BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
MÔN KINH TẾ ĐẦU TƯ 2
Chủ đề : Mối quan hệ giữa nợ công và đầu tư công tại Việt Nam giai
đoạn 2000-2020
Nhóm 4
Giảng viên hướng dẫn
Họ và tên
TS.Nguyễn Thị Thu Hà
Mã sinh viên
HÀ NỘI - 04/2023
1. Lý do chọn đề tài.....................................................................................3
2. Lý luận chung về đầu tư công và nợ công................................................4
2.1. Đầu tư công.........................................................................................4
2.1.1. Khái niệm......................................................................................4
2.1.2. Nguồn vốn đầu tư cơng.................................................................4
2.1.3. Vai trị của đầu tư công đối với nền kinh tế..................................4
2.2. Nợ công...............................................................................................5
2.2.1. Khái niệm......................................................................................5
2.3. Tổng quan mối quan hệ giữa đầu tư công và nợ công........................6
2.3.1. Ảnh hưởng của đầu tư công đến nợ công.....................................6
2.3.2. Ảnh hưởng của nợ công đến đầu tư công.....................................8
2.3.3. Một số kết quả nghiên cứu về mối quan hệ giữa đầu tư cơng và
nợ cơng....................................................................................................9
3. Tình hình đầu tư cơng và nợ cơng tại Việt Nam: trình bày tình hình đầu
tư cơng và nợ cơng của Việt Nam trong giai đoạn 2000-2020...................10
4. Mối quan hệ giữa đầu tư cơng và nợ cơng:.............................................13
4.1. Quy mơ đầu tư cơng có ảnh hưởng đến xu hướng nợ công:.............13
4.2. Đầu tư công kém hiệu quả làm tăng gánh nặng nợ công..................13
4.3. Nợ cơng có ảnh hưởng đến đầu tư cơng:..........................................15
5. Các chính sách và giải pháp để quản lý đầu tư công và nợ công............16
6. Kết luận...................................................................................................19
Tài liệu tham khảo.......................................................................................21
1. Lý do chọn đề tài
Vấn đề nợ công và đầu tư công là hai vấn đề quan trọng trong kinh tế
Việt Nam hiện nay. Nợ công ảnh hưởng đến sự vững mạnh của nền kinh tế,
trong khi đầu tư công là một trong những công cụ để thúc đẩy tăng trưởng
kinh tế. Mối quan hệ giữa nợ công và đầu tư cơng có sự tương quan rất lớn.
Đầu tư cơng cần phải được bảo đảm nguồn tài chính, trong khi nợ cơng có
thể được sử dụng để hỗ trợ đầu tư cơng. Vì vậy, việc nghiên cứu mối quan
hệ này sẽ giúp chúng ta hiểu rõ hơn về tác động của nợ công đến đầu tư
công và ngược lại. Vấn đề nợ công và đầu tư công cũng là một vấn đề quan
tâm của cộng đồng quốc tế, đặc biệt là trong bối cảnh nền kinh tế toàn cầu
đang phải đối mặt với nhiều thách thức khó khăn. Việc nghiên cứu mối
quan hệ giữa nợ công và đầu tư công tại Việt Nam sẽ giúp chúng ta hiểu
được thực trạng và xu hướng của hai vấn đề này trong một quốc gia đang
phát triển như Việt Nam. Việc nghiên cứu đề tài này cũng là một cơ hội để
khám phá thêm về cơ chế và chính sách của Việt Nam trong quản lý nợ
công và đầu tư công, từ đó đưa ra những đề xuất chính sách cụ thể để cải
thiện tình hình này.
2. Lý luận chung về đầu tư công và nợ công
2.1. Đầu tư công
2.1.1. Khái niệm
Đầu tư công là việc sử dụng vốn Nhà nước (bao gồm cả vốn ngân
sách nhà nước, vốn tín dụng nhà nước và vốn của các doanh nghiệp nhà
nước) để đầu tư vào các chương trình, dự án khơng vì mục tiêu lợi nhuận
và (hoặc) khơng có khả năng hồn vốn trực tiếp.
2.1.2. Nguồn vốn đầu tư công
- Vốn ngân sách nhà nước: nguồn thu từ các khoản thuế, phí..
- Nguồn vốn tín dụng: nhà nước vay vốn từ dân chúng trong nước hoặc thị
trường tín dụng quốc tế
- Nguồn vốn của các doanh nghiệp nhà nước
2.1.3. Vai trị của đầu tư cơng đối với nền kinh tế
Đầu tư cơng đóng vai trị quan trọng trong việc thúc đẩy sự phát triển
kinh tế của Việt Nam, đặc biệt là trong bối cảnh nền kinh tế đang chuyển
đổi từ mơ hình tập trung vào nguồn lực thấp sang mơ hình đầu tư vào cơng
nghệ cao và tiên tiến hơn. Dưới đây là những vai trò quan trọng của đầu tư
công đối với nền kinh tế Việt Nam:
Tăng cường đầu tư vào hạ tầng: Đầu tư công giúp cải thiện hạ tầng giao
thông, viễn thông, điện lực, nước sạch, v.v. Những cơ sở hạ tầng này là nền
tảng cho sự phát triển của các ngành kinh tế khác.
Tạo động lực phát triển kinh tế: Đầu tư công tạo ra nhiều cơ hội việc
làm và nâng cao thu nhập cho người dân. Việc cải thiện hạ tầng cũng tạo
điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp phát triển và mở rộng sản xuất
kinh doanh.
Tăng cường sức cạnh tranh: Việc đầu tư vào hạ tầng giúp nâng cao
năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp trong nước và thu hút các doanh
nghiệp nước ngoài đến đầu tư tại Việt Nam.
Cải thiện chất lượng cuộc sống: Đầu tư công cải thiện chất lượng
cuộc sống cho người dân, giúp họ tiếp cận với các dịch vụ cơ bản như nước
sạch, điện lực, truyền thông, giao thông, v.v.
Giảm thiểu khoảng cách kinh tế: Việc đầu tư vào các khu vực phát
triển kinh tế mới giúp giảm thiểu khoảng cách phát triển kinh tế giữa các
vùng, giúp đất nước hội nhập sâu rộng hơn vào nền kinh tế thế giới.
Tổng thể, đầu tư cơng đóng vai trị quan trọng trong việc thúc đẩy sự
phát triển kinh tế và cải thiện chất lượng cuộc sống cho người dân Việt
Nam.
2.2. Nợ công
2.2.1. Khái niệm
Nợ công (Public Debt) là khoản nợ của một quốc gia với người cho
vay bên ngoài quốc gia đó. Người cho vay ở đây có thể là các cá nhân,
doanh nghiệp hay các chính phủ nước khác. Thuật ngữ nợ công thường
được sử dụng phổ biến hơn so với nợ chính phủ, nợ quốc gia.
Nợ cơng là sự tích lũy về sự thâm hụt ngân sách quốc gia hàng năm. Nó là
kết quả của nhiều năm ngân sách quốc gia được chi tiêu nhiều hơn so với
nhận được từ các khoản thu thuế.
Theo Ngân hàng thế giới (WB) và Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) thì nợ
cơng theo nghĩa rộng là nghĩa vụ nợ của khu vực cơng, bao gồm các nghĩa
vụ nợ của chính phủ trung ương, các cấp chính quyền địa phương, ngân
hàng trung ương và các tổ chức độc lập (nguồn vốn hoạt động do NSNN
quyết định hay trên 50% vốn thuộc sở hữu nhà nước, và trong trường hợp
vỡ nợ nhà nước phải trả nợ thay). Còn theo nghĩa hẹp, nợ cơng bao gồm
nghĩa vụ nợ của chính phủ trung ương, các cấp chính quyền địa phương và
nợ của các tổ chức độc lập được chính phủ bảo lãnh thanh tốn. Tùy thuộc
thể chế kinh tế và chính trị, quan niệm về nợ công ở mỗi quốc gia cũng có
sự khác biệt. Tại hầu hết các nước trên thế giới, Luật Quản lý nợ công đều
xác định nợ cơng gồm nợ của chính phủ và nợ được chính phủ bảo lãnh.
Một số nước, nợ cơng cịn bao gồm nợ của chính quyền địa phương (Đài
Loan, Bungari, Rumani…), nợ của doanh nghiệp nhà nước phi lợi nhuận
(Thái Lan, Macedonia…).
Theo Từ điển Kinh tế học – ĐH Kinh tế Quốc dân, nợ công cộng là
nợ quốc gia và một số khoản nợ khác mà chính phủ phải chịu trách nhiệm
trực tiếp hoàn trả, chẳng hạn các khoản nợ các doanh nghiệp nhà nước.
Ở Việt Nam, Luật Quản lý nợ công năm 2009 quy định, nợ cơng bao
gồm nợ chính phủ, nợ được Chính phủ bảo lãnh và nợ chính quyền địa
phương.
2.3. Tổng quan mối quan hệ giữa đầu tư công và nợ công
2.3.1. Ảnh hưởng của đầu tư công đến nợ công
(i). Đầu tư công làm gia tăng nợ công
+ Nguồn vốn đầu tư công chủ yếu là từ ngân sách Nhà nước (NSNN),
trong điều kiện NSNN mất cân đối, thu không đủ chi, khi gia tăng
quy mô đầu tư công sẽ dẫn đến thiếu hụt ngân sách, buộc Nhà nước
phải vay nợ để bù đắp thiếu hụt do tăng đầu tư cơng, từ đó làm gia
tăng nợ cơng.
+ Khi vốn đầu tư công từ nguồn vay nợ công được đầu tư vào các cơng
trình như: Tượng đài, quảng trường, nhà lưu niệm, bảo tồn, bảo
tàng... khơng có khả năng thu hồi vốn sẽ làm gia tăng tích lũy nợ
cơng.
+ Nguồn vốn đầu tư cơng từ các doanh nghiệp, ngân hàng chính sách
Nhà nước vay nợ được Chính phủ bảo lãnh để đầu tư cơng, nhưng sử
dụng vốn không hiệu quả, dẫn đến mất khả năng trả nợ thì Chính phủ
phải trích NSNN để trả nợ, dẫn đến gia tăng thâm hụt ngân sách, từ
đó làm gia tăng nợ công.
+ Khi Nhà nước vay nợ cơng để đầu tư cơng vào các chương trình, dự
án, được thu hồi qua hình thức thu phí, lệ phí. Nếu các chương trình
dự án này hoạt động kém hiệu quả, thất thốt, lãng phí... khơng thu
hồi được vốn để trả nợ, sẽ làm cho tích lũy nợ cơng ngày càng tăng
lên.
(ii). Đầu tư công không làm gia tăng nợ công
+ Đầu tư công được thực hiện trong điều kiện NSNN cân bằng, không
thâm hụt ngân sách, Nhà nước không phải vay nợ để đầu tư cơng thì
đầu tư cơng sẽ không làm gia tăng nợ công.
+ Các khoản nợ Chính phủ bảo lãnh cho các doanh nghiệp, ngân hàng
chính sách nhà nước vay, nếu sử dụng vốn có hiệu quả, thu hồi và trả
nợ đúng hạn, nghĩa là Chính phủ khơng phải trích NSNN ra để trả nợ
thay, thì sẽ không làm gia tăng nợ công.
+ Khi Nhà nước vay nợ công để đầu tư công vào các chương trình, dự
án, được thu hồi qua hình thức thu phí, lệ phí. Nếu các chương trình
dự án này hoạt động có hiệu quả cao, thu hồi được vốn để trả nợ, sẽ
khơng làm cho tích lũy nợ cơng tăng lên.
+ Đầu tư công được tập trung xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế, xã hội
như: giao thông vận tải, năng lượng, viễn thông, trường học, bệnh
viện. . . có sức lan tỏa, thu hút đầu tư tư nhân và đầu tư nước ngoài
FDI, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tăng nguồn thu NSNN để trả nợ,
từ đó làm giảm nợ cơng.
+ Khi Nhà nước tăng cường thực hiện đầu tư công vào các dự án theo
hình thức hợp tác cơng tư PPP, Nhà nước chỉ góp khoảng 40% vốn
hoặc thấp hơn, nếu các dự án này được thực hiện có hiệu quả cao,
đảm bảo hồn vốn để trả nợ thì khơng làm gia tăng nợ công, nếu các
dự án này hoạt động kém hiệu quả thì Nhà nước đã chia sẻ được một
phần rủi ro, từ đó ít làm gia tăng nợ cơng hơn.
+ Khi đầu tư cơng tăng cao hơn nợ cơng thì biểu hiện nguồn thu
NSNN dồi dào, đảm bảo khả năng tăng nguồn vốn để đầu tư công
(không phải đi vay để đầu tư công) và gia tăng khả năng trả nợ công
nên không làm cho nợ công tăng cao.
+ Khi nợ cơng tăng cao hơn đầu tư cơng thì biểu hiện nguồn thu
NSNN giảm sút, không đủ khả năng để trả nợ gốc và lãi đến hạn nên
phải vay đảo nợ (vay mới trả cũ); Hoặc biểu hiện mục đích vay nợ
công bị chệch hướng, không dùng để đầu tư công mà chi cho tiêu
dùng hoặc đầu tư khác; hoặc biểu hiện đầu tư cơng khơng đúng mục
đích, kém kiệu quả, thất thốt, lãng phí... dẫn đến khơng thu hồi
được vốn để hồn trả nợ cơng nên làm cho tích lũy nợ tăng cao.
2.3.2. Ảnh hưởng của nợ công đến đầu tư công
+ Khi nợ công giảm, các khoản chi NSNN để trả nợ sẽ giảm theo, từ
đó Nhà nước có điều kiện để gia tăng đầu tư công.
+ Khi nợ công gia tăng sẽ làm giảm nguồn vốn đầu tư cơng vì phải
giành một phần chi NSNN để trả nợ gốc và lãi của nợ công.
+ Nếu nợ cơng vượt mức an tồn thì chính phủ các quốc gia sẽ buộc
phải xem xét và thực hiện việc cắt giảm đầu tư công.
2.3.3. Một số kết quả nghiên cứu về mối quan hệ giữa đầu tư cơng và
nợ cơng
Có nhiều nghiên cứu về mối quan hệ giữa đầu tư cơng và nợ cơng,
có thể đề cập đến một số kết quả nghiên cứu tiêu biểu sau đây:
(i) Nghiên cứu của Vũ Đình Ánh (2012): “ Trong giai đoạn 20012011 ở Việt Nam, đáng kinh ngạc là so với GDP (giá thực tế) thì đầu tư
cơng có xu hướng giảm rõ rệt, trong khi nợ công lại có xu hướng tăng
mạnh và nợ nước ngồi cũng vậy. Theo đó đầu tư cơng và nợ cơng có quan
hệ nghịch biến, có thể do thực chất cơ cấu sử dụng nợ công, cả vay nợ và
bù đắp thâm hụt và đầu tư, đã chuyển dịch từ đầu tư sang tiêu dùng?” [4];
(ii) Nghiên cứu của Lê Thị Diệu Hiền và Trần Thị Cẩm Giang
(2018): “Trong giai đoạn 2010-2017, đầu tư cơng với xu hướng giảm, trong
khi nợ cơng có xu hướng tăng, phản ánh xu hướng dịch chuyển trong cơ
cấu sử dụng nợ từ đầu tư sang tiêu dùng”[7];
(iii) Nghiên cứu của Picarelli, M., O. và cộng sự (2019): “. . .nợ công
ở 26 quốc gia EU, giai đoạn 1995- 2015 tăng 1% dẫn đến giảm đầu tư công
0,03%”[9];
(iv) Nghiên cứu của Anyanwu, A., A., (2020): “ ở 16 quốc gia đang
phát triển trong khu vực Châu Á Thái Bình Dương trong giai đoạn 20072017, hiệu quả đầu tư công làm giảm tỷ lệ nợ trên GDP, trong khi đầu tư
công trong bối cảnh tham nhũng của khu vực công làm tăng tỷ lệ nợ trên
GDP” [10];
(v) Nghiên cứu của Origin, C., K. và cộng sự (2021): “tác động của
nợ công đối với đầu tư công ở Nigeria từ năm 1985-2018 cho thấy, trong
ngắn hạn nợ công ảnh hưởng không đáng kể đến đầu tư công”[11];
(vi) Nghiên cứu của Marmullaku, B. (2021): “nợ cơng ảnh hưởng
tích cực đến tăng trưởng kinh tế thông qua đầu tư công ở các nước đang
chuyển đổi ở châu Âu, và có thể lập luận rằng các nước này có thể tăng
mức nợ để tài trợ cho đầu tư công mà sau đó ảnh hưởng đến tăng trưởng
kinh tế”[12];
(vii) Nghiên cứu của Benayed, W.& Gabsi, F.,B. (2021): “ở 32 quốc
gia châu Phi cận Sahara trong giai đoạn 2000–2011, nợ công cản trở hoạt
động kinh tế thông qua tác động bất lợi của nó đối với đầu tư cơng, vốn
được coi là động lực của tăng trưởng kinh tế. Cụ thể, đầu tư công là công
cụ mạnh mẽ nhất để tạo ra tăng trưởng và giảm bớt gánh nặng nợ”[13].
3. Tình hình đầu tư cơng và nợ cơng tại Việt Nam: trình bày
tình hình đầu tư cơng và nợ cơng của Việt Nam trong giai
đoạn 2000-2020.
Diễn biến đầu tư công giai đoạn 2000-2020.
Trong giai đoạn 2000-2020, quy mô vốn đầu tư công gia tăng qua
các năm, chiếm tỷ trọng lớn trong tổng vốn đầu tư xã hội, thông qua việc
tập trung đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế-xã hội, tạo động lực thu hút
đầu tư tư nhân và vốn FDI, tác động thúc đẩy phát triển sản xuất, bảo vệ
mơi trường, góp phần xóa đói giảm nghèo, nâng cao đời sống vật chất và
tinh thần cho nhân dân. Quy mô vốn đầu tư công giai đoạn 2000-2020 thể
hiện ở biểu đồ 1.
Biểu đồ 1: Quy mô vốn đầu tư công giai đoạn 2000-2020
Nguồn: Tổng cục Thống kê
Biểu đồ 1 cho thấy, vốn đầu tư công trong giai đoạn 2000-2020 gia
tăng qua các năm, năm sau cao hơn năm trước. Theo số liệu của Tổng cục
Thống kê, năm 2000 tổng vốn đầu tư công là 89.417 tỷ đồng, đến năm
2020 tăng lên 728.947 tỷ đồng, tăng gấp 8,18 lần so với năm 2000. Trong
giai đoạn 2000-2020, vốn đầu tư cơng tăng bình quân hàng năm là 11,27%.
- Diễn biến nợ công giai đoạn 2000-2020
Trong giai đoạn 2000-2020, hàng năm Việt Nam đã tiến hành vay nợ
cơng cả trong và ngồi nước để bù đắp kịp thời khoản bội chi NSNN, đồng
thời góp phần đáp ứng nhu cầu vốn cho đầu tư phát triển, xây dựng các
cơng trình cơ sở hạ tầng cho sản xuất và đời sống, nhằm đảm bảo thúc đẩy
tăng trưởng kinh tế ổn định và không ngừng nâng cao đời sống cho người
dân. Diễn biến tình hình nợ cơng giai đoạn 2000-2020 thể hiện ở biểu đồ 2.
Biểu đồ 2: Quy mô nợ công giai đoạn 2000-2020
Nguồn: Bộ Tài chính
Có thể thấy qua biểu đồ 2, trong giai đoạn 2000-2020 số dư nợ công
hàng năm đều gia tăng qua các năm, năm sau đều cao hơn năm trước. Theo
số liệu của Bộ Tài chính, năm 2000 số dư nợ công là 184.166 tỷ đồng, đến
năm 2020 số dư nợ công là 3.480.109, tăng gấp 18,9 lần so với năm 2000,
bình quân tăng trưởng hàng năm là 16,34%.
Như vậy, so với mức tăng đầu tư công hàng năm là 11,27%, mức tăng nợ
công hàng năm cao hơn mức tăng đầu tư công hàng năm là 5,07%
4. Mối quan hệ giữa đầu tư công và nợ công:
4.1. Quy mô đầu tư cơng có ảnh hưởng đến xu hướng nợ công:
Nguồn vốn đầu tư công chủ yếu là từ ngân sách Nhà nước (NSNN),
trong điều kiện NSNN mất cân đối, thu không đủ chi, khi gia tăng quy mô
đầu tư công sẽ dẫn đến thiếu hụt ngân sách, buộc Nhà nước phải vay nợ để
bù đắp thiếu hụt do tăng đầu tư cơng, từ đó làm gia tăng nợ cơng.
Trong bản tin nợ nước ngồi năm 2010 của Việt Nam được Bộ Tài chính
cơng bố chính thức năm 2011, con số nợ Việt Nam ngày một tăng rất
nhanh. Chỉ sau 1 năm, Việt Nam đã gia tăng thêm 4,6 tỷ đô la tiền nợ và
mức trả nợ cao nhất sẽ rơi vào năm 2020 với mức nợ lên đến 2,4 tỷ đô la.
Thực tế cho thấy, sự gia tăng đầu tư công ở Việt Nam hơn một thập kỷ qua
có mối quan hệ trực tiếp đến mức gia tăng mức nợ công gần đây.
4.2. Đầu tư công kém hiệu quả làm tăng gánh nặng nợ công
Hiệu quả đầu tư công thấp sẽ tác động tiêu cực đến các khoản vay nợ
quốc gia, do làm tăng nợ chính phủ nhất là nợ nước ngồi.
Nguồn vốn đầu tư cơng từ các doanh nghiệp, ngân hàng chính sách Nhà
nước vay nợ được Chính phủ bảo lãnh để đầu tư cơng, nhưng sử dụng vốn
không hiệu quả, dẫn đến mất khả năng trả nợ thì Chính phủ phải trích
NSNN để trả nợ, dẫn đến gia tăng thâm hụt ngân sách, từ đó làm gia tăng
nợ công.
Khi Nhà nước vay nợ công để đầu tư cơng vào các chương trình, dự
án, được thu hồi qua hình thức thu phí, lệ phí. Nếu các chương trình dự án
này hoạt động kém hiệu quả, thất thốt, lãng phí... khơng thu hồi được vốn
để trả nợ, sẽ làm cho tích lũy nợ cơng ngày càng tăng lên.
Bảng thể hiện đầu tư công và Nợ Công so với GDP giai đoạn 2000-2020 tại Việt Nam(%)
Đồ thị: Mối quan hệ giữa đầu tư công và nợ công trong giai đoạn 2000-2020
Nguồn số liệu của đồ thị từ bảng số liệu trên
Qua đồ thị trên, đầu tư cơng có mối quan hệ nghịch biến với nợ
công, khi đầu tư công hoạt động kém hiệu quả, đầu tư cơng tăng thì nợ
cơng giảm và ngược lại.
Chính vì vậy, để giảm nợ cơng thì đầu tư cơng khơng những cần phải
được cắt giảm mà hiệu quả đầu tư công cũng cần phải được chú trọng.
4.3. Nợ cơng có ảnh hưởng đến đầu tư công:
Khi nợ công giảm, các khoản chi NSNN để trả nợ sẽ giảm theo, từ
đó Nhà nước có điều kiện để gia tăng đầu tư công.
Khi nợ công gia tăng sẽ làm giảm nguồn vốn đầu tư cơng vì phải
giành một phần chi NSNN để trả nợ gốc và lãi của nợ công.
Trong nhiều năm, thu ngân sách Nhà nước không đủ khả năng để trả
nợ gốc và lãi đến hạn mà phải vay nợ mới để trả nợ cũ làm cho số dư nợ cũ
khơng giảm, điển hình như: Theo kế hoạch vay và trả nợ cơng của Chính
phủ năm 2016-2018, vay để trả nợ gốc ngân sách trung ương khoảng 414,4
nghìn tỷ đồng, trong đó năm 2016 là 132,4 nghìn tỷ đồng, năm 2017
khoảng 144 nghìn tỷ đồng và năm 2018 là 138 nghìn tỷ đồng. Kế hoạch
vay để trả nợ gốc của Chính phủ năm 2020 là 231.156 tỷ đồng. Kế hoạch
vay mới để trả nợ gốc của Chính phủ năm 2021 là 260.902 tỷ đồng. Số vay
mới này để trả nợ đến hạn mà không dùng để đầu tư công nên sự gia tăng
của nợ công không tương xứng với đầu tư công.
Nếu nợ công vượt mức an tồn thì chính phủ các quốc gia sẽ buộc
phải xem xét và thực hiện việc cắt giảm đầu tư công.
5. Các chính sách và giải pháp để quản lý đầu tư cơng và nợ
cơng
Qua phân tích, xem xét, đánh giá mối quan hệ giữa đầu tư công và
nợ công cho thấy, đầu tư công biến động ngược chiều với nợ cơng, khi đầu
tư cơng giảm xuống thì nợ cơng tăng lên, điều đó hàm ý rằng, sự gia tăng
nợ công trong thời gian qua không chỉ do đầu tư cơng mà cịn do những
ngun nhân khác. Để khơng ngừng nâng cao hiệu quả đầu tư công công,
tăng cường quản lý nợ cơng đảm bảo an tồn và hiệu quả cần xem xét một
số giải pháp sau đây:
+ Cần hạch tốn nợ cơng theo chuẩn quốc tế để đảm bảo các chính
sách liên quan đến nợ cơng thực tế hơn và mức độ nghiêm trọng của
nợ công được xem xét một cách toàn diện hơn, đồng thời thiết lập cơ
quan chuyên trách quản lý nợ công độc lập để theo dõi, giám sát và
chịu trách nhiệm về nợ công cũng như tham mưu cho các nhà hoạch
định chính sách trong những trường hợp cần thiết.
+ Cần cân đối giữa nguồn vốn trong nước và nguồn vốn nước ngoài;
lựa chọn nguồn vốn phù hợp với nhu cầu tài trợ và tính chất của từng
nguồn vốn; cần phân cấp rõ ràng trong quản lý nợ công gắn quyền
hạn với trách nhiệm giữa nhu cầu sử dụng vốn với trách nhiệm hoàn
trả; đồng thời tăng cường hơn nữa hiệu lực quản lý nhà nước về nợ
công.
+ Tái cơ cấu đầu tư công theo hướng giảm tỷ trọng nguồn vốn từ
NSNN, tăng tỷ trọng từ các nguồn vốn khác, đặc biệt là nguồn vốn
theo hình thức hợp tác PPP, từ đó làm giảm áp lực và gánh nặng nợ
công.
+ Kiên quyết khắc phục tình trạng đầu tư dàn trải, lãng phí, kém hiệu
quả: Vốn đầu tư cơng nên tập trung đầu tư vào các ngành sản xuất,
xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế-xã hội,. . .có sức lan tỏa thu hút đầu
tư tư nhân, vốn FDI, đồng thời hạn chế đầu tư vào các cơng trình
khơng kích thích tăng trưởng kinh tế, góp phần tăng nguồn thu ngân
sách, từ đó tăng nguồn lực trả nợ cơng của Chính phủ.
+ Đảm bảo tiến độ giải ngân: Cần khắc phục có hiệu quả tình trạng
chậm giải ngân vốn, đẩy mạnh tiến độ triển khai các dự án quan
trọng quốc gia. Kiên quyết cắt giảm, điều chuyển vốn trong trường
hợp chậm giải ngân; xác định rõ trách nhiệm các tổ chức, cá nhân,
người đứng đầu để chậm tiến độ theo quyết định chủ trương đầu tư
được duyệt.
+ Cải tiến công tác xây dựng kế hoạch, phân bổ vốn đầu tư công sát
với thực tế hấp thụ vốn, trên cơ sở đó để có kế hoạch huy động vốn
phù hợp. Cải cách thủ tục hành chính trong đầu tư cơng, làm tốt cơng
tác giải phóng mặt bằng để đẩy nhanh tiến độ giải ngân, hạn chế tình
trạng vốn tồn đọng tại Kho bạc Nhà nước và các ngân hàng mà phải
chịu lãi vay. Nâng cao năng lực, trình độ thẩm định dự án của các cơ
quan chức năng, khắc phục tình trạng các bộ ngành, địa phương xây
dựng vốn đầu tư ban đầu rất thấp, sau đó phát sinh tăng lên nhiều
lần, đồng thời có biện pháp chế tài để xử lý các trường hợp cơng
trình dự án phát sinh đội vốn.
+ Chuyển dần việc cấp phát đầu tư công (nguồn nợ công) từ NSNN
sang cho vay, đối với các ngành, lĩnh vực, cơng trình dự án có khả
năng thu hồi vốn trực tiếp qua việc thu phí như: Giao thơng, thủy lợi,
y tế, văn hóa, giáo dục, khoa học cơng nghệ,... để thúc đẩy việc hạch
tốn kinh tế, gắn trách nhiệm với chủ cơng trình dự án, nhằm nâng
cao hiệu quả sử dụng vốn vay nợ cơng, hạn chế tình trạng tham ơ,
lãng phí trong đầu tư công.
+ Tái cơ cấu NSNN theo hướng tăng tỷ trọng chi cho đầu tư phát triển,
giảm tỷ trọng chi cho tiêu dùng; kiên quyết cắt giảm những khoản
chi tiêu chưa thật cần thiết để từng bước giảm tỷ lệ bội chi NSNN;
thực hiện nghiêm kỷ luật tài khóa, không dùng vốn vay nợ công để
chi cho tiêu dùng.
+ Chú trọng khai thác tốt các nguồn thu, đa dạng hóa nguồn thu, tiến
hành kiểm sốt chặt chẽ hơn nữa việc thu thuế, chống thất thu, trốn
thuế, chuyển giá, sửa đổi chính sách thuế để hạn chế việc lạm dụng
các ưu đãi thuế trong khu vực kinh tế tư nhân và FDI. Đẩy mạnh việc
cổ phần hóa các DNNN, khắc phục tình trạng nhiều DNNN quản lý
yếu kém, thua lỗ, gây thất thốt, lãng phí nguồn lực tài chính của
Nhà nước.
+ Nghiên cứu, xây dựng và ban hành bộ tiêu chí đánh giá hiệu quả đầu
tư cơng và hiệu quả dự án đầu tư công, các chỉ tiêu đánh giá khả
năng thanh toán và khả năng thanh khoản của nợ công, cải cách
mạnh mẽ công tác quản lý đầu tư công ở tất cả các khâu của chu kỳ
dự án
+ Cần tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra, giám sát việc chấp hành
kỷ luật, kỷ cương trong quản lý đầu tư cơng; kiểm sốt chặt chẽ mục
tiêu, hiệu quả sử dụng các nguồn vốn đầu tư; bảo đảm công khai,
minh bạch trong việc huy động, quản lý, sử dụng vốn vay.
6. Kết luận
Qua phân tích, xem xét, đánh giá mối quan hệ giữa đầu tư công và
nợ công trong thời kỳ 2000 - 2020 cho thấy, đầu tư công biến động ngược
chiều với nợ công, khi đầu tư công giảm xuống thì nợ cơng tăng lên, điều
đó hàm ý rằng, sự gia tăng nợ công trong thời gian qua không chỉ do đầu tư
cơng mà cịn do những ngun nhân khác. Nợ công tăng lên không phải
dành cho đầu tư phát triển mà dùng để trả nợ và tăng chi tiêu thường xuyên
cho thấy xu hướng dịch chuyển cơ cấu sử dụng nợ, từ hoạt động đầu tư
công sang phục vụ chi cho tiêu dùng. Vì vậy, nếu các khoản vay không
được đầu tư một cách hiệu quả, không sử dụng vào những dự án có khả
năng tạo ra nguồn trả nợ trong tương lai, chắc chắn gây ảnh hưởng đến khả
năng thanh toán các khoản nợ và đe dọa an tồn nợ cơng.
Để cải thiện tình hình này nhóm chúng em xin đưa ra một vài khuyến nghị
như sau:
Thứ nhất, giảm quy mô đầu tư công và cấu trúc lại đầu tư công theo
hướng giảm nguồn từ ngân sách thay vào đó các dự án đầu tư cơng theo
hình thức hợp tác công tư.
Cần cơ cấu lại đầu tư công gắn với giảm gánh nặng ngân sách, giảm tỷ
trọng của khu vực kinh tế nhà nước trong các lĩnh vực sản xuất trực tiếp
(công nghiệp chế biến, chế tạo, kinh doanh bất động sản…), khuyến khích
sự phát triển khu vực tư nhân, khuyến khích hợp tác cơng tư (PPP), tập
trung vào các dự án liên quan đến lĩnh vực xã hội như giao thông vận tải,
bệnh viện, trường học và các cơng trình xây dựng cơng cộng… đây là
những lĩnh vực đem lại lợi ích lâu dài, có sức lan tỏa, thu hút đầu tư tư
nhân và vốn FDI.
Thứ hai, nâng cao hiệu quả công tác quản lý, phân bổ vốn đầu tư
công gắn với nhu cầu vay vốn nhằm giảm thiểu trả lãi và chi phí vay nợ
cơng. Tăng cường tính minh bạch và trách nhiệm giải trình trong đầu tư
cơng.
Cải tiến cơng tác xây dựng kế hoạch, phân bổ vốn đầu tư công sát với thực
tế hấp thụ vốn, trên cơ sở đó để có kế hoạch huy động vốn phù hợp. Phối
hợp đồng bộ giữa vay vốn và sử dụng vốn với phương châm “Vay đến đâu
sử dụng đến đó, sử dụng đến đâu vay đến đó”.
Thứ ba, chuyển dần việc cấp phát đầu tư công (nguồn nợ công) từ
NSNN sang cho vay, khắc phục tình trạng bao cấp, tư tưởng ỷ lại trong
việc quản lý sử dụng nợ công, nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn vay nợ
cơng, hạn chế tình trạng tham ô, lãng phí trong đầu tư công.
Thứ tư, tái cơ cấu NSNN theo hướng tăng tỷ trọng chi cho đầu tư
phát triển, giảm tỷ trọng chi cho tiêu dùng; kiên quyết cắt giảm những
khoản chi tiêu chưa thật cần thiết để từng bước giảm tỷ lệ bội chi NSNN;
thực hiện nghiêm kỷ luật tài khóa, khơng dùng vốn vay nợ công để chi cho
tiêu dùng.