Tải bản đầy đủ (.doc) (40 trang)

giáo trinh luật dân sự p2

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (263.73 KB, 40 trang )

Tài liệu hướng dẫn học tập- Luật Dân Sự 2
Phần Mở Đầu
Trong chương trình đào tạo cử nhân Luật của trường đại học Cần thơ, dân sự là
một mảng nội dung khá lớn, cung cấp nguồn kiến thức thực tiễn, sát với cuộc sống
hàng ngày như môn Dân sự 1, Dân sự 2, Luật hợp đồng thông dụng, môn pháp luật về
thừa kế, luật trách nhiệm dân sự, Trong đó, môn Dân sự 2 là môn học rất cần thiết
cho sinh viên. Môn học này giới thiệu về nghĩa vụ của các bên chủ thể khi tham gia
vào quan hệ pháp luật, đồng thời hướng dẫn sinh viên nghiên cứu về các giao dịch dân
sự, sự kiện pháp lý theo quy định của luật, kết hợp so sánh với thực tế. Đây là môn căn
bản, nền tảng trong chương trình đào tạo cử nhân. Cùng với quá trình đổi mới của Bộ
luật dân sự 2005, môn luật Dân sự 2 đã cố gắng hướng dẫn sinh viên nắm bắt những
vấn đề thật cần thiết trong đời sống xã hội cũng như làm rõ hơn những quy định của
luật Dân sự Việt nam 2005 về các vấn đề cơ bản nhất.

Nhằm giúp sinh viên Luật nói chung và sinh viên được đào tạo từ xa học tập
cũng như nghiên cứu về các quy định pháp lý của luật Việt nam, quyển tài liệu hướng
dẫn được viết trên cơ sở của Giáo trình Dân sự (tập 1- quyển2) của Ts.Nguyễn Ngọc
Điện, đồng thời kết hợp với Bộ luật Dân sự 2005 và một số văn bản quy định có liên
quan về vấn đề Nghĩa vụ pháp lý trong luật dân sự Việt nam. Hy vọng rằng với tài liệu
hướng dẫn này sẽ đáp ứng một cách tốt hơn nhu cầu về học tập và nghiên cứu luật dân
sự Việt nam trong chương trình đào tạo từ xa cho sinh viên luật.
Tác giả biên soạn
Biên soạn: Nguyễn Thị Ngọc Tuyền
1
Tài liệu hướng dẫn học tập- Luật Dân Sự 2
Giới thiệu khái quát
Mục tiêu môn học:
Môn Luật Dân sự 2 cung cấp những kiến thức cơ bản về nghĩa vụ theo quy định
của Luật Dân sự Việt nam 2005 cùng với các quy định khác của luật. Là môn học nền
tảng cung cấp những kiến thức cần thiết cho sinh viên để nghiên cứu các học phần
chuyên ngành tiếp theo như: Bảo đảm nghĩa vụ, Luật kinh tế (hợp đồng), Thừa kế…


Đồng thời, môn học còn phục vụ cho việc nghiên cứu các đề tài nghiên cứu khoa học
cho sinh viên.
Yêu cầu môn học:
Với mục tiêu trên, trong môn Dân sự 2 khi học tập sinh viên cần nắm vững một
số khái niệm: nghĩa vụ, giao dịch dân sự, sự kiện pháp lý, hành vi dân sự pháp lý đơn
phương… Đây là môn học giới thiệu tổng thể các trường hợp làm phát sinh nghĩa vụ
của một hoặc hai bên trong đời sống xã hội. Cho nên phần cốt lõi của học phần chính
là sinh viên cần nắm vững những kiến thức cơ bản nhất những quy định về hợp đồng
dân sự, quyền và nghĩa vụ của các bên khi tham gia giao dịch đó, cũng như quyền và
nghĩa vụ của chủ thể nhưng theo luật (Thực hiện công việc không có ủy quyền, được
lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật…)
Ngoài những kiến thức căn bản đó, môn học đòi hỏi sinh viên phải biết xem xét
các quy định của pháp luật theo đúng ý chí của các nhà làm luật, phải liên hệ với thực
tế, so sánh, đối chiếu những gì đã học với thực tiễn. Vì vậy môn học này không những
giúp các bạn sinh viên học kiến thức về luật đơn thuần mà chúng ta có thể nghiên cứu
sâu hơn, hỗ trợ cho việc thực hiện các đề tài nghiên cứu khoa học.
Kết cấu môn học:
Bài 1: Tổng quan về nghĩa vụ
Bài 2: Các căn cứ xác lập nghĩa vụ
Phần 1: Giao dịch dân sự
Mục 1: Hợp đồng
Biên soạn: Nguyễn Thị Ngọc Tuyền
2
Tài liệu hướng dẫn học tập- Luật Dân Sự 2
Mục 2: Hành vi dân sự đơn phương
Phần 2: Sự kiện pháp lý
Mục 1: Được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật
Mục 2: Thực hiện công việc không có ủy quyền
Mục 3: Nghĩa vụ do luật tạo ra trong một số trường hợp đặc thù
Bài 3: Chế độ chung về nghĩa vụ

Phần 1: Thực hiện nghĩa vụ
Mục 1: Các nguyên tắc chung về thực hiện nghĩa vụ
Mục 2: Bắt buộc thực hiện nghĩa vụ
Phần 2: Lưu thông nghĩa vụ
Mục 1: Thay đổi người có quyền yêu cầu
Mục 2: Thay đổi người có nghĩa vụ
Phần 3: Chấm dứt nghĩa vụ
Mục 1: Các trường hợp đặc biệt
Mục 2: Các trường hợp chấm dứt theo quy định của luật
Biên soạn: Nguyễn Thị Ngọc Tuyền
3
Tài liệu hướng dẫn học tập- Luật Dân Sự 2
Nội Dung
Bài 1:
TỔNG QUAN VỀ NGHĨA VỤ
******
1. Khái niệm
* Ðịnh nghĩa. Theo BLDS Ðiều 280, nghĩa vụ dân sự là việc mà theo quy định của
pháp luật, thì một hoặc nhiều chủ thể (gọi là người có nghĩa vụ) phải chuyển giao vật,
chuyển giao quyền, trả tiền hoặc giấy tờ có giá, thực hiện công việc khác hoặc không
được thực hiện công việc nhất định vì lợi ích của một hoặc nhiều chủ thể khác (gọi là
người có quyền).
Như vậy, nếu so với điều 285, BLDS 1995 thì các bạn thấy có sự khác nhau không? Và
nếu có thì khác nhau như thế nào? Điều luật nào cụ thể hơn?Tại sao?
* Quan hệ nghĩa vụ
Quan hệ nghĩa vụ gồm có ba yếu tố: Chủ thể có (người có quyền), chủ thể nợ
(người có nghĩa vụ) và đối tượng của nghĩa vụ (nội dung sự đáp ứng của chủ thể nợ
đối với chủ thể có)
Ví dụ: Trong hợp đồng mua bán giữa A và B
A Bán tài sản B

Vậy, trong đó; A, B vừa là chủ thể có; A, B vừa là chủ thể nợ
A có nghĩa vụ giao tài sản
A có quyền nhận tiền
B có nghĩa vụ giao tiền
B có quyền nhận tài sản
Nghĩa vụ có tính pháp lý và nghĩa vụ không có tính pháp lý. Gọi là có tính
pháp lý, một nghĩa vụ được xác lập trên cơ sở pháp luật. Nghĩa vụ pháp lý, trước hết,
có đối tượng do luật định nghĩa, gọi là đối tượng pháp lý: trả một số tiền, giữ lòng
chung thủy trong quan hệ vợ chồng, Các nghĩa vụ không có tính pháp lý không có
Biên soạn: Nguyễn Thị Ngọc Tuyền
4
Tài liệu hướng dẫn học tập- Luật Dân Sự 2
đối tượng pháp lý: mỗi người đều có nghĩa vụ giúp đỡ người nghèo, nhưng luật không
định nghĩa đối tượng của nghĩa vụ giúp đỡ đó.
Nghĩa vụ dân sự và nghĩa vụ tự nhiên. Cả nghĩa vụ dân sự và nghĩa vụ tự
nhiên đều là nghĩa vụ có tính pháp lý. Nhưng nghĩa vụ dân sự còn có tính bắt buộc,
nghĩa là nếu không được thực hiện một cách tự giác, thì có thể được cưỡng chế để thực
hiện; nghĩa vụ tự nhiên chỉ được bảo đảm thực hiện bằng sự động viên của Nhà nước
đối với ý thức tự giác của người có nghĩa vụ.
2. Phân loại nghĩa vụ
Nghĩa vụ có thể được phân loại theo nhiều cách. Nếu dựa vào đặc điểm của đối
tượng, ta còn có nghĩa vụ làm hoặc không làm một việc và nghĩa vụ chuyển giao một
quyền (chủ yếu là chuyển giao quyền sở hữu), như đã nói ở trên. Dưới đây là một vài
cách phân loại thông dụng khác.
- Nghĩa vụ trong hợp đồng và nghĩa vụ ngoài hợp đồng.
- Nghĩa vụ theo luật và nghĩa vụ theo ý chí.
- Nghĩa vụ phương tiện và nghĩa vụ kết quả.
Bài 2
CÁC CĂN CỨ XÁC LẬP NGHĨA VỤ
Phần 1: GIAO DỊCH DÂN SỰ

Mục 1. Hợp đồng
I. Khái niệm hợp đồng
1. Định nghĩa( Điều 388 BLDS 2005 )
Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi, chấm dứt quyền
và nghĩa vụ dân sự.
Theo định nghĩa Điều 388,BLDS2005, hãy cho biết:
Tất cả hợp đồng đều là căn cứ phát sinh nghĩa vụ. Đúng/Sai?tại sao?
Tất cả sự thỏa thuận đều là hợp đồng. Đúng/Sai?Tại sao?
Biên soạn: Nguyễn Thị Ngọc Tuyền
5
Tài liệu hướng dẫn học tập- Luật Dân Sự 2
Sự gặp gỡ của ý chí và hiệu lực tương đối của hợp đồng. Hợp đồng làm phát
sinh nghĩa vụ theo một cơ chế chung: các bên giao kết thống nhất ý chí về việc ràng
buộc lẫn nhau trong một quan hệ đặc trưng bằng thái độ xử sự của một bên nhằm đáp
ứng yêu cầu của bên kia. Hợp đồng chỉ phát sinh hiệu lực ràng buộc đối với các bên
giao kết và không tạo ra bất kỳ một nghĩa vụ nào đối với người thứ ba.
Nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng. Hợp đồng trong luật Việt Nam làm phát sinh
các nghĩa vụ pháp lý dân sự, tức là nghĩa vụ được bảo đảm thực hiện bằng sự cưỡng
chế của bộ máy Nhà nước, chứ không phải là nghĩa vụ tự nhiên, đạo đức hay nghĩa vụ
của lòng nhân ái, của tâm hồn cao thượng.
2. Phân loại
- Hợp đồng song vụ và hợp đồng đơn vụ.
- Hợp đồng có đền bù và hợp đồng không có đền bù.
- Hợp đồng ưng thuận, hợp đồng trọng thức và hợp đồng thực tại.
- Hợp đồng thương lượng, hợp đồng theo mẫu.
- Hợp đồng cá nhân và hợp đồng tập thể.
……
II. Giao kết hợp đồng
A. Năng lực giao kết
Năng lực pháp luật và năng lực hành vi. Luật hiện hành nói rằng các giao

dịch dân sự phải do người có năng lực hành vi xác lập, thì mới có giá trị (BLDS Ðiều
122 khoản 1).
Năng lực hành vi dân sự của cá nhân phụ thuộc vào các yếu tố nào?Người không
có năng lực hành vi, người mất năng lực hành vi, người bị hạn chế năng lực hành vi
theo quy định của pháp luật họ có quyền giao kết hợp đồng không? Vì sao?
B. Sự ưng thuận của bên giao kết
1. Vai trò của ý chí
Tính độc lập của ý chí. Học thuyết về tính độc lập của ý chí được thiết lập
trong triết học luật. Tư tưởng chủ đạo là: ý chí của con người là luật; con người chỉ bị
ràng buộc vào một nghĩa vụ bởi ý chí của mình, một cách trực tiếp trong quan hệ hợp
đồng (ý chí đặc thù) hoặc một cách gián tiếp một khi nghĩa vụ do luật áp đặt (ý chí
chung được suy đoán). Cũng vì ý chí tạo ra nghĩa vụ mà hợp đồng phải được tự do
Biên soạn: Nguyễn Thị Ngọc Tuyền
6
Tài liệu hướng dẫn học tập- Luật Dân Sự 2
giao kết. Cá nhân có quyền tự do quyết định giao kết hoặc không giao kết hợp đồng;
có quyền tự do quyết định hình thức và nội dung của hợp đồng.
Tính độc lập của ý chí thể hiện trong nội dung của hợp đồng. Chủ thể của
quan hệ pháp luật có quyền tự do giao kết hoặc không giao kết hợp đồng. Quy tắc này
được thừa nhận tại BLDS Ðiều 389 khoản 1. Một trong những nội dung của sự tự do
giao kết là sự tự do xác định nội dung của hợp đồng: các bên có quyền thỏa thuận về
loại hình, đối tượng, điều kiện giao dịch, thời gian, địa điểm giao dịch, trách nhiệm
của mỗi bên, Khi một hợp đồng có điều khoản không rõ ràng, thì không chỉ dựa vào
ngôn từ của hợp đồng mà còn phải căn cứ vào ý chí chung của các bên để giải thích
điều khoản đó (Ðiều 409 khoản 1).
Tính độc lập của ý chí thể hiện trong hình thức của hợp đồng. Trên nguyên
tắc, sự ưng thuận, chứ không phải hình thức, là điều kiện chủ yếu để hợp đồng có giá
trị. Một khi cần ràng buộc sự giao kết hợp đồng vào những điều kiện nào đó về hình
thức, luật phải có những quy định cụ thể.
Vai trò của ý chí thể hiện trong việc giao kết hợp đồng mang tính tương đối?Tại sao?

2. Sự bày tỏ ý chí
- Bày tỏ ý chí rõ ràng. Gọi là được bày tỏ một cách rõ ràng ý chí được bộc lộ cho
người khác. Việc bộc lộ ý chí có thể được thực hiện bằng lời nói hoặc bằng chữ viết.
Cũng có trường hợp ý chí được bộc lộ bằng những cử chỉ mà ý nghĩa được xác định
trước bằng các quy ước xã hội
Ví dụ: leo lên xe buýt ở một trạm dừng là hình thức bộc lộ mong muốn giao kết
hợp đồng vận chuyển; lấy một món hàng bày trên kệ hàng của một siêu thị và đi đến
quầy tính tiền là hình thức bộc lộ mong muốn giao kết hợp đồng mua bán).
- Bày tỏ ý chí mặc nhiên. Ý chí coi như được bày tỏ một cách mặc nhiên trong trường
hợp người bày tỏ ý chí không bộc lộ ý chí một cách rõ ràng mà chỉ có một thái độ cho
thấy mong muốn của mình. Thái độ đó không phải là sự tuyên bố ý chí cho người khác
biết mà chỉ là sự biểu hiện của ý chí đó.
Ví dụ: sau khi nhận được giấy uỷ quyền, người được uỷ quyền thực hiện các
công việc được giao theo hợp đồng uỷ quyền mà không tuyên bố rõ việc chấp nhận
của mình đối với sự uỷ quyền đó.
Khi só sự im lặng tức là thể hiện sự chấp nhận giao kết hợp đồng. Đúng/Sai?Tại sao?
Biên soạn: Nguyễn Thị Ngọc Tuyền
7
Tài liệu hướng dẫn học tập- Luật Dân Sự 2
3. Sự ưng thuận không hoàn hảo
3.1. Sự nhầm lẫn
a. Khái niệm (Điều 131 BLDS 2005)
b. Điều kiện xác lập tình trạng nhầm lẫn
Giao kết hợp đồng do nhầm lẫn. Người giao kết chỉ có thể phản ứng với tư
cách người bị nhầm lẫn, một khi chính sự nhầm lẫn đó đã có ảnh hưởng quyết định đối
với sự ưng thuận của mình. “Khi một bên do nhầm lẫn mà xác lập giao dịch ”.
Ví dụ: Một người muốn trang trí phòng khách của mình bằng một bức tranh
nào đó thuộc trường phái ấn tượng; được giới thiệu rằng bức tranh muốn mua là của
họa sĩ ấn tượng X, người này chấp nhận mua; ít lâu sau, có người phát hiện rằng bức
tranh đó là của họa sĩ ấn tượng Y; người mua không thể yêu cầu tuyên bố hợp đồng

mua bán vô hiệu, bởi sự nhầm lẫn không ảnh hưởng đến ý chí của người này lúc giao
kết hợp đồng: người này quan tâm đến việc tìm kiếm một bức tranh ấn tượng, không
phải chỉ quan tâm riêng đến tranh ấn tượng của họa sĩ X.
Bằng chứng của sự nhầm lẫn. Một cách hợp lý, người cho rằng mình đã nhầm
lẫn phải chứng minh sự nhầm lẫn đó. Việc chứng minh có thể được thực hiện bằng bất
kỳ phương tiện nào được thừa nhận trong luật chung về chứng cứ (văn bản, lời khai,
lời thú nhận, người làm chứng, đối chất, ). Người nhầm lẫn phải chứng minh không
chỉ việc nhầm lẫn mà còn cả tính chất quyết định của sự nhầm lẫn đối với sự ưng
thuận của mình trong việc giao kết hợp đồng.
c. Hệ quả của sự nhầm lẫn
Theo quy định của luật, bên bị nhầm lẫn được quyền yêu cầu bên kia thực hiện
sử đổi nội dung theo đúng ý chi mà các bên giao kết; nếu bên được đề nghị không thực
hiện thì bên bị nhầm lẫn được quyền yêu cầu tòa án tuyên bố giao dich dân sự vô hiệu.
Cũng có trường hợp cả hai bên đều nhầm, nhưng việc sửa đối nội dung hợp đồng cũng
không khả thi.
Ví dụ, A tặng cho B một tài sản vì lầm tưởng rằng B đã cứu mạng mình; thực
ra, B cũng đã có cứu mạng một người khác và khi nhận quà tặng của A, nhầm tưởng
rằng A chính là người khác đó. Nếu mọi việc sau này trở nên rõ ràng đối với cả hai,
thì, suy cho cùng, chẳng có bên nào có lợi ích để sửa đổi nội dung hợp đồng.
Vô hiệu do nhầm lẫn. Người có quyền yêu cầu tuyên bố vô hiệu phải là người
nhầm lẫn. Thời hiệu khởi kiện là 2 năm kể từ ngày xác lập giao dịch (BLDS Điều 136
khoản 1).
Biên soạn: Nguyễn Thị Ngọc Tuyền
8
Tài liệu hướng dẫn học tập- Luật Dân Sự 2
Việc nhầm lẫn phải xảy ra trước/trong/sau khi giao kết hợp đồng?Tại sao?
3.2. Sự lừa dối
a. Khái niệm
Ðịnh nghĩa. Theo BLDS Ðiều 132 BLDS 2005
b. Ðiều kiện của sự lừa dối

- Người lừa dối không nhất thiết phải là bên kết ước. Lừa dối là hành vi cố ý của
một bên hoặc của người thứ ba Luật Việt Nam đã xây dựng khái niệm lừa dối của
người thứ ba.
- Người kết ước không trung thực. Việc lừa dối của người kết ước được ghi nhận,
một khi người này có hành vi lừa dối chủ động (cung cấp thông tin sai sự thật, sử dụng
tài liệu giả, nói dối)
- Ý định lừa dối. Người lừa dối phải thực hiện hành vi lừa dối một cách cố ý, nghĩa là
thực hiện hành vi lừa dối một cách có ý thức với mong muốn có được sự chấp nhận
giao kết hợp đồng của người bị lừa dối
- Sự lừa dối phải có tác dụng quyết định đối với sự ưng thuận.
c. Hệ quả của sự lừa dối
Vô hiệu do lừa dối. Sự lừa dối chịu những biện pháp chế tài khá nghiêm khắc
trong luật Việt Nam: người bị lừa dối có quyền yêu cầu tuyên bố hợp đồng vô hiệu
(Ðiều 132), có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại (Ðiều 137 khoản 2); tài sản giao
dịch, hoa lợi, lợi tức của người lừa dối bị tịch thu sung quỹ Nhà nước theo quy định
của pháp luật (Ðiều 137 khoản 2). Nếu hành vi lừa dối cấu thành tội phạm, thì người
lừa dối có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
3.3. Sự đe dọa
a. Khái niệm
Theo BLDS Ðiều 132 BLDS 2005, đe dọa trong giao dịch dân sự là hành vi cố
ý của một bên hoặc người thứ ba nhằm làm cho bên kia sợ hãi mà phải thực hiện giao
dịch dân sự nhằm tránh thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, danh dự, uy tín, nhân phẩm,
tài sản của mình hoặc của người thân thích. Luật dùng từ “thực hiện”, nhưng ta có thể
nghĩ đến việc “xác lập”: một giao dịch xác lập không phải dưới sự đe dọa không thể bị
tuyên bố vô hiệu vì lý do người xác lập bị đe dọa phải thực hiện.
Biên soạn: Nguyễn Thị Ngọc Tuyền
9
Tài liệu hướng dẫn học tập- Luật Dân Sự 2
Ví dụ: một hợp đồng mua bán tài sản được giao kết một cách tự nguyện; người
mua trì hoãn việc trả tiền; người bán dọa sẽ giết người mua, nếu người sau này không

trả tiền; người bán sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội đe dọa giết người, nhưng
người mua không thể xin tuyên bố hợp đồng mua bán vô hiệu vì lý do có sự đe dọa của
người bán nhằm đốc thúc người mua thực hiện nghĩa vụ trả tiền. Người mua cũng
không thể xin miễn thực hiện nghĩa vụ trả tiền do đã bị đe doạ (một cách không chính
đáng)
b. Ðiều kiện của sự đe dọa
Người đe doạ. Luật nói rằng “Ðe dọa là hành vi cố ý của một bên hoặc người
thứ ba”(điểm khác so với BLDS 1995).Ta có thể thấy rằng đe dọa có thể là hành vi của
bất kỳ người nào, không nhất thiết là hành vi của người kết ước với người bị đe dọa.
Phải chấp nhận giải pháp vừa nêu, nếu không người bị đe dọa sẽ không được bảo vệ,
một khi sự đe dọa xuất phát từ một người thứ ba mà không phải là người kết ước.
Ví dụ: người chồng vay nợ, Ngân hàng yêu cầu có người bảo lãnh; người
chồng buộc người vợ đứng ra bảo lãnh cho mình, người vợ không muốn nhưng không
dám phản đối, do bị đe dọa; hợp đồng bảo lãnh được giao kết giữa người vợ và Ngân
hàng trong đó, người bảo lãnh đã giao kết dưới sự bảo lãnh mà người bảo lãnh không
biết. Người bảo lãnh trong ví dụ đó phải có quyền yêu cầu tuyên bố hợp đồng vô hiệu.
Tính chất của sự đe doạ. Sự đe dọa phải có tác dụng quyết định đối với sự ưng
thuận (miễn cưỡng) của người bị đe dọa, nghĩa là người bị đe dọa chấp nhận giao kết
chỉ vì bị đe dọa.
Người bị đe doạ. Hành vi đe dọa có thể được thực hiện đối với chính người
giao kết hoặc đối với những người thân thích của người này. “Thân thích” hàm nghĩa
rằng giữa những người có liên quan có mối quan hệ gia đình: hôn nhân, thân thuộc do
huyết thống, quan hệ nuôi dưỡng.
Ðối tượng của hành vi đe doạ có thể là con người (đe doạ dùng vũ lực để gây
thương tích, đe doạ công bố các thông tin về đời tư,…) hoặc tài sản (đe doạ đốt nhà,
huỷ hoại cây cối, mùa màng,…).
c. Hệ quả của sự đe dọa.
Xem điều 132 BLDS 2005
Thời hiệu yêu cầu tuyên bố hợp đồng vô hiệu do có sự đe doạ cũng là 2 năm từ ngày
xác lập giao dịch (BLDS Điều 136 khoản 1).

Biên soạn: Nguyễn Thị Ngọc Tuyền
10
Tài liệu hướng dẫn học tập- Luật Dân Sự 2
Nếu một người nói rằng việc giao kết hợp đồng vì đảm bảo an toàn tính mạng của anh
trai mình. Như vậy giao dịch đó có được xem là bị đe dọa hay không?Tại sao?
4. Trao đổi ý chí
4.1. Ðề nghị giao kết hợp đồng
a. Khái niệm.
Ðề nghị giao kết hợp đồng là sự bày tỏ ý chí của một người về việc mong muốn giao
kết hợp đồng với một người khác trên một đối tượng và trong những điều kiện đã được
người đề nghị xác định rõ. Ðề nghị có thể được gửi đến một người đối tác xác định
hoặc không xác định (đề nghị với công chúng).
Đề nghị giao kết hợp đồng khác với đề nghị thương lượng như thế nào?nêu ví dụ.
b. Hình thức đề nghị (Điều 124 BLDS 2005) tuơng tự như hình thức của hợp đồng
dân sự.
c. Các điều kiện của đề nghị giao kết hợp đồng.
Ðề nghị giao kết hợp đồng sẽ trở thành hợp đồng một khi người được đề nghị chấp
nhận giao kết theo các điều kiện được đưa ra trong đề nghị đó.
*Ðề nghị giao kết hợp đồng phải chắc chắn.
* Ðề nghị giao kết hợp đồng phải rõ ràng và đầy đủ
d. Hiệu lực:
- Thời điểm đề nghị giao kết hợp đồng có hiệu lực ( Điều 391 BLDS 2005)
+ Ghi rõ trong lời đề nghị
+ Nếu không ghi rõ, thì hiệu lực phát sinh khi bên được đề nghị nhận được
lời đề nghị đó.
- Thay đổi, rút lại lời đề nghị giao kết hợp đồng.(Điều 392 BLDS 2005)
- Hủy bỏ đề nghị giao kết hợp đồng. (Điều 393 BLDS 2005)
4.2. Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng
a. Khái niệm. Điều 396 BLDS 2005
Sự im lặng. Sự im lặng cũng được coi là chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng,

khi hết thời hạn trả lời mà bên nhận đề nghị vẫn im lặng, nếu có thỏa thuận im lặng là
sự trả lời chấp thuận ( diễn dịch BLDS Ðiều 404 khoản 2). Cần lưu ý câu chữ của luật:
“nếu có thỏa thuận ”.
Biên soạn: Nguyễn Thị Ngọc Tuyền
11
Tài liệu hướng dẫn học tập- Luật Dân Sự 2
Chấp nhận không điều kiện. Việc chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng phải
không kèm theo một điều kiện nào do người được đề nghị đưa ra. Trong trường hợp
ngược lại, ta có một đề nghị mới về phía người được đề nghị. Đề nghị mới trước hết
mang ý nghĩa của một lời từ chối đối với đề nghị cũ và, do đó, theo BLDS Điều 394
khoản 1, có tác dụng làm mất hiệu lực của đề nghị cũ (trong trường hợp đề nghị cũ
chưa hết thời hạn hiệu lực do người đề nghị cũ ấn định).
Chấp nhận tự nguyện. Việc chấp nhận đề nghị phải hoàn toàn tự nguyện.
Chấp nhận toàn bộ và chấp nhận một phần. Trên nguyên tắc, đề nghị giao kết hợp
đồng phải được chấp nhận toàn bộ. Nếu người được đề nghị chỉ chấp nhận một phần
đề nghị, thì sự chấp nhận đó có giá trị như một lời đề nghị khác.
b. Hệ quả của việc chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng (Ðiều 397 khoản 1)
****Diễn đạt và trao đổi ý chí một cách gián tiếp: đại diện
1. Khái niệm: Điều 139 khoản 1 BLDS 2005
2. Ðiều kiện của việc đại diện.
Ðể hợp đồng được giao kết một cách có giá trị thông qua vai trò của người đại
diện, thì người này phải có quyền đại diện và phải bày tỏ ý chí giao kết với tư cách
người đại diện.
Quyền đại diện. Quyền đại diện có thể do luật xác định, như trong hầu hết
trường hợp đại diện theo luật: quyền của người giám hộ đại diện cho người được giám
hộ; quyền của cha, mẹ đại diện cho con chưa thành niên. Có khi quyền đại diện do luật
thiết lập nhưng nội dung quyền này lại do tòa án xác định, như trường hợp quyền của
người đại diện cho người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự. Quyền đại diện theo ủy
quyền phải phát sinh từ một hợp đồng ủy quyền được giao kết phù hợp với pháp luật.
Phạm vi đại diện ( Điều 144, 245, 146 BLDS 2005)

Ý chí đại diện. Người đại diện phải bày tỏ ý chí về việc giao kết hợp đồng với
tư cách người đại diện, nghĩa là người bày tỏ ý chí thay cho một người khác và dưới
danh nghĩa của người sau này. Không làm việc đó, người bày tỏ ý chí được coi như
giao kết dưới danh nghĩa của chính mình.
3. Hiệu lực của việc đại diện
- Nếu việc thực hiện của người đại diện trong phạm vi đại diện: ràng buộc nghĩa vụ
đối với người được đại diện.
- Nếu việc thực hiện của người đại diện ngoài phạm vi đại diện: không ràng buộc
nghĩa vụ đối với người được đại diện(trừ 1số trường hợp)
Biên soạn: Nguyễn Thị Ngọc Tuyền
12
Tài liệu hướng dẫn học tập- Luật Dân Sự 2
Người đại diện vượt quá phạm vi đại diện trong việc ký kết hợp đồng, như vậy giao
dịch đó có giá trị hay không?tại sao?
5. Sự trung thực trong giao kết hợp đồng
5.1 Khái niệm: Điều 129 BLDS 2005
Hợp đồng giả tạo là sự thỏa thuận của các bên giao kết về việc che giấu ý chí
thực của các bên bằng một hợp đồng được giao kết nhưng không được thực hiện.
- Hợp đồng khống
- Hợp đồng che giấu
- Hợp đồng giấu mặt
5.2 Hiệu lực: Giao dịch giả tạo sẽ bị vô hiệu, còn giao dịch che giấu vẫn có giá trị
III - Ðối tượng của hợp đồng
Khái niệm. Ðối tượng của hợp đồng là nội dung của nghĩa vụ phát sinh từ hợp
đồng hay, đúng hơn, là sự đáp ứng của người giao kết đối với người cùng giao kết
trong khuôn khổ thực hiện hợp đồng.
1. Chuyển giao một quyền
Ðối tượng của quyền có thể là một vật hữu hình (nhà, xe, ) hoặc một vật vô hình
(quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp, ) hoặc một số tiền.
a. Vật

Dù hữu hình hay vô hình, vật phải tồn tại, định giá được bằng tiền, lưu thông được,
xác định được (BLDS Ðiều 181).
* Vật phải tồn tại. Ví dụ: hợp đồng chế biến sản phẩm theo đơn đặt hàng, hợp đồng
sáng tác, hợp đồng mua bán mùa màng chưa thu hoạch,
* Vật phải lưu thông được. Có những vật bị cấm lưu thông một cách tuyệt đối trong
luật Việt Nam: đất đai, tài sản công, con người; có những vật chỉ được lưu thông trong
những trường hợp được luật dự liệu: mua bán chất ma túy như dược liệu giữa các cơ
sở có thẩm quyền về y dược
* Vật phải được xác định. Ví dụ: bán 2000 tấn gạo Nàng Hương loại I; tivi hiệu X
đời Y.
Tuy nhiên, vật không nhất thiết được xác định rõ ở thời điểm giao kết hợp đồng. Các
bên có thể thoả thuận như thế nào để vật xác định được ở thời điểm thực hiện nghĩa
vụ. Ví dụ, bán tất cả trái chín vào ngày X tại vườn Y.
* Vật phải thuộc về người chuyển giao.
Biên soạn: Nguyễn Thị Ngọc Tuyền
13
Tài liệu hướng dẫn học tập- Luật Dân Sự 2
b. Số tiền
Khái niệm. Số tiền, được ấn định như là đối tượng của nghĩa vụ trả tiền, còn
được gọi, trong ngôn ngữ thông dụng, là giá trị của hợp đồng.
Ấn định số tiền. Giá trị của hợp đồng phải được xác định hoặc xác định được.
2. Làm hoặc không làm một việc
Khái niệm. Công việc phải làm hoặc việc không làm một việc phải là điều có
thể thực hiện được mà pháp luật không cấm và không trái với đạo đức xã hội.
3. Chế tài
- Trường hợp đối tượng của hợp đồng không hợp pháp, hợp đồng vô hiệu.(Điều
128 BLDS 2005)
- Trường hợp đối tượng của hợp đồng không thể thực hiện được. Điều 411
BLDS 2005
III. Sự trung thực trong giao kết

Hợp đồng giả tạo. Hợp đồng giả tạo là sự thỏa thuận của các bên giao kết về
việc che giấu ý chí thực của các bên bằng một hợp đồng được giao kết nhưng không
được thực hiện. Có ba loại hợp đồng giả tạo:
- Hợp đồng khống: đơn giản, là hợp đồng không bao giờ được thực hiện, không phải
để che giấu một hợp đồng khác, mà nhằm phục vụ cho một ý đồ không được bộc lộ
của các bên giao kết.
Ví dụ: để đối phó với yêu cầu kê biên của các chủ nợ, một người mắc nợ bán
phần lớn tài sản của mình cho một người bạn và người mua không trả tiền cũng không
bao giờ tự coi mình là chủ sở hữu các tài sản ấy.
- Hợp đồng che giấu: là hợp đồng được giao kết nhằm che giấu một hợp đồng khác
cũng được giao kết cùng một lúc.
Ví dụ: giao kết việc mua bán để che giấu việc tặng cho; người mua vẫn nhận
tài sản, nhưng không trả tiền mua hoặc chỉ trả một số tiền tượng trưng hoàn toàn
không tương xứng với giá trị của tài sản mua.
- Hợp đồng giấu mặt: là loại hợp đồng được giao kết thông qua vai trò của người khác.
Ví dụ: một công chức cao cấp mua một doanh nghiệp tư nhân, nhưng người giao kết
hợp đồng với tư cách người mua là anh ruột của công chức đó; người mua chỉ là một
con rối, bởi việc mua bán do người bán và công chức đó thảo luận và quyết định.
Ðộng cơ giao kết hợp đồng giả tạo có thể hợp pháp (như trong trường hợp tặng cho
được che giấu thành mua bán để tránh kích động lòng ganh tị giữa những người thân
Biên soạn: Nguyễn Thị Ngọc Tuyền
14
Tài liệu hướng dẫn học tập- Luật Dân Sự 2
thuộc), có thể không hợp pháp (như trong trường hợp giao kết hợp đồng mua bán chỉ
để tẩu tán tài sản).
Giá trị của hợp đồng giả tạo. Theo Ðiều 129 BLDS, khi các bên xác lập giao
dịch dân sự một cách giả tạo nhằm che giấu một giao dịch khác, thì giao dịch giả tạo
vô hiệu, còn giao dịch bị che giấu vẫn có giá trị, trừ trường hợp giao dịch đó cũng vô
hiệu theo quy định của BLDS.
IV. Hình thức của hợp đồng

1.Khái niệm
- Hình thức giao kết hợp đồng là sự bộc lộ ý chí của các bên giao kết được ghi nhận
theo một cách nào đó. Trên nguyên tắc, các bên được tự do lựa chọn cách bộc lộ ý chí
của mình. Theo BLDS Điều 401 khoản 1, hợp đồng dân sự có thể được giao kết bằng
lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể, khi pháp luật không quy định đối với
loại hợp đồng đó phải được giao kết bằng một hình thức nhất định. Xem thêm điều
134, 122 BLDS 2005
2. Một số quy định đặc biệt
2.1 Về hình thức
Hợp đồng trọng thức. Gọi là trọng thức một hợp đồng chỉ có thể có giá trị một
khi được lập theo một hình thức nhất định (thông thường là hình thức viết, tức là dùng
ngôn ngữ viết để mô tả nội dung thoả thuận).
Hợp đồng thực tại. Một số hợp đồng, như đã biết, được giao kết bằng cách
chuyển giao vật mà các bên quan tâm. Việc chuyển giao đó cũng được coi như một
điều kiện về hình thức của hợp đồng: không có hình thức đó, sự thoả thuận đơn thuần
giữa hai bên không có hiệu lực ràng buộc. Ví dụ điển hình của loại hợp đồng thực tại
là hợp đồng cho mượn tài sản: nếu chỉ có thoả thuận về việc cho mượn mà không có
việc chuyển giao tài sản từ người cho mượn sang người mượn, thì hợp đồng chưa hình
thành.
2.2 Về thủ tục
- Đăng ký. Đối với một số tài sản có giá trị cao, Nhà nước tổ chức hệ thống đăng ký
để đặt cơ sở cho việc xác định lại lịch của người có quyền, đặc biệt là quyền sở hữu.
- Xin phép cơ quan có thẩm quyền. Có trường hợp do tính chất quan trọng của tài
sản giao dịch hoặc của bản thân giao dịch đối với kinh tế quốc dân hoặc đối với trật tự
công cộng, người làm luật đặt các giao dịch ấy dưới sự giám sát chặt chẽ của Nhà
nước thông qua một hệ thống các quy tắc về kiểm tra, xem xét và cho phép của cơquan
Biên soạn: Nguyễn Thị Ngọc Tuyền
15
Tài liệu hướng dẫn học tập- Luật Dân Sự 2
Nhà nước có thẩm quyền. Ví dụ điển hình là các hợp đồng chuyển nhượng quyền sử

dụng đất trong luật Việt Nam hiện hành.
3. Chế tài
- Hình thức là điều kiện để hợp đồng phát sinh hiệu lực. Điều 134 BLDS 2005
- Hình thức là điều kiện chứng minh sự tồn tại của hợp đồng. Điều 528 BLDS 2005
- Hình thức là điều kiện công bố hợp đồng …
V. Hợp đồng vô hiệu
1. Khái niệm
Hợp đồng vô hiệu là hợp đồng bị thủ tiêu về mặt pháp lý, xem như chưa bao giờ được
xác lập, không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên từ thời điểm xác lập
(BLDS Điều 137 khoản 1). Xem thêm điều 127 BLDS 2005
2.Các trường hợp khác của hợp đồng không có hiệu lực.
Hợp đồng có thể không có hiệu lực trong những trường hợp đặc thù khác, dù
không bị tuyên bố vô hiệu.
- Hợp đồng bị huỷ bỏ. Hợp đồng bị huỷ bỏ là hợp đồng có giá trị ở thời điểm giao
kết, nhưng trở nên mất hiệu lực do có một sự kiện xảy ra sau đó. Ví dụ điển hình là
hợp đồng được giao kết với điều kiện huỷ bỏ.
- Hợp đồng mất hiệu lực. Hợp đồng mất hiệu lực là hợp đồng được giao kết một cách
hữu hiệu, nhưng trong lúc đang được thực hiện thì lại mất một yếu tố cơ bản và do đó
không thể được thực hiện đến cùng hoặc thậm chí hoàn toàn không thể thực hiện được.
- Hợp đồng vô hiệu cục bộ. Gọi là vô hiệu cục bộ, hợp đồng vô hiệu đối với người
này, nhưng vẫn có giá trị đối với người khác. Ví dụ điển hình là hợp đồng cầm cố có
đối tượng là một tài sản thuộc loại phải đăng ký quyền sở hữu: không đăng ký, hợp
đồng cầm cố không có giá trị đối với người thứ ba, nhưng vẫn có giá trị đối với hai
bên giao kết.
Phân biệt hợp đồng vô hiệu, hợp đồng bị mất hiệu lực, hợp đồng bị hủy bỏ? Chú ý vào
các đặc điểm của từng dạng hợp đồng.
3. Quyền khởi kiện
* Người có quyền khởi kiện.
Việc xác định người có quyền khởi kiện được thực hiện tuỳ theo sự vô hiệu của
hợp đồng mang tính chất tương đối hay tuyệt đối.

Biên soạn: Nguyễn Thị Ngọc Tuyền
16
Tài liệu hướng dẫn học tập- Luật Dân Sự 2
Vô hiệu tương đối. Nếu sự vô hiệu chỉ mang tính chất tương đối, thì quyền yêu
cầu vô hiệu hoá hợp đồng chỉ được thừa nhận cho người nào có lợi ích được bảo vệ
một cách trực tiếp bằng biện pháp đó. Trong một số trường hợp, người làm luật chỉ
định rõ người có quyền kiện: đại diện của người chưa thành niên hoặc người mất năng
lực hành vi (BLDS Điều 130); người bị nhầm lẫn, lừa dối hoặc đe doạ (Điều 131 và
132);…
Vô hiệu tuyệt đối. Nếu sự vô hiệu là tuyệt đối, thì bất kỳ người nào cũng có
quyền kiện yêu cầu vô hiệu hoá hợp đồng. Ví dụ: Điều 129 BLDS 2005, là những
trường hợp sẽ dẫn đến vô hiệu tuyệt đối.
4. Hệ quả của việc tuyên bố hợp đồng vô hiệu
- Hợp đồng vô hiệu không tồn tại. Theo BLDS Ðiều 137, giao dịch dân sự vô hiệu
không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên từ thời điểm xác lập. Các bên
giao kết hợp đồng vô hiệu trở lại tình trạng như trước khi hợp đồng được giao kết: hợp
đồng coi như không tồn tại.
- Nghĩa vụ giao trả tài sản. Nếu hợp đồng vô hiệu đã được thực hiện và đã có tài sản
được chuyển giao, một phần hoặc toàn bộ, thì các bên có nghĩa vụ hoàn trả tài sản cho
nhau (Ðiều 137 khoản 2) (ví dụ: người mua trả lại tài sản mua, còn người bán trả lại số
tiền mua). Nếu không hoàn trả được bằng hiện vật, thì phải hoàn trả bằng tiền (cùng
điều luật).
- Quyền lợi của người thứ ba. Điều 138 BLDS 2005
VI. Hiệu lực của hợp đồng
1. Giải thích hợp đồng
Áp dụng lý thuyết về tính độc lập của ý chí. Ðiều 409 BLDS 2005
2. Hiệu lực bắt buộc của hợp đồng .
Hợp đồng phải được thực hiện đúng và đầy đủ Một khi được giao kết đúng
luật và phát sinh hiệu lực, hợp đồng phải được thực hiện theo các nguyên tắc được ghi
nhận tại Ðiều 412 BLDS 2005

3. Hợp đồng dưới mắt người thứ ba
a. Hiệu lực tương đối của hợp đồng
Người có quyền và lợi ích liên quan: Nhắc lại rằng việc thực hiện hợp đồng không
được xâm phạm đến lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền, lợi ích hợp pháp
của người khác (BLDS Ðiều 412 khoản 3).
b. Ngoại lệ đối với nguyên tắc về hiệu lực tương đối của hợp đồng
Biên soạn: Nguyễn Thị Ngọc Tuyền
17
Tài liệu hướng dẫn học tập- Luật Dân Sự 2
Hợp đồng vì lợi ích của người thứ ba: Ðây là hợp đồng mà các bên giao kết đều
phải thực hiện nghĩa vụ và người thứ ba được hưởng lợi ích từ việc thực hiện nghĩa vụ
đó (BLDS Ðiều 406 khoản 5). Ðây cũng có thể là hợp đồng mà chỉ có một bên có
nghĩa vụ (hợp đồng đơn vụ), nhưng người hưởng lợi ích từ việc thực hiện nghĩa vụ đó
là người thứ ba chứ không phải người giao kết. Ví dụ: giao kết hợp đồng bảo hiểm
nhân mạng với điều kiện khi người được bảo hiểm chết, thì tiền bồi thường bảo hiểm
được giao cho một người còn sống được chỉ định rõ…
4. Hiệu lực của hợp đồng trong thời gian
Nguyên tắc không mang tính mệnh lệnh. Theo BLDS Ðiều 405, hợp đồng có
hiệu lực kể từ thời điểm giao kết, trừ trường hợp có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy
định khác.
5. Hợp đồng có điều kiện
Ðiều kiện hủy bỏ và điều kiện treo: Theo Ðiều 294 BLDS. Dù là điều kiện treo
hay điều kiện huỷ bỏ, việc áp đặt điều kiện chỉ tỏ ra hợp lý một khi nội dung của điều
kiện, tức là sự kiện được dự kiến sẽ phát sinh, phải là chuyện của tương lai, không
chắc chắn, không tuỳ thuộc vào ý chí của bên có nghĩa vụ và nhất là không được trái
pháp luật.
Mục 2. Hành vi dân sự đơn phương
1. Khái niệm
Là sự bày tỏ ý chí của chủ thể quan hệ pháp luật, trong đó 1 chủ thể đáp ứng
yêu cầu của 1 chủ thể khác, và như vậy nghĩa vụ phát sinh khi được ghi nhận dưới 1

hình thức nhất định, chỉ được thực hiện khi cam kết được chấp nhận. Có thể xem đó
như là một cam kết đơn phương. Ví dụ: Con chó của A đi lạc, A đăng thông báo tìm
lại con chó và sẽ hậu tạ cho ai tìm được.
2. Các trường hợp tổng quát
- Người thụ hưởng cam kết không nhận cam kết Cam kết không có người thụ
hưởng. Ví dụ như B tìm lại được con cho của A, nhưng B từ chối không nhận thưởng.
- Người thị hưởng cam kết chấp nhận cam kết ( tương tự như quan hệ hợp đồng)
- Người thụ hưởng cam kết chấp nhận cam kết trong điều kiện cam kết đã bị rút lại. Ví
dụ: A rút lại lời hứa thưởng, B không biết, B đã tìm được chó của A.
Biên soạn: Nguyễn Thị Ngọc Tuyền
18
Tài liệu hướng dẫn học tập- Luật Dân Sự 2
3. Các trường hợp đặc thù
Xem điều 590 593 BLDS 2005
4. Các điều kiện để cam kết đơn phương trở thành các căn cứ xác lập nghĩa vụ
- Điều kiện chung của 1 giao dịch dân sự. Điều 122 BLDS 2005
- Điều kiện đặc thù:
+ Tính chắc chắn của cam kết. Tức là thể hiện trong lời cam kết đó là ý chí nghiêm
túc, có cân nhắc, chứ không phải là lời nói đùa.
+ Tính có thời hạn: Bên đưa ra lời cam kết được quyền ấn định thời hạn, nếu không
đưa ra thời hạn cụ thể thì sẽ dựa vào tập quán của địa phương, nếu vẫn chưa giải quyết
được thì tòa án sẽ ấn định.
Phần 2: SỰ KIỆN PHÁP LÝ
Khái niệm: Sự kiện pháp lý là căn cứ xác lập nghĩa vụ, có tác dụng lập lại tình trạng
tài sản của người có quyền yêu cầu hoặc bù đắp những tổn thất mà người này phải
gánh chịu.
Mục 1: Được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật
1. Khái niệm: Điều 599 BLDS 2005
Là một quan hệ nghĩa vụ theo đó một người có được tài sản không thuộc sở
hữu của mình, làm gia tăng khối sản nghiệp mà trước đây họ không có hoặc tiết kiệm

một khoản chi để giữ nguyên khối sản nghiệp của mình mà lẽ ra đã bị giảm sút.
2. Đặc điểm:
- Giữa người được lợi và người bị thiệt hại không có sự thỏa thuận trước
- Lợi ích tạo được không phải do sự chủ động của người được lợi mà hoàn
toàn mang tính chất ngẫu nhiên.Chẳng hạn, Một người vào nhà người khác trộm tài
sản thì đây là hành vi chiếm hữu tài sản không có căn cứ pháp luật, chứ không phải là
được lợi về tài sản; Một người vô tình nhặt được ví tiền, trong đó có một số giấy tờ và
một số tiền, nếu người đó lấy tài sản trong chiếc ví thì đây là trường hợp được lợi về
tài sản không có căn cứ pháp luật và sẽ bị chế tài theo quy định của luật.
3. Điều kiện phát sinh:
Biên soạn: Nguyễn Thị Ngọc Tuyền
19
Tài liệu hướng dẫn học tập- Luật Dân Sự 2
*Điều kiện vật chất:
- Phải có người được lợi
- Phải có người bị thiệt hại
- Phải có mối quan hệ nhân quả giữa sự được lợi và sự thiệt hại.
* Điều kiện pháp lý: phải có dấu hiệu không có căn cứ pháp luật.
4. Hậu quả pháp lý:
Xem Điều 599, điều 600, điều 601, điều 602, điều 603 BLDS 2005
Người được lợi phải có nghĩa vụ hoàn trả lại tài sản cho chủ sở hữu, nếu
gây ra thiệt hại thì phải bồi thường…
Mục 2: Thực hiện công việc không có ủy quyền
1. Khái niệm: Điều 594 BLDS 2005
Ví dụ:
A có một ngôi nhà, trong thời gian A đi công tác vắng nhà, có một cơn bão đi
qua, làm mái nhà của A bị hư hỏng nặng. B là hàng xóm, thấy vậy, B sang lợp lại mái
nhà cho A.
Như vậy: A là người có công việc được thực hiện.
B là người thực hiện công việc không có sự ủy quyền.

2. Đặc điểm:
- Người thực hiện công việc cho 1 người khác hoàn toàn tự nguyện thực
hiện công việc đó.
- Người có công việc được thực hiện không biết hoặc là biết mà không phản
đối.
- Việc thực hiện công việc không có ủy quyền hoàn toàn vì lợi ích của
người có công việc được thực hiện hoặc giúp cho họ tránh được những thiệt hại có thể
phát sinh.
3. Điều kiện phát sinh:
- Công việc được thực hiện phải là một giao dịch pháp lý hoặc giao dịch
thực tế hợp pháp.
- Người thực hiện công việc chủ động và tự nguyện.
- Người thực hiện công việc không có nghĩa vụ thực hiện công việc đó.
Biên soạn: Nguyễn Thị Ngọc Tuyền
20
Tài liệu hướng dẫn học tập- Luật Dân Sự 2
- Người có công việc được thực hiện không biết hoặc biết mà không phản
đối.
4. Hiệu lực:
Điều 595,596,597, 598 BLDS 2005

Mục 3: Nghĩa vụ do luật tạo ra trong một số trường hợp đặc thù
Tất cả mọi nghĩa vụ đều do luật tạo ra dù là nghĩa vụ trong hợp đồng( nghĩa vụ phù
hợp với ý chí của những người giao kết hợp đồng) hay nghĩa vụ ngoài hợp đồng( nghĩa
vụ được luật tạo ra ngoài ý chí của các bên liên quan). Tuy nhiên, có một số trường
hợp để duy trì trật tự xã hội, duy trì đạo đức xã hội và phù hợp với lẽ công bằng, luật
đưa ra một số nghĩa vụ không phụ thuộc vào ý chí của các bên có liên quan: nghĩa vụ
cấp dưỡng, nghĩa vụ của cha, mẹ nuôi dưỡng con chưa thành niên…
Bài 3
CHẾ ĐỘ CHUNG VỀ NGHĨA VỤ

Phần I
THỰC HIỆN NGHĨA VỤ
Ðịnh nghĩa. Thực hiện nghĩa vụ là việc người có nghĩa vụ đáp ứng đúng và đầy đủ
các yêu cầu của người có quyền: chuyển quyền sở hữu, giao tài sản, trả nợ,
Mục 1. Các quy tắc chung về thực hiện nghĩa vụ
1. Các bên trong quan hệ thực hiện nghĩa vụ
* Trường hợp tổng quát:
- Người thực hiện nghĩa vụ: là người có nghĩa vụ hoặc là người thứ 3. Nói
chung nếu có người sẵn sàng thực hiện nghĩa vụ, đáp ứng đầy đủ theo yêu cầu của
người có quyền, thì người có quyền không thể từ chối.
Biên soạn: Nguyễn Thị Ngọc Tuyền
21
Tài liệu hướng dẫn học tập- Luật Dân Sự 2
Ví dụ: A nợ B một số tiền 200 triệu đồng, đến hạn A không có tiền trả, C đứng
ra trả thay cho A đúng số tiền cùng với các chi phí khác. Như vậy B không thể từ chối.
Tuy nhiên, trừ trường hợp đối tượng của nghĩa vụ gắn liền với các yếu tố về
nhân thân, phẩm chất nghề nghiệp của người có nghĩa vụ.
Ví dụ: thuê họa sĩ vẽ tranh, ủy quyền cho 1 người thực hiện công việc nhưng
phải do chính người đó thực hiện…
- Người tiếp nhận thực hiện nghĩa vụ: là người có quyền yêu cầu hoặc người đại
diện của người này (người giám hộ, người được ủy quyền…)
+ Một người có thể trở thành người tiếp nhận nghĩa vụ do hiệu lực của việc di
chuyển di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật.
Ví dụ: A cho B thuê căn nhà, ít lâu sau A chết, căn nhà thuộc quyền sở hữu của
A1(con của A) do được thừa kế theo di chúc. Vậy lúc này A1 trở thành người có quyền
yêu cầu đối với B.
+ Một người có thể trở thành người tiếp nhận nghĩa vụ do được chuyển nhượng
quyền yêu cầu, có hoặc không có tính chất đền bù.
Ví dụ: A có nhà cho thuê (X1,X2…thuê). Sau đó A bán căn nhà cho B. Vậy lúc
này B trở thành người có quyền yêu cầu đối với X1, X2….

Người có quyền yêu cầu phải là người tham gia trực tiếp vào việc xác lập quan hệ
nghĩa vụ. Đúng / sai? Tại sao?
* Trường hợp có nhiều chủ thể trong quan hệ nghĩa vụ:
- Nghĩa vụ theo phần: Điều 297 BLDS 2005
- Nghĩa vụ liên đới: Điều 298 BLDS 2005
2. Đối tượng của việc thực hiện nghĩa vụ
Khái niệm: Ðối tượng của việc thực hiện nghĩa vụ là sự đáp ứng của người có nghĩa
vụ đối với người có quyền. Ðể có thể nói rằng nghĩa vụ được thực hiện đúng và đầy
đủ, thì sự đáp ứng phải phù hợp với tính chất và phạm vi của nghĩa vụ.
Tính chất của nghĩa vụ: Điều 289 291 BLDS 2005
- Nghĩa vụ giao vật: Vật đặc định: phải giao đúng vật đó.
Vật cùng loại: phải giao đúng số lượng, chất lượng.
Vật đồng bộ: phải giao đồng bộ
Biên soạn: Nguyễn Thị Ngọc Tuyền
22
Tài liệu hướng dẫn học tập- Luật Dân Sự 2
- Nghĩa vụ trả tiền: Phải trả cả nợ gốc, lãi suất(nếu có) và các khoản chi phí khác
nếu các bên có thỏa thuận.
- Nghĩa vụ phải thực hiện 1 công việc: phải thực hiện đúng công việc như các bên
đã thỏa thuận.
Nguyên tắc: nghĩa vụ nào phải thực hiện đúng tính chất của nghĩa vụ đó. Tuy
nhiên, có thể thực hiện nghĩa vụ thay thế nếu các bên có yêu cầu đồng ý (chẳng hạn
thay nghĩa vụ là giao vật, thì có thể trả 1 số tiền)
Phạm vi của nghĩa vụ: Điều 300 BLDS 2005
3. Hoàn cảnh thực hiện nghĩa vụ: Điều 284, 285 BLDS 2005
Thời hạn là thời điểm thực hiện nghĩa vụ của bên có nghĩa vụ đối với bên có quyền.
Đúng/sai?
4. Bằng chứng của việc thực hiện nghĩa vụ
- Trách nhiệm chứng minh: Luật hiện hành không có quy định liên quan đến trách
nhiệm chứng minh việc thực hiện nghĩa vụ. Tuy nhiên, có thể thừa nhận, trong logique

của sự việc, rằng trong trường hợp có tranh cãi về việc nghĩa vụ đã hay chưa được
thực hiện, thì chính người có nghĩa vụ mà cho rằng mình đã thực hiện nghĩa vụ, phải
chứng minh điều đó.
- Phương tiện chứng minh: Luật hiện hành cũng không có quy định về các phương tiện
chứng minh việc thực hiện nghĩa vụ. Bởi vậy, tất cả các phương tiện chứng minh được
thừa nhận trong luật chung đều có thể được sử dụng (văn bản, người làm chứng, lời
thú nhận, )

Mục 2. Bắt buộc thực hiện nghĩa vụ
I. Các biện pháp bảo đảm khả năng thanh toán
1. Quyền khởi kiện chéo
Tổng quan. Có trường hợp người có nghĩa vụ có các quyền về tài sản, nhưng
lại không muốn thực hiện các quyền ấy, bởi vì người này biết rằng nếu mình có làm gì
đi nữa, thì các lợi ích tài sản được tạo ra cũng sẽ phải được dùng để thực hiện các
nghĩa vụ đối với những người có quyền yêu cầu của mình. Thái độ xử sự tiêu cực của
người có nghĩa vụ có thể ảnh hưởng xấu đến khả năng thực hiện nghĩa vụ của người
này một khi nghĩa vụ đến hạn. Để ngăn ngừa ảnh hưởng đó, luật cho phép người có
Biên soạn: Nguyễn Thị Ngọc Tuyền
23
Tài liệu hướng dẫn học tập- Luật Dân Sự 2
quyền yêu cầu thay người có nghĩa vụ để thực hiện các quyền của người sau này.
Quyền kiện để yêu cầu Toà án cho phép thay thế người có nghĩa vụ trong việc thực
hiện các quyền của người này được gọi là quyền khởi kiện chéo. Gọi là “chéo”, bởi
người trực tiếp thực hiện quyền không phải là người trực tiếp có quyền mà chỉ là
người có quyền của người đó.
Luật Việt Nam hiện hành không có quy định chung về quyền khởi kiện chéo mà chỉ có
các quy định cụ thể áp dụng cho một số trường hợp đặc thù mà người có quyền yêu
cầu được phép thay người có nghĩa vụ thực hiện một hoặc một số quyền nhất định của
người sau này.
Điều kiện. Trong trường hợp nêu trên, người có nghĩa vụ không thực hiện một

hành vi cần thiết nhằm củng cố khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình đối với người
có quyền (yêu cầu chia tài sản mà mình có quyền sở hữu chung theo phần). Về phần
mình, người có quyền có lợi ích trong việc bảo vệ quyền của mình khi can thiệp vào
công việc của người có nghĩa vụ.
Hiệu lực. Một khi được thừa nhận có quyền thay người có nghĩa vụ để thực hiện
các quyền của người sau này, thì người có quyền sẽ đứng vào vị trí của người có nghĩa
vụ để thực hiện các quyền của người sau này. Chủ nợ của một chủ sở hữu chung, khi
yêu cầu phân chia tài sản chung, được quyền tham dự vào việc phân chia.
2. Quyền kiện yêu cầu vô hiệu hoá một giao dịch gian lận
Tổng quan. Trên nguyên tắc, người có nghĩa vụ là chủ sở hữu các tài sản của mình
và có quyền định đoạt các tài sản ấy, có hoặc không có đền bù; chủ nợ, dù có thể lo
lắng về hậu quả của những giao dịch đối với khả năng thực hiện nghĩa vụ của người
mắc nợ, không có quyền can thiệp vào công việc quản lý sản nghiệp của người sau
này.
Tuy nhiên, có trường hợp người có nghĩa vụ xác lập một giao dịch liên quan đến
tài sản thực sự với ý định là suy giảm, thậm chí làm mất tính hiện thực của khả năng
thực hiện nghĩa vụ của mình. Nếu đúng là như vậy, thì luật cho phép người có quyền
yêu cầu lên tiếng nhằm ngăn chặn sự gian lận của người có nghĩa vụ đối với mình.
Nếu sự lên tiếng đó có hiệu quả, giao dịch do người có nghĩa vụ xác lập sẽ bị thủ tiêu.
Biên soạn: Nguyễn Thị Ngọc Tuyền
24
Tài liệu hướng dẫn học tập- Luật Dân Sự 2
Ví dụ: Theo Luật hôn nhân và gia đình năm 2000, trong những trường hợp
được pháp luật dự kiến, vợ chồng có quyền chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân,
tuy nhiên, việc chia tài sản chung nhằm mục đích trốn tránh các nghĩa vụ không được
pháp luật công nhận.
Theo BLDS Điều 642 khoản 1, người thừa kế có quyền từ chối nhận di sản, trừ trường
hợp việc từ chối nhằm trốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ tài sản của mình đối với
người khác.
Điều kiện. Cả trong hai giả thiết được ghi nhận ở trên, nghĩa vụ mà người xác

lập giao dịch muốn trốn tránh hẳn phải là nghĩa vụ tồn tại trước thời điểm xác lập giao
dịch. trị của khối tài sản thuộc quyền sở hữu của mình để việc thực hiện nghĩa vụ trả
tiền trở nên khó thực hiện, thậm chí không thực hiện được.
Hiệu lực. Theo quy định, việc chia tài sản chung nhằm trốn tránh các nghĩa vụ
tài sản bị vô hiệu. Đối với trường hợp từ chối nhận di sản nhằm trốn tránh nghĩa vụ tài
sản của bản thân, luật lại không có quy định cụ thể về hình thức chế tài; song, có thể
tin rằng người làm luật cũng muốn vô hiệu hoá giao dịch này để trả người giao dịch
trở lại tình trạng ban đầu.
II. Các biện pháp hữu hiệu hóa việc thanh toán
- Nghĩa vụ liên quan đến nhân thân của người có nghĩa vụ. Nghĩa vụ làm hoặc
không làm một việc, không thể được cưỡng chế thực hiện bằng cách buộc người có
nghĩa vụ phải thực hiện: không thể dùng bạo lực (dù là bạo lực có tổ chức của Nhà
nước) để buộc nhà thầu phải thi công, họa sĩ phải vẽ, ca sĩ phải hát, thương nhân
không được cạnh tranh bất chính,
- Nghĩa vụ chuyển một quyền đối với tài sản.
+ Nếu tài sản là một vật đặc định, thì người có quyền có thể yêu cầu xác nhận việc
chuyển quyền bằng một bản án hoặc tự mình tiến hành thủ tục chuyển quyền bằng
cách đăng ký (đối với những quyền cần phải đăng ký), sau đó, yêu cầu cưỡng chế việc
giao tài sản cho mình trong khuôn khổ thủ tục kiện đòi lại tài sản hoặc kiện đòi chấm
dứt cản trở đối với việc thực hiện quyền sở hữu, quyền chiếm hữu;
+ Nếu tài sản là vật cùng loại, thì người có quyền có thể yêu cầu người khác chuyển
quyền và giao tài sản cùng loại cho mình.
+ Trong trường hợp việc thực hiện nghĩa vụ bằng hiện vật là không thể được, đặc biệt
là do vật không còn, thì nghĩa vụ chuyển một quyền đối với một tài sản được chuyển
thành nghĩa vụ bồi thường thiệt hại, tức là nghĩa vụ trả một số tiền.
Biên soạn: Nguyễn Thị Ngọc Tuyền
25

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay
×