Tải bản đầy đủ (.doc) (27 trang)

Lý luận và thực tiễn về quan hệ phân phối tại Việt Nam.doc

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (151.52 KB, 27 trang )

lời mở đầu
Trong xã hội ngày naythì phân phối là một khâu không thể thiếu đợc củaquá
trình taí sản xuất , phân phối là khâu quan trọng nối liền sản xuất và tiêu dùng.Phân
phối phụ thuộc vào sản xuất nhng phân phối tốt hay không tốt lại ảnh hởng đến sản
xuất, đến trao đổi tiêu dùng và đời sống nhân dân.
Khi mà nền kinh tế của nớc ta chuyển từ nền kinh tế tự cung tự cấp sang nền
kinh tế thị trờng thì phân phối giữ một vị trí hết sức quan trọng.Phân phối nối liền
sản xuất với sản xuất,sản xuất với tiêu dùng ,nối liền thị trờng hàng tiêu dùng ,dịch
vụ thị trờng yếu tố sản xuất ,làm cho sự vận động của kịnh tế thị trơng diễn ra
thông suốt.
Tuy nhiên,khichuyển sang kinh tế thị trờng , hàng loạt các vấn đề thuộc lĩnh vực
phân phối thu nhập nh tiền lơng,lợi nhuận,lợi tức ,địa tô và phân phối lao động ,các
hình thúc phân phối khác phù hợp với nguyên lý kinh tế thị trờng cũng nh các tác
đọng của chúng đối với sự phát triển kinhtế - xã hội ở nớc tađang đòi hỏi có s
nghiên cứu nghiêm túc công phu. Vì vậy việc nghiên cứu vấn đề quan hệ phân
phối ở việt nam hiện nay là hết sức cần thiết và cấp bách .
Kết cấu đề tài này gồm hai chơng
Ch ơng 1 : Một số vấn đề cơ bản về quan hệ phân phối ở nứoc ta hiện nay
Ch ơng 2 : Thực trạng quan hệ phân phối ở nứoc ta hiện nay và những giải pháp
hoàn thiện quan hệ phân phối ở nứoc ta hiện nay
Em xin chân thành cảm ơn thâỳ Trần Việt Tiến đã tận tình hớng dẫn,tạo điều
kiện ,giúp đỡ cho em hoàn thành đề tài này .
CHƯƠNG 1
Một số vấn đề cơ bản về quan hệ phân phối ở nớc ta hiện nay
1.1. Tính tất yếu khách quancủa quan hệ phân phốỉ ở nớc ta hiện nay
Trong nền kinh tế thị trờng thì phân phối giữ vi trí hết sức quan trọng .Trong
quá trình tái sản xuất thi phân phối làm khâu trung gian nối liền giũa sản xuất với
sản xuất, sản xuất với tiêu dùng, nó phục vụ và thúc đẩy sản xuất, phục vụ tiêu
dùng. Nhng sản xuất lại đóng vai trò quyết định đối với phân phối ,sản xất tao ra
đối tợng và vật liệu cho phân phối ,quyết định quy mô và cơ cấu của cải để phân
phối .


Phân phối không thể vợt qúa khả năng cho phép của sản xuất,thu nhập thực tế
chỉ có thể tăng lên theo đà phát triển của sản xuất nhng tốc độ tăng của thu nhập
thực tế phải chậm hơn tốc độ tăng lên của sản xuất ,có nh thế mới đảm bảo tái sản
xuất mở rộng . Hiện nay nứoc ta đang thực hiện công cuộc CNH-HĐH đất nớc xây
dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội . Chế độ xã hội chủ nghĩa là
chế độ làm chủc tập thể của nhân dân lao động trên tất cả mọi lĩnh vực trong đó làm
chủ tập thể về kinh tế là cơ sở .Trong chế độ làm chủ tập thể về kinh tế thì làm chủ
về t liệu sản xuất là cơ sở ,điều kiên để đảm bảo làm chủtập thể về phân phối. Một
khi t liệu sản xuất la thuộc sở hữu chung của nhân dân lao động thì của cải làm ra
cũng thuộc sở hữu chung của họ và việc phân phối của cải làm ra chỉ có thể nhằm
mục đích phục vụ lợi ích của nhân dân lao động .Trong điều kiện của nớc ta hiện
nay nền kinh tế vẫn còn ở tình trạng lạc hậu , nghèo nàn cha đủ sản phẩm để phân
phối theo nhu cầu .Vì thế việc thực hiện phân phối theo thu nhập trong thời kì quá
độ lên chủ nghĩa xã hội là mộ vấn đề vô cùng quan trọng đẻ tạo ra đọng lực mạnh
mẽ góp phần tích cực thúc đẩy sản xuất phát triển ,ổn định tình hình kinh tế -xã
hội nâng cao đời sống nhân dân thực hiện mục tiêu dân giầu nớc mạnh xã hội công
bằng ,dân chủ ,văn minh .
1.1.1.Bản chất và vị trí của phân phối.
Quá trình tái sản xuất xã hội gồm bốn khâu:sản xuất, phân phối ,trao đổi,
tiêu dùng.Cáckhâu này có quan hệ chặt chẽ với nhau,trong đó sản xuất là khâu cơ
bản đóng vai trò quyết định;các khâu khác phụ thuộc vào sản xuất,nhng chúng có
quan hệ trở lại đối với sản xuất cũng nh ảnh hởng lẫn nhau chính vi có quá trinh
phân phối này mới có sự tác động qua lại giữa sản xuất và tiêu dùngvà từ đó thúc
đẩy sản xuất phát triển ,tăng quy mô tiêu dùng .
Tính chất của quan hệ phân phối do quan hệ sở hữu về t liệu sản xuất quyết
định. Khi ta xét về quan hệ giữa ngời và ngời thì phân phối do quan hệ sản xuất
quyết định. Quan hệ trong sản xuất nh thế nào thì quan hệ trong phân phối nh thế
ấy. Xã hội luôn tồn tại mối quan hệ sản xuất và sản phẩm. Bản thân phân phối là
sản phẩm của sản xuất không chỉ về nội dung mà cả về hình thức. Phân phối không
phải là một lĩnh vực độc lập đứng bên cạnh sản xuất. Bản chất của quan hệ phân

phối hoàn toàn do quan hệ sản xuất quyết định.
Mặt khác ta thấy rằng phân phối không chỉ đơn thuần là một kết quả tiêu cực
của sản xuất và trao đổi mà nó còn tác động mạnh mẽ ngợc trở lại trao đổi và sản
xuất. Phân phối có tính độc lập tơng đối của nó,nó có chức năng cụ thể ,có những
quy luật đặc thù tác động tích cực đến cáckhâu của quá trình tái sản xuất. Trớc khi
phân phối sản phẩm thì nó là: phân phối những công cụ sản xuất và điều này là một
tính qui định nữa cũng của một mối quan hệ ấy - phân phối các thành viên xã hội
theo những loại sản xuất khác nhau. Rõ ràng phân phối sản phẩm chỉ là kết quả của
sự phân phối đó, sự phân phối này đã bao hàm trong bản thân quá trình sản xuất và
quyết định trong cơ cấu sản xuất. Xem xét sản xuất một cách độc lập với sự phân
phối đó, sự phân phối bao hàm trong sản xuất, thì rõ ràng là một sự trừu tợng trống
rỗng, còn sự phân phối sản phẩm thì trái lại, đã bao hàm trong sự phân phối này là
sự phân phối ngay từ đầu đã là một yếu tố của sản xuất.
Cơ sở kinh tế của sự phân phối bao gồm cả sự phân phối cho sản xuất và phân
phối cho tiêu dùng do đó tổng sản phẩm xã hội vừa đợc phân phối để tiêu dùng cho
sản xuất, vừa đợc phân phối để tiêu dùng cho cá nhân mỗi thành viên trong xã hội .
Nhng vì sự phân phối bao giờ cũng gồm cả sự phân phối cho sản xuất xem là yếu tố
của sản xuất và phân phối cho tiêu dùng xem là kết quả của quá trình sản xuất,cho
nên không phải toàn bộ sản phẩm xã hội tạo ra đều đợc phân phối cho tiêu dùng cá
nhân mà cần trích ra để bù đắp những t liệu sản xuất hao phí, mở rộng sản xuất lập
quỹ dự phòng, chi phí về quản lý hành chính tổ chức... Phần còn lại phù hợp với số
lợng và chất lợng lao động. Nh vậy,phân phối là tổng sản phẩm xã hội và phân phối
để tiêu dùng cho sản xuất, vừa đợc phân phối để tiêu dùng cho cá nhân.
I.2 Vai trò của quan hệ phân phối
Bàn về vai trò của phân phối trong nền sản xuất xã hội, F.Ăngghen cho rằng:

Sự phân phối chừng nào mà còn bị những lý do thuần tuý kinh tế chi phối, thì nó sẽ
đợc điều tiết bởi lợi ích của sản xuất, rằng sản xuất sẽ đợc thuận lợi trên hết trong
mọi phơng thức phân phối mà mọi thành viên trong xã hội có thể phát triển, duy trì
và thực hiện những năng khiếu của họ một cách toàn diện nhất.

,, (1)
Ta thấy rằng mỗi một hình thái kinh tế xã hội đều bao gồm cả một hệ thống
phức tạp các lợi ích mà trong đó lợi ích kinh tế đóng vai trò quyết định. Các lợi ích
kinh tế đợc quy định bởi quan hệ sản xuất cua mỗi chế độ xã hội, trong đó quan hệ
sở hữu với t liệu sản xuất có vai trò chi phối hệ thống lợi ích kinh tế.
Bản chất của quan hệ sản xuất trong mối phơng thức sản xuất đợc thể hiện
qua hình thức sở hữu - đó không phải là quan hệ đơn thuần nh mọi sự việc tồn tại
trong xã hội mà nó là mối quan hệ phức tạp giữa con ngời với con ngời. Trong lịch
sử không hề có một hình thái sở hữu nào mà không phản ánh những quan hệ trong
sản xuất.

Nơi nào không có một hình thái sở hữu nào cả thì ở đó không tồn tại một
nên sản xuất nào cả, do đó cũng không một xã hội nào cả.
,, (2)
Sở hữu - đó là những
quan hệ về các điều kiện khách quan của sản xuất, phân phối, trao đổi và tiêu dùng
những của cải vật chất.
Sở hữu với t cách là những quan hệ sản xuất, nó là cơ sở của các lợi ích. Hệ
thống các quan hệ sản xuất của mỗi chế độ xã hội sẽ quy định hệ thống các lợi ích
vốn có trong giai đoạn phát triển của nó. Trong hệ thống các lợi ích thì lợi ích kinh
tế giữ vai trò chủ đạo. Lợi ích kinh tế đợc hiểu là những quan hệ kinh tế phản ánh
những nhu cầu, những động cơ khách quan về sự hoạt động của các gia cấp, những
nhóm xã hội hoặc của từng ngời làm viêc riêng biệt do quan hệ sản xuất quyết
định. Nói lợi ích kinh tế là hình thức biểu hiện của những quan hệ kinh tế của mỗi
xã hội nhất định nghĩa là lợi ích kinh tế là phạm trù kinh tế khách quan, nó chỉ
xuất hiện khi gia những ngời sản xuất có những mối quan hệ kinh tế khác nhau.
Lợi ích kinh tế vừa mang tính chất khách quan vừa mang tính chủ quan. Nó mang
màu sắc khách quan bởi vì nó luôn tồn tại và vận động. Thông qua sự vận động
của các quy luật kinh tế do nó trực tiếp sinh ra mà quan hệ sản xuất ảnh hởng tới
quá trình sản xuất. Còn nó mang màu sắc chủ quan là ở chỗ nó biến các tác động

khách quan của các quy luật kinh tế thành các động cơ hành đọng kinh tế cử con
ngời.
Lợi ích kinh tế có vai trò quan trọng là động lực mạnh mẽ đối với sự phát
triển của xã hội. Những hình thức chủ yếu của lợi ích kinh tế trong hệ thống này
luôn đợc đặc trng bằng tính đại diện và tính thống nhất giữa ba nhóm lợi ích cơ
bản.
Đó là lợi ích nhà nớc, lợi ích tập thể lợi ích và lợi ích của bản thân ngời lao
động. Sự thống nhất giữa các hình thức lợi ích kinh tế khác nhau trong xã hội sẽ
dẫn đến sự liên hệ chặt chẽ và thâm nhập nhau giữa chúng. Trong đó lợi ích cá
nhân trực tiếp là động lực mạnh mẽ nhất đối với sự phát triển của xã hội.
Sự tồn tại nền kinh tế nhiều thành phần trong thời kỳ quá độ đã nói lên sự
không đồng nhất về lợi ích kinh tế xã hội. Tuy nhiên đây là một xu thế tất yếu bởi
điểm xuất phát đi lên là thấp trong khi đó yêu cầu hội nhập quốc tế là cách duy
nhất để thực hiện mục tiêu công nghiệp hoá hiện đại hoá. Tơng ứng với quá trình
đó, trong nền kinh tế sẽ có nhiều quy luật vận động. Các quy luật kinh tế phát sinh
trên cơ sở những quan hệ kinh tếa tơng ứng và cũng trực tiếp quy định sự hình
thành các lợi ích kinh tế của từng giai cấp từng tầng lớp dân c trong xã hội. Tuy
nhiên bên cạnh sự thống nhất giữa các lợi ích kinh tế cơ bản, không loại trừ những
mâu thuẫn giữa chúng cũng nh trong phạm vi mỗi nhóm lợi ích. Vì vậy cần phải
phát hiện kịp thời các mâu thuẫn giữa các lợi ích và tìm cách giải quyết các mâu
thuẫn đó.
Việc giải quyết các quan hệ về lợi ích kinh tế đợc thực hiện thông qua quan
hệ phân phối. Khi phơng thức sản xuất còn phù hợp (lợi ích của giai cấp thống trị
còn phù hợp với lợi ích của xã hội) thì ngời ta còn bằng lòng với sự phân phối của
xã hội. Nhng khi nó thoái trào thì không còn điều kiện để tồn tại phân phối bởi phân
phối khi đó đã không còn là công cụ đẩm bảo cho sự công bằng xã hội, bất công
ngày càng sâu sắc đẫn đến đấu tranh xã hội và cuối cùng là một phơng thức sản
xuất mới ra đời. Nh vây quan hệ phân phối mang tính lịch sử và thớc đo mức độ tiến
bộ của một hình thái xã hội. Nó chỉ có thể thay đổi khi quan hệ sản xuất đẻ ra quan
hệ phân phối đó mất đi - đó là thông qua cách mạng xã hội.Bởi trong mỗi hình thái

kinh tế thì quan hệ phân phối giải quyết những mâu thuẫn về lợi ích kinh tế và đến
khi nào nó không thể giải quyết đợc nữa thì tất yếu sẽ bị thay thế bằng hình thức
phân phối khác cho phù hợp.
1.3. Các hình thức phân phối ở nớc ta hiện nay
Đại hội đai biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng đã khẳng định và Đại hội
Đảng lần thứ IX cũng tiếp tục khẳng định nền kinh tế nớc ta trong thời kỳ quá độ
là nền kinh tế nhiều thành phần có sự quản lý của nhà nớc ,tơng ứng với nó là
nhiều hình thức phân phối nhng lấy phân phối theo kết quả lao động và hiệu quả
kinh tế là chủ yếu , đồng thời phân phối dựa trên mức đóng góp nguồn lực khác vào
kết quả sản xuất - kinh doanh và phân phối thông qua phúc lợi xã hội.
Trong nền kinh tế này xuất hiện nhiều chủ thể kinh tế khác nhau với các hình
thức sở hữu khác nhau và cũng vì lẽ đó mà xuất hiện nhiều phơng thức phân phối
khác nhau.Mỗi thành phần kinh tế có phơng thức sản xuất kinh doanh khác nhau
nên kết quả kinh doanh khác nhaudo đó cần các hình thức phân phối khác nhau
Vì vậy ở nớc ta hiện nay không thể tồn tại một hình thức phân phối duy
nhất
1.3.1. Phân phối theo lao động
Trong thời kỳ quá độ hiện nay ,hình thức phân phối theo lao động là hình
thức phân phối căn bản , là nguyên tắc phân phối chủ yếu và thích hợp nhất với các
thành phần kinh tế dựa trên chế độ công hữu về t liệu sản xuất (kinh tế nhà n-
ớc)hoặc các hợp tác xã cổ phần mà góp vốn của các thànhviên bằng nhau (kinh tế
hơp tác )
Phân phối theo lao động là hình thức phân phối căn bản, là nguyên tắc phân
phối chủ yếu thích hợp nhất với các thành phần kinh tế dựa trên chế độ sở hữu công
hữu về t liệu sản xuất. Do đó dựa trên cơ sở của chế độ công hữu về t liệu sản xuất
mà chế độ ngời bóc lột ngời bị xoá bỏ.Ngời lao động làm chủ những t liệu sản xuất
nên tất yếu cũng làm chủ phân phối theo thu nhập . Lao động đang trở thành cơ sở
quyết định địa vị và phúc lợi vật chất của mỗi ngời. Chính vì vậy mà phân phối theo
lao động là phù hợp với quan hệ sản xuất của các thành phần kinh tế đang tồn tại ở
nớc ta.

Trớc đây nớc ta đã thực hiện sự phân phối bình quân là phân phối cho mỗi
ngời một lợng sản phẩm nh nhau, không phân biệt mức đóng góp của từng ngời
vào sản xuất xã hội. Phân phối bình quân đã gây ra sự bất hợp lý và tiêu cực
trong xã hội.Trong thời kỳ quá độ ở nớc ta hiện nay thì phân phối theo lao động là
hình thức thức căn bản, là nguyên tắc phân phối chủ yếu thích hợp nhất với các
thành phần kinh tế dựa trên chế độ sở hữu công hữu về t liệu sản xuất. Trong
thành phần kinh tế này tất cả mọi ngời dều có quyền bình đẳng đối với t liệu sản
xuất, thì chỉ có thể thực hiện phân phối giữa những ngời lao động với nhau thông
qua việc láy lao động làm thớc đo. Đối với các thành phần kinh tế thì việc phân
phối theo lao động là một điều tất yếu. Bởi nhiều nguyên nhân:
Nhờ dựa trên chế độ công hữu mà chế độ ngời bóc lột ngời bị xoá bỏ.
Quyền làm chủ về mặt kinh tế đợc xác lập. Lao động đang trở thành cơ sở quyết
định địa vị xã hội và phúc lợi vật chất của mỗi ngời.Chính vì vậy mà phân phối
theo lao động và phù hợp với các thành phần kinh tế đang tồn tại ở nớc ta hiện
nay.
Lý do thứ hai khiến phân phối theo lao động là cần thiết là: trình độ phát
triển của lực lợng sản xuất còn thấp, cha có đủ sản phẩm để phân phối theo nhu
cầu. Tiếp đó là sự khác biệt về tính chất và trình độ lao động .... Dẫn đến mỗi ngời
có cống hiến khác nhau đến kết quả lao động do đó phải căn cứ vào lao động đã
cống hiến cho xã hội để phân phối.
Thêm một nguyên nhân nữa cho thấy sự cần thiết phải phân phối theo lao
động là lao động cha trở thành nhu cầu của cuộc sống, nó còn là phơng tiện để kiếm
sống, còn là

nghĩa vụ
,,
và quyền lợi của mỗi công dân. Hơn nữa còn những tàn d về
t tởng của xã hội cũ nh thái độ

muốn trút bỏ gánh nặng cho ngời khác, làm ít hởng

nhiều
,,
. Do đó cần phải có hình thức phân phối để các thành viên trong xã hội dựa
vào đó là cơ sở, động lực trong các hoạt động của mình.
Nh vậy việc phân phối theo lao động là một điều tất yếu và phù hợp với
hoàn cảnh của đất nớc ta hiện nay, phù hợp với trình độ phát triển của lực lợng sản
xuất trong giai đoạn đầu của quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá.
Nguyên tắc thực hiện phân phối theo lao động là phải lấy kết quả lao động
làm thớc đo để phân phối sản phẩm tiêu dùng cá nhân. Lấy số lợng lao động và
chất lợng lao động của mỗi ngời làm căn cứ trả công. Tuy nhiên nguyên tắc này
phải gắn liền với yêu cầu đảm bảo công ăn việc làm cho những ngời có năng lực
lao động, và tất yếu không thể nằm ngoài yêu cầu đảm bảo những nhu cầu cơ bản
về đời sống vật chất tinh thần của ngời lao động.
Trong quá trình phân phối theo lao động cần chống hai sai lầm cơ bản khi
thực hiện, đó là chủ nghĩa bình quân tiểu t sản trong việc trả công lao động, vì nó
gạt bỏ hoàn toàn nuyên tắc lợi ích vật chất, kìm hãm động lực lao động của ngời
lao động. Thứ hai là khuynh hớng đòi mở rộng quá mức khoảng cách giữa các bậc
lơng, thang lơng một cách không có căn cứ kinh tế và những đòi hỏi có sự u đãi
đặc biệt đối với một số ngời.
Thực hiện tốt phân phối theo lao động sẽ có nhiều tác dụng to lớn đối với xã
hội và bản thân ngời lao động. Bởi lẽ nó đáp ứng đợc những đòi hỏi cấp bách của sự
công bằng xã hội đang đặt ra ở nớc ta, nó kết hợp chặt chẽ lợi ích của sản xuất xã
hội với lợi ích của từng cá nhân lao động. Nó khuyến khích ngời lao động đi sâu
vào nghề nghiệp chuyên môn làm cho đội ngũ lao động lành nghề ngày càng đông
đảo. Điều đó còn thúc đẩy ngời lao động ra sức học tập văn hoá kỹ thuật, góp phần
làm cho sự khác biệt giữa lao động trí óc và lao động bằng chân tay bị xoá bỏ dần.
Tạo điều kiện cho việc phân bổ và sử dụng nguồn sức lao động đợc ổn định trong cả
nớc đảm cho sản xuất xã hội cân bằng và có kế hoạch. Thêm vào đó nó góp phần
giáo dục về quan điểm, thái độ và kỷ luật lao động đối với mỗi thành viên xã hội.
Nó làm cho bản thân ngời lao động vì lợi ích vật chất của mình mà quan tâm đến

kết quả lao động của mình , từ đó ra sức mà đẩy mạnh sản xuất.
Tuy nhiên để thực hiện đợc mục tiêu

làm theo năng lực hởng theo nhu cầu
,,
thì còn nhiều việc phải làm. Bởi theo Mac phân phối theo lao động vẫn là một thứ
pháp quyền t sản, quyền bình đẳng vẫn nằm trong khuôn khổ t sản, tức là trong xã
hội sản xuất hàng hoá đợc thực hiện theo nguyên tắc trao đổi ngang giá và quyền
của ngời lao động tỷ lệ với lao động ngời ấy cung cấp thì điều đó vẫn còn thiếu xót.
Bởi vởi với một công việc ngang nhau một phần tham dự nh vào quỹ tiêu dùng xã
hội nhng trên thực tế ngời này vẫn đợc hởng nhiều hơn ngời kia.
Chế độ phân phối theo lao động vẫn còn những thiếu xót nhng đó là những
thiếu xót không thể tránh khỏi trong giai đoạn đầu của chủ nghĩa công sản. Nếu nh
trong xã hội t bản phân phối dựa trên cơ sở

ngời có của, kẻ có công
,,
thì trong xã
hội XHCN đợc dựa trên nguyên tắc

ngời làm nhiều hởng nhiều, ngời làm ít hởng
ít, không làm kong hởng
,,
đó là bình đẳng. Mặc dù còn tồn tại thiếu xót nhng với tác
dụng của mình thì phân phối theo lao động vẫn là hình thức phân phối phù hợp nhất
trong điều kiện vừa thực hiện công nghiệp hoá - hiện đại hoá vừa đảm bảo công
bằng cho các thành viên trong nền kinh tế hoạt động có hiệu quả.
1.3.2. Phân phối theo tài sản hay vốn và những đóng góp khác
Bên cạnh việc thực hiện phân phối theo lao động thì nớc ta còn sử dụng hình
thức phân phối theo tài sản hay vốn và những đóng góp khác. Nền kinh tế nớc ta

trong bớc quá độ định hớng lên chủ nghĩa xã hội . Với cơ cấu nhiều thành phần
,nên tất yếu co nhiều hình thức sở hữu về t liệu sản xuất và cũng sẽ xuất hiện nhiều
hình thức sản xuất kinh doanh khác nhau
Một đặc điểm rõ nét của nớc ta trong quá độ định hớng lên CNXH từ một
nền sản xuất nhỏ là tình trạng thiếu vốn phân tán vốn. Quá trình sản xuất, tích tụ và
tập trung vốn cha cao, một phần tơng đối lớn vốn vốn sản xuất hiện nay còn nằm rải
rác ,phân tán trong tay ngời t hữu nhỏ ,t sản nhỏ ,trong đó có cả dới dang jt liệu sản
xuất , vàng bạc ngoại hối và tiền mặt vv . Để sử dụng nguồn vốn đó cho sản xuất
thì không thể sử dụng cá chính sách ắp đặt nh trng thu, trng mua hoặc đóng góp cổ
phần một cách bình quân. Từ sau nghị quyết hội nghị lần thứ VI Ban chấp hành
trung ơng (khoá VI) thì ở nớc ta đã xuất hiện các biện pháp huy động vốn của dân
c dới các hình thức vay vốn, hùn vốn và góp cổ phần không hạn chế, với mức lãi
suất hợp lý. Cách làm nh vậy có tác dụng đa đợc vốn nhàn rỗi đi vào chu chuyển.
Qua đó kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể nắm quyền sử dụng một nguồn vốn to
lớn hơn nhiều nguồn vốn tự có. Nh vậy mặc dù sở hữu vốn là t nhân, nhng việc sử
dụng vốn đã mang tính xã hội. Xét tình hình đất nớc ta thì cần phải tạo điều kiện
pháp lý cho các thành phần kinh tế t nhân cá thể và tất cả mọi thành viên trong xã
hội yên tâm và mạnh dạn đầu t vốn và sản xuất kinh doanh. Bên cạnh đó thực hiện
phân phối kết quả sản xuất kinh doanh theo vốn và theo tài sản của mỗi cá nhân
đóng góp vào quá trình sản xuất xã hội dơí hình thức lợi tứcvà lợi nhuận và đợc
coi là hình thức phân phối hợp pháp và đợc sự bảo hộ của pháp luật. Do sự liên
doanh liên kết giữa các thành phần kinh tế, giữa các chủ thể sản xuất kinh doanh
nên đã xuất hiện các công ty liên doanh, các xí nghiệp cổ phần. ở các loại xí nghiệp
này, việc phân phối dựa trên cơ sở vốn cổ phần, dới hình thức lợi tức cổ phần. Phân
phối thu nhập dới hình thức lợi tức tiền gửi của các cá nhân hoặc tập thể vào ngân
hàng.
1.3.3. Phân phối thông qua phúc lợi tập thể , phúc lợi xã hội
Phân phối theo lao động và phân phối theo tài sản và vốn đều là tất yếu khách
quan trong quá độ hiện nay ở nớc ta , vì các hình thức phân phối đó đều nhằm mục
đích thúc đẩy nền sản xuất phát triển và tạo lập sự công bằng xã hội giữa mọi thành

viên trong xã hội. Nhng trong điều kiện cụ thể của nớc ta hiện nay , nhng ngoài
những ngời khoẻ mạnh có khả năng lao động và đang lao động, đợc trả công theo
lao động, những có vốn và tài sản đóng góp vào qúa trình sản xuất để đợc nhận lợi
tức và lợi nhuận, thì trong xã hội còn có những ngời vì lẽ này hay lẽ khác, không thể
tham gia vào lao động đợc trả công của xã hội. Đời sống số đông ngời này đợc gia
đình đảm bảo. Mặt khác, ngay cả mức sống của cán bộ công nhân viên chức Nhà n-
ớc và những ngời làm việc trong tất cả các thành phần kinh tế cũng không chỉ dựa
vào tiền công cá nhân. Bởi mức tiền công theo qui định của Nhà nớc cha đảm bảo
đợc mức sống. Họ phải dựa một phần vào các quĩ phúc lợi công cộng của Nhà nớc,
của các doanh nghiệp và các tổ chức kinh tế xã hội khác.
Vì vậy mà ngoài việc phân phối theo lao động, theo tài sản và theo vốn thì
trong xã hội còn tồn tại hình thức phân phối ngoài thù lao lao động, thông qua quĩ
phúc lợi xã hội. Đây không phải là phân phối theo nhu cầu, cũng không phải là phân
phối là phân phối theo lao động mà đây mới chỉ là phân phối của thời kỳ quá độ mà
thôi. Đây là hình thức phân phối bổ sung cần thiết và quan trọng đối với nguyên tắc
phân phối theo lao động. Nó thích hợp với việc thoả mãn những nhu cầu công cộng
của xã hội. Nó có lợi trớc hết cho những gia đình mà thù lao lao động tính theo đầu
ngời tơng đối thấp. Nó không những bảo đảm cho tất cả mọi thành viên trong xã hội
đều có mức sống bình thờng tối thiểu mà còn có tác dụng kích thích lao động sản
xuất, kích thích sự phát triển toàn diện của mọi thành viên trong xã hội. Đây là hình
thức phân phối của thời kỳ quá độ, nó góp phần thúc đẩy sự phát triển của một đất
nớc.
Cả ba hình thức phân phối trên đều là những hình thức phân phối cơ bản ở n-
ớc ta hiện nay trong đó phân phối theo lao động giữ vai trò chủ đạo.Phân phối ngoài
thù lao lao động qua các quĩ phúc lợi xã hội ngày càng trở nên quan trọng trong quá
trình phát triển xã hội. Đồng thời phân phối theo tài sản, vốn và những đóng góp
khác ngày nay cũng trở thành một tất yếu, hợp qui luật.

×