Tải bản đầy đủ (.doc) (81 trang)

Đánh giá thực trạng vi phạm hành chính trong sử dụng đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân trên địa bàn huyện vĩnh tường, tỉnh vĩnh phúc giai đoạn 2008 2012

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (424.76 KB, 81 trang )

DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT
- Đvt : Đơn vị tính
- GCNQSDĐ : Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
- HĐND : Hội đồng nhân dân
- KT-XH : Kinh tế xã hội
- Q.L : Quốc lộ
- Stt : Số thứ tự
- SDĐNN : Sử dụng đất nông nghiệp
- T.P : Thành phố
- T.T : Thị trấn
- UBND : Uỷ ban nhân dân
- VPHC : Vi phạm hành chính
i
DANH MỤC CÁC BẢNG
ii
DANH MỤC CÁC HÌNH
iii
MỞ ĐẦU
1. Đặt vấn đề
Đất đai là tài nguyên thiên nhiên vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất
đặc biệt, là nguồn nội lực và nguồn vốn to lớn của đất nước, là nơi trên đó,
con người xây dựng nhà cửa, các công trình kiến trúc; là nơi diễn ra các hoạt
động văn hóa; phân bổ các vùng kinh tế, các khu dân cư; là thành quả cách
mạng của cả dân tộc; là cơ sở để phát triển hệ sinh thái, tạo nên môi trường,
duy trì sự sống của con người và sinh vật. Đối với nước ta phát triển đi lên từ
nông nghiệp, hiện nay với đa số người dân sống bằng nghề làm nông nghiệp,
bên cạnh việc khai thác sử dụng đất đúng mục đích, tiết kiệm, có hiệu quả và
bền vững, phát huy tối đa tiềm năng, nguồn lực từ đất thì công tác đầu tư mở
rộng diện tích, nâng cao chất lượng và bảo vệ đất canh tác nông nghiệp, bảo
đảm an ninh lương thực quốc gia đã, đang và tiếp tục là nhiệm vụ hết sức cần
thiết và cấp bách. Đất đai có vai trò quan trọng như vậy, nên Đảng và Nhà


nước ta luôn luôn quan tâm, tăng cường quản lý nhà nước về đất đai. Một
trong các biện pháp hữu hiệu được Nhà nước chú trọng để nâng cao hiệu lực,
hiệu quả quản lý nhà nước về đất đai đó là xử lý các VPHC về đất đai, từng
bước lập lại trật tự trong quản lý, sử dụng đất đai theo quy định của pháp luật.
Tuy nhiên, trong thời gian qua VPHC về đất đai nói chung và VPHC
trong SDĐNN nói riêng vẫn diễn biến phúc tạp hàng ngày, hàng giờ và ở
nhiều nơi, không những gây khó khăn cho quản lý nhà nước về đất đai, gây
bức xúc cho số đông người sử dụng đất tôn trọng pháp luật đất đai mà còn là
nguyên nhân dẫn đến những tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về đất đai, tiềm ẩn
nhiều nguy cơ gây mất ổn định an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội
Vĩnh Tường là huyện đồng bằng của tỉnh Vĩnh Phúc, đất chật, người
đông, nhân dân sống chủ yếu bằng nghề nông. Trong những năm vừa qua
huyện đã khai thác tương đối tốt nguồn lực từ đất đai cho phát triển KT-XH,
1
nhiều xã, thị trấn trong huyện người dân đã biết khai thác đất cho sản xuất
nông nghiệp đem lại hiệu quả kinh tế, thu nhập ổn định góp phần không nhỏ
nâng cao đời sống về vật chất và tinh thần cho chính người nông dân.
Bên cạnh những thành tích đã đạt được, việc khai thác, sử dụng tài
nguyên đất đai còn chưa thực sự hợp lý, hiệu quả và bền vững. Tình trạng lấn,
chiếm đất đai; lợi dụng chủ trương dồn điền đổi thửa, phát triển kinh tế trang
trại để xây dựng trang trại không đúng quy hoạch sử dụng đất được phê
duyệt; sử dụng đất sai mục đích nhất là sử dụng đất nông nghiệp làm nhà ở,
làm công trình phục vụ kinh doanh, dịch vụ diễn ra phức tạp ở nhiều xã, thị
trấn trong huyện mà chưa được các cấp, các ngành xem xét xử lý một cách
đồng bộ, dứt điểm. Một số cấp uỷ, chính quyền cơ sở phó mặc cho chuyên
môn, thậm chí buông lỏng công tác quản lý đất đai dẫn đến tình trạng VPHC
trong SDĐNN chưa được phát hiện, ngăn chặn và xử lý kịp thời theo quy
định của pháp luật. Động lực thúc đẩy, phát huy nguồn lực từ đất còn nhiều
hạn chế đã làm chậm quá trình phát triển KT-XH trên địa bàn huyện
Để có cách nhìn khách quan dựa trên những cơ sở luận cứ khoa học và

nhằm góp phần làm sáng tỏ những vấn đề nêu trên chúng tôi tiến hành nghiên
cứu đề tài “Đánh giá thực trạng vi phạm hành chính trong sử dụng đất
nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân trên địa bàn huyện Vĩnh Tường,
tỉnh Vĩnh Phúc giai đoạn 2008-2012”
2. Mục tiêu của đề tài
2.1. Mục tiêu tổng quát
Đánh giá được thực trạng vi phạm và kết quả xử lý VPHC trong
SDĐNN của hộ gia đình, cá nhân nhằm chỉ ra những mặt làm được, những
mặt chưa làm được; từ đó đề xuất một số giải pháp mang tính kiến nghị góp
phần hạn chế, từng bước đẩy lùi tình trạng vi phạm pháp luật trong SDĐNN,
nâng cao hiệu quả công tác quản lí đất đai trên địa bàn huyện Vĩnh Tường.
2
2.2. Mục tiêu cụ thể
- Đánh giá sơ lược về tình hình cơ bản của vùng nghiên cứu để thấy
được ảnh hưởng đến các VPHC và xử lý VPHC trong SDĐNN của hộ gia
đình, cá nhân như thế nào.
- Đánh giá được thực trạng VPHC trong SDĐNN của hộ gia đình, cá
nhân trên địa bàn huyện Vĩnh Tường giai đoạn 2008-2012 để thấy được
nguyên nhân và kết quả phát hiện các vi phạm.
- Đánh giá được kết quả xử lý VPHC trong SDĐNN của hộ gia đình, cá
nhân trên địa bàn huyện Vĩnh Tường giai đoạn 2008-2012 để thấy được kết
quả và những khó khăn trong xử lý vi phạm.
- Chỉ ra được những nguyên nhân vi phạm; những khó khăn, tồn tại và
giải pháp khắc phục trong công tác phát hiện và xử lý VPHC trong SDĐNN
của hộ gia đình, cá nhân trên địa bàn huyện Vĩnh Tường giai đoạn 2008-2012.
2.3. Yêu cầu
- Nắm vững các quy định của pháp luật về xác định và xử lý VPHC
trong SDĐNN;
- Các nguồn số liệu, tài liệu điều tra thu thập trên địa bàn nghiên cứu
phải phản ánh đúng thực tế, đánh giá đẩy đủ, trung thực, khách quan, khoa

học, đảm bảo lô gíc và hệ thống. Số liệu phải được điều tra thu thập từ 2
nguồn là thứ cấp và sơ cấp;
- Giải pháp đề xuất phải đảm bảo khoa học, đúng với chính sách pháp
luật của nhà nước, phù hợp với thực tế ở địa phương và có tính khả thi.
3. Những đóng góp mới của nghiên cứu
Luận văn thạc sĩ này là công trình chuyên ngành Quản lý đất đai nghiên
cứu VPHC trong SDĐNN của hộ gia đình, các nhân ở huyện Vĩnh Tường,
tỉnh Vĩnh Phúc. Luận văn đã khái quát, hệ thống hoá một số cơ sở lý luận và
các quy định của pháp luật về VPHC, xử lý VPHC trong lĩnh vực đất đai nói
3
chung và trong SDĐNN nói riêng; phân tích đánh giá thực trạng VPHC trong
SDĐNN, từ đó đưa ra các quan điểm và giải pháp nhằm tăng cường phòng,
chống, hạn chế tiến tới đẩy lùi tình trạng VPHC trong SDĐNN, góp phần tăng
cường quản lý nhà nước về đất đai ở huyện Vĩnh Tường. Phân tích tình hình
diễn biến phức tạp và khẳng định yêu cầu bức xúc của việc xử lý VPHC trong
lĩnh vực đất đai nói chung và trong SDĐNN nói riêng ở Vĩnh Tường. Đề xuất
các quan điểm và giải pháp phù hợp với thực tiễn của huyện Vĩnh Tường
mang tính kiến nghị để các nhà quản lý, những người trực tiếp thi hành xử lý
VPHC trong SDĐNN ở huyện Vĩnh Tường nghiên cứu vận dụng.
4
Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
1.1. Cơ sở khoa học của đề tài
1.1.1. Cơ sở lý luận của đề tài
Do vai trò quan trọng của đất đai đối với sự phát triển của đất nước,
Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật để thống nhất
quản lý, sử dụng đất đai trên cả nước. Luật đất đai năm 2003 cùng với các văn
bản hướng dẫn thi hành Luật đã tạo thành một hệ thống văn bản quy phạm
pháp luật khá hoàn chỉnh thể hiện quan điểm đổi mới của Đảng, phù hợp sự
phát triển của đất nước theo từng giai đoạn, góp phần đáng kể vào phát triển

kinh tế, ổn định chính trị, xã hội. Tuy nhiên pháp luật về đất đai hiện nay vẫn
còn những hạn chế, bất cập: “Mặc dù chỉ có đối tượng quản lý là đất đai
nhưng được điều chỉnh ở nhiều văn bản khác nhau (ngoài Luật Đất đai và 04
Luật có sửa đổi, bổ sung một số nội dung của Luật Đất đai còn có trên 20
Luật và nhiều văn bản của Chính phủ có nội dung điều chỉnh liên quan đến
đất đai). Các văn bản này được ban hành ở những thời điểm khác nhau, cơ
quan chủ trì xây dựng khác nhau nên đã dẫn đến sự chồng chéo, có nhiều
điểm chưa thống nhất ’’ [2, tr 11]. Bên cạnh đó công tác quản lý nhà nước về
đất đai ở nhiều địa phương còn chưa được quan tâm đầu tư đúng mức, đặc
biệt là vai trò của UBND các cấp trong việc phát hiện và xử lý các sai phạm
trong quản lý, sử dụng đất đai. Việc phát hiện, xử lý các vi phạm về đất đai
trong nhiều trường hợp còn chậm, thiếu cương quyết, thậm chí vi phạm pháp
luật; công tác phổ biến, tuyên truyền chính sách, pháp luật về đất đai trong
nhân dân chưa được làm tốt, ý thức chấp hành pháp luật của người sử dụng
đất chưa nghiêm… dẫn đến vi phạm trong quản lý sử dụng đất đai nói chung
và VPHC trong SDĐNN nói riêng đã, đang và sẽ tiếp tục xảy ra.
5
Trong quá trình SDĐNN được giao 20 năm (1993-2013) của hộ gia
đình, cá nhân trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc nói chung và huyện Vĩnh Tường
nói riêng, bên cạnh những thành tựu to lớn về sản xuất nông nghiệp đã đạt
được, đất đai được sử dụng ngày càng hiệu quả thì tình trạng tự ý chuyển đổi
đất nông nghiệp sang sử dụng vào các mục đích khác như: Làm nhà ở; xây
dựng các công trình sản xuất, kinh doanh, dịch vụ; đào ao thả cá trên đất
chuyên trồng lúa…không được phát hiện và xử lý kịp thời, cương quyết, đúng
pháp luật hoặc đã phát hiện, xử lý song người sử dụng đất vẫn cố tình vi
phạm, tình hình vi phạm không giảm đã gây nhiều khó khăn cho công tác
quản lý đất đai, mất công bằng trong sử dụng đất; trong nhiều trường hợp là
nguyên nhân gây mất ổn định tình hình an ninh chính trị và trật tự an toàn xã
hội tại cơ sở. Vì vậy việc nghiên cứu “Đánh giá thực trạng VPHC trong
SDĐNN của hộ gia đình, cá nhân trên địa bàn huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh

Phúc” từ đó đề xuất các giải pháp góp phần hạn chế, tiến tới đẩy lùi tình trạng
vi phạm pháp luật về đất đai trong SDĐNN là hết sức cần thiết và cấp bách.
1.1.2. Một số văn bản pháp lí liên quan đến đề tài.
- Hiến pháp Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992[15];
- Luật Đất đai năm 2003 [16];
- Luật xử lý vi phạm hành chính 2012 [17];
- Pháp lệnh Xử lý VPHC năm 2002 đã được sửa đổi năm 2007 và năm
2008 [22];
- Nghị định số 182/2004/NĐ-CP ngày 29 tháng 10 năm 2004 của Chính
phủ về xử phạt VPHC trong lĩnh vực đất đai [7];
- Nghị định số 181/2004/ NĐ-CP ngày 29 tháng 10 năm 2004 của
Chính phủ về thi hành Luật Đất đai [6];
- Nghị định số 37/2005/NĐ-CP ngày 18 tháng 3 năm 2005 của Chính
phủ quy định thủ tục áp dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định xử
phạt VPHC [8];
6
- Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày 25 tháng 5 năm 2007 của Chính
phủ quy định bổ sung về cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
(GCNQSDĐ), thu hồi đất, thực hiện quyền sử dụng đất, trình tự, thủ tục bồi
thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất và giải quyết khiếu nại về
đất đai [9];
- Nghị định số 128/2008/NĐ-CP ngày 16 tháng 12 năm 2008 của Chính
phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh Xử lý VPHC năm
2002 và Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh Xử lý VPHC
năm 2008 [10];
- Nghị định số 105/2009/NĐ-CP ngày 11 tháng 11 năm 2009 của Chính
phủ về xử phạt VPHC trong lĩnh vực đất đai [11];
- Nghị định số 42/2012/NĐ-CP ngày 11 tháng 5 năm 2012 của Chính
phủ về quản lý, sử dụng đất trồng lúa [12];
- Thông tư số 06/2007/TT-BTNMT ngày 15 tháng 6 năm 2007 của Bộ

Tài nguyên và Môi trường hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số
84/2007/NĐ-CP ngày 25 tháng 5 năm 2007 của Chính phủ [3];
- Thông tư số 16/2010/TT-BTNMT ngày 26 tháng 8 năm 2010 của Bộ
Tài nguyên và Môi trường quy định trình tự, thủ tục cưỡng chế thi hành quyết
định xử phạt VPHC trong lĩnh vực đất đai [4];
- Nghị quyết số 03-NQ/HU ngày 05 tháng 7 năm 2007 của Huyện ủy
Vĩnh Tường về Tăng cường sự lãnh đạo của cấp Uỷ đảng trong quản lý đất
đai [13]
- Nghị quyết số 02-NQ/TU ngày 23 tháng 4 năm 2012 của Tỉnh ủy
Vĩnh Phúc về Tăng cường sự lãnh đạo đối với công tác bảo vệ tài nguyên trên
địa bàn [21];
- Chỉ thị số 10/CT-UBND ngày 25 tháng 5 năm 2012 của UBND tỉnh
Vĩnh Phúc Về việc tăng cường công tác quản lý đất đai trên địa bàn [28]…
7
1.2. Khái quát về vi phạm và xử lý vi phạm trong lĩnh vực đất đai
1.2.1. Khái niệm vi phạm pháp luật
Pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự chung, là tiêu chuẩn của hành
vi con người. Hành vi là những phản ứng, cách ứng xử được biểu hiện ra bên
ngoài của con người trong những điều kiện và hoàn cảnh nhất định. Mỗi hành
vi đều được hình thành trên cơ sở nhận thức và kiểm soát của chủ thể, mà chủ
thể ý thức được và chủ động thực hiện nó. Những hoạt động của con người
không thể coi là hành vi, nếu con người hoạt động trong trạng thái vô thức.
Trong hoạt động của mỗi người thường có rất nhiều hành vi khác nhau
được thể hiện bằng những phương thức khác nhau trong quá trình sản xuất,
trao đổi, sinh hoạt hàng ngày trong cuộc sống. Song tuỳ theo tính chất, đặc
điểm và những lĩnh vực thể hiện của hành vi con người mà xã hội đặt ra
những tiêu chuẩn, những công cụ điều chỉnh chúng khác nhau. Những hành vi
nào của con người được pháp luật quy định, điều chỉnh thì được gọi là hành vi
pháp luật. Hành vi pháp luật gắn liền với các quy định của pháp luật, những
hành vi không được pháp luật quy định, điều chỉnh thì không phải là hành vi

pháp luật.
Tóm lại, vi phạm pháp luật là hành vi trái pháp luật, có lỗi, do chủ thể
có năng lực trách nhiệm pháp lý thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm hại
các quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ.
1.2.2. Khái niệm vi phạm hành chính
VPHC là một loại vi phạm pháp luật xảy ra khá phổ biến trong đời
sống xã hội. Tuy mức độ nguy hiểm cho xã hội của nó thấp hơn so với tội
phạm hình sự nhưng VPHC là những hành vi gây thiệt hại hoặc đe dọa gây
thiệt hại cho lợi ích của Nhà nước, của tập thể, của cá nhân cũng như lợi ích
chung của toàn thể cộng đồng, là nguyên nhân dẫn đến tình trạng phạm tội
nảy sinh trên các lĩnh vực của đời sống xã hội nếu như không được ngăn chặn
8
và xử lý kịp thời. Chính vì lẽ đó, công tác đấu tranh phòng và chống VPHC
luôn là vấn đề được xã hội ta quan tâm. Từ trước đến nay Nhà nước ta đã ban
hành khá nhiều văn bản pháp luật quy định về VPHC và các biện pháp xử lý
đối với loại vi phạm này, trong đó phải kể đến Pháp lệnh xử lý VPHC năm
2002 được Uỷ ban thường vụ Quốc Hội khóa X thông qua 02 tháng 7 năm
2002, có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 10 năm 2002 được sửa đổi, bổ
sung năm 2007 và năm 2008. Gần đây nhất ngày 20 tháng 6 năm 2012 Quốc
Hội khóa XIII đã thông qua Luật xử lý VPHC năm 2012, có hiệu lực thi hành
từ ngày 01 tháng 7 năm 2013.
Pháp lệnh Xử lý VPHC năm 2002, VPHC được định nghĩa một cách
gián tiếp: "Xử phạt VPHC được áp dụng đối với cá nhân, cơ quan, tổ chức
(sau đây gọi chung là cá nhân, tổ chức) có hành vi cố ý hoặc vô ý vi phạm
các quy định của pháp luật về quản lý nhà nước mà không phải là tội phạm
và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt hành chính" [22, tr. 10].
Luật xử lý VPHC năm 2012 có nêu cụ thể, rõ ràng hơn: “ VPHC là
hành vi có lỗi do cá nhân, tổ chức thực hiện, vi phạm quy định của pháp luật
về quản lý nhà nước mà không phải là tội phạm và theo quy định của pháp
luật phải bị xử phạt VPHC’’ [17, tr. 1].

1.2.3. Khái niệm, đặc điểm và các loại hành vi vi phạm hành chính trong
lĩnh vực đất đai
Trong giai đoạn từ năm 2008 đến nay có hai Nghị định của Chính phủ
quy định về xử phạt VPHC trong lĩnh vực đất đai, đó là Nghị định số
182/2004/NĐ-CP ngày 29 tháng 10 năm 2004 và Nghị định số 105/2009/NĐ-
CP ngày 11 tháng 11 năm 2009 của Chính phủ (Nghị định số 105/2009/NĐ-
CP thay thế Nghị định số 182/2004/NĐ-CP và có hiệu lực thi hành kể từ ngày
01 tháng 1 năm 2010).
9
Một số thay đổi chính về xử phạt VPHC trong lĩnh vực đất đai giữa
Nghị định số 182/2004/NĐ-CP và Nghị định số 105/2009/NĐ-CP đó là: Nghị
định số 105/2009/NĐ-CP của Chính phủ về xử phạt VPHC chính trong lĩnh
vực đất đai ngoài những nội dung cần phải sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với
các quy định mới về xử lý VPHC đã được Quốc hội thông qua ( Pháp lệnh xử
lý VPHC năm 2002 được Uỷ ban thường vụ Quốc Hội khóa X thông qua
ngày 02 tháng 7 năm 2002, có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 10 năm
2002 và được sửa đổi năm 2007, 2008) về cơ bản phần những quy định chung
và phần thủ tục xử phạt vi phạm, thi hành quyết định xử phạt VPHC không có
thay đổi nhiều so với Nghị định số 182/2004/NĐ-CP. Phần thay đổi chủ yếu là
quy định về hành vi VPHC; xác định mức độ hậu quả của hành vi VPHC; các
mức xử phạt; thẩm quyền xử phạt, ở Nghị định số 105/2009/NĐ-CP có quy định
cụ thể, rõ ràng hơn, bổ sung thêm về hành vi vi phạm, mức phạt cao hơn, thẩm
quyền xử phạt cao hơn…so với Nghị định số 182/2004/NĐ-CP. Cụ thể:
+ Về xác định mức độ hậu quả của hành vi VPHC ở cả hai nghị định
đều quy định có 4 mức song giá trị quyền sử dụng đất quy thành tiền đối với
diện tích đất bị vi phạm ở Nghị định số 105/2009/NĐ-CP đều cao hơn so với
Nghị định số 182/2004/NĐ-CP (Ví dụ: mức một ở Nghị định số
182/2004/NĐ-CP quy định trường hợp giá trị quyền sử dụng đất đối với diện
tích bị vi phạm quy thành tiền dưới hai triệu đồng đối với đất nông nghiệp và
dưới mười triệu đồng đối với đất phi nông nghiệp trong khi đó ở Nghị định số

105/2009/NĐ-CP quy định trường hợp giá trị quyền sử dụng đất đối với diện
tích bị vi phạm quy thành tiền dưới ba mươi triệu đồng đối với đất nông
nghiệp và dưới một trăm năm mươi triệu đồng đối với đất phi nông nghiệp);
+ Về mức phạt tiền đối với các hành vi VPHC trong quy định tại Nghị
định số 105/2009/NĐ-CP đều cao hơn so với Nghị định số 182/2004/NĐ-CP
(ví dụ: Mức phạt tiền thấp nhất, cao nhất trong Nghị định số 182/2004/NĐ-
CP lần lượt là một trăm nghìn đồng và ba mươi triệu đồng; còn mức phạt
10
tiền thấp nhất, cao nhất trong Nghị định số 105/2009/NĐ-CP lần lượt là hai
trăm nghìn đồng và năm trăm triệu triệu đồng). Điều đáng chú ý là các mức
phạt cho các hành vi VPHC đối với đất nông nghiệp, đặc biệt là đất chuyên
trồng lúa nước ở Nghị định số 105/2009/NĐ-CP có khung phạt rất cao; nhiều
hành vi vi phạm có khung phạt cao nhất là năm trăm triệu đồng, nhằm răn đe,
hạn chế các vi phạm để bảo vệ đất trồng lúa nước;
+ Về thẩm quyền xử phạt đối với các hành vi VPHC trong quy định tại
Nghị định số 105/2009/NĐ-CP đều cao hơn so với Nghị định số
182/2004/NĐ-CP đối với cả hình thức phạt tiền và hình thức phạt bổ sung (ví
dụ: trong quy định tại Nghị định số 182/2004/NĐ-CP thẩm quyền phạt tiền
cao nhất của Chủ tịch UBND cấp xã, Chủ tịch UBND cấp huyện và Chủ tịch
UBND cấp tỉnh lần lượt là năm trăm nghìn đồng, hai mươi triệu đồng và ba
mươi triệu đồng còn trong quy định tại Nghị định số 105/2009/NĐ-CP thẩm
quyền phạt tiền cao nhất của Chủ tịch UBND cấp xã, Chủ tịch UBND cấp
huyện và Chủ tịch UBND cấp tỉnh lần lượt là hai triệu đồng, ba mươi triệu
đồng và năm trăm triệu đồng)
Trong phần Tổng quan tài liệu nghiên cứu, chúng tôi sử dụng Nghị định
số 105/2009/NĐ-CP để nghiên cứu, đánh giá về các nội dung có liên quan.
1.2.3.1. Khái niệm vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai
Nghị định số 105/2009/NĐ-CP của Chính phủ về xử lý vi phạm trong
lĩnh vực đất đai có nêu: “ VPHC trong lĩnh vực đất đai là hành vi cố ý hoặc
vô ý của người sử dụng đất, tổ chức, cá nhân có liên quan, tổ chức hoạt động

dịch vụ về đất đai vi phạm các quy định của pháp luật về đất đai mà chưa đến
mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật,, [11, tr. 1].
1.2.3.2. Đặc điểm của vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai
VPHC trong lĩnh vực đất đai là một dạng của VPHC vì vậy mà đặc
điểm của VPHC trong lĩnh vực đất đai cũng được thể hiện ở bốn yếu tố là mặt
khách quan, mặt chủ quan, chủ thể và khách thể.
11
- Mặt khách quan của VPHC trong lĩnh vực đất đai là những biểu hiện
ra bên ngoài của VPHC về đất đai, nó gồm có những yếu tố sau:
+ Hành vi trái pháp luật đất đai. Để xác định có hành vi trái pháp luật
đất đai thì ta phải căn cứ vào những quy định của pháp luật về đất đai, về
đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước liên quan đến việc quản lý, sử
dụng đất đai để xem xét về một hành vi cụ thể.
+ Hậu quả (sự thiệt hại của xã hội) do hành vi trái pháp luật đất đai gây
ra. Tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi trái pháp luật đất đai thể hiện ở chỗ
nó xâm hại quyền đại diện chủ sở hữu của Nhà nước đối với đất đai hoặc xâm
hại đến quyền lợi của người sử dụng đất.
+ Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi VPHC về đất đai với hậu quả mà
nó gây ra cho xã hội thể hiện sự thiệt hại cho xã hội là do chính hành vi
VPHC về đất đai gây ra.
- Mặt chủ quan của VPHC về đất đai là những biểu hiện tâm lý bên
trong của chủ thể vi phạm, gồm lỗi, động cơ và mục đích:
+ Lỗi là trạng thái tâm lý, là ý chí chủ quan của con người đối với hành
vi vi phạm và hậu quả do hành vi đó gây ra được thực hiện một cách cố ý
hoặc vô ý. Vì vậy phải xét yếu tố lỗi chính xác để xác định được hình thức xử
lý phù hợp với hành vi vi phạm pháp luật đất đai.
+ Mục đích, động cơ trong VPHC về đất đai.
- Khách thể của VPHC về đất đai.
+ Khách thể của VPHC là những quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ
nhưng bị hành vi VPHC xâm hại. Vậy khách thể của VPHC trong lĩnh vực đất

đai là những quan hệ trong quản lý, sử dụng đất đai bị hành vi VPHC xâm hại.
+ Chủ thể của VPHC về đất đai.
VPHC về đất đai là hành vi do cá nhân, tổ chức thực hiện cố ý hoặc
vô ý xâm hại đến các quan hệ xã hội được pháp luật đất đai bảo vệ. Do vậy,
12
chủ thể của VPHC về đất đai là những cá nhân, tổ chức có năng lực chủ thể.
Những hành vi này đều xâm hại đến các quan hệ pháp luật đất đai đang được
duy trì, làm ảnh hưởng đến hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước. Song do tính
chất và mức độ xâm hại của hành vi chưa đến mức nguy hiểm cho xã hội để
trở thành tội phạm hình sự và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt
hành chính.
1.2.3.3. Các loại hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai [11, tr.4-11]
Hành vi VPHC trong lĩnh vực đất đai bao gồm:
- Sử dụng đất không đúng mục đích;
- Lấn, chiếm đất;
- Huỷ hoại đất;
- Gây cản trở cho việc sử dụng đất của người khác;
- Chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho
quyền sử dụng đất hoặc thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng quyền sử dụng đất
mà không thực hiện đúng thủ tục hành chính theo quy định của pháp luật về
đất đai;
- Tự ý chuyển đổi, chuyển nhượng, tặng cho, cho thuê, cho thuê lại,
thừa kế, thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng quyền sử dụng đất đối với đất
không đủ điều kiện;
- Nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất nhưng không đủ điều kiện
nhận chuyển quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai;
- Không đăng ký quyền sử dụng đất lần đầu, không đăng ký biến động
quyền sử dụng đất, đăng ký không đúng loại đất, không đăng ký khi chuyển
mục đích sử dụng đất, không đăng ký gia hạn sử dụng đất khi hết hạn sử dụng
đất mà đang sử dụng đất;

- Gây cản trở trong việc Nhà nước giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất,
bồi thường, giải phóng mặt bằng; Không trả lại đất đúng thời hạn theo quyết
định thu hồi đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền;
13
- Tự tiện di chuyển, làm sai lệch, hư hỏng mốc chỉ giới quy hoạch sử
dụng đất, mốc chỉ giới hành lang an toàn của công trình, mốc địa giới hành
chính; Làm sai lệch các giấy tờ, chứng từ trong việc sử dụng đất;
- Chậm đưa đất vào sử dụng theo quy định của pháp luật về đất đai;
- Chậm hoặc không cung cấp thông tin, giấy tờ, tài liệu có liên quan
đến việc thanh tra, kiểm tra; cản trở việc thanh tra, kiểm tra về đất đai;
- Hành nghề tư vấn về giá đất mà không thực hiện đúng nguyên tắc,
phương pháp xác định giá đất theo quy định của pháp luật hoặc không được
cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép;
- Hành nghề tư vấn về lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất mà không
đăng ký hoạt động hành nghề;
- Cung cấp dữ liệu đất đai không đúng quy định của pháp luật.
Như vậy quy định hiện hành của pháp luật về các hành vi VPHC trong
lĩnh vực đất đai khá đầy đủ, đảm bảo bao quát các hoạt động quản lý và sử
dụng đất đai.
1.2.4. Một số quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính trong
lĩnh vực đất đai
1.2.4.1. Nguyên tắc xử lý vi phạm hành chính [11, tr. 3]
- Việc xử phạt VPHC phải do người có thẩm quyền theo quy định của
pháp luật thực hiện.
- Mọi VPHC phải được phát hiện, đình chỉ, xử lý kịp thời; việc xử phạt
VPHC phải được tiến hành nhanh chóng, công khai; triệt để; mọi hậu quả do
VPHC gây ra phải được khắc phục theo quy định của Nghị định số
105/2009/NĐ-CP và quy định của pháp luật có liên quan.
- Một hành vi VPHC chỉ bị xử phạt hành chính một lần. Nhiều người
cùng thực hiện hành vi vi phạm hành chính thì từng người vi phạm đều bị xử

14
phạt. Một người thực hiện nhiều hành vi VPHC thì bị xử phạt về từng hành vi
vi phạm.
- Hình thức xử phạt chính được áp dụng độc lập; hình thức xử phạt bổ
sung, biện pháp khắc phục hậu quả chỉ được áp dụng kèm theo hình thức xử
phạt chính đối với những hành vi VPHC có quy định hình thức xử phạt bổ
sung, biện pháp khắc phục hậu quả được quy định trong Nghị định số
105/2009/NĐ-CP trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 4 của Nghị định
số 105/2009/NĐ-CP.
- Hình thức, mức độ xử phạt được xác định căn cứ vào tính chất, mức
độ vi phạm, hậu quả của hành vi VPHC, nhân thân của người có hành vi
VPHC, tình tiết giảm nhẹ, tình tiết tăng nặng. Tình tiết giảm nhẹ, tình tiết tăng
nặng được áp dụng theo quy định của pháp luật.
- Mức phạt cụ thể đối với một hành vi vi phạm là mức trung bình của
mức xử phạt quy định đối với hành vi đó; nếu vi phạm có tình tiết giảm nhẹ
thì mức tiền phạt có thể giảm xuống mức thấp hơn, nhưng không được giảm
quá mức tối thiểu của mức xử phạt; nếu hành vi vi phạm có tình tiết tăng nặng
thì mức tiền phạt có thể tăng lên cao hơn, nhưng không được vượt quá mức
tối đa của mức xử phạt.
1.2.4.2. Thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính [11, tr.2]
Thời hiệu xử phạt VPHC trong lĩnh vực đất đai là hai (2) năm kể từ
ngày có hành vi VPHC được thực hiện. Đối với cá nhân đã bị khởi tố, truy tố
hoặc đã có quyết định đưa ra xét xử theo thủ tục tố tụng hình sự nhưng sau đó
có quyết định đình chỉ điều tra hoặc đình chỉ vụ án mà hành vi vi phạm có
dấu hiệu VPHC thì thời hiệu xử phạt VPHC là ba (3) tháng kể từ ngày người
có thẩm quyền xử phạt nhận được quyết định đình chỉ và hồ sơ vụ vi phạm.
Trường hợp hết thời hiệu xử phạt VPHC mà hành vi VPHC chưa bị xử phạt
thì người có thẩm quyền không thực hiện xử phạt VPHC mà áp dụng biện
15
pháp khắc phục hậu quả quy định tại khoản 3 Điều 5 của Nghị định số

105/2009/NĐ-CP. Trong thời hạn được quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều
4 Nghị định số 105/2009/NĐ-CP mà người có hành vi vi phạm lại có hành vi
VPHC mới quy định tại Nghị định số 105/2009/NĐ-CP hoặc cố tình trốn
tránh, cản trở việc xử phạt thì thời hiệu xử phạt được tính lại kể từ thời điểm
có hành vi VPHC mới hoặc từ thời điểm chấm dứt hành vi trốn tránh, cản trở
việc xử phạt.
1.2.4.3. Xác định mức độ hậu quả của hành vi vi phạm hành chính [11, tr.3]
- Mức độ hậu quả của hành vi VPHC được xác định theo nguyên tắc
quy đổi giá trị quyền sử dụng đất đối với diện tích đất bị vi phạm thành tiền
theo giá đất tại thời điểm xử phạt do UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung
ương nơi có đất đó quy định và chia thành bốn (4) mức sau đây:
+ Mức một (1): Trường hợp giá trị quyền sử dụng đất đối với diện tích
đất bị vi phạm quy thành tiền dưới ba mươi triệu (30.000.000) đồng đối với
đất nông nghiệp, dưới một trăm năm mươi triệu (150.000.000) đồng đối với
đất phi nông nghiệp;
+ Mức hai (2): Trường hợp giá trị quyền sử dụng đất đối với diện tích
đất bị vi phạm quy thành tiền từ ba mươi triệu (30.000.000) đồng đến dưới
tám mươi triệu (80.000.000) đồng đối với đất nông nghiệp, từ một trăm năm
mươi triệu (150.000.000) đồng đến dưới bốn trăm triệu (400.000.000) đồng
đối với đất phi nông nghiệp;
+ Mức ba (3): Trường hợp giá trị quyền sử dụng đất đối với diện tích
đất bị vi phạm quy thành tiền từ tám mươi triệu (80.000.000) đồng đến dưới
hai trăm triệu (200.000.000) đồng đối với đất nông nghiệp, từ bốn trăm triệu
(400.000.000) đồng đến dưới một tỷ (1.000.000.000) đồng đối với đất phi
nông nghiệp;
16
+ Mức bốn (4): Trường hợp giá trị quyền sử dụng đất đối với diện tích
đất bị vi phạm quy thành tiền từ hai trăm triệu (200.000.000) đồng trở lên đối
với đất nông nghiệp, từ một tỷ (1.000.000.000) đồng trở lên đối với đất phi
nông nghiệp.

- Đối với các loại đất chưa được xác định giá mà phải xác định giá để
tính mức độ hậu quả của hành vi vi phạm hành chính gây ra thì việc xác định
giá thực hiện theo quy định tại khoản 5 Điều 1 của Nghị định số
123/2007/NĐ-CP ngày 27 tháng 7 năm 2007 của Chính phủ về việc sửa đổi,
bổ sung một số điều của Nghị định số 188/2004/NĐ-CP ngày 16 tháng 11
năm 2004 của Chính phủ về phương pháp xác định giá đất và khung giá các
loại đất.
1.2.4.4. Hình thức, mức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả khi xử lý vi
phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai được nêu trong Nghị định số
105/2009/NĐ-CP
- Các hình thức xử phạt bao gồm: Hình thức xử phạt chính là cảnh cáo
hoặc phạt tiền. Hình thức xử phạt bổ sung là tịch thu tang vật, phương tiện
được sử dụng để VPHC; tước giấy phép, chứng chỉ hành nghề định giá; cấm
hành nghề tư vấn về lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất;
- Biện pháp khắc phục hậu quả được áp dụng trong xử phạt VPHC về
đất đai là buộc khôi phục lại tình trạng của đất như trước khi vi phạm; buộc
khắc phục tình trạng làm suy giảm đất, khắc phục việc thải chất độc hại vào
đất; buộc trả lại diện tích đất đã nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho, nhận
góp vốn bằng quyền sử dụng đất; tịch thu lợi ích có được do vi phạm; buộc
phải thực hiện đúng thủ tục hành chính theo quy định của pháp luật về đất đai;
buộc phải cung cấp thông tin, giấy tờ, tài liệu và chấp hành yêu cầu thanh tra,
kiểm tra.
17
- Phạt cảnh cáo chỉ được áp dụng đối với hành vi vi phạm sau:
+ Sử dụng đất không đúng mục đích nếu hậu quả của hành vi thuộc
mức một (1);
+ Gây cản trở cho việc sử dụng đất (đưa chất thải, chất độc hại, vật liệu
xây dựng hoặc các vật khác lên thửa đất của người khác hoặc lên thửa đất của
mình gây cản trở cho việc sử dụng đất của người khác) tại khu vực nông thôn;
+ Không đăng ký quyền sử dụng đất lần đầu, không đăng ký biến động

quyền sử dụng đất, đăng ký không đúng loại đất, không đăng ký khi chuyển
mục đích sử dụng đất, không đăng ký gia hạn sử dụng đất khi đến hạn sử
dụng đất mà đang sử dụng đất tại khu vực nông thôn;
+ Chậm cung cấp thông tin, giấy tờ, tài liệu có liên quan đến việc thanh
tra, kiểm tra về đất đai.
- Phạt tiền được áp dụng cho tất cả các hành vi VPHC trong lĩnh vực
đất đai với mức phạt từ hai trăm nghìn (200.000) đồng đến năm trăm triệu
(500.000.000) đồng tùy theo tính chất, mức độ vi phạm. Đối với mức phạt năm
trăm triệu (500.000.000) đồng được áp dụng cho các hành vi vi phạm sau:
+ Chuyển đất chuyên trồng lúa nước sang đất phi nông nghiệp, chuyển
đất trồng cây lâu năm, đất ao, hồ đầm, nuôi trồng thủy sản nước mặn mà
không được cấp có thẩm quyền cho phép nếu hậu quả của hành vi thuộc mức
bốn (4);
+ Lấn, chiếm đất thuộc hành lang bảo vệ công trình, đất thuộc khu vực
đô thị, đất có di tích lịc sử-văn hóa, danh lam thắng cảnh đã được xếp hạng
hoặc được UBND tỉnh, T.P trực thuộc Trung ương quyết định bảo vệ mà pháp
luật về chuyên ngành liên quan chưa quy định nếu hậu quả của hành vi thuộc
mức bốn (4);
+ Gây ô nhiễm đất dẫn đến hậu quả làm cho đất giảm hoặc mất khả
năng sử dụng theo mục đích đã được xác định nếu hậu quả của hành vi thuộc
mức bốn (4);
18
+ Tổ chức, cơ sở tôn giáo có hành vi nhận chuyển nhượng, nhận tặng
cho, nhận thừa kế, nhận góp vốn bằng quyền sử dụng đất nhưng không đủ
điều kiện theo quy định của pháp luật về đất đai nếu hậu quả của hành vi
thuộc mức bốn (4).
- Tùy theo tính chất, mức độ vi phạm ngoài hình thức xử phạt chính, cá
nhân, tổ chức vi phạm có thể bị áp dụng một hoặc các hình thức xử phạt bổ
sung dưới đây:
+ Hình thức phạt bổ sung là tịch thu tang vật, phương tiện được sử

dụng để VPHC được áp dụng đối với các hành vi vi phạm: Hủy hoại đất; gây
cản trở cho việc sử dụng đất của người khác; Tự tiện di chuyển, làm sai lệch,
hư hỏng mốc chỉ giới quy hoạch sử dụng đất, mốc chỉ giới hành lang an toàn
công trình, mốc địa giới hành chính;
+ Hình thức phạt bổ sung là tước giấy phép, chứng chỉ hành nghề định
giá được áp dụng đối với hành vi vi phạm: Hành nghề tư vấn về giá đất mà
không thực hiện đúng nguyên tắc, phương pháp xác định giá đất theo quy định
của pháp luật hoặc không được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép;
+ Hình thức phạt bổ sung là cấm hành nghề tư vấn về lập quy hoạch, kế
hoạch sử dụng đất được áp dụng đối với hành vi vi phạm: Hành nghề tư vấn về
lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất mà không đăng ký hoạt động hành nghề.
- Ngoài các hình thức xử phạt nêu trên, tùy theo tính chất, mức độ, cá
nhân, tổ chức vi phạm còn có thể bị áp dụng một hoặc nhiều biện pháp khắc
phục hậu quả dưới đây:
+ Biện pháp khắc phục hậu quả là buộc khôi phục lại tình trạng của đất
như trước khi vi phạm được áp dụng đối với các hành vi vi phạm: Sử dụng
đất không đúng mục đích; lấn, chiếm đất; hủy hoại đất; gây cản trở cho việc
sử dụng đất của người khác; tự ý chuyển đổi, chuyển nhượng, tặng cho, cho
thuê, cho thuê lại, thừa kế, thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng quyền sử dụng
đất đối với đất không đủ điều kiện theo quy định của pháp luật;
19
+ Biện pháp khắc phục hậu quả là buộc khắc phục tình trạng làm suy
giảm đất, khắc phục việc thải chất độc hại vào đất được áp dụng đối với hành
vi vi phạm Hủy hoại đất;
+ Biện pháp khắc phục hậu quả là buộc trả lại diện tích đất đã nhận
chuyển nhượng, nhận tặng cho, nhận góp vốn bằng quyền sử dụng đất được
áp dụng đối với hành vi vi phạm: Nhận chuyển quyền sử dụng đất nhưng
không đủ điều kiện nhận chuyển quyền sử dụng đất theo quy định của pháp
luật về đất đai;
+ Biện pháp khắc phục hậu quả là tịch thu lợi ích có được do vi phạm

được áp dụng đối với hành vi vi phạm: Tự ý chuyển đổi, chuyển nhượng, tặng
cho, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng quyền
sử dụng đất đối với đất không đủ điều kiện theo quy định của pháp luật;
+ Biện pháp khắc phục hậu quả là buộc phải thực hiện đúng thủ tục
hành chính theo quy định của pháp luật về đất đai được áp dụng đối với hành
vi vi phạm: Chuyển đổi, chuyển nhượng, tặng cho, cho thuê, cho thuê lại,
thừa kế, thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng quyền sử dụng đất mà không thực
hiện đúng thủ tục hành chính theo quy định của pháp luật về đất đai;
+ Biện pháp khắc phục hậu quả là buộc phải cung cấp thông tin, giấy
tờ, tài liệu và chấp hành yêu cầu thanh tra, kiểm tra được áp dụng đối với hành vi
vi phạm: Chậm hoặc không cung cấp thông tin, giấy tờ, tài liệu có liên quan đến
việc thanh tra, kiểm tra; cản trở việc thanh tra, kiểm tra về đất đai.
1.2.4.5. Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính về đất đai được nêu trong
Nghị định số 105/2009/NĐ-CP
- Thẩm quyền của Chủ tịch UBND các cấp trong việc xử phạt VPHC:
Chủ tịch UBND các cấp có quyền xử phạt VPHC trong lĩnh vực đất đai
bằng hình thức phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền đồng thời được tịch thu tang vật,
phương tiện dùng để VPHC tùy theo vị trí của người có thẩm quyền và mức
20
độ VPHC được xác định. (Ví dụ: Chủ tịch UBND cấp xã được phạt tiền đến
hai triệu (2.000.000) đồng; tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để
VPHC có giá trị đến hai triệu (2.000.000) đồng. Chủ tịch UBND cấp huyện
có quyền: phạt tiền đến ba mươi triệu (30.000.000) đồng và Chủ tịch UBND
cấp tỉnh có quyền phạt tiền đến năm trăm triệu (500.000.000) đồng).
Ngoài ra Chủ tịch UBND các cấp còn có quyền áp dụng các biện pháp
khắc phục hậu quả là: Buộc khôi phục lại tình trạng của đất như trước khi vi
phạm; buộc khắc phục tình trạng làm suy giảm đất, khắc phục việc thải chất
độc hại vào đất; buộc trả lại diện tích đất đã nhận chuyển nhượng, nhận tặng
cho, nhận góp vốn bằng quyền sử dụng đất; tịch thu lợi ích có được do vi
phạm; buộc phải thực hiện đúng thủ tục hành chính theo quy định của pháp

luật về đất đai; buộc phải cung cấp thông tin, giấy tờ, tài liệu và chấp hành
yêu cầu thanh tra, kiểm tra.
- Thẩm quyền của Thanh tra chuyên ngành về đất đai trong việc xử
phạt VPHC: Thanh tra viên đất đai đang thi hành công vụ; Chánh thanh tra
cấp Sở; Chánh thanh tra cấp Bộ đều có quyền phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền
đồng thời được tịch thu tang vật, phương tiện dùng để VPHC tùy theo vị trí
của người có thẩm quyền và mức độ VPHC được xác định. (Ví dụ Thanh tra
viên đang thi hành công vụ có quyền phạt tiền đến năm trăm nghìn (500.000)
đồng; tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để VPHC; tịch thu lợi ích
có được do vi phạm có giá trị đến hai triệu (2.000.000) đồng. Chánh Thanh
cấp Sở có quyền phạt tiền đến ba mươi triệu (30.000.000) đồng và Chánh
Thanh tra cấp Bộ có quyền phạt tiền đến năm trăm triệu (500.000.000) đồng).
Ngoài ra Thanh tra viên đất đai đang thi hành công vụ; Chánh thanh tra
cấp Sở; Chánh thanh tra cấp Bộ còn có quyền áp dụng các biện pháp khắc
phục hậu quả là: Buộc khôi phục lại tình trạng của đất như trước khi vi phạm;
buộc khắc phục tình trạng làm suy giảm đất, khắc phục việc thải chất độc hại
21
vào đất; buộc trả lại diện tích đất đã nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho,
nhận góp vốn bằng quyền sử dụng đất; tịch thu lợi ích có được do vi phạm;
buộc phải thực hiện đúng thủ tục hành chính theo quy định của pháp luật về
đất đai; buộc phải cung cấp thông tin, giấy tờ, tài liệu và chấp hành yêu cầu
thanh tra, kiểm tra. Riêng Thanh tra viên đang thi hành công vụ chỉ được áp
dụng biện pháp khắc phục hậu quả buộc khôi phục lại tình trạng của đất như
trước khi vi phạm.
1.2.4.6. Trách nhiệm của người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính
đối với trường hợp phải thu hồi đất, phải tạm đình chỉ hoặc đình chỉ hoạt
động dịch vụ về đất đai
- Khi xử lý VPHC mà VPHC đó thuộc trường hợp phải thu hồi đất quy
định tại Điều 38 của Luật Đất đai thì thực hiện theo quy định sau đây:
+ Người có thẩm quyền xử phạt quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều

25 của Nghị định số 105/2009/NĐ-CP mà có thẩm quyền thu hồi đất quy định
tại Điều 44 của Luật Đất đai thì thực hiện đồng thời việc xử phạt VPHC và
việc thu hồi đất;
+ Người có thẩm quyền xử phạt quy định tại các Điều 25, 26 và 27 của
Nghị định số 105/2009/NĐ-CP nhưng không có quyền thu hồi đất thì thực
hiện xử phạt VPHC và có trách nhiệm gửi văn bản đề nghị UBND cấp có
thẩm quyền ra quyết định thu hồi đất. UBND cấp có thẩm quyền có trách
nhiệm thực hiện việc thu hồi đất đối với trường hợp đủ căn cứ; trường hợp
không đủ căn cứ theo quy định của pháp luật về đất đai thì phải thông báo cho
người đề nghị, người bị xử phạt, UBND xã, phường, thị trấn nơi có đất biết rõ
lý do;
+ Trường hợp hết thời hiệu xử phạt quy định tại Điều 4 của Nghị định
số 105/2009/NĐ-CP, người có thẩm quyền xử phạt có trách nhiệm lập biên
bản về VPHC và ra quyết định thu hồi đất trong trường hợp thuộc thẩm quyền
22

×