Tải bản đầy đủ (.docx) (21 trang)

Giải pháp nâng cao khả năng quản lý và sử dụng ODA ở Việt Nam

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (205.59 KB, 21 trang )

Chương 1: Tổng quan về ODA và nguồn vốn ODA của các tổ chức tài chính quốc tế
1.1. Tổng quan về ODA
1.1.1. Khái niệm ODA
ODA là tên gọi tắt của ba chữ tiếng Anh: Official Development Assistance, có
nghĩa là Hỗ trợ phát triển chính thức hay còn gọi là Viện trợ phát triển chính thức.
Gọi là Hỗ trợ bởi vì các khoản đầu tư này thường là các khoản cho vay không lãi
suất hoặc lãi suất thấp với thời gian vay dài. Đôi khi còn gọi là viện trợ. Gọi là Phát triển
vì mục tiêu danh nghĩa của các khoản đầu tư này là phát triển kinh tế và nâng cao phúc
lợi ở nước được đầu tư. Gọi là Chính thức, vì nó thường là cho Nhà nước vay.
Về thực chất, ODA là sự chuyển giao một phần thu nhập quốc gia từ các nước
phát triển sang các nước đang và chậm phát triển. Liên hiệp quốc, trong một phiên họp
toàn thể của Đại hội đồng vào năm 1961 đã kêu gọi các nước phát triển dành 1% GNP
của mình để hỗ trợ sự nghiệp phát triển bền vững về kinh tế và xã hội của các nước đang
phát triển.
Một cách khái quát, chúng ta có thể hiểu ODA bao gồm các khoản viện trợ không
hoàn lại, viện trợ có hoàn lại, hoặc tín dụng ưu đãi của các Chính phủ, các tổ chức liên
Chính phủ, các tổ chức phi Chính phủ, các tổ chức thuộc hệ thống Liên hợp quốc (United
Nations -UN), các tổ chức tài chính quốc tế dành cho các nước đang và chậm phát triển.
1.1.2. Đặc điểm của ODA
- Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và sự thinhh vượng của các nước đang phát và
chậm phát triển
+ Mục tiêu của ODA không phải là lợi nhuận, mà giúp các nước nghèo, chậm phát
triển bổ sung nguồn vốn cho quá trình đầu tư phát triển kinh tế-xã hội quốc gia; tạo điều
kiện phát triển cảu các quốc gia tài trợ và xa hơn là sự phát triển thịnh vượng chung của
cả cộng đồng thế giới.
- Vốn ODA là nguồn vốn có tính ưu đãi của các nước phát triển, các tổ chức quốc
tế đối với các nước đang và chậm phát triển.
Với mục tiêu trợ giúp các nước đang và chậm phát triển, vốn ODA mang tính ưu
đãi hơn bất cứ nguồn tài trợ nào khác. Thể hiện:
+ Khối lượng vốn vay lớn từ hàng chục đến hàng trăm triệu USD.
+ Vốn ODA có thời gian cho vay (hoàn trả vốn) dài, có thời gian ân hạn dài (chỉ


trả lãi, chưa trả nợ gốc). Vốn ODA của WB, ADB, Ngân hàng Hợp tác quốc tế Nhật Bản
(Japanese Bank for International Cooperation - JBIC) có thời gian hoàn trả là 40 năm và
thời gian ân hạn là 10 năm.
+ Thông thường vốn ODA có một phần viện trợ không hoàn lại, phần này dưới
25% tổng số vốn vay. Ví dụ OECD cho không 20-25% tổng vốn ODA. Đây chính là
điểm phân biệt giữa viện trợ và cho vay thương mại.
+ Các khoản vay thường có lãi suất thấp, thậm chí không có lãi suất. Lãi suất giao
động từ 0,5% đến 5% /năm (trong khi lãi suất vay trên thị trường tài chính quốc tế là trên
7% /năm và hàng năm phải thoả thuận lại lãi suất giữa hai bên). Ví dụ lãi suất của ADB là
1%/năm; của WB là 0,75% /năm; Nhật thì tuỳ theo từng dự án cụ thể trong năm tài khoá.
Ví dụ từ năm 1997-2000 thì lãi suất là 1,8%/năm.
Nhìn chung, các nước cung cấp vốn ODA đều có những chính sách và ưu tiên
riêng của mình, tập trung vào một số lĩnh vực mà họ quan tâm hay có khả năng kỹ thuật
và tư vấn (về công nghệ, kinh nghiệm quản lý). Đồng thời, đối tượng ưu tiên của các
nước cung cấp vốn ODA cũng có thể thay đổi theo từng giai đoạn cụ thể.
- ODA chỉ bao gồm các giao dịch tài chính quốc tế ở tầm cỡ quốc gia
ODA không mang tính chất tư nhân, có nghĩa là không bao gồm các giao dịch tài
chính của các nhà tài trợ với các công ty tư nhân ở nước tiếp cận tài trợ. chính phủ là chủ
thể duy nhất nhận tài trợ và có trách nhiệm trả nợ.
- Nguồn vốn ODA gắn liền yếu tố chính trị với hiệu quả kinh tế xã hội là chủ yếu.
ODA thường gắn chính sách hỗ trợ với việc phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm
cho các doanh nghiệp của các nước tài trợ nên thường có sự ràng buộc lựa chọn dự án,
thuê tư vấn, chọn nhà thầu, nhà cung ứng thiết bị hàng hóa cho dự án. đồng thời , qua
việc hỗ trợ ODA , các nước viện trợ muốn gây ảnh hưởng chính trị tới nước tiếp nhận
viện trợ.
- Thủ tục ODA phức tạp, cần nhiều thời gian trong các giai đoạn của dự án.
Để tiếp nhận được ODA các nước tiếp nhận cần thực hiện nhiều thủ tục: chuẩn bị
tài liệu về nhu cầu tài trợ, tiếp xúc, quảng bá, vận đông ODA, đàm phán tài trợ, thiết lập
các dự án khả thi và cá hồ sơ giải ngân thực tế , nước tiếp nhận ODA thường phải thay
đổi nhiều lần việc thiết kế dự án, mất nhiều thời gian chuẩn bị dự án mới được nhà tài trợ

chấp nhận thẩm định.
1.1.3. Vai trò của ODA đối với phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam
1) Nhu cầu vốn ODA cho đầu tư phát triển kinh tế Việt Nam.
Đất nước ta đang thực hiện sự nghiệp CNH, HĐH theo đường lối đề ra tại đại hội
Đảng lần thứ VIII với mục tiêu tăng mức thu nhập bình quân đầu người lên mức 1500
USD vào năm 2020 tức là tăng gấp 7 lần so với mức năm 1995. Để thực hiện được mục
tiêu này mức tăng trưởng GDP bình quân hàng năm phải là 8%/năm. Về mặt lý thuyết,
muốn đạt được mức tăng trưởng này vốn đầu tư phải tăng ít nhất là 20%/năm cho đến
năm 2015 tức là mức đầu tư cho năm 2000 phải gấp 2,5 lần năm 1995, cho năm 2005
phải gấp 6,2 lần tức là giai đoạn 2001- 2005 vào khoảng 60 tỷ USD. Trong đó vốn ODA
khoảng 9 tỷ USD.
Cụ thể:
- Về năng lượng: có 9 dự án với tổng vốn ODA dự kiến trên 1,2 tỷ USD trong đó
lớn nhất là dự án thuỷ điện Đại Thi ở Tuyên Quang(360 triệu )
- Trong lĩnh vực giao thông vận tải đường bộ (có 33 dự án với trên 1,8 tỷ USD. Về
cầu có 7 dự án với trên 150 triệu USD, lớn nhất là dự án cải tạo cầu Long Biên ( 72 triệu
USD). Về đường biển có 10 dự án với số vốn 600 triệu USD lớn nhất là xây dựng cảng
tổng hợp Thị Vải( 170 triệu USD). Đường sông có 4 dự án với hơn 450 triệu USD lớn
nhất là cải tạo giao thông thuỷ, kè chỉnh trị Sông Hồng khu vực Hà Nội (255triệu USD).
Đường sắt có 5 dự án với khoảng 1,4 tỷ USD trong đó riêng riêng xây dượng 2 tuyến
đường sắt trên cao Tp Hồ Chí Minh và Hà Nội với tổng số vốn 1,13 tỷ USD. Cấp nước và
vệ sinh đô thị có 50 dự án với trên 1 tỷ USD.)
- Về nông nghiệp (có 33 dự án cần triển khai từ nay đến 2005 với tổng vốn ODA
khoảng 700 triệu USD).
- Lĩnh vực Y tế- xã hội: có 42 dự án với khoảng 1 tỷ USD.
- Văn hoá thông tin: có 11 dự án với khoảng 300 triệu USD lớn nhất là tháp truyền
hình Hà Nội( 135 triêụ USD).
- Lĩnh vực khoa học - công nghệ - môi trường: có 35 dự án vớitrên 1,5 tỷ USD,
lớn nhất là khu công nghệ cao Hoà Lạc( 480 triệu USD).
2) Tầm quan trọng của ODA đối với phát triển kinh tế Việt Nam

Thứ nhất, ODA là nguồn bổ sung vốn quan trọng cho đầu tư phát triển.Sự nghiệp
CNH, HĐH mà Việt Nam đang thực hiện đòi hỏi một khối lượng vốn đầu tư rất lớn mà
nếu chỉ huy động trong nước thì không thể đáp ứng được. Do đó, ODA trở thành nguồn
vốn từ bên ngoài quan trọng để đáp ứng nhu cầu vốn cho đầu tư pháttriển.
Thứ hai, ODA giúp cho việc tiếp thu những thành tựu khoa học, công nghệ hiện
đại và phát triển nguồn nhân lực. Một trong những yếu tố quan trọng góp phần đẩy
nhanh quá trình CNH, HĐH đất nước đó là yếu tố khoa học công nghệ và khả năng tiếp
thu những thành tựu khoa học tiên tiến của đội ngũ lao động. mà nước ta đang trong giai
đoạn phát triển và chưa có được những thành tựu khoa học công nghệ hiện đại.Thông qua
các dự án ODA các nhà tài trợ có những hoạt động nhằm giúp Việt Nam nâng cao trình
độ khoa học công nghệ và phát triển nguồn nhân lực.
Thứ ba, ODA giúp cho việc điều chỉnh cơ cấu kinh tế. Các dự án ODA mà các nhà
tài trợ dành cho Việt Nam thường ưu tiên vào phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế kỹ thuật,
phát triển nguồn nhân lực tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển cân đối giữa các
ngành, các vùng khác nhau trong cả nước. Bên cạnh đó còn có một số dự án giúp Việt
Nam thực hiện cải cách hành chính nâng cao hiệu quả hoạt động của các cơ quan quản lý
nhà nước. Tất cảnhững điều đó góp phần vào việc điều chỉnh cơ cấu kinh tế ở Việt Nam.
Thứ tư, ODA góp phần tăng khả năng thu hút FDI và tạo điều kiện để mở rộng
đầu tư phát triển. Các nhà đầu tư nước ngoài khi quyết định bỏ vốn đầu tư vào một nước,
trước hết họ quan tâm tới khả năng sinh lợi của vốn đầu tư tại nước đó. Do đó, một cơ sở
hạ tầng yếu kém như hệ thống giaothông chưa hoàn chỉnh, phương tiện thông tin liên lạc
thiếu thốn và lạc hậu, hệ thống cung cấp năng lượng không đủ cho nhu cầu sẽ làm nản
lòng các nhà đầu tư vì những phí tổn mà họ phải trả cho việc sử dụng các tiện nghi hạ
tầng sẽ lên cao.
1.2. ODA của các tổ chức tài chính quốc tế
1.2.1. Giới thiệu về các tổ chức tài chính quốc tế có quan hệ với Việt Nam
a) Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF – International Monetary Fund)
IMF là một tổ chức quốc tế giám sát hệ thống tài chính toàn cầu bằn theo dõi tỷ
giá hối đoái và cán cân thanh toán, cũng như hỗ trợ kĩ thuật và giúp đỡ tài chính khi có
yêu cầu. được chính thức thành lập năm 1945 với tôn chỉ thúc đẩy sự hợp tác tiền tệ quốc

tế, tăng cường ổn định ngoại hối, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, và cung cấp hỗ trợ tài
chính tạm thời cho các nước hội viên để giảm nhẹ mức độ mất cân bằng trong cán cân
thanh toán quốc tế. Tổng số hội viên của IMF cho tới nay là 188 nước. Các nước thành
viên có cổ phần lớn nhất trong IMF hiện nay là Mỹ, Nhật Bản, Đức, Anh và Pháp.
Ba chức năng chính của IMF gồm: Giám sát tình hình kinh tế tài chính toàn cầu
cũng như của các nước hội viên và tư vấn cho nước hội viên về chính sách kinh tế; Cung
cấp hỗ trợ tài chính ngắn và trung hạn cho các nước hội viên gặp phải những khó khăn
tạm thời về cán cân thanh toán và Trợ giúp kỹ thuật.
b) Ngân hàng thế giới (WB – World bank)
Ngân hàng Thế giới (WB) là một tổ chức tài chính quốc tế, nơi cung cấp những
khoản vay nhằm mục đích thúc đẩy kinh tế các nước đang phát triển thông qua các
chương trình vay vốn, ngân hàng thế giới tuyên bố mục tiêu chính của mình là giảm thiểu
đói nghèo. WB được thành lập vào năm 1944, trụ sở chính đặt tại Washington, D.C. WB
hiện có hơn 9000 nhân viên làm việc tại hơn 100 văn phòng đại diện trên toàn thế giới.
WB là một tổ chức quốc tế gồm có 5 cơ quan hoạt động tương đối độc lập với
nhau gồm:
- Hiệp hội Phát triển Quốc Tế (IDA)
- Ngân hàng Quốc tế về Tái Thiết và Phát triển (IBRD)
- Công ty Tài chính Quốc Tế (IFC)
- Cơ quan Bảo lãnh Đầu tư Đa biên (MIGA)
- Trung tâm Quốc tế về xử lý tranh chấp Đầu tư (ICSID).
Tuy nhiên, nói đến WB là nói đến hai tổ chức IBRD và IDA. Mỗi tổ chức đều có
vai trò riêng biệt trong cuộc đấu tranh xóa đói giảm nghèo và nâng cao mức sống của
người dân các nước đang phát triển.
World Bank là một trong các nguồn cung cấp ODA lớn nhất cho Việt Nam.
c) Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB)
Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB- The Asian Deverlopment Bank) là một thể
chế tài chính đa phương cung cấp các khoản tín dụng và hỗ trợ kỹ thuật nhằm giúp các
nước châu Á xóa đói giảm nghèo, phát triền kinh tế- xã hội. ADB được thành lập vào
năm 1966, có trụ sở chính tại Malina. Có 66 thành viên bao gồm 47 nước trong khu vực

và 19 nước ở các nơi khác trên khắp toàn cầu.
Chức năng của ADB là hỗ trợ sự tăng trưởng kinh tế bền vững và công bằng, phát
triển xã hội, quản lý kinh tế tốt.
1.2.2. Đặc điểm ODA của các tổ chức tài chính quốc tế (ODA đa phương)
ODA đa phương là nguồn vốn ODA của các tổ chức quốc tế cung cấp cho Chính
phủ nước tiếp nhận. So với vốn ODA song phương thì vốn ODA đa phương ít chịu ảnh
hưởng bởi các áp lực thương mại, nhưng đôi khi lại chịu những áp lực mạnh hơn về
chính trị. ODA đa phương do các tổ chức thuộc hệ thống Liên hợp quốc, Liên minh châu
Âu, các Tổ chức tài chính quốc tế như IMF, WB, ADB, Ngân hàng phát triển châu Phi,
Quỹ viện trợ của OPEC, Quỹ Cô oét và các Tổ chức phi chính phủ cung cấp. Gồm những
đặc điểm sau;
Một là: Được các tổ chức chính thức hoặc đại diện của các tổ chức chính thức
cung cấp. Tổ chức chính thức bao gồm các nhà nước mà đại diện là Chính phủ, các tổ
chức liên chính phủ hoặc liên quốc gia, và các tổ chức phi chính phủ hoạt động không vì
mục tiêu lợi nhuận
Hai là: Mục tiêu chính là giúp các nước đang phát triển (ĐPT) phát triển kinh tế,
nâng cao phúc lợi xã hội. Các lĩnh vực được ưu tiên sử dụng vốn ODA bao gồm: Xoá đói,
giảm nghèo, nông nghiệp và phát triển nông thôn; cơ sở hạ tầng kinh tế kỹ thuật như giao
thông vận tải, thông tin liên lạc, năng lượng; cơ sở hạ tầng xã hội như giáo dục, y tế, bảo
vệ môi trường; các vấn đề xã hội như tạo việc làm, phòng chống dịch bệnh, phòng chống
các tệ nạn xã hội; cải cách hành chính, tư pháp, tăng cường năng lực của cơ quan quản lý
nhà nước, cải cách thể chế…
Ba là: Thành tố hỗ trợ (Grant element - GE) phải đạt ít nhất 25%. Thành tố hỗ trợ,
còn được gọi là yếu tố không hoàn lại là một chỉ số biểu hiện tính “ưu đãi” của ODA so
với các khoản vay thương mại theo điều kiện thị trường. Thành tố hỗ trợ càng cao càng
thuận lợi cho nước tiếp nhận. Chỉ tiêu này được xác định dựa trên tổ hợp các yếu tố đầu
vào: Lãi suất, thời gian ân hạn, thời hạn cho vay, số lần trả nợ trong năm, và tỷ lệ chiết
khấu
Chương 2: Điều cần lưu ý đối với Việt Nam khi tiếp nhận vốn ưu đãi từ các tổ chức
tài chính quốc tế

2.1.Thực trạng huy động và sử dụng nguồn vốn ODA của các tổ chức tài chính quốc
tế tại Việt Nam
Năm 1993, Việt Nam bắt đầu bình thường hóa quan hệ với các tổ chức tài chính
quốc tế, nhiều chính phủ và tổ chức đã nối lại viện trợ ODA cho Việt Nam. Trong đó,
ngân hàng thế giới là cơ quan viện trợ đa phương lớn nhất.
Thực trạng huy động và sử dụng nguồn vốn ODA năm 2010.
2.1.1.Huy động
Trong khi thế giới bị ảnh hưởng nặng nề của cuộc khủng hoảng kinh tế, Việt Nam
đã tận dụng được cơ hội để vươn lên. Bằng chứng là nguồn vốn ODA đầu tư vào Việt
Nam đã đạt con số kỉ lục. Tính đến ngày 17/11/2009, tổng vốn viện trợ phát triển chính
thức đã ký kết đạt trên 5,4 tỷ USD, trong đó vốn vay đạt gần 5,23 tỷ USD; viện trợ không
hoàn lại đạt hơn 173 triệu USD. Các nhà tài trợ có giá trị hiệp định ODA đã ký lớn là
WB, Ngân hàng phát triển châu Á (ADB) và Nhật Bản. Tổng giá trị ODA dự kiến ký kết
cuối năm 2009 khoảng 449,5 triệu USD, trong đó vốn vay khoảng 356,5 triệu USD; viện
trợ không hoàn lại 93 triệu USD. Như vậy, tổng vốn ODA ký kết ước cả năm 2009 đã đạt
khoảng 5,85 tỷ USD, trong đó vốn vay là 5,585 tỷ USD; viện trợ không hoàn lại là 266
triệu USD. Đây là mức ký kết ODA cao nhất từ trước đến nay.
Điểm đáng chú ý là những nhà tài trợ lớn đều dành cho Việt Nam số vốn ODA ký
kết cao hơn so với cam kết trước đó. Thay đổi lớn nhất trong số này là số vốn ODA ký
kết của Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB). Thay cho cam kết gần 1,57 tỷ USD vốn
ODA trong năm 2009, ADB đã phê duyệt tổng cộng 2,15 tỷ USD vốn ODA cho Việt
Nam. Nhật Bản cũng đã ký kết tổng cộng trên 2,11 tỷ USD vốn viện trợ phát triển chính
thức cho Việt Nam, thay vì cam kết 0,9 tỷ USD mà Chính phủ nước này công bố sau khi
nối lại ODA vào tháng 2/2009.
Xét về cơ cấu vốn ODA ký kết, chiếm tỷ trọng cao nhất (chiếm 30,9%) là lĩnh vực
y tế, giáo dục và đào tạo, khoa học công nghệ với 1,67 tỷ USD vốn ODA ký kết. Tiếp đến
là lĩnh vực nông nghiệp, thủy lợi, lâm nghiệp, thủy sản kết hợp phát triển nông nghiệp và
nông thôn, xóa đói giảm nghèo với gần 1,37 tỷ USD (chiếm 24,7%). Sau đó là giao thông
vận tải với 899 triệu USD, chiếm tỷ trọng 16,7%; năng lượng với 818 triệu USD, chiếm
15,2%; cấp thoát nước và phát triển đô thị với gần 679 triệu USD, chiếm 12,6%.Những

chương trình, dự án có giá trị lớn được ký kết tập trung chủ yếu vào lĩnh vực giao thông,
cấp thoát nước và phát triển đô thị
Vốn ODA cung cấp từ ngân hàng thế giới cho Việt Nam từ năm 2005-2012
Năm 2005 2006 2007 2008 2009 2010 2011 2012
Vốn(tỷ USD) 2.940 3.732 2.552 2.511 1.844 1.913 1.846 1.772
Một số dự án có sự tài trợ của các tổ chức tài chính quốc tế
Đơn vị:triệu USD

STT TÊN DỰ ÁN NHÀ TÀI TRỢ SỐ VỐN
1 Khoản vay hỗ trợ khắc phục tác động khủng hoảng ADB và Hàn Quốc 500
2
Đường cao tốc thành phố Hồ Chí Minh - Long Thành - Dầu
Giây
ADB và Hàn Quốc 410.2
3 Phát triển toàn diện thành phố Thanh Hoá ADB và Hàn Quốc 104.7
4 Thoát nước thành phố Hà Nội giai đoạn 2 Nhật Bản 299.97
5 Cải thiện môi trường nước thành phố Hải Phòng Nhật Bản 218.21
6
Tín dụng ngành giao thông vận tải để nâng cấp mạng lưới
đường bộ giai đoạn 2
Nhật Bản 183.51
7 Xây dựng tuyến đường sắt đô thị thành phố Hà Nội Nhật Bản 150.43
8 Khoản tài trợ bổ sung cho Dự án năng lượng nông thôn II WB 200
9 Chương trình đảm bảo chất lượng trường học WB 127
10
Tài trợ chính sách phát triển lần thứ hai hỗ trợ chương trình
135 giai đoạn II
WB 100
11 Cung cấp nước sạch và thuỷ lợi tỉnh Bình Thuận Ý 19.74
12 Thoát nước và xử lý nước thải thành phố Cà Mau Ý 17.89

13
Chương trình tăng cường năng lực tổng thể ngành thanh tra
giai đoạn 2009 – 2014
Thuỵ Điển, Đan
Mạch, Hà Lan
11
14 Phát triển nông nghiệp miền Tây Nghệ An giai đoạn III Luxembourg 7.79
15
Chương trình hợp tác chung với Liên hợp quốc về bình đẳng
giới”
UNDP 4.6
16 TỔNG NGUỒN VỐN 2355.04

Kết quả giải ngân năm 2009 đã vượt dự kiến mức 1,9 tỷ USD (bao gồm 1,6 tỷ vốn
ODA và 300 triệu USD viện trợ không hoàn lại) theo kế hoạch đặt ra trước đó. Năm
2009, mức giải ngân ODA đã được cải thiện đáng kể đó là nhờ sự điều hành sát sao của
Chính phủ, nỗ lực to lớn của các ngành, các cấp và các nhà tài trợ trong việc đẩy nhanh
tiến độ thực hiện và giải ngân nguồn vốn ODA theo chủ trương kích cầu đầu tư của
Chính phủ. Cụ thể là: Chương trình vay giảm nghèo từ Ngân hàng Thế giới (WB) và tài
trợ không hoàn lại của một số nhà tài trợ khác, trị giá 350 triệu USD; Khoản vay khắc
phục hậu quả khủng hoảng kinh tế từ ADB, trị giá 500 triệu USD; Khoản vay kích thích
kinh tế và tín dụng hỗ trợ giảm nghèo lần thứ 8 trị giá 54,9 tỷ Yên (tương đương 609 triệu
USD) do Nhật Bản tài trợ…
2.1.2. Sử dụng nguồn vốn ODA
Công tác quản lý và thực hiện vốn ODA ở các Bộ, ngành và địa phương đã được
cải thiện thông qua việc ban hành các quy chế nội bộ về vận động, thu hút và sử dụng
vốn ODA tạo thuận lợi cho việc tinh giản quy trình, thủ tục và tăng cường sự phối hợp
giữa các sở, ngành hoặc đơn vị liên quan. Các cơ quan Việt Nam đã có sự phối hợp chặt
chẽ với các nhà tài trợ như WB, ADB… trong việc kiểm điểm tình hình thực hiện dự án,
đặc biệt giữa Tổ công tác ODA của Chính phủ và Nhóm 6 Ngân hàng phát triển.

Tổ công tác ODA của Chính phủ đã phát huy vai trò tích cực trong việc xử lý kịp
thời các vấn đề phát sinh trong quá trình chuẩn bị và thực hiện các chương trình và dự án
ODA, đặc biệt các kiến nghị, giải pháp đưa ra trong chuyến công tác các tỉnh khu vực
Đồng bằng sông Hồng gồm các tỉnh Thái Bình, Ninh Bình, Nam Định, Thanh Hoá.
=>Những tác động bất lợi
1. Các cơ quan chủ quản, các tỉnh này vẫn chưa phát huy được tính chủ động trong
việc đề xuất và lựa chọn những dự án ưu tiên sử dụng vốn ODA, bộc lộ những hạn chế về
năng lực chuyên môn và sự phối hợp kém hiệu quả giữa sở, ngành ở tất cả các khâu trong
chu trình ODA (xây dựng, thẩm định, tổ chức, quản lý và thực hiện dự án).
2.Một số dự án có chất lượng thiết kế thấp do việc thiết kế dựa vào ý tưởng của
nhà tài trợ và vai trò làm chủ chưa cao.
3.Năng lực nhà thầu, nhà tư vấn không đáp ứng được yêu cầu công việc. Ngoài ra,
đối với một số dự án tài trợ theo hình thức viện trợ có ràng buộc xảy ra tình trạng nhà
thầu là công ty của nước cung cấp viện trợ bị phá sản, do đó không thực hiện hợp đồng
đã ký. Điển hình là Dự án Mở rộng hệ thống cấp nước Mê Linh và Dự án Nâng cấp và
mở rộng hệ thống cấp nước TP. Cà Mau đều do Italia tài trợ. Nhà thầu chính thi công các
dự án này là Công ty Bebingg ApA(Italia) đã tuyên bố chính thức phá sản và không thể
hoàn thành dự án. Thực tế này đặt ra vấn đề cho các cơ quan quản lý Nhà nước về ODA,
cơ quan chủ quản và chủ dự án phải tính tình huống này khi đàm phán, thoả thuận với
nhà tài trợ khi ký kết hiệp định hoặc với nhà thầu khi ký hợp đồng.
4. Tác động của lạm phát trong các năm 2007, 2008 dẫn đến tình trạng thiếu hụt
vốn ODA và vốn đối ứng. Cơ chế bố trí vốn đối ứng giữa trung ương và địa phương chưa
phù hợp mặc dù trong bối cảnh ngân sách hạn hẹp, Chính phủ luôn đảm bảo cung cấp
đầy đủ và kịp thời vốn đối ứng cho các chương trình, dự án ODA

KẾ HOẠCH GIẢI NGÂN VỐN ODA NĂM 2010 THEO
MỘT SỐ BỘ, NGÀNH, ĐỊA PHƯƠNG


Tổng ODA

Trong đó
XDCB HCSN CVL HTNS
Tổng số 1.922,0 677,0 125,1 744,9 375,0
1.Bộ Giao thông vận tải 158,9 158,9
2.Bộ Công Thương và EVN 628,9 628,9
3.Ngân hàng Nhà nước 473,2 0,8 3,0 94,4 375,0
4.Bộ NN & PTNT 122,2 108,2 14,0
5.Bộ Giáo dục và Đào tạo 128,5 42,3 86,2
6.Bộ Y tế 41,3 19,4 21,9
7.Thành phố Hà Nội 141,7 141,7
8.Thành phố Hồ Chí Minh 227,3 205,7 21,6


Tổng giá trị ODA ký kết trong năm 2010 dự kiến khoảng 5.071 triệu USD. WB,
ADB và Nhật Bản tiếp tục là những nhà tài trợ lớn nhất của Việt Nam với giá trị chiếm
khoảng từ 70 -80 % tổng giá trị ODA ký kết. Những Hiệp định dự kiến ký kết có giá trị
lớn bao gồm: Dự án xây dựng nhà ga hành khách quốc tế T2 (Nhật Bản), Dự án xây dựng
đường cao tốc Đà Nẵng- Quảng Ngãi, Dự án xây dựng cơ sở hạ tầng Khu công nghệ cao
Láng - Hoà Lạc, Dự án xây dựng cầu Vàm Cống, dự án xây dựng đường nối từ cầu Nhật
Tân đi sân bay Nội Bài, Dự án giảm nghèo các tỉnh miền núi phía Bắc II.
2.1.3. Đánh giá, nhận xét
Những kết quả đạt được
1.Việc các nhà tài trợ đồng hành cùng với sự nghiệp Đổi mới của Việt Nam và
cam kết dành hỗ trợ ODA cho Việt Nam trong suốt 20 năm qua đã thể hiện sự đồng tình
và ủng hộ chính sách phát triển kinh tế - xã hội đúng đắn của Chính phủ đã góp phần tạo
niềm tin và khuyến khích các doanh nghiệp và nhà đầu tư tư nhân nước ngoài tăng cường
hoạt động thương mại và đầu tư ở Việt Nam.
2. Các khoản ODA của Việt Nam đã ký kết trong 2 năm qua (bình quân khoảng 3
tỷ USD/năm) đã được sử dụng có hiệu quả để hỗ trợ những nỗ lực của Việt Nam thực
hiện sự nghiệp đổi mới toàn diện đời sống kinh tế - xã hội của đất nước và đạt được

những thành tựu phát triển kinh tế và tiến bộ xã hội quan trọng. Nguồn vốn ODA đã góp
phần ổn định kinh tế vĩ mô, nhất là trong những năm đầu của thập kỷ 90 khi Việt Nam
đẩy mạnh cải cách như điều chỉnh cơ cấu kinh tế, đổi mới doanh nghiệp nhà nước, hỗ trợ
phát triển khu vực kinh tế tư nhân, cải cách ngân hàng, hệ thống tài chính quốc gia, hỗ trợ
ứng phó với những tác động tiêu cực của khủng hoảng và trì trệ của nền kinh tế toàn cầu
và những khó khăn nội tại của kinh tế Việt Nam trong những năm gần đây.
3. Vốn ODA đã hỗ trợ hiệu quả việc nghiên cứu và xây dựng chính sách phát triển,
phát triển hệ thống thể chế của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN thông qua việc
hỗ trợ xây dựng các luật và văn bản quy phạm pháp luật dưới luật
4. Nguồn vốn ODA đã góp phần quan trọng nhằm tăng cường năng lực, nâng cao
chất lượng cung cấp dịch vụ công cho xã hội của các ngành và lĩnh vực cơ sở hạ tầng
kinh tế - xã hội, phát triển chính sách, cải cách quản lý các ngành và lĩnh vực này đáp
ứng những yêu cầu chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng XHCN; phát triển
nông nghiệp; xóa đói giảm nghèo; cải thiện môi trường đô thị và nông thôn; giảm nhẹ
thiên tai và ứng phó với biến đổi khí hậu.
5. Các tỉnh, thành phố trực thuộc TW với những mức độ khác nhau đều nhận
được các khoản ODA góp phần phát triển nông nghiệp và nông thôn, kết hợp xóa đói
giảm nghèo; nâng cấp đô thị; cải cách hành chính công và nâng cao năng lực cán bộ địa
phương…
6. Vốn ODA hỗ trợ tăng cường năng lực con người thông qua các hoạt động đào
tạo trong và ngoài nước, chuyển giao công nghệ, cung cấp tri thức, chia sẻ kinh nghiệm
tiên tiến về quản lý kinh tế và xã hội; cải cách hành chính công ở các cấp từ Trung ương
đến địa phương.
Những hạn chế
1. Mặt hạn chế và yếu kém mang tính tổng hợp nhất trong quản lý và sử dụng vốn
ODA là năng lực hấp thụ nguồn vốn ODA quốc gia, cũng như ở cấp ngành và địa phương
chưa đáp ứng được yêu cầu. Có thể nhìn nhận thực trạng này thông qua tỷ lệ giải ngân
nguồn vốn ODA so với nguồn vốn ODA đã ký kết. Tính chung cả nước trong giai đoạn
1993 – 2011 tỷ lệ giải ngân vốn ODA chỉ đạt khoảng 63% vốn ODA ký kết.
Trong giai đoạn phát triển vừa qua, một số Bộ, ngành và địa phương chậm tiến độ

thực hiện các chương trình và dự án đã dẫn đến việc một số dự án bị cắt giảm, hủy hạng
mục và hoạt động, hoặc phải tái cấu trúc toàn bộ dự án.
Riêng trong giai đoạn 2006 – 2010 có khoảng 7 tỷ USD vốn ODA đã ký kết chưa
được giải ngân, trong đó có nhiều chương trình, dự án được hưởng các điều kiện tài chính
ưu đãi cao phải chuyển tiếp sang thời kỳ 2011 – 2015. Số vốn tồn đọng này cùng với các
khoản vốn ODA ký kết mới trong thời kỳ 2011 – 2015 sẽ tạo áp lực lớn đối với nhiệm vụ
giải ngân nguồn vốn này trong 5 năm 2011 – 2015.
2. Thiết kế của một số chương trình, dự án ODA chưa sát với thực tế Việt Nam nói
chung và của các địa phương nói riêng. Một số dự án ODA vốn vay và viện trợ không
hoàn lại đã thí điểm những mô hình phát triển như tín dụng qui mô nhỏ, quản lý và kinh
doanh nước sạch, phát triển sinh kế, bảo vệ và phát triển rừng… nhưng những mô hình
này chỉ hoạt động khi còn dự án mà không được nhân rộng và áp dụng trong thực tế sau
khi dự án kết thúc.
Trong cùng một lĩnh vực như xóa đói giảm nghèo, các nhà tài trợ cũng lại áp dụng
các mô hình khác nhau dẫn đến trùng lặp, kém hiệu quả và lãng phí nguồn lực của địa
phương cũng như của nhà tài trợ.
3. Việc lồng ghép các chương trình và dự án của Chính phủ trên địa bàn với các
chương trình và dự án ODA có những nội dung tương tự nhau như xóa đói giảm nghèo,
giao thông nông thôn, nước sạch nông thôn… đã gây ra trùng lặp, hạn chế hiệu quả. Thực
tế đã xảy ra trên cùng một địa bàn thôn, xã… có nhiều công trình cùng một lĩnh vực do
nhiều nguồn vốn tài trợ, song chính quyền địa phương không đủ năng lực quản lý và
thiếu nguồn tài chính nhằm duy trì hoạt động của các công trình này một cách có hiệu
quả để phục vụ người dân.
4. Trong quá trình thu hút, quản lý và sử dụng ODA, một số Bộ, ngành và địa
phương đã để xảy ra những vụ việc vi phạm các quy định quản lý ODA của Chính phủ và
của nhà tài trợ. Nhằm giải quyết vấn đề này, Chính phủ Việt Nam đã chỉ đạo kiên quyết
xử lý các sai phạm và được dư luận trong nước đồng tình và các nhà tài trợ đánh giá cao.
2.2.Điều cần lưu ý đối với Việt Nam khi tiếp nhận vốn ưu đãi từ các tổ chức tài
chính quốc tế
2.2.1. Cẩn trọng khi chấp nhận những điều kiện ràng buộc do tổ chức tài trợ đưa ra

Khi viện trợ, chính phủ các nước giàu đều gắn với những lợi ích và chiến lược như
mở rộng thị trường, mở rộng hợp tác có lợi cho họ, đảm bảo mục tiêu về an ninh - quốc
phòng hoặc theo đuổi mục tiêu chính trị Các tổ chức quốc tế cũng có mục tiêu chiến
lược của họ.Vì vậy, họ đều có chính sách riêng hướng vào một số lĩnh vực mà họ quan
tâm.
Các chính sách của các tổ chức tài chính quốc tế khi viện trợ thường hướng đến
mục tiêu kinh tế - xã hội nhằm giúp đỡ các nước đang phát triển, chậm phát triển. Tuy
nhiên, đôi khi các chính sách, các điều kiện ràng buộc này lại góp phần cản trở kinh tế
phát triển, gây ra những hậu quả khôn lường. Ví dụ như:
Trong thập niên 80, nhiệm vụ của IMF bao gồm quản lý các món nợ của các nước
đang phát triển và giúp các nước đang phát triển khi họ mới nhận biết về khủng hoảng tài
chính. Song các trợ giúp này phải chịu các điều kiện: Các nước phải chấp nhận các biện
pháp nghiệt ngã do IMF áp đặt. Sụt giảm lớn các chi tiêu công cộng, khắc khổ về tiền tệ,
hủy bỏ các doanh nghiệp, những quy định có thể làm suy yếu đất nước đã nghèo nàn do
nợ nần.
Vào những năm 1990, nước Malawi ở đông nam Châu Phi đã phải đối mặt với
các vấn đề kinh tế nghiêm trọng. Họ đã yêu cầu IMF giúp đỡ. Nếu IMF hành động đúng
vai trò chính thức thì họ đã cho vay và hướng dẫn quốc gia này phát triển. Tuy nhiên,
IMF nói họ sẽ chỉ trợ giúp nếu Malawi đồng ý tái cơ cấu kinh tế theo yêu cầu của IMF.
IMF yêu cầu Malawi bán hầu hết những sở hữu của nhà nước cho các công ty tư nhân và
các nhà đầu cơ, và cắt giảm chi tiêu cho dân chúng. IMF chỉ ưu tiên đưa tiền cho các
ngân hàng quốc tế hơn là đưa tiền cho người dân.
Vì vậy vào năm 2001, khi IMF phát hiện chính phủ Malawi dự trữ một số lượng
lớn ngũ cốc phòng trừ mất mùa. IMF ra lệnh họ phải bán cho các công ty tư nhân ngay
lập tức. Và yêu cầu Malawi sử dụng số tiền thu được để trả một khoản nợ từ một ngân
hang lớn, khoản nợ mà chính IMF khuyên chính phủ Malawi nên mượn với lãi suất lên
tới 56%/năm. Tổng thống Malawi phản đối và cho rằng nguy hiểm. Nhưng ông đã không
có sự lựa chọn nào khác. Ngũ cốc đã được bán ra. Các ngân hàng đã được trả tiền.

Năm sau, mùa màng thất bát. Chính phủ Malawi hầu như không có gì trong tay để

phân phát cho dân chúng. Dân chúng đang chết đói đã phải ăn đến vỏ cây, và bất kỳ con
chuột nào bắt được. Đài BBC mô tả sự kiện đó như là một nạn đói tệ nhất từ trước đến
giờ của Malawi, ít nhất một ngàn người dân vô tội bị chết đói.
Vào thời gian cao điểm của nạn đói, IMF đã đình chỉ một món viện trợ trị giá 47
triệu đô, vì chính phủ đã “chậm” trong việc thực hiện những “cải cách thị trường” mà bản
thân chúng đã dẫn đến cái tai họa đó. Nhóm ActionAid, một nhóm trợ giúp hàng đầu trên
đất Malawi, đã tiến hành khám nghiệm hậu chẩn về nạn đói. Họ kết luận rằng IMF phải
chịu trách nhiệm về cái tai họa đó.
Có thể thấy rằng, bên cạnh những lợi ích khi tiếp nhận vốn ưu đãi từ các tổ chức
tài chính quốc tế, Việt Nam cũng cần cẩn trọng và sáng suốt hơn trước khi quyết định về
sự hỗ trợ từ phía các tổ chức tài chính-chính trị như WB, IMF, và ADB.
2.2.2. Các dự án ODA tạo điều kiện cho tham nhũng lộng hành
Trong những năm qua khi tiếp nhận vốn từ các tổ chức tài chính quốc tế Việt Nam
đã có nỗ lực trong phòng chống tham nhũng nhưng hiệu quả chưa đạt được như mong
muốn. Tham nhũng là một vấn đề hết sức phức tạp, chiến lược chống tham nhũng của
chính quyền Việt Nam là rất chậm, việc thực thi cần có tiến triển đột phá lớn.
Khi tiếp nhận những nguồn vốn hỗ trợ phải có những chính sách vạch định
phướng hướng, kế hoạch phân bổ, vấn đề hay dự án nào cần được ưu tiên thực hiện trước
để đồng vốn được sử dụng hợp lí, hiệu quả như trong cuộc họp chống tham nhũng của
WB thì ưu tiên cho cuộc chiến chống đói nghèo trên phạm vi toàn cầu, nâng cao các tiêu
chuẩn trong các dự án cho vay xóa đói nghèo được đặt lên hàng đầu. Những tổ chức, cá
nhân được giao phó trách nhiệm, nghĩa vụ đối với việc sử dụng đồng vốn sao cho có
hiệu quả. Bên cạnh đó chúng ta phải nâng cao tính minh bạch vì nó là yếu tố quan trọng
để đấu tranh chống tham nhũng tốt hơn, cải thiện hiệu quả chất lượng các dự án phát triển
chú trọng chất lượng sử dụng nguồn vốn. Tăng cường công tác quản lí chặt chẽ , cải thiện
hệ thống giám sát chặt chẽ quá trình thực hiện các dự án để giảm thiểu thất thoát đồng
vốn, có thái độ nghiêm túc trong việc xử lí tham nhũng, nâng cao vai trò và tinh thần
trách nhiệm khi sử dụng đồng vốn.
Thông qua những quy định về mặt luật pháp theo hướng chiến lược chống tham
nhũng, tham gia vào công ước Liên hiệp quốc, đồng thời chính phủ, các cơ quan nhà

nước cần có những biện pháp có thể thực hiện được mang tính tích cực hơn cho vấn đề
này, kêu gọi cộng đồng quốc tế, những quốc gia cấp viên, những tổ chức phi chính phủ
khác cùng nhau chúng tay chống lại tham nhũng .
Tăng cường trách nhiệm và củng cố thể chế chính trị, thúc đẩy sự tham gia của thị
trường và xã hội công dân, cần đề cao quyền tự do ngôn luận, báo chí. Xây dựng các hạn
chế thể chế đối với quyền lực, tăng cường quản lý khu vực công, nhằm giải quyết tận gốc
các nguyên nhân gây tham nhũng.
Phải nhận thức đúng ngõ nghách bản chất của tham nhũng , phải có chiến lược và
thời gian từng bước đẩy lùi và gom nó lại ở một chỗ nhỏ nào đấy, xuất hiện âm mưu,
hành vi tham nhũng cần xử lí ngay.
Xây dựng các hệ thống dịch vụ công cộng có hiệu quả và minh bạch, chống hối lộ,
liêm chính trong kinh doanh, và sự tham gia tích cực của công chúng vào việc đấu tranh
chống tham nhũng, trang bị công cụ cho các nhân viên, các tổ chức xã hội dân sự và khu
vực tư nhân để đấu tranh chống lại gian lận và tham nhũng cũng như ngăn ngừa việc lạm
dụng các nguồn vốn. Cần ổn đinh về chính trị và những vấn đề quản lí.Đặc biệt trong nền
kinh tế khó khăn như hiện nay, nguồn vốn thiếu hụt thì cần cân nhắc, xem xét sử dụng
đồng vốn tiếp nhận từ các tổ chức tài chính quốc tế sao cho hiệu quả nhất, tránh thất
thoát, lãng phí nguồn lực và biến dạng sự phân phối.Không những giúp cho nước ta phát
triển, đời sống nhân dân được cải thiện mà còn tạo được sự tin tưởng và xây dựng được
mối quan hệ gắn kết với các tổ chức quốc tế.
2.2.3. ODA có thể khiến Việt Nam rơi vào cảnh nợ nần trở thành gánh nặng cho thế
hệ tương lai
ODA không phải "vốn trời cho"
Đừng vội cho rằng vốn ODA chảy vào Việt Nam là một ân huệ. Đó chính là nợ và
con cháu chúng ta sẽ phải trả trong tương lai
Chúng ta đã thấy trong lịch sử, người Nhật, người Hàn luôn cố gắng chắt chiu
từng đồng để có vốn phát triển kinh tế đi lên, còn chúng ta lại đang sử dụng đồng tiền đi
vay một cách thiếu cân nhắc.
Nếu nhìn vào hệ thống các công trình thuộc cơ sở hạ tầng kỹ thuật của nền kinh tế
như đường cao tốc, đường sắt, sân bay, cảng, cầu thì rõ ràng mặc dù cho tới nay hàng

chục tỷ USD vốn ODA đã được giải ngân nhưng Việt Nam vẫn hầu như chưa có được
những công trình lớn đạt tiêu chuẩn quốc tế.Nhiều công trình hạ tầng có sử dụng vốn
ODA nhưng được xây dựng với chất lượng quá kém. Do đó, câu hỏi tiếp theo là Việt
Nam sẽ lấy vốn ở đâu để vừa tiếp tục xây dựng mới, đồng thời vừa sửa chữa những công
trình hạ tầng có chất lượng kém đó, một khi không còn ODA nữa
Gánh nặng nợ nần đã có hơn 90 triệu người dân Việt Nam lo, do vậy yếu tố vay phải trả
đã bị xóa nhòa đi, họ không nghĩ là họ phải vay nên nếu có dự án thì họ sẽ có thành tích
với địa phương và nếu có tham nhũng thì tiền cũng sẽ vào túi họ, đều có lợi cả."
Việc sử dụng ODA lãng phí và thất thoát khiến cho đồng vốn đi vay giá cao nhưng
lại không phát huy được hiệu quả triệt để. Trái lại, cơ chế quản lí nhiều lỗ hổng, hậu quả
là gánh nặng tham nhũng còn đè thêm lên khiến đồng vốn trở nên đắt đỏ nặng nề, trách
nhiệm trả nợ của con cháu đi sau trở nên trầm trọng hơn, bức bối hơn.

Nghèo, thiếu tiền mà muốn “đổi vận” thì phải đi vay để đầu tư; nhưng đi vay rồi
về tiêu pha vung vãi thì hậu quả rất lớn. Nợ dồn nợ góp, không trả bây giờ thì mai sau
cũng phải trả. Đấy là điều tất yếu cuộc sống, điều mà nói ra thì thừa, bởi chắc chắn ai
cũng biết.

Dẫu biết vốn ODA không phải là vốn cho không,nhưng hiện tại chúng ta rất cần
vốn để xây dựng cơ sở hạ tầng, phát triển đất nước nên vẫn phải đi vay nhưng việc sử
dụng như thế nào chúng ta có thể chủ động được,cần phải sử dụng như thế nào cho hiệu
quả hợp lý.Đảm bảo có đủ khả năng trả nợ từ những lợi ích có được do ODA mang lại
chứ không phải vay mà không lo trả nợ, để nỗi lo ấy cho những thế hệ về sau.
2.2.4. Tốc độ giải ngân chậm
Năm 2013, Việt Nam giải ngân được hơn 5,1 tỷ USD vốn ODA và vốn vay ưu đãi,
tăng 23% so với năm trước. Ngân hàng Thế giới (WB) với 1,35 tỷ USD và ngân hàng
Phát triển châu á (ADB) với khoảng 1,3 tỷ USD.Dẫu vậy, tổng vốn ODA chưa giải ngân
ở Việt Nam vẫn còn rất lớn, lên tới gần 21 tỷ USD.
Dự án ODA vào Việt Nam nhiều như vậy, chúng ta không giải ngân kịp sẽ làm ảnh
hưởng tới nền kinh tế, mà trước mắt là những khoản nợ quốc gia. Vì thế, điều quan trọng

là phải cân nhắc, xem xét các dự án ODA nào thật sự cần thì mới cho đầu tư chứ không
nên nhận viện trợ tràn lan như hiện nay".
Bộ Kế hoạch và Đầu tư thừa nhận việc quản lý và sử dụng vốn ODA vẫn còn
nhiều hạn chế như:báo cáo khả thi không đạt chất lượng, nhiều dự án gặp vướng mắc
giải phóng mặt bằng, thiếu vốn đối ứng khiến tiến độ thực hiện chậm, năng lực nhà thầu,
ban quản lý dự án còn hạn chế Theo Bộ này thì đây là những nguyên nhân chính làm
ảnh hưởng đến tiến độ giải ngân nguồn vốn ODA.
Nhóm 5 ngân hàng phát triển bao gồm Ngân hàng Thế giới, Ngân hàng phát triển
Châu Á, Cơ quan Phát triển Pháp, Ngân hàng tái thiết Đức và Ngân hàng hợp tác phát
triển Nhật Bản - những nhà tài trợ chiếm đến 80% nguồn vốn ODA tài trợ cho Việt Nam
cho rằng, sẽ gặp khó khăn trong việc đưa ra các cam kết viện trợ mới khi mà tiến độ giải
ngân rất chậm so với cam kết.
Mới đây, một nghiên cứu của Tổ công tác ODA của Chính phủ cũng chỉ rõ việc
giải ngân ODA chậm đang phát sinh một vòng "luẩn quẩn". Khi các dự án ODA chậm trễ,
mức độ giải ngân thấp hơn. Điều này khiến nảy sinh hai vấn đề, thứ nhất là vốn đầu tư
cho phát triển giảm xuống, không đạt như dự kiến; thứ hai khi nguồn vốn hiện tại không
được sử dụng đúng cam kết các nhà tài trợ sẽ cam kết thấp hơn cho những kỳ tiếp theo.
Cả hai yếu tố này tất yếu sẽ khiến tốc độ tăng trưởng không đạt kế hoạch và có thể bị
giảm sút.
Nhưng nguyên nhân không chỉ ở phía Việt Nam. Quyền giám đốc Ngân hàng Thế
giới tại Việt Nam, ông Martin Rama cũng công nhận, giải ngân của Việt Nam còn chậm
vì hệ thống giải ngân của Chính phủ Việt Nam và các nhà tài trợ khác nhau.
Mặt khác, có ý kiến cho là trong thời gian qua, việc cơ cấu lại các ban quản lý dự
án (như PMU18) có ảnh hưởng đến tốc độ giải ngân nguồn vốn. Tuy nhiên, tốc độ giải
ngân không đồng đều, có nơi rất nhanh, nhưng cũng có nơi bị chậm.
Một điều đáng lưu ý là trong khi số vốn cam kết tiếp tục tăng lên thì tốc độ và tỷ lệ
giải ngân lại có xu hướng đi xuống. Tổ công tác ODA Chính phủ cho biết, tỷ lệ giải ngân
dự án của 5 ngân hàng phát triển đã giảm từ năm 2004. Trong đó, 3 nhà tài trợ lớn nhất là
ADB, JIBIC và WB vẫn còn thấp hơn tỷ lệ bình quân khu vực. Cụ thể, tỷ lệ giải ngân
WB ở Việt Nam là 12,5% so với mức 20% trong khu vực.

Bên cạnh đó, hầu hết các dự án ODA ở Việt Nam đều khởi động rất chậm, nhiều
dự án được yêu cầu gia hạn… khiến cho dự án ODA hiệu quả sụt giảm do tăng giá đầu
vào, tăng chi phí đầu tư và quản lý.
Có nhiều khuyến cáo đã được đưa ra nhưng một tính toán sau đây đủ cho thấy
những thiệt hại từ việc chậm giải ngân và nhưng lợi ích có được khi tốc độ giải ngân
được tăng lên. Theo tổ công tác ODA của Chính phủ, chỉ cần tăng 1% giải ngân của
nhóm 5 ngân hàng phát triển là sẽ có thêm 500 triệu USD vốn đầu tư cho giai đoạn 2006
- 2010, mỗi năm có thêm 100 triệu USD cho các dự án phát triển, nhất là các dự án xoá
đói giảm nghèo.
Trong khi đó, nghiên cứu của WB cho thấy, một dự án đầu tư với nguồn vốn 100
triệu USD đưa vào cơ sở hạ tầng sẽ có 210 ngàn người được đưa ra khỏi danh sách người
nghèo. Nếu tăng giải ngân từ 10 - 20% có thể đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng thêm 0,3%
trong vòng 5 năm.
Như thế cùng đủ thấy, việc chậm trễ các dự án ODA có hậu quả ra sao và việc tăng
tốc độ giải ngân có ý nghĩa thế nào đối với sự phát triển. Chính vì vậy cũng dễ hiểu sự
nóng ruột của các nhà tài trợ.
Vì vậy, Việt Nam cần chú trọng giải quyết tồn đọng trong vấn đề giải ngân
2.2.5. Tác động của yếu tố tỷ giá hối đoái có thể làm cho giá trị vốn ODA phải hoàn lại
tăng lên.
Việc tiếp nhận vốn ODA cũng như thực hiện một khoản vay (khoản vay ưu đãi )
nước ngoài.Do đó yếu tố tỷ giá hối đoái là yếu tố cần được quan tâm.Có thể ở thời điểm
trả nợ, giá trị khoản vốn ODA có giá trị tăng lên gấp nhiều lần so với giá trị của nó ở hiện
tại.Nếu không có sự tính toán, dự báo trước thì khả năng trả được cả nợ gốc lãi là rất
kém.Nó có thể gây là tình trạng khủng hoảng nợ, gánh nặng nợ nần ngày càng tăng, ảnh
hưởng đến sự phát triển của đất nước khi mà làm ra được bao nhiêu phải lo trả nợ bấy
nhiêu.Điều này còn để lại gánh nặng nợ nần cho các thế hệ sau.
Chương 3: Giải pháp nâng cao khả năng quản lý và sử dụng ODA ở Việt Nam
3.1. Hoàn thiện môi trường pháp lý và cơ chế chính sách
Kể từ năm 1993 đến nay, Chính phủ đã không ngừng hoàn thiện khung pháp lý
cho việc quản lý và sử dụng nguồn vốn ODA. Song vẫn còn tồn tại những vấn đề như

thiếu một số hướng dẫn thực thi các văn bản cụ thể, hoặc chưa có những nghị định phù
hợp về quản lý tài chính, hoặc còn những khác biệt giữa quy định của Chính phủ với quy
định của nhà tài trợ… Do đó, trong thời gian tới Chính phủ cần: xúc tiến rà soát lại hệ
thống các văn bản pháp quy có liên quan đến quản lý vốn ODA nhằm bổ sung những quy
phạm mới mà thực tế đòi hỏi, đồng thời chỉnh sửa những bất cập trong các văn bản đã
ban hành.
Chính phủ cần tiếp tục làm hài hòa thủ tục tiếp nhận và thực hiện chương trình, dự
án ODA giữa Việt Nam và các nhà tài trợ thông qua việc hài hòa về khuôn khổ thể chế,
pháp lý và tổ chức hội nghị liên quan đến việc quản lý, sử dụng ODA để xác định và tháo
gỡ những vấn đề vướng mắc trong quá trình tổ chức, thực hiện chương trình dự án.
Để khuôn khổ pháp lý về ODA có tính ổn định cao và có khả năng điều chỉnh tốt
đối với hoạt động quản lý và sử dụng ODA cần quán triệt một số những yêu cầu sau:
Thứ nhất, phải thiết lập được chế tài đủ mạnh để nâng cao trách nhiệm của người
ra quyết định đầu tư.
• Người quyết định đầu tư sai, gây lãng phí, thất thoát phải bị xử lý ở các mức độ
khác nhau tùy theo mức độ sai phạm, có thể xử phạt hành chính, có thể bị cách
chức hoặc miễn nhiệm;
• Chủ đầu tư phải chịu trách nhiệm toàn diện về hiệu quả, chất lượng dự án, chấm
dứt tình trạng giao cho người không đủ điều kiện năng lực chuyên môn nghiệp vụ
thực hiện quản lý dự án;
• Sắp xếp lại các ban quản lý dự án theo đúng tiêu chí và tiêu chuẩn phù hợp; Chủ
đầu tư phải có trách nhiệm kiểm tra, giám sát thường xuyên các ban quản lý dự án,
phát hiện kịp thời những vấn đề phát sinh và đề xuất các biện pháp xử lý.
Thứ hai, phân định rõ trách nhiệm giữa các cơ quan hữu trách trong việc ra quyết
định quản lý vốn ODA nên lựa chọn một cơ quan chịu trách nhiệm hoàn toàn từ khâu
chuẩn bị dự án đến khâu thực hiện, vận hành và khai thác dự án.
• Nên thành lập tổ chức liên ngành làm nhiệm vụ tổng hợp, phân tích thông tin,
đánh giá tình hình trong mối quan hệ với các chỉ tiêu vĩ mô như: dư nợ quốc gia,
dư nợ chính phủ, tốc độ tăng sản phẩm trong nước, kim nghạch xuất nhập khẩu,
cán cân thanh toán, bội chi ngân sách nhà nước.

• Tập trung công tác quản lý và sử dụng vốn ODA vào một đầu mối theo hướng
hình thành một cơ quan quản lý nợ công, trong đó chủ yếu là ODA.
• Cần khắc phục tình trạng yếu kém trong công tác điều phối và chia sẻ thông tin
giữa các bộ, cũng như giữa Trung ương và địa phương để có những biện pháp xử
lí phù hợp.
3.2. Hoàn thiện cơ chế và mô hình quản lý phù hợp ; quản lý chặt chẽ các dự án
chống thất thoát lãng phí
Một là, tạo lập một cơ chế quản lý sao cho ban quản lý dự án phải chịu trách
nhiệm toàn diện về dự án từ khâu chuẩn bị cho tới khâu thực hiện, nghiệm thu và vận
hành dự án. Xác định rõ ràng tính pháp lý của ban quản lý dự án theo hướng đảm bảo
tính chuyên nghiệp, tăng cường tính minh bạch, chống khép kín và tự chịu trách nhiệm.
Hai là, chủ đầu tư với tư cách là người đại diện pháp nhân của Nhà nước trong
việc sử dụng nguồn vốn, phải chịu trách nhiệm cụ thể trước Nhà nước về công trình của
mình cả về tiến độ cũng như chất lượng. Đồng thời quy định rõ trách nhiệm của người
đứng đầu ra quyết định. Từ đó buộc chủ đầu tư phải phải lựa chọn ban quản lý dự án thực
sự có chất lượng phù hợp với yêu cầu của công việc, tránh tình trạng khép kín trong quản
lý đầu tư xây dựng cơ bản.
Ba là, xây dựng quy chế làm việc của ban quản lý dự án một cách chặt chẽ, có
chính sách đãi ngộ, có kinh phí hoạt động rõ ràng, minh bạch. Đồng thời, có chế độ
thưởng, phạt nghiêm minh: khi công trình không bị thất thoát, đạt yêu cầu chất lượng,
đúng tiến độ thì chủ đầu tư có chế độ khen thưởng. Ngược lại, qua thanh tra, kiểm tra,
nếu công chức hoặc cán bộ ban quản lý dự án có sai phạm thì xử lý kỷ luật nghiêm khắc,
trong đó người lãnh đạo cũng phải chịu trách nhiệm liên đới.
3.3. Chuẩn bị cẩn thận , chi tiết các khâu chuẩn bị dự án để đảm bảo thuận lợi trong
quá trình thực hiện các dự án
Để đảm bảo tiến độ thực hiện cũng như đảm bảo hiệu quả kinh tế – xã hội của dự
án thì công tác quy hoạch chuẩn bị dự án trong thời gian tới cần được chú trọng hơn,
trong đó cần nhấn mạnh hơn tới các khía cạnh sau:
Thứ nhất, phân bổ ngân sách chưa phù hợp cũng là một trong những cản trở công
tác chuẩn bi dự án ở giai đoạn đầu. Do đó, cần chuẩn bị đủ ngân sách để đảm bảo hiệu

quả của khâu công tác này.
Thứ hai, phải có phương án giải quyết vấn đề liên quan tới dự án ngay trong giai
đoạn đầu chuẩn bị dự án.
Thứ ba , cần có sự phối hợp chặt chẽ hơn nữa với các nhà tài trợ trong khâu chuẩn
bị dự án.
3.4. Đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ quản lý và nghiệp vụ chuyên môn cho đội
ngũ cán bộ làm việc trong các dự án
Để có thể sử dụng hiệu quả nguồn vốn viện trợ phát triển tại Việt Nam, một nhân
tố quan trọng thứ yếu đó là trình độ nhân lực trong nhiều lĩnh vực liên quan như kiến
trúc, kỹ sư, quản lý, vận hành…Vì vậy cần lưu tâm đặc biệt đến công tác đào tạo nguồn
nhân lực cho các dự án đầu tư ODA. Đề cử chuyên gia trong các lĩnh vực nghiên cứu mũi
nhọn như công nghệ thông tin, quản lý môi trường , nghiên cứu các loại giống cây trồng
trong lĩnh vực nông nghiệp và nâng cao hiệu quả quản lý trong nhiều ngành kinh tế.
Tổ chức các khóa đào tạo cho các cán bộ Việt Nam nhằm phục vụ cho công tác
chuyên môn, đóng góp cho sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam
Đào tạo trong nước các trường đại học và đào tạo nước ngoài theo các chương
trình hợp tác quốc tế, các chuyên gia quốc tế có trình độ chuyên môn cao để có thể tiếp
thu, ứng dụng công nghệ cao, tiên tiến một cách hiệu quả;
Đào tạo đội ngũ công nhân lành nghề, đào tạo các nhà quản lý giỏi.
Có chính sách phủ hợp để giải quyết mối liên quan giữa đào tạo, sử dụng và đãi
ngộ, giữa đào tạo và đào tạo nâng cao.
Có chính sách thu hút đội ngũ cán bộ, quản lý có trình độ, tránh tình trạng chảy
máu chất xám sau khi được đào tạo ở nước ngoài.

×