.4.2. Doanh nghiệp bán lẻ nước ngoài đang dần chiếm ưu thế. 43
2.1.4.3. Các cơ chế, chính sách của Chính phủ. 44
2.1.4.4. Những đánh giá của các tổ chức quốc tế. 45
2.1.5. Thương mại điện tử 46
2.1.6. Giá cả hàng hoá 47
2.2. Một số đánh giá về thực trạng phát triển thị trường bán lẻ Việt Nam . 48
2.2.1 Đánh giá về thành công 48
2.2.1.1. Thành công 48
2.2.1.2. Nguyên nhân của thành công 49
2.2.2. Đánh giá về hạn chế 53
4


2.2.2.1. Hạn chế 53
2.2.2.2. Nguyên nhân của hạn chế 54
Chương 3: CÁC GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG BÁN LẺ Ở

VIỆT NAM 59
3.1. Những xu hướng phát triển thị trường bán lẻ trên thế giới 59
3.1.1. Thương mại điện tử 59
3.1.2. Các dịch vụ chăm sóc khách hàng phát triển 60
3.1.3. Hình thành các tập đoàn bán lẻ lớn 60
3.1.4. Nhượng quyền thương hiệu 61
3.2. Dự báo về các yếu tố ảnh hưởng tình hình phát triển thị trường bán lẻ
Việt Nam giai đoạn hiện nay đến năm 2015 61
3.2.1. Tổng quan về nền kinh tế 61
3.2.2. Các đối thủ cạnh tranh 62
3.2.3. Người tiêu dùng 63
3.3. Quan điểm phát triển thị trường bán lẻ trong nước của Chính phủ 63
3.4. Mục tiêu phát triển thị trường bán lẻ thời gian tới 65
3.5. Đề xuất các giải pháp để phát triển thị trường bán lẻ Việt Nam trong
thời gian tới 67
3.5.1. Về phía Nhà nước 67
3.5.1.1.Quy hoạch tổng thể thị trường 67
3.5.1.2. Hoàn thiện khung pháp lý 72
3.5.1.3. Những chính sách hỗ trợ, khuyến khích các doanh nghiệp bán lẻ Việt
Nam 74
3.5.1.4. Chuyển biến hợp lý về nhận thức, thái độ, thị hiếu tiêu dùng của các
tầng lớp nhân dân 76
3.5.2. Về phía doanh nghiệp 78
5


3.5.2.1. Xây dựng chính sách mặt hàng, giá cả, phương thức, hình thức bán
hàng, khuyến mãi 78
3.5.2.2. Đẩy mạnh mối liên kết với các doanh nghiệp 80
3.5.2.3. Tăng cường các hoạt động quảng bá tiếp cận người tiêu dùng 81

3.5.2.4. Mở rộng thị trường về khu vực nông thôn 82
Kết luận 84
Tài liệu tham khảo 85

6


Danh mục từ viết tắt
B2B: Business to business – Hình thức thương mại điện tử mà khách hàng
là công ty.
B2C: Business to customer – Hình thức thương mại điện tử mà khách
hàng là cá nhân.
ĐB: Đồng bằng
FDI: Foreign direct investment - Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài.
GDP: Gross domestic product - Tổng sản phẩm quốc nội.
SRA: Hiệp hội bán lẻ Singapore.
TNS: Công ty nghiên cứu thị trường Taylor Nielsen.
VDA: Công ty cổ phần đầu tư và phát triển hệ thống phân phối Việt Nam.
WTO: World trade organization - Tổ chức thương mại thế giới.
7


Danh mục biểu đồ, bảng biểu
1 Biểu đồ 2.1 Tổng mức bán lẻ giai đoạn 2007-2011.
2. Biểu đồ 2.2. Mạng lưới bán lẻ Việt Nam.
3. Bảng 2.1. Tổng mức bán lẻ hàng hoá, dịch vụ tính theo các vùng trên cả
nước.
4. Bảng 2.2. Tổng hợp số liệu về mạng lưới các chợ trên cả nước đến
31/12/2010.
5. Bảng 2.3. Tổng hợp số liệu về siêu thị và trung tâm thương mại trên cả

nước đến 31/12/2010.
5. Bảng 2.4. Tổng hợp tỷ trọng các kênh các kênh bán lẻ hiện đại trong
tổng cơ cấu thị trường bán lẻ Việt Nam qua các năm.
7. Bảng 2.5. Tổng mức bán lẻ hàng hoá, dịch vụ tiêu dùng phân theo khu
vực kinh tế.
8. Bảng 2.6. Điểm số và thứ hạng của thị trường bán lẻ Việt Nam.
9. Bảng 2.7. Giá cả hàng hoá qua các năm giai đoạn 2007-2010.

8


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài:
Khi Việt Nam đổi mới nền kinh tế, chuyển sang nền kinh tế thị trường và
hội nhập sâu hơn vào nền kinh tế thế giới và khu vực thì bộ mặt của toàn nền
kinh tế - xã hội có nhiều chuyển biến. Thị trường bán lẻ là một trong những thị
trường có nhiều thay đổi sâu sắc nhất trong toàn bộ nền kinh tế. Hình thức tem
phiếu trong nền kinh tế tập trung bao cấp đã bị thay thế bởi hình thức phân phối
mang tính chất thị trường. Giá cả, số lượng, chủng loại hàng hoá sản xuất hay
nhập khẩu đều xuất phát từ nhu cầu của thị trường. Đồng thời, có sự phát triển
mạnh mẽ của hệ thống chợ và các doanh nghiệp bán lẻ thuộc thành phần kinh tế
ngoài Nhà nước. Lúc này, thị trường bán lẻ thực sự thể hiện được vai trò của
mình là đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của người dân và góp phần thúc đẩy sản xuất,
tái sản xuất.
Mặc dù trong thời gian ngắn hơn 25 năm đổi mới, thị trường bán lẻ Việt
Nam đã có sự phát triển vượt bậc song vẫn bộc lộ nhiều hạn chế như:
+ Mô hình phân phối chủ yếu mang tính chất truyền thống của nền sản
xuất nhỏ lẻ.
+ Cơ sở hạ tầng, trang thiết bị phục vụ công tác bán lẻ lạc hậu thiếu thốn.
+ Các doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam còn yếu kém về vốn lẫn trình độ

quản lý…
Từ thực tiễn này, việc nghiên cứu sự phát triển của thị trường bán lẻ Việt
Nam và kinh nghiệm phát triển thị trường của các nước trên thế giới để đưa ra
được những chiến lược phát triển phù hợp là việc rất cần thiết. Bởi vậy, tác giả
đã chọn đề tài nghiên cứu:
“Các giải pháp phát triển thị trường bán lẻ ở Việt Nam.”
2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài:
9


Làm rõ một số vấn đề về bán lẻ, nghiên cứu những nội dung cơ bản của
bán lẻ, thị trường bán lẻ và kinh nghiệm phát triển thị trường bán lẻ của một số
nước trên thế giới.
Phân tích và đánh giá những thực trạng phát triển của thị trường bán lẻ ở
Việt Nam thời gian qua.
Đề xuất giải pháp phát triển thị trường bán lẻ ở Việt Nam trong điều kiện
hiện nay.
3. Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là vấn đề lý luận và thực tế phát triển thị
trường bán lẻ Việt Nam trong bối cảnh hiện nay.
4. Phạm vi nghiên cứu:
Về không gian: tập trung nghiên cứu một số loại hình tổ chức bán lẻ
truyền thống và hiện đại ở Việt Nam.
Về thời gian: đề tài tập trung nghiên cứu thực trạng phát triển thị trường
bán lẻ ở Việt Nam từ năm 2007 đến nay.
5. Phương pháp nghiên cứu:
Phương pháp nghiên cứu chủ yếu là phân tích, thống kê, so sánh, tổng hợp
dựa trên các tài liệu, sách báo có liên quan.
6. Nội dung nghiên cứu:
Ngoài phần mở bài, kết luận kết cấu của bài nghiên cứu gồm 3 chương:

Chương 1: Tổng quan về thị trường bán lẻ.
Chương 2: Thực trạng thị trường bán lẻ Việt Nam.
Chương 3: Các giải pháp phát triển thị trường bán lẻ ở Việt Nam.



10



Chương 1: TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG BÁN LẺ.

1.1.Lí luận chung về bán lẻ.
1.1.1. Khái niệm.
Theo bách khoa toàn thư mở wikipedia: “Bán lẻ bao gồm việc bán hàng
hoá từ một vị trí cố định, như một cửa hàng bách hoá, gian hàng trong siêu thị,
ki-ốt hoặc trung tâm mua sắm với số lượng nhỏ để người mua có thể tiêu thụ
trực tiếp. Bán lẻ còn bao gồm cả dịch vụ hỗ trợ như phân phối, đưa hàng”.
(Bách khoa toàn thư mở
Hay một quan niệm khác cho rằng: “Bán lẻ là tất cả những hoạt động có
liên quan đến việc bán hàng hoá hay dịch vụ trực tiếp cho người tiêu thụ cuối
cùng để họ sử dụng cho bản thân chứ không phải là kinh doanh”.
Như vậy, có thể thấy, mặc dù có nhiều khái niệm khác nhau về bán lẻ,
nhưng chúng đều có những điểm chúng và có thể khái quát: Bán lẻ là hoạt động
bán các sản phẩm hoàn chỉnh và dịch vụ cho người tiêu thụ để thỏa mãn nhu cầu
tiêu dùng cá nhân hay hộ gia đình. Hay, bán lẻ gồm tất cả các hoạt động liên
quan đến việc bán hàng hóa trực tiếp cho người tiêu dùng cuối cùng để họ sử
dụng vào mục đích các nhân, không kinh doanh.
Thể loại bán lẻ của một cửa hàng chính là sự tập hợp những chủng loại
hàng hoá và dịch vụ mà cửa hàng ấy chọn vào danh mục phục vụ, và bao gồm

những yếu tố: đặc tính của chủng loại hàng hoá và dịch vụ mà cửa hàng ấy phục
vụ, chính sách giá mà cửa hàng ấy theo đuổi, chính sách của cửa hàng đối với
hoạt động quảng cáo và khuyến mãi, chính sách cảu cửa hàng về mặt thiết kế,
trưng bày, vị trí ưa chuộng, quy mô của cửa hàng.
11


Hàng hoá trên thị trường bán lẻ cũng rất đa dạng, nhiều chủng loại nhưng
có thể phân chia theo 3 nhóm hàng hoá sau đây:
- Sản phẩm thực phẩm
- Hàng hoá sử dụng lâu dài: thiết bị gia dụng, điện tử, đồ gỗ, hàng thể
thao… Đây là những mặt hàng không nhanh chóng hao mòn và cung cấp tiện ích
theo thời gian.
- Hàng hàng tiêu dùng: quần áo, may mặc,… Đây là các loại hàng hoá có
một khoảng thời gian sử dụng giới hạn.
1.1.2. Các loại hình bán lẻ:
Các loại hình bán lẻ vô cùng phong phú và đa dạng. Dựa trên các tiêu chí
khác nhau người ta có thể phân loại ra nhiều loại hình bán lẻ khác nhau. Ví dụ
phân loại theo quy mô thì các loại hình bán lẻ có các cơ sở bán lẻ lớn, vừa và
nhỏ. Hay phân loại theo các chủ thể tham gia bán lẻ thì các loại hình bán lẻ gồm
có doanh nghiệp bán lẻ, hợp tác xã bán lẻ, cá thể hộ gia đình Tuy nhiên, phổ
biến nhất thì người ta thường phân loại thị trường bán lẻ theo tiêu thức cách thức
bán hàng và hàng hoá kinh doanh.
Theo đó, trong thị trường bán lẻ các loại hình bán lẻ gồm có bán lẻ tại cửa
hàng, bán lẻ không qua cửa hàng và bán lẻ dịch vụ:
1.1.2.1. Bán lẻ tại cửa hàng.
Đây là loại hình bán lẻ phổ biến nhất hiện nay. Theo loại bán lẻ này, các tổ
chức hay cá nhân bán lẻ có một địa điểm kinh doanh cố định. Tại đây, người ta
tổ chức trưng bày hàng hoá và người tiêu dùng tới đây để mua và thanh toán trực
tiếp. Các địa điểm bán hàng này tuỳ theo quy mô, tính chất của từng loại cửa

hàng mà người ta phân loại ra các loại cửa hàng khác nhau. Hiện nay có các loại
cửa hàng bán lẻ như sau:
12


- Chợ: Chợ là một loại hình bán lẻ truyền thống lâu đời và phổ biến khắp
nơi trên thế giới. Chợ có thể hiểu là một nơi quy tụ nhiều người bán lẻ và người
tiêu dùng để tiêu thụ các loại hàng hoá khác nhau. Hoạt động buôn bán của chợ
có thể diễn ra hàng ngày hoặc định kỳ theo một khoảng thời gian nhất định.
- Siêu thị: Siêu thị là một loại hình bán lẻ hiện đại. Siêu thị được hiểu là
một cửa hàng bán lẻ kinh doanh theo phương thức tự phục vụ, được trang bị cơ
sở vật chất tương đối hiện đại, bày bán nhiều mặt hàng đáp ứng nhu cầu phong
phú của người dân. Giá cả tại siêu thị thường cố định theo sự ấn định của người
kinh doanh không linh hoạt như giá cả tại chợ. Siêu thị thường phải đáp ứng
được một số quy định nhất định về cơ sở vật chất: quy mô, địa điểm, kho Quy
định này tuỳ thuộc vào cơ quan quản lý của siêu thị này.
- Cửa hàng bán lẻ độc lập: Loại hình bán lẻ này tồn tại rất phổ biến. Các
cửa hàng này thường thuộc sở hữu của cá nhân hay hộ gia đình. Nó tồn tại dưới
hình thức các cửa hàng, cửa tiệm nhỏ tại các mặt phố, khu dân cư. Các loại hàng
hoá tại các cửa hàng này thường là các hàng tiêu dùng, dân dụng phục vụ cho
nhu cầu tiêu dùng hàng ngày.
- Cửa hàng bán lẻ dạng hợp tác xã: Hợp tác xã bán lẻ được hình thành bởi
một nhóm người bán lẻ liên kết với nhau để cùng buôn bán, phân phối hàng hoá.
Sự liên kết này dựa trên sự tự nguyện, đồng thời các thành viên có quyền tự do
gia nhập tách khỏi hợp tác xã và tự cung ứng hàng hoá từ các nguồn ngoài hợp
tác xã.
- Cửa hàng bách hoá: Đây là loại hình cửa hàng lớn cả về quy mô và số
lượng hàng hoá. Các cửa hàng bách hoá thường được xây dựng tại các khu dân
cư tập trung đông đúc. Hàng hoá tại đây phong phú về chủng loại và mẫu mã nên
thường được bày bán chuyên biệt tại các khu vực riêng của cửa hàng

13


- Cửa hàng đại lý: Các cửa hàng này được người sản xuất hoặc người phân
phối trung gian cho việc tiêu thụ hàng hoá trên cơ sở hợp đồng đại lý. Hoạt động
của các cửa hàng này thường độc lập và hưởng một khoản hoa hồng nhất định.
- Cửa hàng nhượng quyền thương mại: Đây là một hình thức mới mẻ, nó
bắt đầu xuất hiện tại Mỹ từ đầu thế kỷ 20 và ngày càng phát triển mạnh mẽ. Cửa
hàng này thường được kí hợp đồng để được nhượng quyền kinh doanh một loại
hàng hoá dịch vụ nhất định từ nhà sản xuất. Các cửa hàng nhượng quyền là các
cửa hàng có vốn sẵn và địa điểm kinh doanh. Các cửa hàng này kinh doanh dựa
vào thương hiệu của một hãng đã nổi tiếng trên thị trường. Ngoài ra, các cửa
hàng này cũng nhận được sự tư vấn, cung cấp bí quyết về marketing, tổ chức
quản lý, đào tạo nguồn nhân lực từ đơn vị trao quyền kinh doanh. Để đổi được
điều đó, thì ngoài số tiền đóng lúc đầu ,các cửa hàng còn phải đóng thêm một
khoản phí nhất định.
- Cửa hàng chuyên doanh: Đây là hình cửa hàng kinh doanh chuyên sâu.
Nó chỉ cung cấp một hay một nhóm hàng hoá nhất định hay chỉ phục vụ một
nhóm người tiêu dùng nhất định. Ví dụ:cửa hàng chuyên doanh có thể là cửa
hàng chỉ bán một loại hàng hoá như quần áo, giày dép hay một nhóm sản phẩm
như hàng tươi sống, hàng đông lạnh; cửa hàng chuyên bán hàng cho trẻ em,
người già
- Cửa hàng giảm giá, hạ giá: Cửa hàng này bán các loại hàng hoá với giá
thấp hơn với giá bán lẻ theo yêu cầu của người sản xuất hoặc tính chất của sản
phẩm.
- Cửa hàng kho: Cửa hàng này mang tính chất như một kho hàng. Các cửa
hàng này thường không trưng bày hàng hoá, không quảng cáo tận dụng được
diện tích và chi phí.
14



- Cửa hàng bán và giới thiệu sản phẩm: Cửa hàng thuộc sở hữu của người
sản xuất. Đây là kênh phân phối của trực tiếp của người sản xuất tới người tiêu
dùng.
1.1.2.2. Bán lẻ không qua cửa hàng.
Theo đó các tổ chức và cá nhân bán lẻ không cần thiết phải có một địa
điểm bán hang cố định. Người ta có thể bán hàng tận nhà bán hàng qua bưu điện,
bán hàng qua mạng…
1.1.2.3. Bán lẻ dịch vụ.
Tức là, ở đây hàng hoá là dịch vụ chứ không phải là hàng hoá đơn thuần.
Các loại hình bán lẻ dịch vụ như: cho thuê phòng ở, giặt là, cho thuê phương
tiện…
Mặc dù, các cửa hàng bán lẻ vẫn còn phổ biến nhưng cùng với sự phát
triển của cuộc sống thì các loại hình bán lẻ không qua cửa hàng và bán lẻ dịch vụ
cũng ngày càng phổ biến hơn. Do sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ, công
nghệ viễn thông đặc biệt là mạng internet thì hiện nay hoạt động thương mại
điện tử (giới thiệu, bán hàng và thanh toán qua mạng) đang rất phát triển. Đồng
thời, thu nhập của người tiêu dùng tăng lên dẫn tới nhu cầu di lại, nghỉ ngơi, ăn
uống tăng lên kéo theo các loại hình dịch vụ tăng lên không ngừng.
1.1.3. Vai trò của hoạt động bán lẻ:
Khi hoạt động bán lẻ phát triển tốt, lành mạnh thì nhờ đó sản xuất tăng,
phục vụ được nhu cầu của người tiêu dùng và góp phần thúc đẩy tăng trưởng
kinh tế.
Hoạt động bán lẻ có vai trò điều tiết hàng hoá. Nó điều tiết hàng hoá từ
nơi sản xuất tới người tiêu dùng. Nó điều tiết hàng hoá ở tất cả các vùng miền từ
thành phố, nông thôn, vùng sâu vùng xa bất kể nơi đâu có nhu cầu. Hoạt động
bán lẻ phát triển nó đảm bảo cung cấp hàng hoá công bằng cho mọi người dân
15



trên khắp các vùng trên cả nước. Do vậy, hoạt động bán lẻ cũng có vai trò góp
phần vào việc giảm khoảng cách giàu nghèo giữa các khu vực.
Cơ cấu thương mại có những biến đổi sâu sắc khi mà hoạt động bán lẻ
phát triển. Khi đó thị trường ngày càng lành mạnh, cạnh tranh hiệu quả hơn.
Sự phát triển của hoạt động bán lẻ cũng tăng cường khả năng tự điều tiết ít
chịu ảnh hưởng của Nhà nước của thị trường hơn. Khi hoạt động bán lẻ phát
triển tức là hàng hoá phong phú và với nhiều nhà phân phối cộng với các quy
định cạnh tranh lành mạnh thì chắc chắn người tiêu dùng sẽ nhận được những
hàng hoá tốt nhất với giá cả hợp lý nhất.
Trong nền sản xuất hàng hoá kinh tế thị trường có xuất hiện mâu thuẫn cơ
bản giữa một nền sản xuất hàng hoá lớn và nhu cầu đa dạng của người tiêu dùng.
Sở dĩ có mâu thuẫn đó là do vô số người tiêu dùng khác nhau lại có những nhu
cầu, sở thích khác nhau. Khi xã hội càng phát triển thì sự đa dạng của những nhu
cầu này ngày càng tăng. Trong khi đó các doanh nghiệp phải tăng quy mô sản
xuất để tối đa hoá lợi nhuận. Và hoạt động bán lẻ có vai trò giải quyết được mâu
thuẫn cơ bản đó.
1.1.4. Chức năng của hoạt động bán lẻ:
Hoạt động bán lẻ có rất nhiều chức năng. Nhưng các chức năng chính của
bán lẻ là mua, bán, vận chuyển, lưu kho, phân loại, tài chính, chịu rủi ro và thông
tin thị trường.
- Chức năng cơ bản nhất của hoạt động bán lẻ là chức năng mua và bán:
Chức năng mua tức là tìm kiếm, đánh giá, so sánh giá trị các loại hàng hoá dịch
vụ. Chức năng bán là tiêu thụ, phân phối các loại sản phẩm này. Lợi nhuận của
các nhà bán lẻ chính là nhờ vào sự chênh lệch giữa giá hàng hoá bán ra và mua
vào. Do đó để tối đa hoá lợi nhuận các nhà bán lẻ cố gắng mua hàng với giá rẻ và
bán ra với số lượng lớn và giá cao.
16


- Chức năng cung cấp tài chính: Chức năng này thể hiện ở việc các nhà

bán lẻ cung cấp tài chính tín dụng cần thiết cho một hoạt động sản xuất hàng hoá
nào đó. Có thể nhà bán lẻ cung cấp tài chính trước một phần để nhà sản xuất.
Việc thực hiện chức năng này tuỳ thuộc vào khả năng tài chính của nhà bán lẻ và
mối quan hệ giữa nhà bán lẻ và nhà sản xuất.
- Chức năng thông tin: Chức năng thông tin của hoạt động bán lẻ được thể
hiện ở hai chiều. Thông qua các hoạt động quảng bá, marketing của các nhà bán
lẻ thì các thông tin về sản phẩm được giới thiệu tới người tiêu dùng. Đồng thời,
qua hoạt động bán lẻ các nhà bán lẻ là người tiếp xúc trực tiếp với người tiêu
dùng. Họ là những người hiểu rõ nhu cầu, thị hiếu, thu nhập của người tiêu dùng
nhất. Qua đó, nhà bán lẻ sẽ cung cấp những thông tin phản hồi tới nhà sản xuất
để nhà sản xuất có thể điều chỉnh sản xuất để đưa ra những sản phẩm tốt nhất,
phù hợp nhất với nhu cầu của người tiêu dùng.
- Chức năng vận tải: dựa vào việc mua bán hàng hoá của nhà sản xuất để
bán cho người tiêu dùng thì nhà bán lẻ có thể tự mình thực hiện chức năng vận
tải hàng hoá trong hệ thống phân phối của mình.
- Chức năng phân loại và tiêu chuẩn hoá các loại hàng hoá: Người tiêu
dùng có nhu cầu, thu nhập rất đa dạng. Người tiêu dùng ở nông thôn có thu nhập
khác với người tiêu dùng ở thành thị. Người trẻ có yêu cầu về mẫu mã chất
lượng hàng hoá khác với người già. Hoạt động bán lẻ đã thực hiện chức năng sắp
xếp, phân loại số lượng hàng hoá gần nhất với nhu cầu của người tiêu dùng. Tiêu
chuẩn hoá là công việc tìm kiếm những sản phẩm đồng nhất giữa các nhà sản
xuất có thể thay thế cho nhau.
- Chức năng lưu kho, bảo quản sản phẩm: Đối với mọi hàng hoá đều có
thời hạn sử dụng và điều kiện bảo quản nhất định. Chức năng này của hoạt động
bán lẻ là đảm bảo hàng hoá đảm bảo chất lượng nguyên gốc nhất có thể khi đến
17


tay người tiêu dùng. Thước đo của chức năng này là khả năng đảm bảo sự ăn
khớp về thời gian giữa sản xuất và tiêu dùng.

- Chức năng chia sẻ rủi ro: Mức độ chia sẻ rủi ro tuỳ thuộc vào mối quan
hệ giữa nhà bán lẻ và nhà sản xuất. Nếu như nhà sản xuất tự phân phối hàng hoá
của mình thì sự chia sẻ rủi ro bằng không. Nếu như nhà bán lẻ mua đứt hàng hoá
của nhà sản xuất thì sau đó họ sẽ tự chịu trách nhiệm về bảo hành, vận chuyển
hàng hoá cho khách hàng. Khi đó rủi ro đối với nhà sản xuất đã được chuyển tới
nhà bán lẻ tại thời điểm bán xong sản phẩm đó. Trong trường hợp các nhà sản
xuất gửi bán sản phẩm, hay nhà bán lẻ là đại lý hoa hồng, tiêu thụ cho nhà sản
xuất thì rủi ro được chia sẻ đối với cả người sản xuất và bán lẻ đến khi bán, bảo
hành xong sản phẩm.
- Một số chức năng khác: Các nhà bán lẻ như các siêu thị hiện đại còn
thực hiện chức năng chế biến nhất đối với hàng thực phẩm. Ngoài ra, các nhà
bán lẻ còn thực hiện các công việc khác như đóng gói, gắn nhãn mác
Tóm lại, hoạt động bán lẻ có vai trò, chức năng vô cùng quan trọng. Nó
được coi là một mắt xích không thể thiếu của quá trình tái sản xuất mở rộng đảm
bảo cho quá trình này thông suốt từ đó đem lại hiệu quả kinh tế xã hội.
1.2.Tổng quan về thị trường bán lẻ:
1.2.1.Định nghĩa về thị trường bán lẻ:
Thị trường bán lẻ là thị trường ở đó diễn ra hoạt động bán lẻ. Những người
bán lẻ và người tiêu dùng là hai tác nhân chính của thị trường. Những người bán
lẻ (cá nhân, tổ chức) và người tiêu dùng tiến hành hoạt động mua bán hàng hóa
trong một khuôn khổ khung pháp lý nhất định.
Các nhà cung cấp hàng hoá trên thị trường bán lẻ là người bán lẻ. Người
bán lẻ là các cá nhân hay tổ chức làm công việc bán lẻ thông qua các hình thức
đa dạng như bán hàng trực tiếp, bán qua điện thoại, bán hàng qua internet…
18


1.2.2.Cấu trúc kênh phân phối của thị trường bán lẻ:




Dù hàng hóa được phân phối như thế nào thì kênh phân phối của thị
trường bán lẻ về cơ bản bao gồm 3 thành viên: người sản xuất, người trung gian,
người tiêu dùng cuối cùng.
- Người sản xuất là người trực tiếp sản xuất ra hàng hóa đó. Đôi khi người
sản xuất cũng là người bán thẳng hàng hóa đó tới tay người tiêu dùng không cần
qua trung gian.
- Người trung gian là những người tham gia vào việc phân phối hàng hóa
tới tay người tiêu dùng. Người trung gian có thể gồm: đại lý môi giới, người bán
buôn, người bán lẻ (cửa hàng tiện dụng, siêu thị và đại siêu thị, cửa hàng bách
hóa, cửa hàng đại hạ giá, cửa hàng chuyên doanh, trung tâm thương mại,…)
- Người tiêu dùng là người cuối cùng nhận được hàng hóa đó. Họ nhận
hàng hóa đó với mục đích tiêu dùng.









Người sản
xuất
Người
trung gian
Người tiêu
dùng




Người
sản
xuất



Người
tiêu
dùng
Môi giới
Cửa hàng chuyển nhượng
Cửa hàng bán và giới thiệu
sản phẩm
Cửa hàng bán lẻ độc lập
Các loại hình khác: cửa hàng
đại lý, cửa hàng của hợp tác
xã bán lẻ
19


Do sự đa dạng của khâu trung gian mà hàng hóa có thể đến tay của người
tiêu dùng theo nhiều con đường khác nhau:
- Người sản xuất trực tiếp đưa hàng hóa cửa mình tới tay người tiêu dùng
mà không qua một khâu trung gian nào. Hàng hóa được bán tại các cửa hàng bán
và giới thiệu sản phẩm cửa mình hoặc qua điện thoại, qua mạng, qua đơn đặt
hàng…




+ Ưu điểm: Ưu điểm của trường hợp này là hàng hóa tiêu thụ nhanh
chóng. Vì hàng hóa đến thẳng tay người tiêu dùng nên giá cả hợp lý hơn. Đồng
thời, do không phải qua khâu trung gian nên nhà sản xuất có thể thu được nhiều
lợi nhuận hơn. Đặc biệt, ưu điểm lớn nhất đó là nhà sản xuất có thể dễ dàng nắm
bắt, nhận biết nhu cầu của khách hàng.
+ Nhược điểm: Để thực hiện đưa hàng hoá theo con đường này và đảm
bảo được nguyên tắc lợi nhuận thì người tiêu dùng ở đây phải là người có nhu
cầu tiêu thụ lớn và ổn định. Trên thực tế, rất khó doanh nghiệp có thể tìm kiếm
được những người tiêu dùng đáp ứng được yêu cầu đó.
+ Ứng dụng: Con đường trực tiếp thường được áp dụng trong trường hợp
bán những hàng hoá có giá trị lớn, những hàng hoá có tính chất thương phẩm đặc
biệt (hàng tươi sống, hàng lâu bền) Ví dụ: bán ô tô, cửa hàng bán và giới thiệu
sản phẩm.
- Người sản xuất đưa hàng hoá của mình tới tay người tiêu dùng thông qua
khâu trung gian là những nhà bán lẻ hoặc là thông qua nhà bán buôn rồi đến
người bán lẻ cuối cùng là đến người tiêu dùng.
Người sản
xuất
Người tiêu
dùng
20


Trường hợp hàng hoá theo con đường ngắn chỉ có một người trung gian là
người bán lẻ:



+ Ưu điểm: Trong trường hợp này thì người sản xuất có thể tận dụng được
vị trí bán hàng, hệ thống phân phối của người bán lẻ. Qua đó, nhà sản xuất có thể

tăng được uy tín của hàng hoá. Ngoài ra, người sản xuất cũng dễ dàng điều chỉnh
hoạt động bán hàng của mình.
+ Nhược điểm: Rõ ràng trong trường hợp này lợi nhuận đã bị phân chia
một phần cho nhà bán lẻ. Người sản xuất cũng khó điều phối hàng hoá của mình
do các địa điểm bán hàng thuộc sở hữu nhiều người bán lẻ khác nhau.
+ Ứng dụng: Các người sản xuất có quy mô nhỏ nên thường kiêm cả hoạt
động bán buôn thì áp dụng trường hợp này. Các người bán lẻ cần phải đáp ứng
được yêu cầu là phải có vốn lớn và mạng lưới rộng rãi.
Trường hợp hàng hoá theo con đường trung bình là qua người bán buôn
đến người bán lẻ rồi đến người tiêu dùng:



+Ưu điểm: Để mở rộng được thị trường của mình thì người sản xuất cần
phải có vốn lớn, quan hệ rộng rãi, có bí quyết trong sản xuất, phân phối, bảo
quản hàng hoá. Không phải người sản xuất nào cũng có thể đáp ứng được yêu
cầu đó. Khi đó, để mở rộng thị trường thì những người sản xuất này sẽ nhờ đến
vai trò của người bán buôn.
Người sản
xuất
Người tiêu
dùng
Người
bán lẻ
Người
bán buôn
Người sản
xuất
Người tiêu
dùng

Người
bán lẻ
21


+Nhược điểm: Chi phí sản xuất hàng hoá chắc chắn sẽ tăng lên, từ đó
người sản xuất bị chia sẻ lợi nhuận nhiều hơn. Người sản xuất cũng không thể tự
mình điều chỉnh được thị trường phân phối của mình do còn phải phụ thuộc vào
người bán buôn.
+Ứng dụng: Mở rộng thị trường phân phối hàng hoá.
- Ngoài ra, hàng hoá có thể đến tay người tiêu dùng qua những con đường
dài hơn. Hàng hoá đi từ nhà môi giới đến những nhà bán buôn rồi đến những nhà
bán lẻ cuối cùng mới là người tiêu dùng.



+ Ưu điểm: Trong trường hợp này người sản xuất có thể chuyên tâm vào
sản xuất, khâu phân phối được giao phối các người môi giới.
+ Nhược điểm: Chi phí tăng lên rất nhiều.
+ Ứng dụng: Trường hợp này áp dụng khi hàng hoá phải thâm nhập vào
những thị trường có những luật lệ quy tắc khó khăn hoặc là những thị trường đầu
tiên mà người sản xuất bán hàng hoá của mình. Tại những thị trường này, để có
thể bán được hàng hoá thì cần những người am hiểu sâu sắc thị trường, có mối
quan hệ tốt với các người bán buôn. Người đó chính là người môi giới.
Trên thực tế, người sản xuất không chỉ áp dụng duy nhất một con đường
để đưa hàng hoá của mình tới tay người tiêu dùng. Họ có thể bán hàng trực tiếp
tới tay người tiêu dùng thông qua các cửa hàng bán và giới thiệu sản phẩm, bán
buôn cho những người bán lẻ để phân phối được nhiều sản phẩm, đồng thời họ
có thể bán hàng thông qua môi giới khi đưa hàng hoá của mình sang thị trường
nước ngoài. Kết hợp nhiều con đường phân phối khác nhau giúp người sản xuất

vừa am hiểu nhu cầu của thị trường để điều chỉnh sản xuất vừa tiêu thụ sản phẩm
Người sản
xuất
Người tiêu
dùng
Người
bán lẻ
Người
môi giới
Người
bán buôn
22


được tốt hơn. Khi lựa chọn các con đường phân phối hàng hoá của mình thì
người sản xuất cần căn cứ vào:
+ Nhu cầu của thị trường: Nhu cầu của thị trường được xem xét trên các
góc độ sau: số lượng của hàng hoá thị trường cần nhiều hay ít; quy mô, những
khu vực có nhu cầu đối với sản phẩm hàng hoá; chu kỳ sống của sản phẩm.
+ Điều kiện của người sản xuất: Điều kiện ở đây là thực tế về vốn, về
mạng lưới phân phối của người sản xuất. Điều kiện cũng có thể hiểu đó là người
sản xuất muốn tung ra sản phẩm mới hay là mở rộng thị trường.
+ Chiến lược phân phối hàng hoá của người sản xuất.
1.2.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển thị
trường bán lẻ.
1.2.3.1. Các chính sách của Nhà nước.
Đây là yếu tố có tác động quyết định tới sự hình thành và phương thức
hoạt động của thị trường bán lẻ. Các phương thức hoạt động của thị trường bán
lẻ như: phân phối kế hoạch hoá; tự do buôn bán hay hoạt động theo cơ chế thị
trường có quản lý Các chính sách của Nhà nước thông qua các văn bản pháp

luật sẽ quyết định phương thức hoạt động của thị trường bán lẻ. Hiện nay, chính
sách của Nhà nước Việt Nam là thị trường bán lẻ phát triển theo kiểu kinh tế thị
trường có quản lý. Chính sách của Nhà nước cũng thể hiện định hướng, chiến
lược phát triển thị trường bán lẻ theo từng nhóm hàng; nhóm đối tượng tham
gia vào thị trường. Ví dụ như tại Việt Nam các chính sách liên quan tới thị
trường bán lẻ đều có những quy định hạn chế tiêu dùng những mặt hàng cao cấp
hay hỗ trợ và phát triển các doanh nghiệp, cơ sở bán lẻ trong nước.
Các chính sách của Nhà nước còn có vai trò trong việc tạo ra môi trường
cạnh tranh giữa các nhóm đối tượng tham gia vào thị trường bán lẻ. Các thị
trường bán lẻ càng phát triển thị các chính sách của Nhà nước càng có xu hướng
23


thông thoáng và tạo ra môi trường kinh doanh công bằng hơn. Ngoài ra, các
chính sách của Nhà nước cũng thể hiện mức độ can thiệp của vào các hoạt động
kinh doanh thương mại.
1.2.3.2. Các yếu tố kinh tế.
Đối với thị trường bán lẻ thì các yếu tố kinh tế được hiểu là tổng cung và
cầu về hàng hoá dịch vụ bán lẻ. Một số yếu tố kinh tế có liên quan tới thị trường
bán lẻ:
-Tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế: thể hiện mức độ gia tăng lượng hàng
hoá dịch vụ cung ứng trên thị trường bán lẻ.
-Lạm phát: tác động giá cả hàng hoá.
-Tình hình thu hút vốn FDI: thể hiện lượng vốn, sức cạnh tranh trên thị
trường bán lẻ.
1.2.3.3.Dân cư.
Đây là yếu tố tác động tới sự sống còn của thị trường bán lẻ. Thị trường
bán lẻ được coi là thị trường trung gian giữa các nhà sản xuất cung ứng với
người tiêu dùng. Do vậy, sức mua thị hiếu mua sắm của người tiêu dùng là yếu
tố định hướng sự phát triển của thị trường. Nơi có mật độ dân cư đông thì trường

bán lẻ sẽ phát triển thuận lợi hơn nơi có mật độ dân cư thưa. Nơi người dân giàu
có, mức chi tiêu lớn thị trường bán lẻ sẽ phát triển hơn nơi dân cư nghèo đói,
mức chi tiêu ít.
1.2.3.4. Cơ sở hạ tầng.
Các yếu tố về cơ sở hạ tầng có liên quan sản xuất kinh doanh trong hoạt
động kinh doanh của các doanh nghiệp, tập thể, cá nhân tham gia thị trường bán
lẻ. Sự phát triển của cơ sở hạ tầng góp phần to lớn vào sự phát triển của thị
trường bán lẻ. Cơ sở hạ tầng của nền kinh tế liên quan tới sự phát triển của thị
trường bán lẻ bao gồm một số yếu tố sau:
24


- Trình độ hiện đại của hệ thống giao thông đường xá, bến bãi, thông tin
liên lạc
- Chi phí vận chuyển bảo quản hàng hoá.
- Chi phí xây mới thuê, mua mặt bằng kinh doanh.
1.2.3.5. Yếu tố khoa học kỹ thuật.
Các yếu tố khoa học kỹ thuật quyết định và chi phối việc ứng dụng Khoa
học và Kĩ thuật trên thị trường; quyết định sự ra đời của sản phẩm mới, hình
thành phương thức kinh doanh mới, ảnh hưởng tới nhu cầu tiêu dùng của người
dân. Một số yếu tố Khoa học và Kĩ thuật tác động đến thị trường bán lẻ:
- Trình độ trang thiết bị, cơ sở vật chất kỹ thuật của nền kinh tế.
- Mức độ đầu tư khoa học công nghệ và tốc độ triển khai của ứng dụng
mới trên nền kinh tế.
- Chiến lược phát triển khoa học kỹ thuật của quốc gia.
1.3. Kinh nghiệm phát triển thị trường bán lẻ ở một số nước và bài
học áp dụng cho Việt Nam.
Rõ ràng, thị trường bán lẻ Việt Nam đang chịu một sức ép rất lớn từ thực
tiễn phát triển đất nước và các đối thủ cạnh tranh. Nghiên cứu kinh nghiệm phát
triển thị trường bán lẻ của các nước trên thế giới và rút ra những bài học bổ ích

có thể áp dụng cho thị trường bán lẻ Việt Nam chính là một bước đi mang tính
“đi tắt, đón đầu”.
1.3.1. Một số kinh nghiệm của Nhật Bản.
Sau chiến tranh thế giới thứ II, Nhật Bản bị tàn phá nặng nề và nền công
nghiệp trong một tình trạng hoàn toàn rối ren. Với nguồn nguyên liệu ít ỏi, Nhật
Bản cần phải nhập khẩu nguyên liệu thô nhưng lại thiếu ngoại tệ. Kinh tế nội địa
của Nhật Bản khi đó còn nhỏ và xuất khẩu hứa hẹn sẽ tăng trưởng. Phát triển tiêu
dùng trong nước cần phải có thời gian và tốn kém, trong khi tập trung vào xuất
25


khẩu công nghiệp cho phép một nước nghèo có thể nhanh chóng phát triển và tận
dụng được lao động rẻ. Chính vì vậy, trong thời kỳ này, Nhật Bản coi xuất khẩu
là vấn đề then chốt của sự phát triển kinh tế của mình, là con bài chủ lực để Nhật
Bản nhập khẩu nguyên liệu nhằm phát triển. Trong khoảng 30 năm đầu tiên,
chiến lược này đã phát huy tác dụng, từ sự kiệt quệ sau chiến tranh, xứ sở “Mặt
Trời mọc” đã vươn mình để trở thành một trong những nền kinh tế hàng đầu thế
giới.
Tuy nhiên, trong khi đó, Nhật Bản không bỏ rơi thị trường nội địa của
mình. Chính phủ nước này đã bằng mọi cách bảo vệ thị trường nội địa của mình.
để bảo đảm hàng hoá Nhật xuất khẩu rẻ trên thị trường thế giới và làm cho hàng
hoá nước ngoài đắt trên thị trường nội địa, chính phủ Nhật đã duy trì chính sách
giữ đồng Yên yếu.
Bên cạnh đó, để kích thích tiêu dùng trong nước, ở thời kỳ đầu phát triển
kinh tế, người Nhật luôn phát huy tinh thần dân tộc là yêu hàng trong nước, dùng
hàng trong nước. Nhưng điểm mấu chốt là, người Nhật không dừng ở việc hô
khẩu hiệu, mà họ làm những điều thực sự thiết thực với uy tín các sản phẩm của
mình và lòng tin của người tiêu dùng.
Chính việc khơi dậy tinh thần dân tộc, tinh thần yêu nước và việc đặt lòng
tự tôn dân tộc vào chất lượng các sản phẩm sản xuất mà người Nhật đã thành

công không chỉ trong thị trường xuất khẩu mà ở ngay chính thị trường tiêu dùng
nội địa khó tính của mình.
Song song với đo, trong xây dựng hệ thống pháp luật hoàn chỉnh liên quan
tới thị trường bán lẻ, năm 1971 luật Thị trường bán buôn được ban hành để thay
thế luật Thị trường bán buôn tập trung năm 1923. Theo luật này hàng hoá được
bán theo phương thức đấu giá công khai. Năm 1974 luật Cửa hàng bán lẻ có quy
mô lớn được ban hành thay thế cho luật Cửa hàng Bách hoá năm 1954. Luật này

×